Nội dung chính bài Phân tích truyện Tấm Cám của Nguyễn Tấn Đắc Khi phân tích truyện Tấm Cám, Nguyễn Tấn Đắc tập trung tìm lại những motif cổ xưa của truyện, hệ thống motif đặc trưng của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
- -BÀI GIỮA KÌ
CHUYÊN ĐỀ: TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG NGHIÊN CỨU GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN
Người hướng dẫn: PGS.TS BÙI MẠNH NHỊ Người thực hiện: Huỳnh Thị Kiều Oanh
Trần Thị Ngọc Tuyết Nguyễn Thị Lài
Lê Thị Thuyền Quyên
Lê Nguyễn Thùy Trang
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam (B) – Khóa 31
Tp Hồ Chí Minh - 05/2021
Trang 2MỤC LỤC CHƯƠNG 1 THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP
CẬN HỆ THỐNG TRONG PHÂN TÍCH TRUYỆN TẤM CÁM
CỦA NGUYỄN TẤN ĐẮC 2
1.1 Nội dung chính bài Phân tích truyện Tấm Cám của Nguyễn Tấn Đắc 2
1.2 Thực tiễn vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống 3
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG VÀO PHÂN TÍCH MẪU ĐỀ CHIỀU CHIỀU TRONG CA DAO 6
2.1 Lý thuyết chung về phương pháp tiếp cận hệ thống 6
2.2 Vận dụng phương pháp tiếp cận vào phân tích mẫu đề Chiều chiều trong ca dao 6
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG ĐỂ NHẬN XÉT CÁC Ý KIẾN VỀ BÀI CA DAO CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM 13
3.1 Hoàng Tiến Tựu 13
3.2 Đỗ Kim Hồi 16
3.3 Hoàng Cát 19
3.4 Lê Hữu Thảo 20
Trang 3CHƯƠNG 1.
THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG
TRONG PHÂN TÍCH TRUYỆN TẤM CÁM CỦA NGUYỄN TẤN ĐẮC
1.1 Nội dung chính bài Phân tích truyện Tấm Cám của Nguyễn Tấn Đắc
Khi phân tích truyện Tấm Cám, Nguyễn Tấn Đắc tập trung tìm lại những
motif cổ xưa của truyện, hệ thống motif đặc trưng của truyện và xác định nhữngquan hệ cùng với type-truyện ở khu vực Theo đó, tác giả xác định được có hai
truyện kể Tấm Cám của người Việt, một bản do A Landes kể (1886) và một bản
do Vũ Ngọc Phan kể lại (1966)
Hệ thống lại các truyện có type-truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á chia thành
hai dạng rõ ràng: Dạng thứ nhất có kiểu các nhân vật, gồm vợ lẽ với con con đẻ Sang dạng thứ hai thì phức tạp hơn, được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:
à thay bằng motif “Một đứa chăm và một đứa lười” và “Bắt cá để được thưởng cái yếm”.
Để cụ thể hóa vấn đề, tác giả đã hệ thống hóa type truyện cổ Tấm Cám theo sơ
đồ motif một cách chi tiết như sau:
Trang 4Motif kết cấu Motif chủ đề và diễn biến
Motif tình huống Sự giống nhau như hệt đưa đến mối xung đột không thể
dung hòa được (hai cô gái giống nhau như hệt, không aichịu làm em)
Motif giải pháp Bắt cá để phân định chị em (ai bắt nhiều được làm chị).Motif chuyển tiếp Cái duy nhất biểu hiện sự can thiệp của thần linh (con cá
Chùm biến hóa: ba lần biến hóa
1 Biến hóa 1: con chim để kiểm nghiệm đúng sai
2 Biến hóa 2: cây thị
3 Biến hóa 3: Biến hóa 2 bước từ cây đến trái câyduy nhất khác thường chứa đựng sự tái sinh (tráithị duy nhất có chứa Tấm)
Cuối cùng, tác giả nhận định truyện Tấm Cám là kiểu truyện phổ biến trong khu
vực Đông Nam Á Dạng 1: chỉ có ba nhân vật chính (Chăm, Khmer, Việt) Dạng 2: Có
5 nhân vật trung tâm (Thái, Lào, Myanma)
1.2 Thực tiễn vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống
Tác giả đã nghiên cứu motif truyện kể dân gian truy tìm nguồn gốc và khả năngbiến đổi của motif Bên cạnh đó, tác giả đã xác định được vị trí, vai trò của motif trongmối tương quan chặt chẽ với cốt truyện
Bằng cách hệ thống type truyện Tấm Cám trong khu vực lân cận vùng Đông
Nam Á, Nguyễn Tấn Đắc đã làm sáng tỏ những type-truyện cổ xưa của Tấm Cám Nóbao gồm hai dạng: dạng chỉ có ba nhân vật chính (Tấm, Cám, mẹ ghẻ) và dạng cóthêm hai nhân vật người cha, người vợ cả Qua đó tìm ra các mối quan hệ văn hoá gầngũi giữa ba nước Chăm, Khmer và Việt (cổ) ở dạng thức đầu tiên Nhờ vào mối quan
hệ bền chặt giữa các nước cổ xưa trên mà hình thành dạng truyện Tấm Cám chỉ có ba
nhân vật chính là Tấm, Cám và mẹ ghẻ trong hệ thống truyện dân gian Việt Nam hiệnnay Mối tương quan chặt chẽ ở 3 dân tộc làm sáng tỏ type-truyện Tấm Cám nhưng
Trang 5tác giả vẫn chưa sâu chuỗi nó, gán vào hiện tượng văn hoá trong khu vực để lí giải lí
do chỉ lựa chọn dạng này ở người Việt Dù vậy thì cách mở rộng giới hạn tìm hiểutype-truyện cũng đã góp phần mở rộng nhận thức khi nghiên cứu tác phẩm và một sốđặc trưng type của truyện dân gian
Tác giả còn hệ thống dạng dị bản biến đổi của truyện Tấm Cám Năm 1886,
truyện của người Việt được kể theo A Landes là một người chồng và một người vợđều có một người con riêng, con gái người chồng là Cám và con gái người vợ gọi làTấm Đến bản kể của Vũ Ngọc Phan (1966) thì Tấm, Cám là hai chị em cùng cha khác
mẹ, Tấm mồ côi mẹ từ sớm, Cám là con vợ kế, ít năm sau người cha cũng chết Khôngchỉ thế đối với bản kể của Vũ Ngọc Phan dường như có sự biến đổi theo xu hướngđánh rơi motif và thay bằng motif khác
Truyện do Vũ Ngọc Phan kể đã đánh rơi nhiều motif cổ xưa như motif “giống nhau như hệt”; motif “Bắt cá để phân định chị em” Qua sự đối sánh các tình tiết,
motif bị biến đổi giữa hai bản kể chuyện, thì ta thấy rõ được sự giảm bớt ý nghĩa củaviệc tranh giành làm chị giữa Tấm và Cám và đồng thời thấy được quy luật vận độngmotif trong truyện dân gian Các motif mới được thay thế cho các motif cũ: motif
“Một đứa chăm và một đứa lười”, “Bắt cá để được thưởng cái yếm” đã thay thế chi các motif “giống nhau như hệt”, “Bắt cá để phân định chị em” Từ đó, tác giả chỉ ra
motif cổ “sự giống nhau như hệt” đưa đến mối xung đột không thể dung hoà được làmột chủ đề ẩn tạo nên kết cấu chìm của truyện Tấm Cám thường bị mâu thuẫn dì ghẻ-con chồng che khuất Tác giả còn phân tích các motif cũng có sự liên hệ chặt chẽ với
nhau như motif chủ đề “Sự giống nhau như hệt đưa đến mối xung đột không thể dung hoà được” tất sẽ dẫn đến những motif về “cái duy nhất” Mối liên hệ này đã phần nào khẳng định truyện Tấm Cám là type-truyện của motif về những cái duy nhất, là giải
pháp cho tình huống về sự giống nhau không thể dung hoà
Tác giả đã sử dụng phương pháp cấu trúc để tìm hiểu những mối quan hệ bêntrong của tác phẩm qua các motif và chỉ ra tính cố kết mạch lạc và thường xuyên củamotif Nhờ đó, tác phẩm cũng hiện lên rõ nét hơn, giúp người đọc dễ nắm bắt ý nghĩamotif đóng góp trong truyện Bên cạnh đó, tác giả còn hệ thống hoá motif bằng sơ đồ
Trang 6các motif trong type truyện cổ Tấm Cám đã giúp người đọc nắm bắt được trọn vẹn các
khía cạnh của phân tâm học, cấu trúc học trong tác phẩm Tấm Cám
Như vậy, nhờ vào phân tích bằng motif và type-truyện Tấm Cám, tác giả đã tìm
ra được nguồn gốc ra đời của truyện Tấm Cám Đồng thời thấy được sự phân bố và
tính phổ biến của các type và motif trong khu vực Hơn nữa nhờ đó mà ta có thể kiểm
kê được số lượng truyện kể Tấm Cám của dân tộc Việt và thấy được tính quốc tế, dân tộc, địa phương của các type và motif trong truyện Tấm Cám Từ đó, tạo cơ sở để ta
tìm hiểu tác phẩm qua việc nghiên cứu so sánh các nền văn hoá, văn học trên thế giới.Tuy nhiên khi chỉ nghiên cứu motif, type truyện, tác giả cũng phần nào loại bỏ hếtviệc nghiên cứu các chức năng trong tác phẩm, làm giảm bớt đi việc tìm hiểu ý nghĩatruyện và các nghệ thuật khi diễn xướng
Trang 7CHƯƠNG 2.
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG
VÀO PHÂN TÍCH MẪU ĐỀ CHIỀU CHIỀU TRONG CA DAO
2.1 Lý thuyết chung về phương pháp tiếp cận hệ thống
Hệ thống: Là một phức hợp (tập hợp) của các phần tử (yếu tố) theo một tổ chứcnhất định tạo nên chỉnh thể, trong đó có các phần tử có mối quan hệ lẫn nhau và với môi
trường ngoài hệ thống
Cách tiếp nhận hệ thống: Bao giờ cũng mang tính chất liên ngành, tạo cơ hội
đem những quy luật khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức này sang 1 lĩnh vực khác.Nếu phân tích Văn Học chỉ vận dụng kiến thức văn học mà không liên ngành thì
sẽ hạn chế về chiều sâu, chiều rộng của đối tượng trong nghiên cứu, giáo dục
Đặc trưng cơ bản của lý thuyết hệ thống:
- Hệ thống một khi đã định hình, bao giờ nó cũng hướng đích
2.2 Vận dụng phương pháp tiếp cận vào phân tích mẫu đề Chiều chiều trong ca dao
Liên quan đến buổi chiều, ca dao có nhiều cấu trúc phổ biến như: chiều chiều,chiều hôm, chiều nay “Chiều” là khoảng thời gian gần tối, trước khi bóng hoàng hôn
đổ xuống, mang trạng thái tĩnh, hay gợi buồn
Đây là thời gian rảnh rỗi nhất trong ngày, là thời điểm của gặp gỡ, đoàn tụ, trở về(con chim dáo dát bay về tổ, thủy triều cũng vội vã về với biển, con người cũng trở về vớimái ấm, chỗ dựa của lòng mình là tình yêu và tình cảm gia đình) Ấy vậy mà vào thờiđiểm ấy, các chàng trai, cô gái cô đơn xa cách người thương, còn người phụ nữ lấy
Trang 8chồng xa quê thì bơ vơ nơi đất khách quê người Vì vậy khi câu hát của họ vang lên là cảmột khoảng trời nhớ thương nhức buốt, là những khoảng trống vô hình, là những lời tâm
sự thiết tha chân tình
2.2.1 Lời của cô con gái nhớ mẹ
Gia đình là chiếc nôi đằm thắm ngọt ngào nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn Ông
bà, cha mẹ, anh em sống quây quần bên nhau trong tình yêu thương vô bờ bến Tìnhcảm ấy được hun đúc và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác qua những câu
ca dao đằm thắm ngọt ngào Công cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tìnhyêu nam nữ, vợ chồng Sống với ta như những kỉ niệm đẹp không bao giờ quên Một
ví dụ về tình yêu thương, nỗi nhớ của người con gái với mẹ già làm ta cảm động
Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Ca dao cổ truyền có nhiều câu mở đầu bằng hai tiếng chiều chiều Chiều chiều làgiai diệu nhè nhẹ, buồn thương Điệu tâm hồn biểu hiện trong câu ca dao vô cùng đặcsắc, nó quyện vào tâm hồn người đọc, người nghe
Câu thơ thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian (ngõsau, quê mẹ) Buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, ngày sắp tàn vũ trụ sắp đivào cõi hư vô Đây là những khoảng thời gian gợi nhớ, gợi sầu cho những kẻ thahương Nguyễn Du đã từng nhắc đến trong Truyện Kiều: Song xa vò võ phương trời -Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng hay Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (HuyCận) Trong bài ca dao trên cũng nói đến buổi chiều Thời gian cứ lặp đi lặp lại ngõsau chứ không phải là ngõ trước? Ngõ sau mới trông ra cánh đồng hắt hiu vắng vẻ,phải là chiều chiều khi cơm nước xong xuôi thì mới quạnh hiu Sự lặp đi lặp lại âmthanh ấy cũng chính là sự lặp lại một hành động (ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ) củamột tâm trạng Nghĩ về quê hương là nghĩ về mẹ, bóng hình mẹ đã tạc vào hình bóngquê hương Nhân vật trữ tình trong câu ca dao không được giới thiệu chi tiết cụ thể.Nhưng ta vẫn thấy hiện lên hình ảnh cô gái xa quê, nhớ quê, nhớ gia đình (đi lấychồng xa) Chắc là nhớ lắm, nhớ quá nên cứ chiều chiều và chiều nào cũng vậy cô rangõ sau ngậm ngùi ngóng về quê mẹ
Trang 9Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Càng trông về quê mẹ càng lẻ loi, cô đơn nơi quê người, nỗi thương nhớ da diếtkhông nguôi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Quê mẹ sau luỹ tre xanh Nơi cô gái sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương củagia đình, làng xóm Biết bao kỉ niệm buồn vui cùng gia đình bè bạn Nơi mà chiềuchiều chăn trâu cắt cỏ, có dòng sông nhỏ uốn quanh, có cánh đồng cò bay thẳng cánh,
có bà con chất phác hiền lành lam lũ sớm hôm Nơi ấy mẹ cha tần tảo sớm khuya nuôicon khôn lớn Nếu như theo phong tục xưa Gái thập tam nam thập lục thì cô gái đi lấychồng từ thuở mười ba Mười ba năm ấy sống bên mẹ hiền cô vẫn chỉ là đứa con bébỏng được yêu chiều trong vòng tay của mẹ Vậy mà giờ nơi quê người đất khách lòng
cô lại chẳng xót xa, thương nhớ Giờ này sau luỹ tre xanh mẹ già, với mái tóc bạc phơtựa cửa ngóng đứa con xa Sao mẹ ơi mẹ chẳng:
Có con thì gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho.
Vậy là chỉ đến khi không được sống trong sự nuông chiều của cha và sự săn sócyêu thương của mẹ, khi những hạnh phúc trìu mến ấy mất rồi người con mới thấm thíahết sự ngọt ngào khi bên mẹ
Ca dao nói ít mà gợi nhiều Chỉ hai từ quê mẹ mà gợi ra cho người đọc mộttrường liên tưởng vô cùng lớn Người con xa quê trông về quê mẹ mà lòng day dứtkhôn nguôi Bốn tiếng ruột đau chín chiều diễn tả nỗi nhớ da diết đó Tục ngữ, thànhngữ có chín nhớ mười thương thì ca dao có ruột đau chín chiều buổi chiều nào cũngnhớ về quê mẹ, trông hướng nào cũng thấy tê tái, xót xa Càng nhớ, người con lại càngthương, nỗi buồn cứ như vậy tăng lên gấp bội Dường như nỗi nhớ ấy, sự cô đơn ấykhông có giới hạn, có lẽ trong những lúc như vậy đứa con xa mơ ước nhiều lắm.Ước gì giờ đây đang nằm trong vòng tay âu yếm của mẹ, để tận hưởng cái giâyphút mơn man khắp da thịt trong đôi bàn tay dịu hiền, muốn ngồi bên mẹ để tròchuyện, tâm sự để đếm từng sợi tóc pha sương theo tháng ngày Bỗng xa xa, khoannhặt tiếng chim kêu chiều:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
Trang 10Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.
Bài ca dao là tình cảm mẹ con, tình cảm quê hương và gia đình sâu sắc trong tâmhồn mỗi chúng ta Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn sâu nặng củangười con gái xa quê đối với mẹ già Giọng điệu tâm tình sâu lắng, lời thơ êm ái nhẹnhàng gợi lên trong lòng người đọc bao liên tưởng về tình cảm mẹ con, gia đình,những kỉ niệm yêu dấu tuổi thơ Làm sao chúng ta có thể quên được bài ca dao trữ tìnhđằm thắm như vậy Chiều chiều! Nốt nhạc đã dạo đầu cho một môtíp gợi buồn Đằngsau nốt nhạc ấy hiện lên chân dung một cô gái với một nỗi buồn khắc khoải Nỗi buồncủa một cô gái mới về nhà chồng còn lạ lẫm chưa quen, trong lòng cồn cào bao nỗi nhớ
về gia đình, cha mẹ và những kỷ niệm đẹp Thế là chiều nào cũng vậy, cô lén ra ngõ saunhà, nơi ít người lại qua, ít ai để ý, ở đó cô có thể tránh mọi con mắt dò xét để thả hồn quanhững nỗi nhớ, để “trông về quê mẹ” Mà có xa xôi gì cho cam Có khi chỉ cách có mộtquãng đồng mà hóa ngàn dặm tít mù, bởi một lẽ thời phong kiến người con gái có chồng
là đóng khung cuộc đời mình ở nhà chồng Bài ca dao mở ra là “chiều chiều” khép lại là
“chín chiều” như đóng chặt tất cả những con đường mà cô có thể về với mẹ Thật xót xacho thân phận những người phụ nữ thời phong kiến
Ở một lời ca khác nỗi nhớ đã trở thành nỗi đau tột cùng khi người con gái chạm vàomàn sương của sự mất mát:
Chiều chiều xách giỏ hái rau Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần
Hình ảnh người mẹ đã tan vào khói sương của hoài niệm Chỉ còn lại trong trái timngười con gái xa quê một nỗi đau không bao giờ lành lặn Nỗi đau ấy lại tiếp tục cộnghưởng ở những thế hệ bạn đọc mai sau
2.2.2 Nỗi nhớ của những người yêu nhau
Trang 11Chiều chiều là thời điểm diễn xướng chủ yếu của ca dao dân ca trữ tình Câu hò câuhát vang lên trên dòng kinh, cây đa, bến nước, sân đình… nhiều nhất vào thời điểm ấy.Đây cũng là thời điểm phần tự do về cuộc sống bên trong con người bộc lộ rõ nhất.Các chàng trai mạnh dạn bày tỏ tâm tư tình cảm của mình:
Chiều chiều ra đứng bờ ao Nước kia không khát, khát khao duyên nàng
Hoặc:
Chiều chiều ra đứng bờ biền Nhện giăng tơ đóng cảm phiền thương em.
Rồi các chàng tán tỉnh trêu ghẹo:
Chiều chiều vãn cảnh vườn đào Hỏi thăm hoa lý rơi vào tay ai?
Hay:
Chiều chiều vịt lội bàu sen
Để anh lên xuống làm quen ít ngày
Dường như bao giờ các chàng cũng mạnh dạn hơn, chủ động hơn trong việc tỏtình Nhưng đôi lúc sự táo bạo của “phe tóc dài” cũng đâu thua kém gì “phái mày râu”
Chiều chiều ra đứng cổng làng Nghe trống bãi tràng em chạy đón anh
Và:
Chiều chiều vịt lội sang sông Trời gầm đá nẻ thiếp không bỏ chàng
Trang 12Qua đó chúng ta thấy tình cảm của các nàng sôi nổi, quyết liệt và cũng thật đằmthắm dịu dàng đầy nữ tính.
2.2.3 Mang đậm chất lý trí, triết lý
Đa số những câu có môtíp chiều chiều người ta sáng tác ra để gửi gắm nỗi nhớ,niềm thương, nghiêng hẳn về mặt tình cảm Song bên cạnh đó cũng có một số câunghiêng về phần lý trí nhiều hơn, những câu ấy mang đậm chất triết lý:
Chiều chiều bóng bổ qua cầu Con ong say vì mật, con bướm sầu vì hoa
Vốn dĩ buổi chiều đã tạo cho người ta cảm giác buồn Thế mà ở đây âm “iêu” trongtiếng “chiều” được lặp lại làm cho nỗi buồn như nhân đôi Rồi việc sử dụng thanh bằngcũng tạo ra một âm điệu buồn cho lời ca “Chiều chiều” chẳng gọi tên một buổi chiều cụthể nào mà nó là một khái niệm mơ hồ chung chung cho tất cả những buổi chiều có cùngmột tâm trạng một cảm xúc Nó gợi lên trong ta một cái gì ngưng đọng, như lặp lại vàkhông có sự thay đổi Có phải chính cái âm hưởng dìu dịu nhè nhẹ, buồn buồn của nó màtác giả dân gian đã dùng để phổ nhạc cho những bài hát ru:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều Tay bưng cái rổ tay dìu con thơ
Môtíp bài hát ru phổ biến nhất là “chiều chiều lại nhớ chiều chiều” Chữ “chiều”được láy lại nhiều lần, tạo ra một âm điệu đặc biệt dễ ru ngủ lòng người
Trong hát ru như có một thế giới đặc biệt Đó là thế giới dành cho trẻ, của trẻ Đó làthế giới của thực vật, nhiều nhất là động vật Ở đó cái mà con người làm, loài vật cũnglàm:
Chiều chiều con quạ lợp nhà
Con cu chẻ lạt con gà đưa tranh