1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm chuyên Đề giáo dục học0

42 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi Dưỡng Nghiệp Vụ Sư Phạm Chuyên Đề Giáo Dục Học
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Tài Liệu Bồi Dưỡng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 6,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một cách cu thé hon là muốn đổi mới giáo dục và đào tạo thành công thì trước đổi mới chúng ta phải trả lời được và đúng câu hỏi: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay tron

Trang 1

(Tài liệu bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm dành cho người có bằng cử nhân có

nguyện vọng trở thành giáo viên Tiểu học)

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

CHUONG 1 SU CAN THIET CUA MON GIÁO DỤC HỌC - 1

1.1 Giáo dục là một hiện tượng đặc trung cla x4 GI eee ccceeceeeceeeeeeeeeeeeeeeeeeeeeseeseness 1

1.2 Các tư tưởng giáo dục chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam - 7 CHƯƠNG 2 VAI TRỊ CUA GIAO DUC _DOI VOl SU PHAT TRIEN XA HO!

2.1 Vai trị của giáo dục đối với sự phát triển xã hội . ¿5-5 5 se s<£ se +zczss2 10 2.2 Vai trị của giáo dục đối Với sự phát triển cá nhân .- - s5 << 2£ +e£+sxzc+zezecsz 15 CHƯƠNG 3 GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRONG HỆ THĨNG GIÁO DỤC QUỐC

3.1 Hệ thống giáo dục Quốc dân . - + +22 +22 ++£++zE+EeEEeEesreezeeerrrrrsreerrrerere 19

3.2 Giáo dục tiêu học trong hệ thống giáo dục quốc dân - -2-2- 2s <5<+==s+s 20

3.3 Hoạt động sư phạm của người giáo viên trong nhà trường tiêu học 21

CHUONG 4 QUA TRÌNH GIÁO DỤC HỌC SINH Ở CÁP TIỂU HỌC 26

4.1 Khái niệm, bản chất, đặc điểm, nguyên tắc Của quá trình giáo dục học sinh ở cấp tiểu lọC LH HT KHE TT KH TH HT TH TH HH HH KH KHE kg 26 4.2 Nội dung giáo dục học sinh ở cấp tiểu học . ¿-¿ 5c c5 + z‡zEseksexzrserzerzrree 31 4.3 Phương pháp, hình thức tơ chức giáo dục học sinh ở cấp tiều học . 33 4.4 Đánh giá giáo dục học sinh ở cấp tiểu học . -¿- ¿-¿- 5+ 2+ se 2 *EsekzExzEeetzerzrreree 38

IV )80i000in 100.47 (0 -((4ddA|:ÄAäH 40

Trang 3

CHUONG 1 SU CAN THIET CUA MÔN GIÁO DỤC HỌC

1.1 Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội

1.1.1 Bản chất của giáo dục với tư cách là một hiện tượng đặc trưng của xã hội

Đề xã hội loài người tồn tại và phát triển thì ngay từ khi xuất hiện con người đã

phải khám phá thế giới khách quan Khám phá thế giới khách quan là phát hiện ra

những quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và quy luật của con người rồi bắt những quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và quy luật của con người phục vụ chính bản thân con người, nhờ đó mà con người tồn tại

Thời kì đầu của sự phát triển xã hội, con người hoản toàn phụ thuộc vào thiên nhiên Thiên nhiên ban cho con người cái gì thì con người hưởng cái ấy Thiên nhiên chỉ ban cho con người quả cây hoa lá, dòng suối, dòng sông, hang động đôi tay, đôi chân, con mắt, cái tai nhưng thiên nhiên không cho con người câu trả lời: Quả nào ăn được, Quả nào không ăn được, dòng suối, dòng sông nào uống được, dòng suối dòng sông nào không uống được; hang động nào ở được, hang động nào không ở được tay

dùng để làm gì? Chân dùng để làm gi Câu trả lời ấy con người phải tự tìm kiếm

Muốn tìm kiếm được câu trả lời ấy thì con người phải khám phá thế giới khách quan Lúc đầu con người khám phá thế giới khách quan bằng cách tri giác trực tiếp (băng cách sử dụng năm giác quan để khám phá thế giới khách quan) Sau này do sự phát triển của xã hội loài người dân số ngày cảng tăng, nhu cầu ngày cảng lớn, thiên nhiên ngày cảng cạn kiệt buộc con người phải nghĩ đến việc đem giống cây về trong vườn nhà mình đề tròng, giữ lấy giống và nhân giống lên phát triển thành trang trại để phục

vụ đời Sống con người, muốn vậy con người phải nghiên cứu đất đai thô nhưỡng, đặc điểm cây trồng; buộc con người phải đem động vật hoang dã vẻ thuần hoá trở thành Vật nuôi trong gia đình, giữ lấy giống, nhân giống lên phát triển thành trang trại để phục vụ đời sống con người, muốn vậy con người phải nghiên cứu đặc điểm đời sống động vật hoang dã vì vậy một con đường khám phá thế giới khách quan mới ra đời đó

là con đường nghiên cứu khoa học

Kết quả của việc con người khám phá thế giới khách quan qua nhiều thế hệ

bang con đường trí giác trực tiếp hay băng con đường nghiên cứu khoa học là con

người tích luỹ được một hệ thông những kinh nghiệm lịch sử - xã hội Hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội được lưu giữ dưới một dạng rất đặc biệt đó là nền văn hoá

xã hội

Nếu con người chỉ dừng ở việc phát hiện ra những quy luật của tự nhiên, quy

luật của xã hội, quy luật của con người rồi bắt những quy luật này phục Vụ con người,

thé hé nao biét thé hé ay, thé hé di sau muốn biết được những quy luật của tự nhiên,

Trang 4

những quy luật của xã hội, những quy luật của con người .thì lại phải làm lại từ đầu

và như vậy xã hội loài người chỉ tồn tại mà không phát triển

Muốn xã hội loài người không chỉ tồn tại mà còn phát trién thi thế hệ đi trước phải truyền lại cho thé hệ đi sau hệ thông những kinh nghiệm lịch sử - xã hội và thế hệ

đi sau tiếp thu lấy hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội và làm cho hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội phong phủ hơn đa dạng hơn lên

Hiện tượng thé hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau hệ thống những kinh

nghiệm lịch sử - xã hội gọi là hiện tượng dạy

Hiên tượng thé hệ đi sau tiếp thu lấy hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội và làm cho hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội phong phú hơn, đa dạng

hơn lên gọi là hiện tượng học

Vi hiện tượng dạy và hiện tượng học có mối quan hệ biện chứng với nhau nên gọi chung là hiện tượng dạy học và theo nghĩa rộng nó được gọi là hiện tượng giáo dục

* Hệ thông những kinh nghiệm lịch sử - xã hội

Hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội với tư cách là kết quả của việc con

người khám phá thế giới khách quan được thê hiện ở 4 thành phản sau:

* Thành phần thứ nhất của hệ thống những kinh nghiệm lịch sứ - xã gợi /à: Hệ thông những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người và về cách thức hoạt động

- Tri thức là những dấu hiệu (những đặc điểm) cho ta biết về các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và là kết quả của việc con người khám phá thế giới khách

quan

- Tri thức kinh nghiệm là trí thức được con người khám phá ra bằng cách trí giác trực tiếp các sự Vật, hiện tượng Xảy ra xung quanh con người, ngay trong thực tiễn cuộc sống Dựa vào các đặc điểm bên ngoài cua Su vat hiện tượng, của mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; dựa vào sự lặp ổi lặp lại của các sự vật hiện tượng, của mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng mà con người tìm ra những tri thức Những tri thức được tìm ra bằng con đường như vậy được gọi là tri thức kinh nghiệm Những tri thức kinh nghiệm của nhân loại hiện nay đang được đúc kết trong tục ngữ, ca dao và dân

2

Trang 5

người này sang người khác bằng con đường dạy học Những tri thức khoa học mới cho

ta biết được bản chất của sự vật hiện tượng hay mới trả lời được câu hỏi tại sao

Con người muốn tôn tại và phát triển thì con người phải dùng tri thức khoa học, nêu chỉ dùng trí thức kinh nghiệm thì con người chỉ tồn tại mà không phát triển, đương nhiên nêu chỉ tồn tại mà không phát triển thì đến lúc nào đó sẽ bị diệt vong

* Thành phản thứ 2 của hệ thóng những kinh nghiệm l;ch sử - xã hội: Hệ thống những

kĩ năng, kĩ xảo thực hiện các cách thức hoạt động đã biết

Kĩ năng là khả năng thực hiện thành thạo một động tác nào đó, nếu nó được nâng lên ở mức độ tự động hoá thì nó trở thành kĩ xảo Trong quá trình khám phá thế

giới khách quan con người không chỉ biêt về thế giới khách quan mà còn biết cách biết

về thế giới khách quan và vận dụng những tri thức về các sự vật hiện tượng trong thé

giới khách quan một cách thành thạo vào thực tiễn cuộc Sống để tồn tại Ví dụ: việc

khám phá cái quạt không chỉ biết về cái quạt, biết cách biết về cái quạt mà còn biết Sử

dụng cái quạt một cách thành thạo để làm mát cho con người

* Thành phần thứ ba cửa hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội:

Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động tìm tòi sáng tao

Nhờ việc con người khám phá thế giới khách quan mà con người không chỉ biết

về thế giới khách quan, biết vận dụng tri thức về thế giới khách quan vào thực tiễn cuộc Sông mà còn biết vận dụng một cách sáng tạo

* Thanh phan thie te cia hệ thống những kinh nghiệm l;ch sứ - xã hội:

Hệ thống những quy phạm qui định mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và thế giới khách quan

Trong quá trình khám phá xã hội, con người biết được người Với người sống để yêu nhau, học sinh phải lễ phép với thầy cô giáo, con phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ đó chính là những quy phạm quy định mối quan hệ giữa con người và con người

4 thành phần này của hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội được lưu giữ

dưới một dạng rất đặc biệt đó là nền văn hoá xã hội

+ Việc truyền thụ và tiếp thu thành phần thứ nhất giúp con người biết + Việc truyền thụ và tiếp thu thành phân thứ hai giúp con người biết làm + Việc truyền thụ và tiếp thu thành phản thứ ba giúp con người biết làm sáng tao + Việc truyền thụ và tiếp thu thành phân thứ tư giúp con người có thái độ phù hợp Biết; biết làm; biết làm sáng tạo và có thái độ phù hợp là một nhân cách Như vậy

việc truyền thụ và tiếp thu hệ thống những kinh nghiệm lịch sử - xã hội giúp mỗi cá nhân trở thành một nhân cách và chính những nhân cách này góp phan lam cho xã

hội không chỉ tồn tại mà còn phát triển

Trang 6

Thực tiễn cho thấy: Xã hội chỉ cần tồn tại mà không cần phát triển thi xã hội chỉ cần

dựa vào số lượng người Xã hội càng đông dân số thì tốc độ diệt vong cảng chậm và

chắc chắn đến lúc nào đó xã hội sẽ bị diệt vong Xã hội muốn phát triển thì xã hội phải

dựa vào chất lượng người tức là dựa vào những con người được đào tạo Những con người được đảo tạo là sản phâm của giáo dục

1.1.2 Tính chất của giáo dục

* Cáo dục là một hiện tƯỢng phổ biến

Ở đâu có con người thì ở đó có hiện tượng giáo dục Hiện tượng giáo dục không chỉ có trong nhà trường, gia đình mà nó còn có ở mọi nơi, mọi lúc mọi chỗ, cứ

ở đầu có con người thì ở đó có hiện tượng giáo dục

* Cáo dục là một hiện tượng vĩnh hằng

Hiện tượng giáo dục tồn tại mãi mãi cùng sự tồn tại của xã hội loài người Hiện

tượng giáo dục chỉ mắt đi khi xã hội loài người bị diệt vong

* Gido duc mang tinh lich sw

- Ung voi méi giai đoạn lich sử khác nhau có một nền giáo dục khác nhau, nền giáo dục của giai đoạn lịch sử nảy khác nền giáo dục Của giai đoạn lịch sử kia là ở mục đích, nội dung và phương pháp

- Trong cùng một giai đoạn lịch sử, khi lịch sử thay đổi thì giáo dục cũng thay đổi theo

Lịch sử giáo dục Việt Nam đã chứng minh: Từ năm 1945 cho đến nay chúng ta

đã phải 3 lần cải cách giáo dục và hiện nay chúng ta đang đôi mới giáo dục và đảo tạo Mỗi làn lịch sử đất nước sang trang là một lần chúng ta phải cải cách giáo dục

Việc chúng ta 3 lần cải cách giáo dục và hiện nay đang đổi mới giáo dục và đào

tạo là một tất yêu khách quan

Tính lịch sử của giáo dục là một tính quy luật quan trọng của sự phát triển giáo dục Điều này có nghĩa là muốn phát triển giáo dục chúng ta phải căn cứ vảo tính lịch

Sử Của giáo dục hay nói cách khác là phải căn cứ vào yêu cầu đòi hỏi của lịch sử xã hội

Về con người

Một nền giáo dục phát triển phải là nền giáo dục có thể đào tạo ra được những con người có khả năng đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của lịch sử xã hội Một nền giáo dục Việt Nam phát triển phải là nền giao duc dao tao ra được những con người có thê đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tính lịch sử của giáo dục là một cơ sở khoa học của việc đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay ở Việt Nam Muốn đôi mới giáo dục và đào tạo thành công, chúng ta phải căn cứ vào tính lịch sử của giáo dục hay nói cách khác là phải căn cứ vào yêu cầu đòi hỏi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Về con người Mục tiêu của đổi mới là xây dựng một nền giáo dục Việt Nam phát triển, mà nền giáo dục

Trang 7

Việt Nam phát triển phải là nền giáo dục có thê đào tạo ra được những con người đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam Một cách

cu thé hon là muốn đổi mới giáo dục và đào tạo thành công thì trước đổi mới chúng ta phải trả lời được và đúng câu hỏi: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện

nay trong điều kiện của nén kinh tế thị trường, trong điều kiện của cuộc cách mạng

khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão, trong điều kiện của hội nhập quốc

tế, trong điều kiện của nèn kinh tế tri thức và trong điều kiện của WTO cần những con người như thế nào?”

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đang cần những con người phát triển toàn diện, thông minh, linh hoạt, năng động, sáng tạo có khả năng tạO

ra công ăn việc làm cho bản thân và cho người khác Mục tiêu của việc đổi mới giáo dục và đảo tạo là đào tạo ra những con người mà xã hội cần Vì vậy can phải căn cứ vảo yêu cầu đòi hỏi của xã hội về con Người để xác định lại một cách cụ thể rõ rang Muc tiéu giao duc Viét Nam va lay mục tiêu giáo dục làm cơ sở cho mọi hoạt động đổi mới giáo dục va dao tao

* Giáo dục mang tỉnh giai cấp

Trong xã hội có giai cấp thì giáo đục mang tính giai cấp rõ rệt

- Ung với mỗi giai cấp khác nhau có một nền giáo dục khác nhau, nền giáo dục của giai cấp này khác nền giáo dục của giai cấp kia là ở mục đích, nội dung và phương pháp

Ứng với giai cấp chủ nô có giáo dục chiếm hữu nô lệ; ứng với giai cáp phong

kiến có nền giáo dục phong kiến; ứng với giai cấp tư sản có nền giáo dục tư bản chủ nghĩa, ứng với giai cấp vô sản có nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Nền giáo dục của giai cấp này khác nền giáo dục của giai cấp kia là ở mục đích, nội dung và phương pháp

Thực tiền cho thấy:

- Bất kì giai cấp nào cũng lấy nhà trường làm công cụ Của chuyên chính giai cấp Lấy

nhà trường làm công cụ để bảo vệ quyền lợi của giai cáp Những giai cấp bóc lột lay

giáo dục làm công cụ để bảo vệ quyên được áp bức bóc lột của giai cấp bóc lột; giai cấp vô sản cũng lấy nhà trường làm công cụ để bảo vệ quyên lợi của giai cấp vô sản

mà quyền lợi của giai cấp vô sản là quyền lợi của nhân dân lao động Điều này được thể hiện trong quan điểm giáo dục của Đảng “Giáo dục là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, nhà trường là công cụ Của chuyên chính vô sản”

- Bất kỉ giai cấp nào cũng lẫy môi trường nhà trường và môi trường giáo dục làm võ

đài đầu tranh giai cáp

Cuộc đầu tranh giai cấp diễn ra khó khăn nhất, âm thàm nhất và quyết liệt nhát

không phải là trên mat trận quân sự mả trên mặt trận tư tưởng và văn hóa trong đó giáo

dục là một trận địa Trên mặt trận tư tưởng và văn hóa một mặt trận không trận địa,

Trang 8

không màu cờ Sắc áo, thăng thua không rõ, địch ta không rõ, không dùng viên đạn boc đồng có tiếng nô bắn trực diện mà dùng viên đạn bọc đường không tiếng nô, êm ái ngọt ngào, lại bắn sau lưng Trong cuộc đầu tranh giai cấp thắng hay thua là trên mặt trận tư tưởng và văn hóa

- Nếu nét đặc trưng của nền giáo dục của giai cấp bóc lột là tồn tại trong nó 2 loại nhà trường, một loại nhà trường dành cho con em của giai cấp bóc lột với mục tiêu là đào tạo con em của giai cấp bóc lột thành những ông chủ, thành những nhà quản lí kinh doanh giỏi, những nhà quân sự tài ba, những người có thể bóc lột được người lao động cảng nhiều càng tốt, càng mang lại nhiều lợi nhuận cho giai cấp tư sản càng tốt, với nội dung giáo dục toàn diện, phương pháp đảo tạo là phương pháp nhà trường, một loại nhà trường dành cho con em của giai cấp bị bóc lột với mục tiêu là đào tạo con em của giai cấp bị bóc lột thành những con người phát triển què quặt chỉ biết làm mà

không biết nguyên lí, chỉ biết làm một việc mà không biết làm nhiều việc, chỉ biết làm

mà không biết đấu tranh đòi hỏi quyền lợi với nội dung giáo dục phiến diện; phương pháp đảo tạo là phương pháp truyền thụ trực tiếp, càm tay chỉ việc thì nét đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là tồn tại trong đó một loại nhà trường đó là nhà trường Của toản thể con em nhân dân lao động với mục tiêu là đảo tạo con em nhân dân lao động trở thành những con người phát triển toàn diện, với nội dung giáo dục toàn diện và phương pháp dao tạo là phương pháp nhà trường

- Nếu giai cấp bóc lột thực hiện một nền giáo dục phân biệt và bất bình đăng thì giai

cấp vô sản lại thực hiện một nền giáo dục dân chủ và bình đẳng

Giáo dục dưới chế độ của những giai cấp bóc lột là đặc quyên đặc lợi của giai

cấp bóc lột, với con em của nhân dân lao động chỉ là sự ban ơn nhỏ giọt, nền giáo dục của giai cấp bóc lột là nền giáo dục cho 10% dân cư Còn nền giáo dục của giai cấp vô Sản là nền giáo dục của dân đo dân và vì dân Là nền giáo đục cho 100% dân cư

Tính giai cấp Của giáo dục là một tính quy luật của Sự phát triển giáo dục Điều này có nghĩa là muốn phát triển giáo dục chúng ta phải căn cứ vào tính giai cấp của giáo dục, căn cứ vào yêu cầu đòi hỏi của Đảng về con người

Như vậy, muốn đổi mới giáo dục và đào tạo thành công, trước đổi mới chúng ta phải trả lời được và đúng câu hỏi : “ Đảng cộng sản Việt Nam hay giai cấp vô sản Việt

Nam cản những con người như thế nào?” Đảng cộng sản Việt Nam cần những con

người Việt Nam có thể bảo vệ được Đảng, bảo vệ được nhân dân, bảo vệ được chủ nghĩa xã hội Trong đổi mới phải căn cứ vào câu trả lời trên để xác định lại mục tiêu giáo dục và lấy mục tiêu giáo dục làm cơ sở cho mọi hoạt động đổi mới giáo dục và đảo tạo

Trang 9

Tóm lại: Giáo dục là một phạm trù mang tính lịch Sử và tính giai cấp Tính lịch

Sử và tính giai cấp của giáo dục là những tính quy luật của sự phát triển giáo dục và là

những cơ sở khoa học của việc đổi mới giáo duc va dao tao

1.2 Các tư tướng giáo dục chủ yếu trên thế giới và ở Việt Nam

Mỗi con người bằng kinh nghiệm cùa mình cũng có được những trí thức nhất định trong lĩnh vực giáo dục Ở thời kì nguyên thuỷ, con người phải làm chủ được những tri thức về giáo dục trẻ em, phải truyền lại những tri thức đó từ thế hệ này đến thế hệ khác dưới hình thức phong tục, tập quán, trò chơi, các quy tắc của cuộc sống Các tri thức này phản ánh trong các câu ca dao, tục ngữ truyện cô tích, thần thoại, nó

có vai trò quan trọng trong xã hội, trong cuộc sống gia đình cũng như giúp cho việc hoàn thiện nhân cách

Trong quá trình phát triển xã hội, những tri thức kinh nghiệm được khái quát lại trong từng khoa học cụ thê Có thể xem khoa học là một trong những hình thái ý thức

xã hội, bao gồm hoạt động để tạo ra hệ thống những tri thức khách quan về thực tiễn, đồng thời bao gồm cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức làm nền tảng cho bức tranh về thế giới Sự tích luỹ kinh nghiệm là phương tiện làm phong phú

khoa học, phát triển lí luận và thực tiến

Giáo dục học là một ngành của khoa học xã hội, ngày càng được củng cô bằng hệ thống lí thuyết vững chắc và phát triển mạnh mẽ, góp phần to lớn vào sự phát triển xã hội Lúc đầu, những tri thức về giáo dục được hình thành trong khuôn khô của Triết học, nó chỉ là một bộ phận của Triết học Những nhà triết học thòi cô đại như Socrate (469 - 399 trước CN), Platon (427 - 348 trước ÔN), Aristote (348 - 322 trước CN) đã lí giải các vấn để về giáo dục ở phương Tây Ở phương Đông, tư tưởng giáo dục của Không Tử (551 - 479 trước CN) đã có những đóng góp quý báu vào kho tảng lí luận giáo dục của dân tộc Trung Hoa nói riêng và kho tàng giáo dục của nhân loại nói chung Những tư tưởng giáo dục trong giai đoạn này đã được xuất hiện và tập trung đậm nét trong các quan điểm triết học

Vào thời kì Văn hóa Phục hưng, những người có công lớn trong việc làm phong phú những tư tưởng giáo dục như nhà văn Pháp Rabole (1494 - 1555), nhà hoạt động chính trị và nhà tư tưởng Anh - Thomas Mor (1478 - 1535), nhà triết hoc Italia - Kampaiiella (1562 - 1659)

Mặc dù phát triển mạnh những lí thuyết giáo dục như vậy, nhưng đến đầu thế kỉ thứ XVII, Giáo dục học vẫn còn là một bộ phan cua Triét hoc Sau nay, nha triét hoc

và tự nhiên học Anh là Beeơn (1561 - 1626) xuất bản cuỗn Về giá fr‡ và sự gia tăng của khoa học *Xào năm 1623, trong đó ông có ý định phân loại khoa học va tách Giáo dục học ra như một khoa học độc lập

Ngay trong thế kỉ đó, Giáo dục học như một khoa học độc lập được củng cố

7

Trang 10

vững chắc bằng nhiều công trình của lêm Amôt Cémenki (1592 - 1670) Ông đã đóng một cái mốc quan trọng trong quá trình phát triển lí luận và hoạt động giáo dục của nhân loại, các công trình nghiên cứu của ông là một di sản đồ sộ với ngót 140 công trình nghiên cứu chứa đựng những tư tưởng lớn về giáo dục, về xã hội, về triết học v.v Cômenxki là người đầu tiên trong lịch sử đã nêu được một hệ thống các nguyên tắc trong dạy học mà đến nay hầu như các nguyên tắc đó về cơ bản vẫn có ý nghĩa trong trong hệ thông các nguyên tắc dạy học hiện đại Những tư tưởng lớn về lí luận dạy học của Cémenxki được trình bày trong tác phâm nôi tiếng Fí /uận dạy học

vĩ đại” viết năm 1632 Bằng quan điểm giáo dục mới mẻ, khoa học, cuốn sách này đã

ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của một ngành khoa học mới, đó là “Giáo đực học” Đóng góp công sức to lớn vào bước nhảy này của giáo dục học còn có: G.H Pextalédi (Pestalozzi, 1746 — 1827, người thuy sĩ), A.V.Đixtecvec (Disterweg, L790 —

1866, người Đức), K.Đ Usinxky(1824 — 1870, người Nga)

Đến giữa thế kỉ 19, học thuyết Mác ra đời Dưới ánh sáng của học thuyết Mác những van dé của giáo dục và thực tiễn giáo dục được giải quyết

Đến thé ki thứ 20, cách mạng vô sản thăng lợi và được đánh dấu bằng Cuộc cách mạng tháng mười Nga Hệ thông Xã hội chủ nghĩa ra đời, học thuyết Mác được Lénin hoan thiện trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội

Ở Việt Nam thời phong kiến, quan điểm giáo dục là “học để làm quan”; Thời thực dân Pháp thống trị là “học để làm công chức phục vụ chính quyên thuộc địa” Giai đoạn từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước thời kỳ đổi mới (1986) là giai đoạn chuyên tiếp Chính vì tính chất chuyên tiếp, cho nên có nhiều tư tưởng giáo dục xuất hiện Mở đầu đất nước giành được độc lập là tư tưởng “Xây đựng một nên giáo dục hoàn toàn Việt Nam” Tư tưởng này hướng đến tạo ra một thế đứng cho nền giáo dục Tháng 9/1949 khi đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương

(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay) trong một hoàn cảnh cụ thể, Chủ

tịch Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở, khuyên răn những cán bộ lãnh đạo các cấp của Việt Nam trong tương lai trên bước đường học hỏi, tU dưỡng là “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học dé phung su doan thé, giai cap và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, cho nên, đây chưa phải là một triết lý giáo dục Nhằm khắc phục những hạn chế trong giáo dục, một

số tư tưởng giáo dục phản ánh mục tiêu cục bộ ra đời, chưa đạt tới triết lý giáo dục đó

là “kết hợp lý luận với thực tế”, “học đi đôi với hành”, “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” Các tư tưởng “Học mãi để tiến bộ”, “học suốt đời”, “xây dựng xã hội học tập” thê hiện yêu câu, cách thức giáo dục liên tục trong không gian và thời gian Giai đoạn cách mạng mới của Việt Nam được bắt đầu khi đất nước bước vào công cuộc đôi mới và hội nhập quốc tế (1986) Trên cơ sở mục tiêu lý tưởng xã hội xã

8

Trang 11

hội chủ nghĩa và định hướng về giáo dục và đảo tạo của Đảng, quan điểm giáo dục Việt Nam là: Giáo dục nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bôi dưỡng nhân tài đề xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình Tư tưởng trên của Đảng về giáo dục và đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đất nước

Như vậy, lịch sử giáo dục học đã chứng minh rằng, ở mỗi giai đoạn phát triển trong từng thời đại khác nhau, Giáo dục học không ngừng sáng tạo, bô sung những tri thức mới Giáo dục học tự điều chỉnh và phát triển nhằm phục vụ các yêu cầu ngày cảng cao của hoạt động giáo dục trong thực tiễn Giáo dục học nghiên cứu, chỉ đạo thực tiễn giáo dục, đảm bảo cho giáo dục thực hiện tốt các chức năng của mình Thực tiễn giáo dục là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của Giáo dục học, đồng thời những kinh nghiệm của thực tiễn giáo dục được hệ thống hoá, khái quát hoá trong Giáo dục

học

Trong quá trình phát triển của mình, Giáo dục học luôn loại bỏ những quan

điểm lỗi thời và luôn luôn bổ sung các luận điểm và lí thuyết mới phủ hợp với trình độ

và yêu câu của xã hội

Trang 12

CHUONG 2 VAI TRO CUA GIAO DUC DOI VOI SU PHAT TRIEN XA HOI VA CA NHAN

2.1 Vai tro của giáo dục đối với sự phát triển xã hội

2.1.1 Các chức năng xã hội của giáo dục

Vì giáo đục là một chức năng của xã hội nên giáo dục có khả năng tác động đến các lĩnh vực Cua doi Sống xã hội Khả năng tác động của giáo dục đến các lĩnh vực của đời Sống xã hội được gọi là các chức năng xã hội Của giáo dục

Giáo dục có ba chức năng cơ bản SaU:

2.1.1.1 Chức năng kinh tế - sản Xuất

Giáo dục góp phát triển nèn kinh tế - sản xuất của xã hội bằng cách:

+ Giáo dục đảo tạo ra Sức lao động mới khéo léo hơn hiệu QUả hơn

+ Giáo dục nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật cho người đang lao động dé thay thé cho sức lao động vốn có của xã hội đã bị tiêu hao đi trong quá trình tham gia vao lao

động sản xuất hoặc không còn phù hợp với yêu cầu của nèn sản xuất hiện đại, nhờ đó

mà sản Xuất phát triển, sản xuất phát triển thì kinh tế cũng phát triển

Thực tiễn cho thay hằng năm sức lao động bị tiêu hoa đi do tuôi tác là không nhỏ được thẻ hiện ở sức lao động Về hưu và mất Sức, chưa kê Sức lao động bị tiêu hoa

do tai nạn lao động, do tai nạn giao thông và do bệnh tật Nhờ có giáo dục, hằng năm cung cấp đủ cho xã hội sức lao động mới có trình độ cao hơn để bù dap Vào sức lao động bị tiêu hoa trong quá trình tham gia vào lao động sản xuất

Từ năm 1986, sau đại hội Đảng lần thứ 6 đất nước mở cửa, khi công nghệ và

các phương tiện kĩ thuật hiện đại ổi vào trong sản xuất thì trình độ người lao động bat cập Đề sử dụng được công nghệ và các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào trong sản xuất, giáo dục đã phải cấp tốc nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật cho người lao động (bang hình thức đào tạo Vừa làm vừa học) dé họ kịp thời nắm bắt được công nghệ và

phương tiện kĩ thuật hiện đại và đưa vào trong sản xuất, nhờ đó sản xuất phát triển, kinh tế phát triển

2.1.1.2 Chức năng chính trị - xã hội

Bát kì xã hội nào cũng được cấu thành bởi các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội và được gọi là cấu trúc xã hội Các giai cấp; các tàng lớp xã hội; các nhóm xã hội được gọi là các thành phan cấu trúc xã hội

+ Nền giáo dục tư bản chủ nghĩa góp phần làm cho xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng: làm cho khoảng cách giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội ngày cảng gia tăng vì vậy nó làm cho tình hình chính trị bất ôn, xã hội thì phức tạp Điều này được chứng minh ở các nước tư bản chủ nghĩa Vì mâu thuẫn giữa các giai cấp trong

xã hội tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn đối kháng nên chỉ có thê giải quyết bằng con

10

Trang 13

đường bạo lực cách mạng do đó tình hình chính trị bất ôn, thường xuất hiện mít tinh,

biểu tình, khủng bó, tranh dành quyền lực, huynh đệ tương tàn Vì khoảng cách giữa các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội ngày càng gia tăng nên xã hội thì phức tạp có sự phân hóa sâu sắc giữa kẻ giàu người nghèo, ông chủ và người làm thuê, cá lớn nuốt cá

bé, chân lí thuộc về kẻ mạnh, tham nhũng mại dân ma tuý tự do phát triển

+ Ngược lại, nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa góp phần xoá bỏ Sự phân chia xã hội thành những giai cấp đối kháng: làm cho các tằng lớp và các nhóm xã hội xích lai gan nhau và vì vậy nó làm cho tình hình chính trị ôn định, xã hội thuần nhất

2.1.1.3 Chức năng tư tưởnG - văn hoá

Giáo dục góp phần xây dựng hệ tư tưởng chỉ phối toàn bộ xã hội và lối sống

phô biến có văn hoá cho toàn thể nhân dân lao động bằng cách: giáo dục tuyên truyền, giáo dục phỏ biến, giáo dục đưa hệ tư tưởng chỉ phối toàn bộ xã hội đến với mọi người, mọi nhà và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; băng cách giáo dục phô cập, giáo dục thường xuyên nâng cao trình độ văn hoá cho toàn thể nhân dân lao động

- Bất kì xã hội nào cũng có một hệ tư tưởng chỉ phối toàn bộ xã hội Chi phối toàn bộ

xã hội tức là chi phối mọi hoạt động của con người trong xã hội đó và nếu ai không

chấp nhận sự chỉ phối của hệ tư tưởng đó thì sẽ bị xã hội đào thải

Giáo dục xã hội chủ nghĩa đang góp phần xây dựng hệ tư tưởng chỉ phối toàn xã hội, thực chất là tuyên truyền phổ biến học thuyết Mác - Lênin và đưa học thuyết Mác -

Lênin đến với mọi người, đến với mọi nhà và đến với mọi lĩnh vực của đời sống xã

Đó là ba chức năng xã hội của giáo dục, từ ba chức năng trên chúng ta đã thấy

vai trò to lớn của giáo dục với sự phát triên của xã hội Nghị quyết 4 BCH trung ương

đảng khoá 7 đã coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát triển”

Các nhà giáo dục khẳng định: “Trong sự phát triển xã hội, giáo dục vừa là điều kiện, vừa là động lực” Điều này có nghĩa là xã hội muốn phát triển, xã hội phải dựa vào một nền giáo dục phát triển nhưng nền giáo dục phát triển không phải tự nhiên mà

có mà muốn có nền giáo dục phát triển thì xã hội phải đầu tư cho giáo dục Khi giáo

dục phát triên đến một trình độ nào đấy thì giáo dục trở thành động lực thúc đây xã hội

phát triển Giáo dục không trực tiếp làm cho xã hội phát triển mà gián tiếp làm cho xã hội phát triển thông qua sản phẩm của giáo dục đó là những con người được giáo dục

11

Trang 14

Thực tiễn sự phát triển của thời đại đã chứng minh được vai trò của giáo dục

đối với sự phát triển của xã hội

- Nước nào có nền giáo dục phát triển thì nước đó có sức mạnh cả vẻ kinh tế, chính trị,

quân sự và xã hội Ví dụ: Liên Xô, Mĩ, Anh, Nhật và Trung Quốc (Nước thứ 3 có tau

vũ trụ)

- Các chính khách của Nhật đã khắăng định: “Nước Nhật nghèo về tài nguyên khoáng sản, khắc nghiệt về thiên nhiên nên nước Nhật chỉ có thể đi lên bằng con đường giáo dục” và nước Nhật đã làm được điều đó

- Năm 1957 khi Liên Xô phóng vệ tỉnh nhân tạo đầu tiên vào vũ trụ, các chuyên gia của Mỹ đi vào nghiên cứu nhà trường phô thông Liên Xô và cuối cùng đi đến kết luận

“Bệ phóng vệ tính nhân tạo của Liên Xô chính là nhà trường phỏ thông Liên Xô”

- Hiệu quả kinh tế của giáo dục là rất lớn

+ Kinh tế học giáo dục đã chứng minh được rằng: So với người công nhân mù chữ thì người công nhân có trình độ trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông hay cao đẳng thi năng xuất lao động tăng từ 43% đến 300%

- Lịch sử đã chứng minh rằng: Trình độ văn hoá kĩ thuật phố thông đã tạo ra xu thế rút ngăn khoảng thời gian từ khi phát minh đến khi đưa phát minh vào sản xuất (Nêu trước kia từ khi phát minh ra máy hơi nước đến khi sản xuất ra máy hơi nước mat 100

năm (1680 - 1780); máy ảnh L12 năm (1727 - 1839); máy điện thoại 56 năm (1820 - 1876) thì ngày nay từ khi phát minh ra động cơ phản lực đến khi sản xuất ra động cơ

phản lực đầu tiên chỉ mất 14 năm (1929 - 1943), từ lúc phát minh ra chất bán dẫn đến khi sản xuất ra bóng bán dẫn (tranxito) chỉ mắt có 5 năm, tia lazer có 2 năm (1960 -

1962), mạch vi điện tử 3 năm (1958 - 1961)

2.1.2 Xã hội hiện dai va nhitng thách thức đặt ra cho giáo duc

2.1.2.1 Đặc điểm của xã hội hiện đại

Cuối thế kỉ XX, đầu thé ki XXI, trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Sự chuyền biến từ thời kì công nghiệp sang thời kì phát triển của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức đã tác động đến tất cả các lĩnh vực, làm biến đôi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Sự chuyển biến to lớn này là thành quả của sự ra đời của công nghệ cao, toàn cầu hoá và hội nhập về kinh tế và văn hoá, sự hình thành và phát triển của nền kinh tế trí thức

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

Tri thức nhân loại trên mọi bình diện, đặc biệt là về khoa học tự nhiên và công nghệ trong nửa cuối của thế kỉ XX đã phát triển tăng tốc so với nhiều thế kỉ trước Sự tăng tốc phát minh khoa học và phát triển của công nghệ cao như công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, đặc biệt là công nghệ thông tin đã ảnh hưởng rộng rãi đến từng cá nhân, các tô chức và các quốc gia, làm thay đôi phương thức học tập, làm việc và giải

12

Trang 15

trí của từng người, làm thay đôi mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước, thay đôi các phương thức thương mại quốc tế, quân sự v.v dẫn đến sự thay đôi căn bản các đặc tính văn hoá và giáo dục đã hình thành qua nhiều thế hệ ở từng quốc gia và trên toàn thế giới Công nghệ cao đã đưa yếu tổ thông tin và tri thức lên hàng đầu, đây các yếu

tố cạnh tranh truyền thông như tài nguyên, quy mô sản xuất không lồ xuống hàng thứ yếu Công nghệ cao làm giảm được sự tiêu hao năng lượng, nhân lực, nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, bảo đảm sự cạnh tranh và hoà nhập thế giới Giáo dục và đảo tạo cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triển của khoa học và công nghệ, mặt khác sự phát triển khoa học và công nghệ lại tác động vào toàn bộ cơ cầu hệ thông giáo dục Sự phát triển khoa học và công nghệ đã làm thay đổi

cơ cầu ngành trong nên kinh tế, cơ cấu nghề của nhân lực lao động trong xã hội, đòi hỏi giáo đục và đào tạo cần nâng cao trình độ đào tạo sao cho phù hợp với yêu cầu của

nền kinh tế xã hội

Xu thế toàn câu hoá

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đề bảo vệ lợi ích quốc gia Có hàng loạt nhân tố thúc đây tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập về kinh tế như sự cải tiến không ngừng phương tiện giao thông liên lạc và công nghệ thông tin,

sự gia tăng nhu cầu mở rộng thị trường và xuất khâu tư bản, sự phát triển kinh tế thị trường trên toàn thế giới, sự xuất hiện các công ty đa quốc gia, các tô chức kinh tế và

thương mại quốc tế và sự hình thành hệ thống tài chính, tiền tệ thế giới với khối lượng

trao đôi cực lớn về sản xuất, có sự chuyên môn hoá cao không chỉ trong một nước mà trong phạm vi quốc tế Toàn cầu hoá về kinh tế là một cuộc cách mạng về phương pháp và tổ chức sản xuất Đề tham gia vào quá trình đó một cách có lợi, các quốc gia phải tăng hàm lượng tri thức về khoa học và công nghệ trong các sản phẩm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, những nước nào chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giản đơn thì sẽ bị thiệt thòi Giáo dục phải đào tạo được những con người làm

chủ công nghệ mới, nắm bắt nhanh chóng công nghệ hiện đại

Văn hoá, lỗi sống có tính quốc tế và tính toàn cầu đang dần hình thành, thị trường liên thông giữa các quốc gia, sự di cư ồ ạt của con người từ quốc gia này sang quốc gia khác, sự tìm kiếm việc làm của nguồn nhân lực ngoài biên giới quốc gia cũng như các phương tiện thông tin đã đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này Mạng viễn thông và Internet tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hoá giữa các quốc gia, hình thành những cộng đồng văn hoá

Phát triển nên kinh tế trì thức trở thành nhân tô quan trọng nhất quyết định sự phát triển, tạo sự tăng trưởng hơn cả vốn, tài nguyên, đất đai Trong sản phẩm hàng hóa trí thức chiếm tỷ lệ cao vật liệu giảm làm cho giá trị sản phẩm giảm Trong lao

13

Trang 16

động, lao động cơ bắp giảm, lao động tri thức tăng, cơ cấu kinh tế từ sản xuất vat chat sang dịch vụ, xử lý thông tin

Bối cảnh thế giới về xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế tác động đến tất cả mọi quốc gia phát triển và đang phát triển Việt Nam không thể tách khỏi ảnh hưởng của quá trình đó, vấn đề là làm sao để có tiềm lực hội nhập vảo xu thế thời đại, tăng tốc sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

2.1.2.2 Những thách thức đặt ra cho giao duc

Thế kỉ XXI, nhân loại đứng trước một bối cảnh lịch sử mới và những thách

thức chưa tửng có, khoa học công nghệ, khả năng sản xuất, kinh doanh, quản lí của con người tăng tiến với mức độ vô cùng nhanh chóng Những điều kiện đảm bảo cho toàn thê nhân loại một cuộc sống ám no, hạnh phúc hầu như đã đạt được Song trong thực tế nhân loại cũng đang đối mặt với những khó khăn chưa thể khắc phục được một cach dé dang, đó là: suy kiệt nguồn tài nguyên, thảm hoạ thường xuyên xảy ra, SUY thoái môi trường đang đè nặng lên nhân loại và trái đất; một bộ phận không ít loài người đang sống trong nghèo đói, bệnh tật, trình độ nhận thức kém

Đứng trước những thách thức đó, giáo dục Việt Nam cần phải:

- Đồi mới căn bản và toàn điện giáo dục nhăm nâng cao trình độ dân trí, chú ý đào tạO tạo nhân lực trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài dé tao ra nguồn nhân lực có tri thức để phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc té

- Phải đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đem lại hiệu quả cao trong từng cap học

- Giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho mọi người đề hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ được bản Sắc văn hóa của dân tộc

- Xây dựng giáo dục ngắn hạn và dài hạn đáp ứng nhu câu phát triển kinh tế - xã hội,

hội nhập kinh té quốc tế và làm chủ được khoa học công nghệ trước mắt và trong tương lai

- Giáo dục ý thức bảo Vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chống đói nghèo, bệnh tật bằng cách nâng cao trình độ dân trí, ý thức xã hội, tích hợp các nội dung dạy học bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng, kỹ năng sống vào các cấp học cho phủ hợp với điều kiện địa phương

- Đưa khoa học công nghệ tiên tiến vào giáo dục đại học và sau đại học dé dao tao nhân lực có trình độ cao cho xã hội

- Xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, xây dựng nên giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục con người toản diện

có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thảm mỹ Phát triển giáo dục gắn với phát triển kinh tế -

14

Trang 17

xã hội, tiến bộ khoa học, củng có quốc phòng, giáo dục là sự nghiệp của toàn Dang, nha nước vả toản dân

2.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển cá nhân

2.2.1 Cứ nhân

Cá nhân là cá thể người, song không phải mọi cá thể người nào cũng đều là cá nhân Đề thê hiện đúng tư cách là cá nhân, con người phải trải qua một quá trình phát triển nhất định để có một nhân cách đầy đủ, mang tính chỉnh thể Ở đây, phạm trù cá nhân đặc trưng cho con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất giữa những đặc điểm riêng biệt của con người với bản chất chung của cộng đồng

Như vậy, xét trên nhiều bình diện khác nhau, có thê hiểu “cá nhân” là một thực thể sinh vật - xã hội - văn hóa với các đặc điểm về tâm lý, sinh lý và xã hội trong sự liên hệ thống nhất với các chức năng xã hội chung của giống loài người Do đó, cần Xem xét cá nhân trong các mối quan hệ:

- Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài người, là sự tồn tại cảm tính, cụ thể của giống loài, là phần tử đơn nhất tạo thành cộng đồng xã hội:

- Cá nhân là chủ thể của hoạt động thực tiễn, chủ thể của lao động sáng tạo nhằm cải

tạo thể giới tự nhiên và xã hội;

- Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội Xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử nên cá nhân là một hiện tượng có tính lịch sử, Mỗi thời đại sản sinh ra một kiêu cá nhân đặc trưng, do điều kiện cụ thể của đời sống xã hội quy định;

Khi nới đến cá nhân, cần có sự phân biệt với khái niệm cá thể, cá tính:

- Cá thể là một đơn vị hoàn chỉnh đại diện cho giống loài nhưng mang những nét đặc thù riêng Khái niệm cá thê không thê dùng riêng cho một giống loài nào đó, nó có ý nghĩa phân biệt một cái riêng có tính độc lập trong một tập hợp chung

- Cá tính dùng để chỉ cái đơn nhất, không lặp lại trong tâm lí của cá thể người, mang

tính đặc thù của mỗi cá nhân Như vậy, có thê hiểu cá tính là tính cách của cá nhân 2.2.2 Sw phat triển cá nhân

Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài nguoi, con nguoi với tư cách cá nhân, luôn luôn vận động phát triển trong mối quan hệ thống nhất biện chứng: cá nhân - xã hội Mỗi quan hệ đó thê hiện: cá nhân vừa là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội, vừa là chủ thê của các hoạt động và các mỗi quan hệ xã hội Xem xét sự phát triển cá nhân là xem xét quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội trong

những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể

Theo quan điểm Triết học, tự nhiên là nguồn gốc vật chất sinh ra con người, đồng thời con người cũng là sản phâm của lich sử - xã hội Trong sự phát triển của lịch

sử, mỗi cá nhân tồn tại và phát triển trong những quan hệ xã hội nhất định Môi trường

xã hội đóng vai trò là điều kiện, là phương tiện đề phát triển cá nhân Không có môi

15

Trang 18

trường xã hội thì không có cá nhân phát triển Môi trường xã hội cũng được đặt ra trong từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử, với những tiền đề kinh tế - xã hội

cụ thể Do đó, không có cá nhân chung chung trừu tượng cho mọi chế độ xã hội, mọi giai đoạn lịch sử Cá nhân bao giờ cũng có tính lịch sử - xã hội cụ thé Boi vậy xã hội tiến bộ là ở chỗ phải tạo điều kiện, môi trường thuân lợi cho sự phát triển toàn diện cá nhân Sự phát triển cá nhân là tiêu chuẩn cơ bản dé đánh giá sự tiễn bộ xã hội

Cũng chính trong quá trình cá nhân tham gia vào cuộc sống xã hội, cá nhân khăng định vai trò chủ thể của mình thông qua việc biến đổi và cải tạo môi trường Ngược lại phải biến đổi và cải tạo môi trường lại là điều kiện để phát triển cá nhân Chỉ trong những hoạt động xã hội, cá nhân mới làm giàu thêm trì thức và kinh nghiệm cho mình, Khi đó, nhân cách cá nhân mới được hình thành và phát triển Như vậy, nhân cách cá nhân về bản chất là mang ý nghĩa xã hội và phải được xã hội thừa nhận, đánh giá Với ý nghĩa đó, phát triển cá nhân thực chất là khắng định bản chất xã hội của con người, khẳng định trình độ phát triển nhân cách của chính cá nhân Sự phát triển nhân cách cá nhân được biêu hiện qua những dấu hiệu sau:

+ Sự phát triển về mặt tâm lí:

Được biểu hiện ở sự biến đôi cơ bản trong các quá trình tâm lí đặc biệt là trong quá trình nhận thức và được biêu hiện ở việc hình thành ở cá nhân một số thuộc tính tâm lí mới: trình độ nhận thức, khả năng tư duy, quan điểm lập trường, thói quen, xúc

Cả, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, nhụ cau, y chi

Ví dụ: Đứa trẻ sinh ra nhìn được nhưng chưa biết nhìn, nghe được nhưng chưa biết nghe, ngửi được nhưng chưa biết ngửi và nếm được nhưng chưa biết nếm; không biết sử dụng các thao tác tư duy Đứa trẻ muốn nhìn được, nghe được, ngửi được, ném

được và biết sử dụng các thao tác tư duy đê lĩnh hội khái niệm thì đứa trẻ phải học hay

phải tham gia vào các hoạt động và giao tiếp (hay nói cách khác là người lớn phải dạy cho trẻ) Đứa trẻ muốn có xúc cảm, tình cảm, có khả năng tưởng tượng và ghi nhớ thì đứa trẻ phải tham gia vào các hoạt động và giao tiếp

+ Sự phái rriển về mặt xã hội: Được biểu hiện ở sự biến đổi cơ bản trong mối quan hệ giữa con người và con người: Chắng hạn như: Từ chỗ ghét đến chỗ yêu, từ chỗ không thích đến chỗ thích, từ chỗ không biết tôn trọng các thầy cô giáo đến chỗ biết tôn trọng các thầy cô giáo; từ chỗ không biết lễ phép với người lớn đến chỗ biết lễ

phép với người lớn; từ chỗ không biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ đến chỗ biết hiếu

thảo với ông bả cha mẹ

Như vậy, để có được sự phát triển tâm lý - xã hội, cá nhân phải trải qua quá trình phát triển về mặt sinh lý, đó là tiền đề cho sự phát triển nhân cách cá nhân Quá trình này được đánh dấu bởi các giai đoạn phát triển về tâm - sinh lý lứa tuổi của cá nhân

16

Trang 19

2.2.3 Gido duc véi sw phat trién ca nhén

Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo dục)

và đối tượng (người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội Đây là quá trình tác động tự giác có mục đích, có nội dung, phương pháp, phương tiện v.v được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học giúp cho

mọi cá nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị xã hội của nhân loại

bằng con đường ngắn nhất Như vậy, đặc trưng của quá trình giáo dục là:

- Tác động tự giác được điều khiển bởi cơ quan, lực lượng chuyên trách, khác với tác động tự phát tản mạn của môi trường

- Có mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, chương trình v.v được tô chức, lựa chọn khoa học phù hợp với mọi đối tượng, giúp họ chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất

Nói tới vai trò của giáo đục, ngay từ thời Trung Hoa cô đại, Không Tử (55I -

479 trước công nguyên) cũng đã có quan điểm đánh giá về vai trò của giáo dục “Viên ngọc không được mài đũa thì không thành đồ dùng được Con người không được học thi không biết gì về đạo lí”, Bác Hồ cũng đã nói:

“Hién, dit phải đâu là tính sẵn

Phân nhiều do giáo đục mà nên ”

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và phát triển cá nhân,

bởi vì nó được thực hiện theo định hướng thống nhất vì mục đích nhân cách lí tưởng

mà xã hội đang yêu cầu Ba lực lượng giáo dục là gia đình, nhà trường và các đoàn thể

xã hội, trong đó nhà trường có vai trò, vị trí vô củng quan trọng trong việc thực hiện mục đích, nội dung giáo dục bằng các phương pháp khoa học có tác động mạnh nhất giúp cho học sinh hình thành năng lực ngăn ngừa, đấu tranh với những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường hoặc di truyền bâm sinh Giáo dục gia đình được tiến hành sớm nhất

từ khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, tạo nên những phẩm chất nhân cách đầu tiên rất quan trọng làm nền tảng cho giáo dục nhà trường Giáo dục xã hội thông qua các đoàn thê, các tô chức nhà nước với thê chế chính trị, pháp luật, văn hoá đạo đức, góp phần thúc đây quá trình phát triển nhân cách toàn diện theo sự phát triển xã hội

Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển người học mả còn tô chức, chỉ đạo, dẫn dắt người học thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn

Giáo dục là những tác động tự giác có điêu khiến, có thể mang lại những tiến bộ

mà các yếu tô dỉ truyền - bâm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thê tạo ra được

do tác động tự phát

Giáo dục có sức mạnh cai bién những nét tính cách, hành vị, phẩm chất lệch lạc không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội Đó chính là kết quả quan trọng của

17

Trang 20

giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp

Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc thiểu năng do bệnh tật, tai nạn hoặc bam sinh, di truyén tạo ra Nhờ có sự can thiệp sớm, nhờ có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp cho người khuyết tật, thiêu năng phục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hoà nhập vào cuộc sông cộng đồng

Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nên không những

thích ứng với các yếu tô di truyền, bâm sinh, môi trường, hoàn cảnh trong quá trình cá nhân hỉnh thành và phát triển nhân cách mà nó còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đây các yếu tô ảnh hưởng đến quá trình đó theo một gia tốc phù hợp mà di truyền và môi trường không thể thực hiện được

Dé phat huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục cân tích cực góp phần cải tạo môi trường sống (gia đình, nhà trường, xã hội) làm cho nó ngày cảng lành mạnh, văn minh, tạo thành định hướng thống nhất vì mục tiêu nhân cách

Giáo dục phải diễn ra trong một quá trình có sự tác động đồng bộ của những thành tố như mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình giáo dục Giáo dục phải bao gồm hoạt động tích cực, đa dạng của người giáo dục và người được giáo dục trong mối quan hệ thống nhất; phải phát hiện và phát huy triệt để những điều kiện bên trong (bẩm sinh, di truyền vốn có ở người được giáo dục) để những tiềm năng trở thành hiện thực Không nên coi "giáo dục là vạn năng", thậm chí còn ảo tưởng dùng giáo dục đề thay đôi xã hội

18

Trang 21

CHUONG 3 GIAO DUC TIEU HOC TRONG

HE THONG GIAO DUC QUOC DAN

3.1 Hệ thống giáo dục quốc dân

3.1.1 Khái niệm về hệ thông giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước là toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và dạy học cho thanh thiếu niên và công dân của nước đó, những cơ

quan này liên kết chặt chẽ với nhau về chiều dọc cũng như chiều ngang, hợp thành một

hệ thống hoàn chỉnh và cân đối năm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo những nguyên tac nhất định, thực hiện chức năng tổ chức giáo dục và học tập nhằm đảm bảo thực hiện chính sách của đảng và nhà nước trong lĩnh vực giáo dục

Hệ thông giáo dục quốc dân bao gon 2hé théng: Hé théng các trường học và hệ thống các cơ quan giáo dục ngoài nhà trường

* Nhà trường là một nhân tố cơ bản cầu tạo nên hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường là cơ quan nhà nước được tô chức và hoạt động theo nguyên tắc Quản lí nhà nước Thực hiện chức năng là giáo dục và đào tạo những con người mới với nội dụng giáo dục được lựa chọn từ nền văn hóa xã hội và sắp xếp theo một trình tự lôgíc chặt chẽ, với các phương pháp giáo dục có cơ sở khoa học và được thực tiễn kiêm nghiệm, với những điều kiện phù hợp và những nhà giáo có học vấn cao, có nghiệp Vụ vững vàng và có nhân cách mẫu mực nhằm đảm bảo cho mục tiêu giáo dục được thực hiện

* Các cơ quan giáo dục ngoài nhà trường cũng là những tô chức xã hội được tô chức theo nguyên tắc Quản lí nhà nước, thực hiện chức năng quản lí hoạt động của nhà trường và hỗ trợ cho việc học tập và giáo dục của học sinh trong nhà trường như Bộ giáo dục và đảo tạo, Sở giáo dục, Phòng giáo dục; câu lạc bộ, thư viện, nhà hát, rạp chiếu bóng nơi dành riêng cho học sinh đến học tập và vui chơi

* Hệ thông giáo dục quốc dân của một nước mang tính lịch Sử, nó phản ánh thê chế

chính trị - xã hội, chính sách phát triển kinh té, trình độ khoa học kĩ thuật, chính sách

văn hoá và truyền thông giáo dục Của nước đó Khi điều kiện hoàn cảnh lịch sử có sự biến đổi thì hệ thống giáo dục quốc dân của nước đó cũng có những cải cách

3.1.2 Hệ thông giáo dục quốc dân Việt Nam

3.1.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thông giáo dục quốc dân

Hệ thống giáo dục quốc dân được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc Sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính lịch sử

Hệ thống giáo dục quốc dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn

hoá, khoa học đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã

hội qua từng giai đoạn lịch sử của quốc gia

- Nguyên tắc đảm bảo định hướng chính trị và sự Quản lí của nhà nước về giáo dục

19

Ngày đăng: 07/01/2025, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Minh Hạc (1999), “Tính chất nền giáo dục và nguyên lí giáo dục”, Nghién Cứu giáo đục, Số 11, trang 12-15, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất nền giáo dục và nguyên lí giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 1999
1. Đặng Vũ Hoạt - Nguyễn Hữu Hợp (2017), Giáo trình giáo dục học tiểu học Il, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
3. Đặng Vũ Hoạt - Ph Đúc Hỏa (2016), Giáo trình giáo dục học tiéu hoc |, NXB Dai học Sư phạm, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Văn Lê - Nguyên Sinh Huy (2000), Giáo dục học đại cương. NXB Giáo dục Khác
5. Quốc hội, Luật số 43/2019/QH14: Luát giáo đục Khác
6. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987), G7áo đục học , táp 1, NXBGD Khác
7. Tràn Thị Tuyết Oanh (chủ biên) - Phạm Khắc Chương - Phạm Viết Vượng — Nguyễn văn Diện —- Lê Tràng Định (2016), Giáo ?r nh giáo dục học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w