PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh, điều cần thiết nhất là phải có nhiều vốn đầu tư. Tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân là một biện pháp quan trọng để tạo ra nguồn lực tài chính dành cho việc đầu tư trong nước. Để làm “cầu nối” giữa bên cầu vốn và bên có vốn nhàn rỗi thì đã có nhiều loại hình tài chính trung gian ra đời. Một trong những định chế tài chính trung gian có ảnh hưởng nhiều tới các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, đó là lọai hình quỹ đầu tư hay còn gọi là Công ty đầu tư (investment companies). Công ty quản lý quỹ đầu tư là một doanh nghiệp đặc biệt, nó không dùng vốn của mình để mua máy móc, thiết bị và các yếu tố sản xuất khác mà dùng để đầu tư dài hạn thông qua vốn góp liên doanh, mua cổ phần hoặc các loại chứng khoán khác nhằm mực đích thu lợi. Vốn chủ yếu của các quỹ đầu tư hầu hết là từ việc huy động các nguồn vốn nhỏ lẻ dư thừa trong nền kinh tế, đặc biệt là từ các cá nhân, hộ gia đình (chiếm tỷ trọng khá cao trong nguồn vốn dư thừa của nền kinh tế). Ở các nước phát triển thì phạm vi đầu tư của các quỹ này rộng và rất chuyên nghiệp, có sức ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế. Nhưng ở các nước đang phát triển thì quỹ đầu tư nghe còn khá xa lạ và chưa phát huy được tính hiệu quả của nó. Đặc biệt là ở Việt Nam. Quỹ đầu tư chỉ mới được biết đến trong mấy năm gần đây nhưng lại hoạt động chưa thật sự hiệu quả và chưa lấy được lòng tin của người dân. Đây là lý do chúng em chọn đề tài “quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở ở Việt Nam”. II. Mục đích của đề tài - Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quỹ đầu tư, đặc biệt là quỹ đầu tư dạng mở và dạng đóng. - Phân tích và làm rõ một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về việc thành lập, hoạt động của các quỹ đầu tư,quỹ đầu tư dạng mở, quỹ đâu tư dạng đóng, từ đó tìm ra những hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này. - Trên cơ sở tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới điều chỉnh về quỹ đầu tư để đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động nhằm phát huy tính hiệu quả của các quỹ đầu tư trong nền kinh tế. III. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, theo tư tưởng quan điểm của Đảng và Nhà nước về phương hướng xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp… IV. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quỹ đầu tư. - So sánh đối chiếu các quy định về công ty đầu tư (quỹ đầu tư) trong Luật Chứng khoán và các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp. - Tham khảo kinh nghiệm các nước trong việc điều chỉnh công ty đầu tư (quỹ đầu tư) BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Họ và tên MSSV Nội dung công việc MỤC LỤC I. Tổng quan về quỹ đầu tư 5 1. Khái niệm quỹ đầu tư 5 2. Vai trò của quỹ đầu tư 5 2.1 Huy động vốn cho phát triển kinh tế 5 2.2 Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư 6 2.3 Đối với các doanh nghiệp 6 2.4 Đối với Chính phủ: 7 3. Các loại hình quỹ đầu tư. 7 3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động: 7 3.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn: 8 3.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ: 9 3.4 Căn cứ vào mục tiêu đầu tư và chính sách phân bổ tài sản 10 II. Phân biệt quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở. 11 1. Khái niệm 11 1.1 Quỹ đóng 12 1.2 Quỹ mở 13 2. So sánh quỹ đóng và quỹ mở 14 2.1 Giống nhau 14 2.2 Khác nhau 14 3. Phân biệt quỹ đóng và quỹ mở 14 III. THỰC TRẠNG QUỸ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM. 15 1. Sơ lược tình hình hoạt động quỹ đầu tư những năm gần đây. 16 1.1. Từ năm 2002 đến năm 2008. 16 1.2. Từ năm 2008 đến năm 2015. 19 1.3. Năm 2016. 22 2. Xu hướng hoạt động trong tương lai. 27 2.1. Xu hướng đầu tư của các nhà đầu tư vào các quỹ đầu tư Việt Nam. 27 2.2. Xu hướng chuyển biến mới của các quỹ đầu tư Việt Nam hiện nay. 29 I.Tổng quan về quỹ đầu tư 1.Khái niệm quỹ đầu tư Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác .Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác. 2.Vai trò của quỹ đầu tư Tại sao nhà đầu tư sử dụng quỹ đầu tư? Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 05 yếu tố: -Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư -Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận -Được quản lý chuyên nghiệp -Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền -Tính năng động của quỹ đầu tư. Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu tư. Nhưng làm thế nào để các tổ chức hay cá nhân đang nắm giữ những nguồn vốn nhàn rỗi và các doanh nghiệp đang có ý tưởng kinh doanh khả thi có thể gặp và hợp tác với nhau, cùng tìm cơ hội kinh doanh có lợi nhất. Các định chế tài chính trung gian ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cần những chiếc “cầu nối” giữa người có vốn và người cần vốn. Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, Quỹ đầu tư có nhiều điểm nổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò: 2.1Huy động vốn cho phát triển kinh tế Để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn. Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư. Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước. Không những thế, các Quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảy vốn nước ngoài. Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư. Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh. 2.2Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro: Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giá của các chứng khoán trong danh mục đầu tư, nhất là các chứng khoán đựoc niêm yết trên sở giao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn. Các khoản vốn nhỏ ấy tuy vậy lại có thể phân tán rủi ro một cách dễ dàng khi chúng được tập trung lại trong một Quỹ đầu tư. Khi đó tất cả các nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ đều được tham gia chung vào mọi dự án đầu tư của Quỹ, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận. Tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư: Quỹ đầu tư với các nhà tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, nhân viên có trình độ và kiến thức chuyên sâu, với nguồn thông tin đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các nhà đầu tư riêng lẻ. Giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô: Các chi phí về thông tin, chi phí hành chính, trở ngại lớn đối với các nhà đầu tư riêng lẻ sẽ giảm thiểu khi được xử lý tập trung. Quỹ với tư cách là nhà đầu tư lớn luôn nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn. Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư: Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi nhà đầu tư. Chứng chỉ Quỹ đầu tư chính là một loại chứng khoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại cho bản thân Quỹ (nếu là Quỹ đầu tư dạng mở). Thuận tiện cho người đầu tư: Người đầu tư có thể mua hoặc bán chứng chỉ Quỹ đầu tư trực tiếp hoặc thông qua môi giới, trung gian. Việc mua bán có thể thông qua thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng máy tính. Các nhà đầu tư có thể thoả thuận với Quỹ để tái đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ. Nhà đầu tư còn được Quỹ cung cấp các dịch vụ như thông tin và tư vấn. 2.3Đối với các doanh nghiệp Nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp: Việc tiếp cận các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tục rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản …). Thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể. Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính: Quỹ đầu tư cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp khác. Lợi ích này của Quỹ đầu tư được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi. Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn: Lợi ích này thu được do sự kết hợp các công cụ huy động vốn của Quỹ. Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành, cùng với hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loại chứng khoán đó. Sự kết hợp này khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. 2.4Đối với Chính phủ: Các quỹ đầu tư cũng mang lại nhiều lợi ích thông qua việc tăng nguồn vốn tiết kiệm trong nước, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn không cố định, đa dạng hoá sở hữu, các kỹ năng phát triển thị trường vốn trong nước tốt hơn, giá cổ phần cao hơn và nhờ đó thúc đẩy các công ty trong nước phát triển. Chính vì vậy, kể từ khi quỹ đầu tư thiết lập vào cuối thế kỷ 19 cho đến nay, quỹ đầu tư ngày càng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi thế giới. 3.Các loại hình quỹ đầu tư. 3.1Căn cứ vào nguồn vốn huy động: Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng) Huy động vốn: phát hành chứng chỉ quỹ rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư: cá nhân hay tổ chức nhưng đa phần là các nhà đầu tư có quy mô đầu tư nhỏ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư , giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. Ví dụ: Ngày 18/12/2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp phép thành lập quỹ và phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng cho theo giấy phép số 04/UBCK-GCN. Đây là quỹ đầu tư công chúng được quản lý bởi Công ty LD Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VFM). Quỹ đầu tư VF4 được giám sát và lưu ký tài sản bởi Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4)Ngân hàng HSBC.Quỹ đầu tư VF4 ra đời với mục tiêu đầu tư vào các doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong các ngành cơ bản, chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam.Tổng vốn điều lệ là 8.000 tỷ đồng, thời gian hoạt động 10 năm. Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên) Huy động vốn: phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân có giá trị lớn hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. Ví dụ: Một quỹ thành viên mới ra đời gần đây là Quỹ Đầu tư giá trị Bảo Việt (BVIF), do Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo Việt (Baoviet Fund) quản lý. Với quy mô vốn ban đầu 1.000 tỷ đồng, BVIF hiện là một trong những quỹ thành viên nội địa có quy mô vốn lớn nhất thị trường hiện nay. Quỹ BVIF đặt trọng tâm đầu tư vào các đợt IPO, cổ phần hóa DNNN; mua - bán, tái cấu trúc DN; các đợt thoái vốn ngoài ngành… với định hướng trở thành cổ đông lớn để có thể cùng tham gia vào hoạt động quản trị của DN, nhằm tạo ra giá trị gia tăng mới... 3.2Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn: Quỹ đóng Có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu Số lượng chứng khoán hiện hành cố định Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất . Không mua lại các chứng khoán đã phát hành, nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này. Sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Giá mua được xác định bởi lượng cung cầu. do đó giá mua có thể cao hoặc thấp hơn giá trị thuần. Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lý. Việt nam hiện đang có 22 quỹ đầu tư hoạt động theo mô hình quỹ đóng với 5 quỹ đại chúng và 17 quỹ thành viên. Ví dụ: ngày 14/3/2006, quỹ đầu tư Việt Nam(VIF) với quy mô vốn 1.600 tỷ đồng( tương đương 100 triệu USD) chính thức khai trương tại Hà Nội. VIF là quỹ đầu tư thành viên dạng đóng của 20 tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam cùng với 2 thành viên sáng lập là Ngân hàng Dầu tư và Phát Triển Việt Nam(BIDV) (góp 96 tỷ đồng) và Vietnam Partners LLC(góp 80 tỷ đồng) có quy mô huy động tối đa là 1.600 tỷ đồng, hoạt động trong thời gian 8 năm. VIF được phép đầu tư nắm giữ các loại cổ phần , chứng khoán, đầu tư vốn trực tiếp vào các dự án, được phếp tổ chức góp vốn theo tiến độ đâu tư và vay vốn để phối hợp đầu tư. VIF sẽ ưu tiên đầu tư vào 1 số dự án có tiềm năng sinh lời cao nhu dự án bất động sản ( khách sạn, văn phòng cho thuê…), các dự án khai khoáng(titan, boxit nhôm), các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, bưu chính viễn thông. Quỹ mở -Loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu thường. -Số lượng chứng khoán hiện hành luôn thay đổi. -Quỹ mở sẵn sàng phát hành chứng chỉ quỹ mới một cách liên tục. -Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tổng quan về quỹ đầu tư
Khái niệm quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là một định chế tài chính phi ngân hàng, có chức năng thu hút vốn nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ và các loại tài sản khác Các khoản đầu tư này được quản lý chuyên nghiệp và chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan thẩm quyền liên quan.
Vai trò của quỹ đầu tư
Tại sao nhà đầu tư sử dụng quỹ đầu tư? Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 05 yếu tố:
- Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư
- Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận
- Được quản lý chuyên nghiệp
- Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
- Tính năng động của quỹ đầu tư.
Để đạt được sự tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế, việc thu hút nhiều vốn đầu tư là rất quan trọng Tuy nhiên, cần có những giải pháp hiệu quả để kết nối các tổ chức, cá nhân nắm giữ vốn nhàn rỗi với các doanh nghiệp có ý tưởng kinh doanh khả thi Các định chế tài chính trung gian đóng vai trò như những "cầu nối" thiết yếu, giúp tạo ra cơ hội hợp tác và tìm kiếm những cơ hội kinh doanh có lợi nhất cho cả hai bên.
Quỹ đầu tư, với vai trò là một trong những định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, nổi bật hơn các trung gian tài chính khác nhờ vào khả năng tối ưu hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư và quản lý rủi ro hiệu quả.
2.1 Huy động vốn cho phát triển kinh tế Để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung và dài hạn Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầu của cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trong công chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông qua Quỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn phát triển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước.
Các Quỹ đầu tư không chỉ thu hút dòng vốn nước ngoài mà còn giúp giảm thiểu rào cản cho nhà đầu tư Đối với vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ giúp loại bỏ hạn chế về giao dịch chứng khoán, đồng thời cung cấp kiến thức và thông tin cần thiết, giảm chi phí đầu tư Đối với vốn trực tiếp, Quỹ đầu tư hỗ trợ thúc đẩy các dự án thông qua việc góp vốn vào liên doanh hoặc mua lại một phần vốn của đối tác, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn và nâng cao sức mạnh nội địa trong các liên doanh.
2.2 Bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro: Việc phân tán rủi ro đối với một khoản tiền khiêm tốn sẽ vấp phải vấn đề trị giá của các chứng khoán trong danh mục đầu tư, nhất là các chứng khoán đựoc niêm yết trên sở giao dịch thường được giao dịch theo lô chẵn Các khoản vốn nhỏ ấy tuy vậy lại có thể phân tán rủi ro một cách dễ dàng khi chúng được tập trung lại trong một Quỹ đầu tư Khi đó tất cả các nhà đầu tư dù lớn hay nhỏ đều được tham gia chung vào mọi dự án đầu tư của Quỹ, cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận.
Tăng cường tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư là điều cần thiết, và việc hợp tác với quỹ đầu tư cùng các nhà tư vấn chuyên nghiệp sẽ mang lại lợi ích vượt trội Đội ngũ nhân viên có trình độ cao và kiến thức sâu rộng, kết hợp với nguồn thông tin đa dạng, sẽ giúp nâng cao hiệu quả đầu tư so với các nhà đầu tư cá nhân.
Giảm chi phí nhờ lợi ích quy mô: Chi phí thông tin và chi phí hành chính, thường là rào cản lớn cho các nhà đầu tư cá nhân, sẽ được giảm thiểu khi được quản lý tập trung Quỹ đầu tư, với vai trò là nhà đầu tư lớn, thường nhận được ưu đãi về chi phí giao dịch và dễ dàng tiếp cận các dự án hơn.
Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư là tiêu chí quan trọng hàng đầu của nhà đầu tư, giúp chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp và thời gian nhanh nhất Chứng chỉ Quỹ đầu tư, là một loại chứng khoán, cho phép nhà đầu tư dễ dàng mua bán trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại cho Quỹ nếu là Quỹ đầu tư mở.
Chứng chỉ Quỹ đầu tư mang lại sự thuận tiện cho nhà đầu tư, cho phép họ mua bán trực tiếp hoặc thông qua môi giới và trung gian, bằng nhiều hình thức như thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng Nhà đầu tư có thể thỏa thuận với Quỹ về việc tái đầu tư tự động hoặc phân chia lợi nhuận theo từng kỳ Ngoài ra, Quỹ cũng cung cấp các dịch vụ thông tin và tư vấn hữu ích cho nhà đầu tư.
2.3 Đối với các doanh nghiệp
Tiếp cận nguồn vốn với chi phí huy động thấp là một lợi thế lớn Các cá nhân thường gặp khó khăn khi vay vốn từ ngân hàng do thủ tục phức tạp và yêu cầu chứng từ tài chính, tài sản Tuy nhiên, thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn trở nên đơn giản hơn với hình thức phát hành chứng khoán, giúp giảm đáng kể chi phí.
Quỹ đầu tư cung cấp thông tin tư vấn về quản lý, marketing và tài chính, giúp doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính hiệu quả và cải thiện mối quan hệ với các tổ chức tài chính cũng như doanh nghiệp khác Lợi ích này đặc biệt quý giá đối với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi.
Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn mang lại lợi ích quan trọng nhờ vào sự kết hợp các công cụ huy động vốn của Quỹ, bao gồm các loại chứng khoán do Quỹ phát hành Hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi và mua bán các chứng khoán này, từ đó khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là những người có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính thiết yếu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Các quỹ đầu tư mang lại nhiều lợi ích quan trọng như tăng cường nguồn vốn tiết kiệm trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn không ổn định, và đa dạng hóa sở hữu Chúng cũng giúp cải thiện kỹ năng phát triển thị trường vốn nội địa, nâng cao giá cổ phần và thúc đẩy sự phát triển của các công ty trong nước Kể từ khi ra đời vào cuối thế kỷ 19, quỹ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu.
Các loại hình quỹ đầu tư
3.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng)
Huy động vốn: phát hành chứng chỉ quỹ rộng rãi ra công chúng.
Nhà đầu tư: cá nhân hay tổ chức nhưng đa phần là các nhà đầu tư có quy mô đầu tư nhỏ.
Quỹ công chúng mang lại cho các nhà đầu tư nhỏ cơ hội đầu tư với sự đa dạng hóa, giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp Nhờ vào tính chuyên nghiệp trong quản lý đầu tư, quỹ công chúng đảm bảo hiệu quả cao cho các nhà đầu tư.
Vào ngày 18/12/2007, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp phép thành lập quỹ đầu tư công chúng VF4, theo giấy phép số 04/UBCK-GCN, do Công ty LD Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VFM) quản lý Quỹ VF4 được giám sát và lưu ký bởi Ngân hàng HSBC, với tổng vốn điều lệ 8.000 tỷ đồng và thời gian hoạt động là 10 năm Mục tiêu của quỹ là đầu tư vào các doanh nghiệp hàng đầu trong các ngành chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam.
Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)
Huy động vốn thông qua việc phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, bao gồm cá nhân có giá trị lớn, định chế tài chính hoặc tập đoàn kinh tế lớn, dẫn đến tính thanh khoản của quỹ này thấp hơn so với quỹ công chúng.
Các nhà đầu tư vào quỹ tư nhân thường đầu tư một số tiền lớn, và đổi lại, họ có cơ hội tham gia vào việc kiểm soát các quyết định đầu tư của quỹ.
Quỹ Đầu tư giá trị Bảo Việt (BVIF), do Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo Việt quản lý, là một quỹ thành viên mới với quy mô vốn ban đầu 1.000 tỷ đồng, hiện đang là một trong những quỹ lớn nhất trên thị trường nội địa BVIF tập trung đầu tư vào các đợt IPO, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mua bán và tái cấu trúc doanh nghiệp, cũng như thoái vốn ngoài ngành, với mục tiêu trở thành cổ đông lớn để tham gia vào quản trị doanh nghiệp, từ đó tạo ra giá trị gia tăng mới.
3.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn:
Có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu
Số lượng chứng khoán hiện hành cố định
Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất
Không mua lại các chứng khoán đã phát hành, nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này.
Sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Giá mua được xác định bởi lượng cung cầu do đó giá mua có thể cao hoặc thấp hơn giá trị thuần.
Các nhà đầu tư có thể thực hiện giao dịch mua hoặc bán cổ phiếu và chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp để thu hồi vốn Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không thay đổi trong suốt thời gian hoạt động của quỹ.
Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lý.
Việt nam hiện đang có 22 quỹ đầu tư hoạt động theo mô hình quỹ đóng với 5 quỹ đại chúng và 17 quỹ thành viên.
Vào ngày 14/3/2006, quỹ đầu tư Việt Nam (VIF) chính thức ra mắt tại Hà Nội với quy mô vốn 1.600 tỷ đồng (tương đương 100 triệu USD) VIF là quỹ đầu tư thành viên dạng đóng, được thành lập bởi 20 tập đoàn và tổng công ty hàng đầu Việt Nam, cùng với hai thành viên sáng lập là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Vietnam Partners LLC Quỹ này có khả năng huy động tối đa 1.600 tỷ đồng và hoạt động trong vòng 8 năm VIF được phép đầu tư vào cổ phần, chứng khoán và thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp, đồng thời ưu tiên các dự án có tiềm năng sinh lời cao như bất động sản, khai khoáng và các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, bưu chính viễn thông.
- Loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu thường.
- Số lượng chứng khoán hiện hành luôn thay đổi.
- Quỹ mở sẵn sàng phát hành chứng chỉ quỹ mới một cách liên tục.
Quỹ này cho phép các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ, và các chứng chỉ quỹ này không được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tổng vốn của quỹ mở thay đổi hàng ngày do đặc thù cho phép nhà đầu tư bán lại chứng chỉ quỹ cho quỹ Quỹ có trách nhiệm mua lại các chứng chỉ này theo giá trị thuần tại thời điểm giao dịch.
- Giá mua là giá trị thuần cộng với lệ phí bàn( giá trị tài sản thuần được xác dịnh bằng giá trị chứng khoán trong hồ sơ).
Quỹ mở yêu cầu tính thanh khoản cao và hiện chỉ có mặt tại các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada Tại Việt Nam, hình thức quỹ này vẫn chưa được triển khai.
3.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:
Quỹ đầu tư dạng công ty
Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân đầy đủ , tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước.
Hội đồng quản trị, được bầu bởi các cổ đông (nhà đầu tư), là cơ quan điều hành cao nhất của quỹ, có trách nhiệm quản lý và giám sát toàn bộ hoạt động của quỹ, đồng thời lựa chọn công ty quản lý quỹ và các tổ chức cung cấp dịch vụ khác.
Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ đóng vai trò là nhà tư vấn đầu tư, đảm nhiệm việc phân tích đầu tư, quản lý danh mục và thực hiện các công việc quản trị khác Tuy nhiên, mô hình này chưa được áp dụng tại Việt Nam do quy định của UBCKNN, theo đó quỹ đầu tư không được công nhận là pháp nhân.
Quỹ đầu tư dạng hợp đồng Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư
Theo mô hình này, quỹ đầu tư không phải là pháp nhân đầy đủ.
Công ty quản lý quỹ có nhiệm vụ thành lập quỹ, huy động vốn và thực hiện các hoạt động đầu tư theo các mục tiêu đã được xác định trong điều lệ quỹ.
Ngân hàng giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc bảo quản vốn và tài sản của quỹ Mối quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được quy định qua hợp đồng giám sát, trong đó xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên trong việc thực hiện và giám sát đầu tư, nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là những cá nhân hoặc tổ chức góp vốn vào quỹ, không giống như cổ đông trong mô hình quỹ đầu tư công ty Họ ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ nhằm tối ưu hóa lợi nhuận từ khoản vốn đã đóng góp.
Phân biệt quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở
Khái niệm
Căn cứ điều 6, khoản 30, 31 Luật Chứng Khoán số 27/VBHN-VPQH năm 2013:
30 Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư.
31 Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư
Quỹ đóng là một loại quỹ tương hỗ chỉ có một lần chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng (IPO) Sau khi chứng chỉ quỹ được phát hành, sẽ không có thêm chứng chỉ quỹ nào được phát hành Để thực hiện chào bán công khai, quỹ đóng cần phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Hối đoái.
Sau khi kết thúc đợt chào bán công khai (IPO), chứng chỉ quỹ của quỹ đóng sẽ được giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán công khai như Sàn giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) hoặc NASDAQ.
Trên thị trường thứ cấp, giá giao dịch của quỹ đóng phụ thuộc vào sự biến động của thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ Điều này khác với quỹ mở, nơi luôn chấp nhận vốn từ nhà đầu tư theo giá trị tài sản ròng hiện tại Hơn nữa, cổ phần của quỹ đóng không thể được quỹ mua lại, vì vậy nhà đầu tư muốn "rút tiền mặt" phải bán chứng chỉ quỹ trên thị trường với giá hiện tại.
Có nhiều loại quỹ đóng, được phân loại dựa trên sự pha trộn của tài sản cơ bản trong danh mục đầu tư Ví dụ, một quỹ có thể chỉ đầu tư vào chứng chỉ quỹ blue chip hoặc trái phiếu đô thị Danh mục đầu tư của quỹ đóng được quản lý bởi một công ty quản lý quỹ độc lập và công ty này cũng phải đăng ký với SEC.
Quỹ đóng huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ từng lần một, và nếu nhà đầu tư không mua được chứng chỉ trong các đợt phát hành, họ chỉ có thể mua lại trên thị trường chứng khoán thứ cấp từ các cổ đông hiện tại Quỹ này, còn được gọi là quỹ giao dịch công cộng, không liên quan đến các giao dịch này Để tăng tính thanh khoản, sau khi huy động vốn, chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc giao dịch trên thị trường OTC Nhà đầu tư có thể mua bán chứng chỉ quỹ để thu hồi vốn đầu tư, với giá giao dịch có thể cao hoặc thấp hơn giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ Với cấu trúc vốn ổn định, quỹ đóng có lợi thế trong việc đầu tư dài hạn và vào các chứng khoán ít thanh khoản Tuy nhiên, chứng chỉ quỹ đóng thường có tính thanh khoản thấp, dẫn đến giá trị thị trường thường thấp và thời gian thu hồi vốn kéo dài.
Quỹ đóng chỉ phát hành chứng chỉ một lần, giúp duy trì quy mô vốn ổn định trong suốt thời gian hoạt động Những quỹ này thường được quản lý bởi các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, hay còn gọi là quỹ đầu tư quản lý.
Tại Việt Nam, một số quỹ đóng nổi bật bao gồm VF1, VF2, VF4 và VFA, được quản lý bởi công ty quản lý quỹ Việt Nam, cùng với quỹ tăng trưởng Manulife do công ty quản lý quỹ Manulife phụ trách.
Quỹ mở là một loại quỹ tương hỗ không giới hạn số lượng chứng chỉ quỹ có thể phát hành, mang lại sự linh hoạt cho các nhà đầu tư Đa số quỹ tương hỗ hiện nay là quỹ mở, cung cấp một phương tiện đầu tư hiệu quả và thuận tiện Khi tổng tài sản của quỹ vượt quá khả năng quản lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra, quỹ có thể tạm ngừng nhận đầu tư mới Trong những tình huống nghiêm trọng, quỹ có thể bị đóng cửa đối với cả các nhà đầu tư hiện tại.
Quỹ mở là loại quỹ tương hỗ phát hành không giới hạn chứng chỉ quỹ đầu tư vào chứng chỉ quỹ và trái phiếu Việc mua chứng chỉ quỹ tạo ra chứng chỉ mới, trong khi bán chứng chỉ quỹ làm giảm số lượng lưu hành Chứng chỉ quỹ được giao dịch dựa trên nhu cầu của nhà đầu tư và giá trị tài sản ròng (NAV), được tính toán vào cuối ngày giao dịch dựa trên giá trị của các chứng khoán Khi có lượng lớn cổ phần được mua lại, quỹ mở có thể cần bán một số khoản đầu tư để thanh toán cho nhà đầu tư.
Quỹ mở mang đến cho các nhà đầu tư cơ hội đầu tư dễ dàng và chi phí thấp, giúp họ xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng phù hợp với mục tiêu như tăng trưởng và thu nhập Với mức vốn đầu tư ban đầu không cao, quỹ mở trở thành lựa chọn hấp dẫn và dễ tiếp cận cho nhiều nhà đầu tư.
Quỹ mở có trách nhiệm mua lại chứng chỉ quỹ theo yêu cầu của nhà đầu tư, cho phép họ rút vốn bất cứ lúc nào bằng cách bán lại chứng chỉ trực tiếp cho quỹ Chứng chỉ của quỹ mở không được giao dịch trên thị trường thứ cấp, do đó, nhà đầu tư chỉ có thể mua bán chứng chỉ quỹ thông qua quỹ hoặc các nhà môi giới của quỹ Giá bán cổ phần quỹ (Offer Price) được xác định bằng giá trị tài sản ròng (NAV) cộng với một khoản phí phát hành (Sales load) theo quy định, trong khi giá mua lại (Bid Price) là giá trị tài sản ròng (NAV) trừ đi phí.
1 khoản phí mua lại theo quy định (Redemption fee).
Quỹ mở cho phép nhà đầu tư yêu cầu mua lại bất cứ lúc nào, dẫn đến sự biến động liên tục của quy mô vốn tùy thuộc vào dòng tiền đầu tư và rút ra Để đảm bảo khả năng thanh khoản, quỹ mở thường hạn chế đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản thấp và duy trì một tỷ lệ nhất định các tài sản có tính thanh khoản cao Tương tự như quỹ đóng, quỹ mở cũng được quản lý bởi các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, thường được gọi là quỹ đầu tư quản lý.
Tại Việt Nam, có một số quỹ mở nổi bật như quỹ đầu tư cổ phiếu Manulife do công ty quản lý quỹ Manulife điều hành, quỹ đầu tư cổ phiếu hàng đầu VCBF và quỹ đầu tư cân bằng chiến lược VCBF, cả hai đều được quản lý bởi công ty quản lý quỹ Vietcombank.
So sánh quỹ đóng và quỹ mở
Cả quỹ đóng và quỹ mở đều được quản lý bởi các nhà quản lý danh mục đầu tư cùng với sự hỗ trợ của các nhà phân tích Hai loại quỹ này giúp giảm thiểu rủi ro an toàn thông tin thông qua việc đa dạng hóa các khoản đầu tư, đồng thời có chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn nhờ vào mô hình quỹ đầu tư tổng hợp.
Giá trị tài sản ròng (NAV) là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ và giúp nhà đầu tư xác định giá hợp lý của chứng chỉ quỹ trên thị trường NAV được tính bằng cách lấy tổng giá trị tài sản của quỹ trừ đi các khoản nợ phải trả.
Quỹ mở có số cổ phần không hạn chế và phát hành qua nhiều đợt, trong khi quỹ đóng có số lượng cổ phần cố định được phát hành qua đợt IPO Chứng chỉ quỹ mở không được giao dịch trên sàn chứng khoán, có tính thanh khoản thấp và được định giá theo NAV vào cuối ngày Ngược lại, chứng chỉ quỹ đóng được giao dịch trên sàn chứng khoán, có tính thanh khoản cao hơn, với giá có thể chênh lệch đáng kể so với giá trị NAV tùy thuộc vào cung cầu trong suốt phiên giao dịch.
Các quỹ mở cần duy trì dự trữ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu mua lại, trong khi các quỹ đóng không bị ràng buộc bởi yêu cầu này và có thể đầu tư vào các tài sản không thanh khoản như bất động sản Các quỹ đóng có thể áp dụng chi phí bổ sung qua việc mở rộng giá bán cho các quỹ không thanh khoản, cùng với sự biến động của phí bảo hiểm hoặc giảm giá so với NAV Mặc dù các quỹ mở thường mang lại sự an toàn hơn, nhưng các quỹ đóng thường có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn.
Phân biệt quỹ đóng và quỹ mở
Tiêu chí phân biệt Quỹ đóng Quỹ mở
Số lượng chứng chỉ quỹ thường ít biến động, nhưng có thể tăng hoặc giảm liên tục Điều này xảy ra do nhà đầu tư có quyền mua hoặc bán chứng chỉ quỹ tại đơn vị quỹ vào bất kỳ thời điểm nào.
Vô thời hạn Thông thường có giới hạn và được quy định trong bản cáo bạch.
Giao dịch chứng chỉ quỹ
Chứng chỉ quỹ có thể được giao dịch trên thị trường thứ cấp, trong đó các đơn vị quỹ thực hiện giao dịch trực tiếp với quỹ thông qua Công ty Quản lý Quỹ và các đại lý phân phối.
Giá giao dịch của cổ phiếu có thể bằng hoặc khác với giá trị tài sản ròng (NAV) Cổ phiếu có thể được giao dịch với giá cao hơn hoặc thấp hơn NAV, phản ánh giá trị thực của chúng.
Giá trị tài sản ròng (NAV) của đơn vị quỹ được xác định tại thời điểm công ty quản lý quỹ thực hiện việc mua lại đơn vị quỹ, dựa trên giá trị thực tế của quỹ.
Tài sản cơ sở có thể được phân loại thành tài sản có tính thanh khoản cao hoặc ít thanh khoản, bao gồm các khoản đầu tư vào cổ phiếu OTC và cổ phiếu của các doanh nghiệp chưa niêm yết.
Tài sản có tính thanh khoản (trái phiếu niêm yết, cổ phiếu niêm yết)
Phí - Phí phát hành luông được cộng vào giá phát hành lẩn đầu
- Hoa hồng bán hàng khi mua hoặc khi bán hoặc cả hai, để chi trả cho các chi phí liên quan đến bán đơn vị quỹ và chi phí
- Phí quản lý cho công ty quản lý quỹ
- Phí quản lý cho công ty quản lý quỹ
- Thông thường quỹ sẽ có mức phí khác nhau cho từng loại chứng chỉ quỹ
- Không có phí thưởng Tính thanh khoản
Để tăng tính thanh khoản cho nhà đầu tư, các quỹ đóng có khả năng niêm yết chứng chỉ quỹ trên thị trường chứng khoán, cho phép các chứng chỉ này được giao dịch tương tự như cổ phiếu của các công ty niêm yết.
Tạo tính thanh khoản cao cho các nhà đầu tư và trở thành một trong những kênh đầu tư hữu hiệu trên thị trường.
Quỹ đóng giúp công ty quản lý quỹ duy trì tính ổn định về vốn, giảm áp lực về thanh khoản, từ đó tạo điều kiện cho việc đầu tư vào các tài sản chiến lược dài hạn.
Quỹ mở luôn phải sẵn sàng một lượng tiền mặt nhất định để mua lại chứng chỉ quỹ và quản trị thanh khoản một cách thận trọng.
Mua bán và phân phối chứng chỉ quỹ
Việc mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp từ quỹ với phí giao dịch.
Chứng chỉ quỹ được phân phối liên tục tại các Đại lý Phân phối (Cty Chứng khoán, ngân hàng, công ty quản lý quỹ).
Mua bán chứng chỉ quỹ diễn ra thông qua nhà môi giới, kèm theo phí giao dịch Chứng chỉ quỹ chỉ được phân phối trong thời gian huy động vốn ban đầu hoặc khi quỹ tăng vốn điều lệ, thông qua công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ.
Thay đổi quy mô quỹ
Quy mô vốn khá ổn định cho tới khi đáo hạn (trừ trường hợp tăng vốn)
Quy mô vốn có thể có thay đổi đáng kể.
Biến động giá so với NAV
Giá giao dịch biến động hơn so với NAV
THỰC TRẠNG QUỸ ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Sơ lược tình hình hoạt động quỹ đầu tư những năm gần đây
Những quỹ đầu tư đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện vào đầu những năm 1990, với tổng cộng 8 quỹ hoạt động và huy động được một lượng vốn đáng kể.
Với số vốn 700 triệu USD, các quỹ đầu tư đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, đặc biệt là khi phải đối mặt với tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, dẫn đến việc họ dần nản lòng và rút lui khỏi thị trường.
Thời điểm sau năm 1997 chỉ còn lại 2 quỹ đầu tư là Vietnam Enterprise Investment Fund
Quỹ VIEL do công ty Dragon Capital quản lý và Vietnam Frontier Fund (VFF) thuộc tập đoàn Finasa đã kết thúc hoạt động tại Việt Nam sau 10 năm với quy mô 50 triệu USD Chỉ khi thị trường chứng khoán có dấu hiệu tăng trưởng tích cực, VFF mới quay trở lại với quy mô khiêm tốn hơn 15 triệu USD vào năm 2005.
Trong giai đoạn 2002-2005, các quỹ đầu tư hoạt động khá im ắng, tuy nhiên, vẫn có sự xuất hiện của nhiều quỹ mới từ các công ty như Mekong Capital, VinaCapital, IDG, VietFund và PXP Asset Management.
Quỹ đầu tư thành lập giai đoạn 2002-2005
Quỹ Công ty Thành lập Hoạt động
MekongEnterprise Fund Mekong Capital 2002 Vốn cổ phẩn riêng lẻ
IDG Vietnam Ventures Fund IDG Venture 2004 Đầu tư công nghệ và mạo hiểm IndochinaLand Holdings Indochina Capital 2005 Bất động sản
PXP Vietnam Fund PXP Vietnam Asset
Cổ phiếu niêm yết, doanh nghiệp cổ phần hóa…
Trong giai đoạn 2006-2008, thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, góp phần vào thành công của các quỹ đầu tư, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhu cầu vốn cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, bất động sản và xây dựng cơ sở hạ tầng gia tăng, dẫn đến việc mở mới khoảng 20 quỹ đầu tư trong hai năm 2006-2007 Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép cho 17 công ty quản lý quỹ, trong đó nổi bật là Công ty liên doanh Quản lý quỹ đầu tư BIDV-Vietnam Partners với quỹ VIF có quy mô vốn tối đa 1.600 tỷ đồng Các công ty quản lý quỹ lớn như FPT, SSI và Đông Á cũng ra đời trong giai đoạn này, cùng với sự tham gia của nhiều công ty chứng khoán nước ngoài như Nomura International, Blackhorse Asset Management và Mirae Asset Maps Investment Management.
Tên quỹ Tên công ty QL Ngày cấp phép
Vốn điều lệ (tỷ VNĐ)
Con Hổ Việt Nam CTCP Quản lý Quỹ MB 29/8/2007 500 Đóng
Việt Nhật FPT CTCP Quản lý Quỹ FPT 20/3/2008 1.123,3 Đóng
Quỹ Thành viên Y tế Bản Việt CTCP Quản lý Quỹ Bản Việt 15/1/2008 500 Đóng
SSI CTCP Quản lý Quỹ SSI 14/11/2007 1700 Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bản Việt CTCP Quản lý Quỹ Bản Việt 28/12/2006 792 Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Bảo Việt
Công ty TNHH Quản lý Quỹ Bảo
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Hà Nội CTCP Quản lý Quỹ MB 17/11/2006 200 Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A1
Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Sài Gòn A2
Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ
Quỹ Đầu tư Chứng khoán
Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ
Quỹ Đầu tư Chứng khoán
Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ 01/01/2007 1.010,52 Đóng
Quỹ Đầu tư Chứng khoán
Công ty Liên doanh Quản lý Quỹ
Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam
Công ty Quản lý Quỹ VFM 20/5/2004 1000 Đóng
Quỹ Đầu tư Cân bằng Prudential
Công ty Prudential Việt Nam 19/7/2006 500 Đóng
Quỹ Đầu tư Cổ phần MB Capital 1 CTCP Quản lý Quỹ MB 28/5/2010 200 Đóng
Quỹ Đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu
CTCP Quản lý Quỹ VFM 28/2/2008 806,46 Đóng
Quỹ Đầu tư Năng động Việt Nam
Công ty Quản lý Quỹ VFM 02/04/2010 240 Đóng
Sabeco 1 CTCP Quản lý quỹ Sabeco 12/03/2008 350 Đóng
Theo Uỷ ban Chứng Khoán Nhà Nước
Trong giai đoạn 2002-2008, các quỹ đóng đã đóng góp quan trọng vào phát triển hạ tầng và tăng cường vốn cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời thúc đẩy trao đổi khoa học công nghệ thông qua huy động vốn nước ngoài Tuy nhiên, Việt Nam chưa thành lập quỹ đầu tư mở do nền kinh tế còn yếu và trình độ chuyên môn hạn chế Quỹ mở, mặc dù dễ dàng trong giao dịch, lại tiềm ẩn nhiều phức tạp trong quản lý, vì vậy cần có khung pháp lý chặt chẽ để bảo vệ thị trường khỏi các hành vi tiêu cực.
Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua một chu kỳ giảm mạnh do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và tình hình vĩ mô xấu đi, dẫn đến giá các chứng chỉ quỹ đóng giảm sâu, nhiều quỹ có giá trị tài sản ròng (NAV) tính theo USD giảm tới 70% so với đầu năm, như PXP Vietnam Fund (-70,6%) và Vietnam Emerging Equity Fund (-70,4%) Nhiều quỹ khác cũng ghi nhận mức giảm NAV trên 60%, bao gồm Blackhorse Enhanced Vietnam Inc (-62,6%) và Vietnam Dragon Fund (-63,1%), trong khi VN-Index giảm 69,6% Năm 2008 thực sự là một năm khó khăn cho các quỹ đầu tư, khi hầu hết đều ghi nhận lợi nhuận giảm hoặc thua lỗ, trái ngược với ba năm trước đó, khi không có quỹ nào thua lỗ.
Năm 2009, thị trường chứng khoán Việt Nam đã phục hồi nhờ vào các gói kích thích kinh tế từ Chính phủ Mặc dù giá chứng chỉ quỹ có sự phục hồi nhẹ, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn kém hấp dẫn so với các thị trường khác trong khu vực và toàn cầu Hệ quả là giá trị thị trường chứng chỉ quỹ tiếp tục suy giảm, với mức chiết khấu giữa giá chứng chỉ quỹ và giá trị tài sản ròng duy trì ở mức âm cao.
Năm 2010 là năm thất bát của quỹ đầu tư (QĐT), kể cả QĐT nước ngoài và cả 5
Các quỹ đầu tư nội địa hiện đang niêm yết trên sàn TP.HCM Trong năm 2010, giá trị tài sản ròng (NAV) của nhiều quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã giảm, với giá chứng chỉ quỹ (CCQ) bị chiết khấu từ 10% đến 15%, và có những quỹ chịu mức chiết khấu lên đến 30% - 40% so với NAV.
Theo báo cáo của Rothschild năm 2011, chỉ có 1 trong 31 quỹ đại chúng hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam có giá trị tài sản ròng (NAV) dương Quỹ duy nhất này là VinaCapital Vietnam Fixed Income Fund, với mức tăng 0,5% NAV trong suốt cả năm, trong khi các quỹ còn lại đều ghi nhận mức âm lớn.
Cuối năm 2012, nhiều quỹ đầu tư ghi nhận mức tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) ấn tượng, mặc dù vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau tổn thất năm 2011 So sánh với các quỹ đầu tư đại chúng niêm yết tại các thị trường mới nổi khác cho thấy, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn hơn.
Giá trị tài sản ròng (NAV) của nhiều quỹ đầu tư đã tăng trưởng mạnh trong năm
2013, vượt cả chỉ số chính của thị trường chứng khoán Việt Nam và vượt xa mức tăng của năm 2012.
Tăg trưởng NAV (%) của các quỹ nước ngoài tại Việt Nam trong năm 2013.
Năm 2014, Công ty Chứng khoán LCF Rothschild (Anh) ghi nhận rằng các quỹ đầu tư tại Việt Nam đã có một năm tăng trưởng ấn tượng về giá trị tài sản ròng (NAV).
Tăng trưởng NAV quỹ đầu tư vào Việt Nam năm 2014
Tên Quỹ Công ty quản lý Tăng trưởng
Quy mô quỹ (triệu USD)
Vietnam Property Holding Saigon Asset
LumenVietnam Fund CBR Investment AG 20.8 21
Vietnam Equity Holding Saigon Asset
Vietnam Holding Ltd Vietnam Holding
Vietnam Debt Fund SPC Dragon Capital 14.4 30
Manulife Progressive Fund Manulife Asset
DWS Vietnam Fund Deutsche Asset
Vietnam Azalea Fund Mekong Capital 10.0 66
Fullerton Vietnam Fund Fullerton Fund
VF1 Vietnam Securities Fund VietFund
Vietnam Property Fund Dragon Capital 5.5 70
Vietnam Growth Fund Dragon Capital 5.2 302
Aseana Properties Limited Aseana Management 3.3 164
VF4 Vietnam Blue-Chips Fund VietFund
Market Vectors Vietnam ETF Van Eck Associates 1.1 368
Sau 20 năm, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng thu hút sự quan tâm từ các quỹ đầu tư quốc tế và nội địa Sự gia tăng số lượng cũng như quy mô của các nhà đầu tư tổ chức hứa hẹn sẽ tạo nền tảng giúp thị trường ngày càng trưởng thành hơn.
Từ 2 cổ phiếu đầu tiên là REE và SAM được niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM vào năm 2000 và 5 cổ phiếu ban đầu được giao dịch thỏa thuận tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vào năm 2005. Đến nay, tổng số lượng chứng khoán niêm yết trên 2 sàn chứng khoán TP.HCM và
Hà Nội đã gần đạt 700 doanh nghiệp, với tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu lên tới 66,3 tỷ USD, tương đương khoảng 37,5% GDP Thị trường chứng khoán Việt Nam đang khẳng định vai trò là kênh phân phối hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế.
Xu hướng hoạt động trong tương lai
2.1 Xu hướng đầu tư của các nhà đầu tư vào các quỹ đầu tư Việt Nam.
Khả năng thanh khoản của các quỹ đầu tư.
Nhà đầu tư quỹ đóng chỉ có thể chốt lãi hoặc cắt lỗ bằng cách bán chứng chỉ quỹ qua sàn theo thị giá, ngay cả khi thị giá thấp hơn giá trị tài sản ròng (NAV) nhiều, và chỉ khi chứng chỉ quỹ được niêm yết Trong khi đó, nhà đầu tư quỹ mở luôn có thể thoái vốn với giá đúng bằng NAV của quỹ.
Khi so sánh quỹ đóng và quỹ mở, các yếu tố như phí quản lý, cơ chế thuế và chiến lược đầu tư không có nhiều khác biệt Quỹ VFF có tổng mức phí khoảng 2,5 - 2,8% NAV, trong khi quỹ MBBF của MB Capital chỉ khoảng 1,5%, và phí quản lý quỹ đóng dao động từ 1 - 2% Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư, vấn đề chính không phải là phí quản lý hay thuế, mà là sự tăng giá của chứng chỉ quỹ (CCQ) để họ có thể hiện thực hóa lợi nhuận ngay khi giá tăng.
Thanh khoản kém đã trở thành yếu tố chính ảnh hưởng đến tình hình chung của ngành quản lý quỹ, khiến 100% quỹ đầu tư dạng đóng rơi vào trạng thái ảm đạm trong nhiều năm qua.
Khi thanh khoản thị trường ngày càng cải thiện và nhu cầu quay vòng vốn của nhà đầu tư tăng cao, quỹ đóng đã bộc lộ một số hạn chế cần điều chỉnh Sự ra đời của quỹ mở không chỉ khắc phục những hạn chế của quỹ đóng mà còn tạo ra bước đột phá trong việc phát triển các sản phẩm đầu tư mới, cung cấp công cụ đầu tư minh bạch và phản ánh giá trị thực của tài sản, từ đó nâng cao sức cầu và tính thanh khoản cho thị trường.
Kênh đầu tư trái phiếu lên ngôi.
So với năm 2016, áp lực điều chỉnh giá dịch vụ công trong năm 2017 sẽ giảm Dự báo lạm phát năm 2017 sẽ phụ thuộc vào việc điều chỉnh giá dịch vụ công theo hai kịch bản: nếu giá dịch vụ công không thay đổi, lạm phát dự kiến khoảng 4%; nếu giá dịch vụ công được điều chỉnh bằng nửa mức điều chỉnh trong năm trước.
2016, lạm phát dự báo ở mức 5%
Năm 2017 được dự đoán sẽ là một năm đầy thách thức cho thị trường trái phiếu, nhưng vẫn có nhiều cơ hội đầu tư Lợi suất trái phiếu có khả năng giữ ổn định trong suốt năm.
2017, song sẽ có sự phân hóa giữa các kỳ hạn
Báo cáo mới phát hành gần đây của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) nhận định, trong quý I và cả trong nửa đầu năm
2017, thị trường trái phiếu nhiều khả năng sẽ vẫn tiếp tục diễn biến sôi động, với lượng thanh khoản sẽ tiếp tục dồi dào.
Vào nửa cuối năm 2017, theo VCBS, hoạt động của thị trường trái phiếu có thể giảm so với nửa đầu năm Công ty này dự đoán tỷ giá sẽ dao động từ 2%-4% do ba lần tăng lãi suất của FED trong năm 2017, rủi ro từ các quy định mới của Tổng thống Donald Trump, và những yếu tố tiềm ẩn khác.
“Brexit cứng” tại châu Âu.
Dự báo lợi suất sẽ có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ trong thời gian tới, nhưng sẽ có sự phân hóa giữa các kỳ hạn, theo đánh giá của VCBS.
Quỹ đầu tư trái phiếu dạng mở mang đến cho nhà đầu tư cá nhân cơ hội tiếp cận thị trường trái phiếu sơ cấp và thứ cấp một cách chuyên nghiệp Thông qua các quỹ này, nhà đầu tư có thể gián tiếp thực hiện giao dịch mua, bán và đấu giá trái phiếu, giúp tối ưu hóa lợi nhuận và bảo toàn vốn đầu tư.
2.2 Xu hướng chuyển biến mới của các quỹ đầu tư Việt Nam hiện nay.
Năm 2017, dự kiến sẽ có khoảng 1.500 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán, với nhiều loại hình doanh nghiệp từ chất lượng cao đến những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả Điều này yêu cầu nhà đầu tư cần phải biết cách chọn lọc thông tin Thay vì tự mình tìm hiểu trong "biển cổ phiếu", nhiều nhà đầu tư đã chọn ủy thác cho các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp.
Năm 2016, thị trường quỹ mở chứng kiến sự ra đời của hai quỹ mới: Quỹ đầu tư trái phiếu Bảo Việt (BVBF) và Quỹ đầu tư cổ phiếu triển vọng Bảo Việt (BVPF), cả hai đều được quản lý bởi Công ty Quản lý quỹ Bảo Việt (Baoviet Fund) Điều này cho thấy Baoviet Fund là một trong những công ty quản lý quỹ có hoạt động phát triển sản phẩm tích cực nhất trên thị trường.
Tính đến cuối năm 2016, thị trường quỹ mở có 18 quỹ, bao gồm 5 quỹ trái phiếu, 4 quỹ cân bằng và 10 quỹ cổ phiếu, với tổng quy mô đạt hơn 3.000 tỷ đồng, tăng 41% so với năm 2015 Sự gia tăng này chủ yếu nhờ vào kết quả đầu tư tích cực và sự tiếp nhận hình thức đầu tư mới từ nhà đầu tư Quỹ TCBF của Techcombank Capital nổi bật với mức tăng trưởng tài sản quản lý lên đến 683% so với cuối năm 2015, với tài sản tăng gấp đôi trong chỉ hai tháng Các quỹ khác như VEOF, VCBF-BCF, và VCBF-TBF cũng ghi nhận mức tăng trưởng từ 60-90% Tuy nhiên, một số quỹ như VFMVFA, SSI-SCA, và MBBF vẫn gặp khó khăn với tình trạng rút ròng từ nhà đầu tư Trên thị trường hiện chỉ có một quỹ đầu tư bất động sản là TCREIT của Công ty TNHH Quản lý quỹ Kỹ Thương.
Dự báo vào năm 2017, dòng tiền tín dụng vào thị trường bất động sản sẽ bị siết chặt hơn, cùng với thói quen của người Á Đông là nắm giữ bất động sản thay vì đầu tư gián tiếp Do đó, thị trường bất động sản sẽ không có nhiều biến động trong năm nay.
Vào ngày 21/3/2017, Công ty CP Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) đã chính thức ra mắt sản phẩm đầu tư mới mang tên VF-iSaving, nhắm đến nhóm đối tượng có thu nhập trung bình với tính thanh khoản cao Sản phẩm này không chỉ giúp nhà đầu tư (NĐT) miễn phí khi mua chứng chỉ quỹ mà còn miễn hoàn toàn phí bán nếu tham gia tối thiểu 3 năm NĐT chỉ cần dành ra một khoản tiền định kỳ để đầu tư, trong khi việc quản lý và phân tích thị trường sẽ do đội ngũ chuyên gia của VFM đảm nhận.
Tổng quy mô quỹ mở trên toàn thị trường tăng 40% đạt gần 3.000 tỷ đồng.
Và mức sinh lời cho nhà đầu tư hơn hẳn mức lãi suất ngân hàng, vượt cả mức tăng 15% của chỉ số VN-Index.
Theo chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm
Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 252/QĐ-TTg với mục tiêu phát triển ngành quỹ, nhằm đa dạng hóa sản phẩm quỹ đầu tư chứng khoán Quyết định này hướng đến việc tăng quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động của các quỹ đầu tư, đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để khuyến khích các nhà đầu tư tổ chức và quỹ đầu tư chứng khoán tham gia vào thị trường, góp phần phát triển nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.