Việc tập hợp các CPSX, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khác
Trang 2
Lời mở đầu
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế , tạo ra cơ sở vật chất
kỹ thuật quan trọng cho xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển của các ngành sản xuất khác Sản phẩm xây lắp vừa mang ý nghĩa kinh tế vừa mang ý nghĩa về văn hoá và xã hội do đó hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp không chỉ là vấn đề quan tâm của bản thân doanh nghiệp mà nó còn mang tính chất xã hội Với đặc điểm đặc thù của ngành xây dựng
cơ bản là có vốn đầu tư lớn, thời gian thi công kéo dài, , kết cấu phức tạp nên những thông tin cung cấp cho các nhà quản lý phải đảm bảo chính xác, kịp thời để có thể ra các quyết định đúng đắn không ngừng nâng cao uy tín, khả năng của doanh nghiệp trong đó cần đặc biệt chú trọng tới các thông tin về chi phí, giá thành sản phẩm Chỉ có như vậy mới đưa ra được những biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, qua thời gian thực tập tại Xí nghiệp Xây dựng số 8 – Công ty Cổ phần và tư
vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng , em đã lựa chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác hạch
toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần và tư vấn đầu tư
& Kiểm định xây dựng” để thực hiện chuyên đề tốt nghiệp của mình
Kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hạch toán CPSX và tínhgiá thành sản phẩm
xây lắp
Chương 2: Thực trạng công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây
lắp tại Công ty Cổ phần và tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán CPSX và tính giá thành
sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần và tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng
Trang 3Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân XDCB
là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, hiện đại hoá, các công trình nhà máy, xí nghiệp… nhằm phục vụ sản xuất và đời sống của xã hội Chi phí XDCB gồm các nội dung: xây dựng , lắp đặt, mua sắm thiết bị và chi phí kiến thức cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt do các đơn vị thi công xây lắp đảm nhiệm, thông qua hợp đồng giao nhận thầu xây lắp Các sản phẩm của XDCB là các công trình xây lắp , vật kiến trúc…có những đặc điểm riêng biệt khác với các ngành sản xuất khác và do vậy có nhiều ảnh hưởng đến công tác hạch toán kế toán:
- Sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn chiếc, kết cấu phức tạp và có đặc thù riêng của mỗi sản phẩm : mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt thiết kế, mỹ thuật, kết cấu,
hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau Chính vì vậy, mỗi sản phẩm đều có yêu cầu về
tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và đảm bảo cho sản xuất được liên tục Do sản phẩm có tính đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí bỏ vào sản xuất thực hiện công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các mẫu thiết kế nhưng được xây dựng ở những địa điểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thi chi phí sản xuất (CPSX) cũng khác nhau Việc tập hợp các CPSX, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông
- Sản phẩm xây dựng cơ bản có giá trị lớn, thời gian thi công tương đối dài: Các
công trình xây dựng cơ bản thường có thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật
Trang 4
tư, nhân lực của xã hội Do đó, khi lập kế hoạch xây dựng cơ bản cần cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công Việc quản lý theo dõi sản xuất thi công phải chặt chẽ, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, bảo đảm chất lượng thi công công trình Kỳ tính giá thành thường không xác định hàng tháng mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tuỳ thuộc vào kết cấu, đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả cao nhất
-Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài: Công trình XDCB thường có
thời gian sử dụng dài nên mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa, phải phá đi làm lại Sai lầm trong XDCB vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình
- Sản phẩm XDCB được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây dựng luôn luôn thay đổi theo địa bàn thi công: Khi chọn địa điểm xây dựng cần phải điều tra, nghiên cứu khảo sát thật
kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thủy văn, kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trước mắt cũng như lâu dài vì sau khi đi vào sử dụng, công trình không thể
di dời Một công trình XDCB hoàn thành sẽ phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy móc thi công, chi phí về xây dựng các công trình tạm thời cho công nhân và máy móc thi công Cũng như đặc điểm này mà các đơn vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để giảm bớt các chi phí khi di dời
- Sản phẩm xây lắp thường được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá đấu thầu nên
tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ hay nói cách khác tác động của yếu tố thị trường là không nhiều
- Đối tượng hạch toán CPSX sản phẩm xây lắp có thể là các công trình hạng mục công trình, đơn đặt hàng, …Vì thế phải lập dự toán chi phí và giá thành theo từng hạng mục hay giai đoạn của hạng mục
- Đối tượng hạch toán chi tiết chi phí phải được phân tích theo từng khoản mục chi phí, hạng mục công trình, từng công trình cụ thể nhằm thường xuyên so sánh, kiểm tra
Trang 5việc thực hiện dự toán chi phí Qua đó, xem xét nguyên nhân vượt, hụt dự toán và đánh giá hiệu quả kinh doanh
1.2 Nội dung kinh tế , phân loại CPSX và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
1.2.1 Chi phí sản xuất
1.2.1.1 Bản chất của chi phí sản xuất
Qua quá trình sản xuất hàng hoá của doanh nghiệp là sự kết hợp của 3 yếu tố cơ bản là: đối tượng lao động, tư liệu lao động, tư liệu lao động và sức lao động Sự kết hợp của 3 yếu tố này trong quá trình sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người Việc tiêu hao một lượng nhất định các yếu tố để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ đó được gọi là chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một ky kinh doanh
CPSX trong các doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện công tác xây lắp nhằm tạo
ra các loại sản phẩm khác nhau theo mục đích kinh doanh cũng như theo hợp đồng giao nhận nhà thầu đã ký kết
CPSX trong các doanh nghiệp xây lắp cũng bao gồm các yếu tố: chi phí về nguyên vật liệu , chi phí về nhân công, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí việc tính toán, phân tích giá thành trong sản phẩm ta cần tiến hành phân loại CPSX
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất thực chất là việc sắp xếp các chi phí cùng loại thành từng nhóm mang những đặc trưng nhất định
Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin, góc độ xem xét chi phí
mà các khoản chi phí được phân loại theo các tiêu thức khác nhau Sau đây là một cách phân loại phổ biến:
Cách 1: Phân loại theo yếu tố chi phí :
Theo cách phân loại này, các yếu tố có cùng nội dung kinh tế được xếp chung với nhau, mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, gồm:
Trang 6
Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ…xuất dùng cho sản xuất - kinh doanh ( loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng vớ nhiên liệu, động lực trong kỳ báo cáo
Yếu tố chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ chi phí phả trả cho người lao động (
thường xuyên hay tạm thời) về tiền lương (tiền công), các khoản phủ cấp trợ cấp có tính chất lượng, tiền ăn giữa ca và các khoản tính trích theo lương ( CPCĐ, BHXH, BHYT) trong kỳ báo cáo
Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng sốkhấu hao TSCĐ của doanh
nghiệp phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí về nhân công cung cấp
dịch vụ từ các đơn vị khác phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo như: điện nước, điện thoại, vệ sinh và các dịch vụ khác
Yếu tố chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh chưa
được phản ánh ở các chỉ tiêu trên đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo như: tiếp khách, hội họp, thuê quảng cáo
Việc phân loại theo tiêu thức trên giữ được tính nguyên vẹn của từng yếu tố cũng như từng khoản mục chi ra trong yếu tố Hạch toán các yếu tố chi phí này có ý nghĩa rất lớn trong công tác cũng như công tác quản lý chi phí Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố CPSX để có thể phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán CPSX, là tài liệu quan trọng để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
Cách 2: Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích, công dụng kinh tế và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, toàn bộ CPSX sản xuất xây lắp được chia thành các khoản mục sau:
Khoản mục chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: gồm giá trị nguyên, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu,…được xuất dùng trực tiếp cho việc thi công xây dựng hoặc lắp đặt các công trình, hạng mục công trình , không bao gồm chi phí vật liệu đã tính vào CPSX chung và chi phí sử dụng máy thi công
Trang 7
Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp: là khoản thù lao lao động phải trả cho
công nhân trực tiếp xây lắp và phục vụ thi công công trình , bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định
Khoản mục chi phí sử dụng máy thi công: nhằm phản ánh các chi phí liên quan
trực tiếp đến việc sử dụng máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy, bao gồm: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí thuê máy, tiền lương của công nhân điều khiển máy…
Khoản mục CPSX chung: là những chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ sản
xuất xây lắp có tính dùng chung cho hoạt động xây lắp phát sinh trong các đội xây lắp , các xí nghiệp trực thuộc được phân bổ cho các công trình, hạng mục công trình hoàn thành
Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản
lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành và lập kế hoạch định mức cho kỳ sau
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Bản chất của giá thành sản phẩm xây lắp
Để xây dựng một công trình, hạng mục công trình thì doanh nghiệp phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định Những chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra đó sẽ tham gia cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành Như vậu, CPSX thể hiện sự hao phí sản xuất còn giá thành sản phẩm phản ánh kết quả, chất lượng sản xuất kinh doanh
Vậy, Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác , sản phẩm , lao vụ đã hoàn thành
Tại doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các hao phí bằng tiền khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra không kể đến thời kỳ sản xuất nào để hoàn thành công trình, hạng mục công trình hay một phần của công trình ở kỳ này
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của doanh nghiệp, phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh , đồng thời phản ánh những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc phấn đấu áp dụng quy trình
Trang 8công nghệ mới, hoàn thiện kỹ thuật thi công, kết quả sử dụng các loại vật tư, tài sản cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật trong quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Cách 1: Phân loại giá thành căn cứ trên cơ sở số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì giá thành sản phẩm xây lắp được chia ra thành: giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế
Giá thành dự toán xây lắp: Trong xây dựng cơ bản, sản phẩm xây dựng là nhà cửa,
vật kiến trúc, …mà giá trị của nó được xác định bằng giá trị dự toán căn cứ theo định mức
và khung giá để hoàn thành khối lượng xây lắp Giá trị dự toán là giá thanh toán cho khối lượng công tác xây lắp hoàn thành còn giá thành dự toán là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành một khối lượng xây lắp, đây cũng chính là giá thành nhận thầu của các đơn vị xây lắp với các đơn vị chủ đầu tư Giá thành dự toán mang tính chất xã hội , nó phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh tế , kỹ thuật chung của xã hội
Giá thành dự toán = Giá dự toán – Lợi nhuận định mức
Lợi nhuận định mức là chỉ tiêu Nhà nước quy định ngành xây dựng cơ bản phải tạo
ra để tích luỹ cho xã hội
Giá thành kế hoạch: Là chỉ tiêu giá thành được xác định trên cơ sở giá
thành dự toán gắn với những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trên cơ sở phấn đấu hạ giá thành bằng các biện pháp tăng cường quản lý kỹ thuật, vật tư, thi công, các định mức và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán – Mức hạ giá thành dự toán
Giá thành thực tế: là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành, bàn giao khối
lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu và được xác định vào cuối kỳ kinh doanh Giá thành thực tế gồm chi phí theo định mức, vượt định mức và các chi phí phát sinh khác
Việc so sánh các loại giá thành được phân loại theo tiêu thức trên có ý nghĩa rất quan trọng Qua đó đánh giá được chất lượng sản xuất thi công cũng như công tác quản lý giá thành So sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch cho phép ta đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, trình độ quản lý của bản thân doanh nghiệp So sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chi phí của doanh nghiệp so với doanh nghiệp khác
Trang 9Giữa CPSX và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là nguyên nhân kết quả của nhau CPSX được giới hạn gì, đã hoàn thành hay chưa, còn khi nói đến giá thành sản phẩm lại được giới hạn là CPSX của một khối lượng về một loại sản phẩm nhất định đã hoàn thành
Nếu xét trên góc độ biểu hiện bằng tiền trong một thời kỳ nhất định thì tổng CPSX phát sinh trong kỳ cũng khác với tổng giá thành của sản phẩm hoàn thành trong kỳ không bao gồm những chi phí không liên quan đến sản xuất sản phẩm hoặc những CPSX của sản phẩm làm dở dang cuối kỳ hay những chi phí đã chi ra trong kỳ này nhưng còn chờ phân bổ đồng thời lại phải cộng thêm những CPSX của sản phẩm dở dang đầu kỳ hay những chi phí đã trích trước tính vào giá thành
CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ
Tổng giá thành sản phẩm CPSX dở dang cuối kỳ
1.3 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ của công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.1 Yêu cầu về quản lý
Hiện nay để hạn chế sự thất thoát trong xây dựng cơ bản của Nhà nước đã trực tiếp quản lý giá xây lắp thông qua các chế độ chính sách về giá, các nguyên tắc lập dự toán , các căn cứ ( Định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản ) phù hợp với từng vùng, địa phương để xác định tổng mức vốn đầu từ, tổng dự toán công trình , hạng mục công trình
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao uy tín bằng cách thi công đảm bảo đúng tiến độ theo thiết kế mĩ thuật, đảm bảo chất lượng công trình với chi phí hợp lý Do đó bản thân các doanh nghiệp phải
có biện pháp tổ chức , quản lý sản xuất , quản lý các chi phí sản xuất chặt chẽ , hợp lý nhằm hạ giá thành sản phẩm mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp
1.3.2 Nhiệm vụ của công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
Hoạt động xây dựng đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn thời gian thi công kéo dài, dễ gây ứ đọng vốn, quay vòng vốn chậm, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đòi hỏi việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm phản ánh đầy đủ trung
Trang 10thực và kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Để tổ chức tố kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Căn cư vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và bằng phương pháp thích hợp cung cấp kịp thời những số liệu, thông tin tổng hợp về các khoản mục chi phí , yếu tố chi phí đã quy định, xác định đúng đắn giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
- Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành và giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục quy định và định kỳ tính giá thành sản phẩm đã xác định
- Định kỳ cung cấp báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho các cấp quản lý doanh nghiệp , tiến hành phân tích tình thực hiện các định mức và dự toán chi phí, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch giá thành sản phẩm Phát hiện các hạn chế và khả năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
1.4 nội dung hạch toán cpsx và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.4.1 Vai trò và yêu cầu của kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
* Vai trò và yêu cầu của kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
Với chức năng chi chép, tính toán, phản ánh thường xuyên sự biến động của tài sản, vật tư, vốn thì vai trò của kế toán càng đặc biệt trở nên quan trọng trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp là vấn đề trọng tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp Ghi chép và đánh giá được các khoản mục chi phí từ đó tham mưu giúp nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu chi phí hạ giá thành sản phẩm không ngừng nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường xây lắp Ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển thì việc ứng dụng phần mềm kế toán nhằm giảm bớt gánh nặng cho kế toán viên và nâng cao hiệu quả công việc,, nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị một cách nhanh chóng…nắm bắt
cơ hội kịp thời
* Yêu cầu của kế toán Cõ và tính giá thành sản phẩm
Trang 11
Để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của cơ chế thị trường đòi hỏi việc hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo chính xác, đầy đủ, kịp thời tránh thất thoát, lãng phí vốn trong quá trình sản xuất , tính đúng, tính đủ giá thành, so sánh với dự toán để thấy được thực tế thực hiện làm cơ sở cho việc phân tích tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành một cách chính xác, giúp tham mưu cho các nhà quản trị doanh nghiệp
1.4.2 Đối tượng hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
* Đối tượng hạch toán CPSX
Đối tượng hoạch toán CPSX là các loại chi phí được tập hợp trong một giới hạn nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích, hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm được chính xác Giới hạn tập hợp CPSX có thể là nơi phát sinh chi phí hoặc nơi gánh chịu chi phí Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí cần căn cứ vào: đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất , sản phẩm, loại hình sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Trong sản xuất xây lắp, với những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm nên tuỳ vào công việc cụ thể, trình độ quản lý của mỗi doanh nghiệp xây lắp mà đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng công trình, hạng mục công trình, theo từng đơn đặt hàng hay từng đội sản xuất
* Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành thông thường là hạng mục công trình, công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành Đối tượng tính giá thành là cơ sở kế toán tổ chức tính giá thành theo từng đối tượng, phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh để có biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm
Đối tượng kế toán hạch toán CPSX có nội dung khác với đối tượng tính giá thành nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Số liệu CPSX đã tập hợp trong kỳ theo từng đối tượng là cơ sở và căn cứ để tính giá thành sản phẩm cho từng đối tượng tính giá thành có liên quan Mặt khác một đối tượng kế toán tập hợp CPSX có thể bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành và ngược lại, một đối tượng tính giá thành lại có thể bao gồm nhiều đối tuợng kế toán tập hợp CPSX
Trang 12* Phương pháp hạch toán CPSX theo hạng mục công trình :
áp dụng khi đối tượng hạch toán chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ công trình hay hạng mục công trình
Hàng tháng, CPSX liên quan đến hạng mục công trình hay nhóm hạngmục công trình nào thì hạch toán cho hạng mục công trình hay nhóm hạng mục công trình đó Giá thành thực tế của công trình, hạng mục công trình chính là tổng số chi phí được tập hợp cho từng đối tượng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành
Phương pháp hạch toán CPSX theo đơn đặt hàng:
Trong kỳ, chi phí phát sinh sẽ được tập hợp và phân loại theo đơn đặt hàng riêng biệt Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành thực tế của đơn đặt hàng đó
* Phương pháp hạch toán CPSX theo đơn vị thi công:
Các đơn vị thi công như: công trường, các đội thi công, các tổ, đội xây lắp thực hiện rộng rãi phương pháp hạch toán kinh tế nội bộ
Theo phương pháp này, các chi phí lại được tập hợp theo mỗi đối tượng chi phí như: hạng mục công trình, công trình,…Cuối tháng, tổng số chi phí phát sinh ở từng đơn
vị được so sánh với dự toán để hạch toán kinh tế nội bộ Khi các công trình, hạng mục công trình hoàn thành, kế toán tiến hành tính giá bằng các phương pháp tính giá thích hợp
Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hay một số phương pháp hạch toán CPSX nêu trên, nhưng trên thực tế, có một số yếu tố chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng Do vậy, nhiệm vụ của kế toán CPSX không chỉ là tập hợp chi
Trang 13phí liên quan đến một hay nhiều đối tượng mà phải phân bổ các khoản cpnày một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng Có thể sử dụng các phương pháp phân bổ sau:
* Phương pháp phân bổ trực tiếp: chi phí được phân bổ trực tiếp là chi phí có quan
hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt Khi các chi phí này phát sinh, kế toán có thể xác định đối tượng chịu chi phí một cachs độc lập
*Phương pháp phân bổ gián tiếp: được áp dụng trong trường hợp CPSX phát sinh
liên quan đến nhiều đối tuợng mà không thể tổ chức hạch toán ban đầu một cách riêng lẻ
Để thực hiện phương pháp này, kế toán cần phải lựa chọn tiêu thức phân bổ thíchhợp Các tiêu thức thường được phân bổ là: chi phí nhân công trực tiếp, số giờ lao động, số giờ máy chạy, định mức chi phí,
Công thức phân bổ như sau:
Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của ngành sản xuất kinh doanh phụ có liên
quan trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và đơn giá của lao vụ
Bước 3: Tập hợp và phân bổ CPSX chung cho các công trình, hạng mục công trình
có liên quan theo tiêu thức phù hợp
Trang 14
Bước 4: Xác định thiệt hai thực trong sản xuất ( thiệt hại sản phẩm hỏng, ngừng
sản xuất , …) để tính vào CPSX trong kỳ
Bước 5: Xác định chi phí dở dang cuối kỳ, tính giá thành công trình hoàn thành
Trong XDCB thường áp dụng những phương pháp tính giá thành sau:
* Phương pháp tính giá thành trực tiếp:
Hiện nay, phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các đơn vị xây lắp bởi tính chất đơn chiếc của sản phẩm xây lắp và bởi sự phù hợp giữa đối tượng tập hợp CPSX
và đối tượng tính giá thành sản phẩm Mặt khác, áp dụng phương pháp này sẽ cung cấp kịp thời số liệu về giá thành sản phẩm xây lắp trong mỗi kỳ báo cáo với tính đơn giản và thực hiện dễ dàng Theo phương pháp này, CPSX trực tiếp tập hợp cho một công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành của công trình, hạng mục công trình đó
Trong trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì:
CPSX dở dang cuối
kỳ
Trong trường hợp CPSX tập hợp theo từng công trình hoặc cả công trình mà giá thành thực tế lại tính cho từng hạng mục công trình thì kế toán có thể căn cứ vào CPSX của cả nhóm và hệ số kỹ thuật đã quy định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành
Trang 15thực tế cho từng hạng mục công trình đó Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau nhưng thi công trên cùng một địa điểm do cùng một công trường đảm nhiệm, kế toán không có điều kiện theo dõi, quản lý riêng các loại chi phí khác nhau thì CPSX đã tập hợp được phân bổ cho từng hạng mục công trình theo những tiêu thức thích hợp:
Hệ số phân bổ =
Tổng chi phí thực tế của các hạng mục công trình
x 100 Tổng giá thành dự toán của các hạng mục công trình
x Hệ số phân bổ
Phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này thích hợp với việc xây lắp các công trình lớn, phức tạp, quá trình sản xuất có thể được tiến hành thông qua các đội sản xuất khác nhau mới hoàn thành được sản phẩm Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp CPSX là các đội sản xuất , còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành cuối cùng Khi đó, giá thành thực tế của công trình hoàn thành sẽ được tính theo công thức:
Z = C 1 + C 2 + …+ Công nghiệp
Trong đó: Z: Giá thành công trình hoàn thành
C1, C2, …, Công nghiệp: CPSX phát sinh tại từng đội hay từng giai đoạn công nghệ
Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Doanh nghiệp có thể ký với bên giao thầu hợp đồng nhận thầu thi công gồm nhiều việc khác nhau mà không cần hạch toán riêng từng công việc Kh đó, đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành đều là đơn đặt hàng Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành toàn bộ chính là giá thành của đơn đặt hàng đó
1.4.4 Hạch toán tổng hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp theo phương pháp kê khai thường xuyên
Trang 16
* Tổ chức hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành nên thực thể sản phẩm xây lắp ( không kể vật liệu phục vụ cho máy móc thi công, phương tiện thi công và những vật liệu tính trong CPSX chung) Giá trị vật liệu được hạch toán vào khoản mục này ngoài phía giá trị thực tế còn có cả chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua về nơi nhập kho vật liệu hoặc xuất thẳng đến chân công trình
Nguyên vật liệu sử dụng cho thi công công trình, hạng mục công trình nào thì phải được tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá xuất kho thực tế Trường hợp nguyên vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều công trình không thể tổ chức hạch toán riêng được thì kế toán phải phân bổ chi phí cho các công trình theo tiêu thức thích hợp
Tài khoản sử dụng : TK621 – chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
TK này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình
Kết cấu TK 621:
Bên Nợ: - Giá trị thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp
trong kỳ
Bên có: - Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại kho
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên vật liệu thực tế sử dụng cho
hoạt động xây lắp trong kỳ vào bên nợ TK 154 – CPSX kinh doanh dở dang
và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành công trình xây lắp
TK này không có số dư cuối kỳ
NVL dùng trực tiếp K/c CPNVL trực tiếp Cho hoạt động xây lắp vào tài khoản tính giá thành
Kết chuyển tạm ứng CP NVL xuất dùng
Trang 17Nguyên vật liệu trực tiếp không hết được nhập kho
Chi phí máy thi công
phân bổ cho từng công
Tổng số ca máy làm việc
Khi sử dụng tiêu thức này cần phải theo dõi chính xác số ca máy cho từng công
trình
Tiêu thức dự toán chi phí sử dụng máy thi công:
Chi phí máy thi công
phân bổ cho từng công
Tổng dự toán chi phí máy thi công các công trình
Tài khoản sử dụng :
Trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công, vừa bằng máy để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 623 – Chi phí sử dụng máy thi công Các khoản trích theo lương BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sử dụng máy thi công và tiền ăn ca không hạch toán vào tài khoản này mà phản ánh vào tài khoản 627 – CPSX chung
Đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp hoàn toàn bằng máy thì không
sử dụng tài khoản 623 mà hạch toán các chi phí có liên quan đến máy thi công vào các tài khoản 621, 622, 627
Kết cấu TK 623 – chi phí sử dụng máy thi công:
Trang 18
TK 6231 – Chi phí nhân công
TK 6232 – Chi phí vật liệu
TK 6233 – Chi phí công cụ dụng cụ
TK 6234 – Chi phí khấu hao máy thi công
TK 6237 – Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6238 – Chi phí bằng tiền khác
Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công:
Trường hợp đơn vị xây lắp có máy thi công riêng:
Tk 111, 112, 152,… TK 623 ( Chi tiết tiểu khoản) TK 154
TK 111, 3341, 3342,…
TK 111, 112, 214,…
TK 133
TK 141
(1): Tập hợp chi phí nguyên vật liệu
(2): Tập hợp chi phí nhân công điều khiển máy thi công
(3a):Tập hợp chi phí khác có liên quan ( giá chưa thuế GTGT)
(3b):Thuế GTGT dịch vụ mua ngoài
(4): Kết chuyển tạo ứng chi phí sử dụng máy thi công
(1)
(2)
(3a )
(4)
(5)
(3b )
Trang 19(5): Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công sang tài khoản 154
Trang 20TK 141
(1):Tiền lương công nhân điều khiển máy thi công
(2): Nguyên vật liệu dùng cho sử dụng máy thi công
(3): Khấu hao máy thi công
(4a): Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác ( giá chưa có thuế GTGT)
(4b): Thuế GTGT được khấu trừ
(5): Quyết toán tạm ứng tập hợp và chi phí sử dụng máy thi công
Trường hợp máy thi công thuê ngoài:
(1)
(2)
(3)
(4a )
(6)
(4b )
(5)
Trang 21TTK 111,112,113,… TK 623 TK 154
TK 133
(2)
(1): Tập hợp chi phí sử dụng máy ( giá thuế chưa thuế)
(2): Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của máy thi công đi thuê
(3): Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào tài khoản tính giá thành, chi tiết theo đối tượng
* Tổ chức hạch toán CPSX chung
CPSX chung trong từng đội xây lắp bao gồm chi phí vật liệu cho đội quản lý, tiền lương nhân viên quản lý đội, BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số lương của nhân viên toàn đội, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho đội, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác CPSX chung không thể hạch toán cho từng công trình, hạng mục công trình được mà phải tiến hành tập hợp chung cho từng đội rồi phân bổ cho từng công trình theo tiêu thức thích hợp ( theo chi phí nhân công trực tiếp hoặc theo chi phí sử dụng máy thi công….)
Tài khoản sử dụng:iTK 627 – CPSX chung
Kết cấu TK 627 – CPSX chung:
Bên Nợ: Phản ánh các chi phí phát sinh trong kỳ như: chi phí nguyên vật liệu, lương
nhân viên quản lý, tiền ăn ca, các khoản trích BHYT, BHXH, KPCĐ, khấu hao TSCĐ và các chi phí khác có liên quan
Bên Có: Kết chuyển CPSX chung trong kỳ vào TK 154- CPSX kinh doanh dở dang
- Các khoản giảm CPSX chung
- Tk 627 cuối kỳ không có số dư
- TK 627 được chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2
Trang 22
TK 6271 - Chi phí nhân công
TK 6272 – Chi phí vật liệu
TK 6273 – Chi phí nhân công dụng cụ
TK 6274 – Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277 – Chi phí dịch vụ mua ngoài
Tk 6278 – Chi phí bằng tiền khác
Trang 23TK 111,112,…
(5a)
TK133
(5b)
(1): Phản ánh tiền lương, phụ cấp phải trả, tiền ăn ca và các khoản trích theo lương theo quy định
(2): Tập hợp chi phí vật liệu, dụng cụ xuất dùng cho từng đơn vị
(3): Trích khấu hao máy móc thiết bị sử dụng cho từng bộ phận thi công
(4): Phân bổ dần chi phí trả trước
Trang 24(5a):Tập hợp các khoản CPSX chung khác phát sinh
(5b): Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của dịch vụ mua ngoài
(6): Kết chuyển tạm ứng CPSX chung
(7): Kết chuyển CPSX chung cho từng đối tượng vào tài khoản tính giá thành
4.5 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành, bàn giao hoặc khối lượng công việc xây lắp trong kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán
Đánh gias sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần CPSX trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo những nguyên tắc nhất định
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo tỷ lệ hoàn thành sản phẩm :
Đối với những công trình,hạng mục công trình được thanh toán theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý ( xác định được giá dự toán ) thì sản phẩm dở dang là khối lượng xây lắp chưa đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý được đánh giá theo chi phí thực tế trên cơ sở phân
bổ chi phí thực tế đã phát sinh cho các giai đoạn xây lắp đã hoàn thành và chưa hoàn thành căn cứ vào giá thành dự toán và mức độ hoàn thành của chúng
Theo phương pháp này,chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:
Z CK = Z ĐK +Z PS x Z DTDD
Z DTTH +Z DTDD
Trong đó: ZCK: chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ
ZĐK: chi phí thực tế của khối lưọng xây lắp dở dang đầu kỳ ZPS: chi phí thực tế của khối lưọng xây lắp thực hiện trong kỳ ZDTTH: chi phí theo dự toán của khối lưọng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ
ZDTDD: chi phí theo dự toán của khối lưọng xây lắp dở dang cuối kỳ đã tính chuyển đổi theo tỷ lệ hoàn thành sản phẩm tương đương
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo giá trị dự toán :
Trang 25Đối với công trình, hạng mục công trình được quy định thanh toán định kỳ khối
lượng của từng loại công việc trên cơ sở đơn giá dự toán thì sản phẩm dở dang là những khối lượng công việc chưa hoàn thành và được đánh giá theo dự toán :
Z CK = Z ĐK +Z PS x Z DTDD
Z DTTH +Z DTDD
Trong đó: ZCK: chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ
ZĐK: chi phí thực tế của khối lưọng xây lắp dở dang đầu kỳ ZPS: chi phí thực tế của khối lưọng xây lắp thực hiện trong kỳ ZDTTH: Giá trị dự toán của khối lưọng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ ZDTDD:Giá trị dự toán của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ
4.6 Tổng hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Sau khi hạch toán theo từng khoản mục,ta tiến hành kết chuyển để tập hợp CPSX của toàn doanh nghiệp theo từng đối tượng chịu phí
Tài khoản sử dụng: TK 154 – CPSX kinh doanh dở dang
Tài khoản này dùng để hạch toán tập hợp CPSX kinh doanh phục vụ cho việc tính
giá thành sản phẩm xây lắp đối với doanh nghiệp xây lắp
Kết cấu tài khoản 154:
Trang 26
Bên Nợ:
- Phản ánh các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, CPSX chung phát sinh trong kỳ có liên quan đến giá thành sản phẩm xây lắp công trình
Bên Có:
- Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao ( từng phần hoặc toàn
bộ)
Số dư bên Nợ:
- CPSX kinh doanh dở dang cuối kỳ
Toàn bộ các khoản chi phí phát sinh ở các TK 621,622,623, 627 được chuyển vào bên Nợ tài khoản 154 và hình thành nên giá thành sản phẩm xây lắp
Tài khoản 154 được chi tiết thành 4 tài khoản như sau:
Trang 27(1): Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp sang TK giá thành
(2): Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang TK giá thành
(3): Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công sang TK giá thành
(4): Kết chuyển chi phí sản xuất chung sang TK giá thành
(5): Giá thành công trình, hạng mục công trình xây lắp hoàn thành
Khi quyết toán công trình, kế toán xác định giá vốn ( giá trị quyết toán công trình ):
Nợ Tk 632: bàn giao cho Chủ đầu tư hoặc nhà thầu chính
Có Tk 1541 giá thành sản xuất công trình hoàn thành
1.4.5 Tổ chức hạch toán CPSX trên hệ thống sổ kế toán
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong bốn hình thức sổ kế toán sau để tập hợp và hạch toán CPSX:
* Hình thức Nhật ký Sổ cái
Các sổ sách sử dụng:
- Sổ chi tiết các tài khoản: 621,622,623,627,154
- Nhật ký sổ cái tài khoản : 621,622,623,627,154
5.2 Hình thức kế toán nhật ký chung:
Trang 28Trình tự hạch toán theo sơ đồ sau:
Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu
- Sổ chi tiết các tài khoản: 621, 622, 623 627, 154
- Sổ cái các tài khoản : 621, 622, 623 627, 154
Nhật
ký
Sổ cái TK 621,622,623,627,
Bảng cân đối số
Sổ chi tiết TK 621,622, 623,627 ,
Bảng tính giá
Báo cáo tài chính
Chứng từ
gốc
Sơ đồ 2: Trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký chung
Trang 29
Chương 2 Thực trạng công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ
phần và tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng
2.1 Khái quát chung về Công ty
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Tên Công ty : Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng
Địa chỉ : 112 C6 Vũ Ngọc Phan - Đống Đa – Hà Nội
Tel : 04.6365464
Fax : 04.6365464
Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng được thành lập ngày
07/09/1993 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0102001111 do sở kế hoạch đầu
tư thành phố Hà Nội Xuất phát ban đầu khi chính thức thành lập với số vón ngân sách cấp là 7.844.200.000 tính đến ngày 31/12/2006 tổng nguồn vốn của Công ty là28.388.261.813 đồng
Trong những đầu ngày mới thành lập, Công ty gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện vật chất kỹ thuật, vốn liếng, công nghệ…Nhưng với sự lãnh đạo của Ban Giám đốc Công ty cùng với tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo và những phấn đấu hết sức cố gắng, nỗ lực của cán bộ công nhân viên, Công ty ngày càng phát triển, đời sống của cán bộ công nhân viên được ổn định, Công ty đã tự khẳng định mình bằng rất nhiều các công trình mới có giá trị và vô cùng thiết thực, một số công trình tiêu biểu mà Công ty đã thực hiện được :
- Vườn quốc gia Cúc Phương, vườn quốc gia Cát Bà, Ba Vì, thuỷ lợi Tam Nông Phú Thọ, hệ thống đường và kênh mương tỉnh Nam Định, toà án nhân dân huyện Chương
Mỹ tỉnh Hà Tây, trường cán bộ lâm nghiệp Đông Anh…
Ngoài ra, trong những năm qua Công ty còn được Bộ xây dựng và công đoàn xây dựng Việt Nam tặng huy chương vàng chất lượng cao công trình, sản phẩm xây dựng Việt Nam như:
- Nhà lớp học T5 trường đại học khoa học tự nhiên Hà Nội
- Trường mầm non bán công Hoa Hồng Thịnh Yên Hà Nội
Trang 30
- Nhà thư viện, lưu trữ và khoa sư phạm TDTT trường đại học mỹ thuật Hà Nội
Hiện nay để đáp ứng nhu cầu thị trường, Công ty tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu như sau:
- Nhận thầu các công trình giao thông vận tải, cầu cảng, đường bộ
- Thi công các loại nền móng, trụ các loại công trình
- Nhận thầu xây dựng các công trình : Biệt thự, khách sạn, nhà xưởng sản xuất công nghiệp
- Gia công khu nhà kho, xưởng, dầm bê tông
Số liệu tài chính của Công ty trong 3 năm gần đây được thể hiện trên bảng sau:
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Doanh thu thuần 114.113.456.724 160.216.508.668 296.533.052.534
Trang 31
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần và tư vấn đầu
tư & Kiểm định xây dựng
*Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Công ty
- Xây dựng các công trình côn nghiệp, công cộng, nhà ở
- Trang trí nội thất
- Kinh doanh nhà và bất đốngản
- Sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất cấu kiện bê tông, cấu kiện kim loại cho xây dựng
- Kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng
Trong đó, hoạt động xây dựng, xây lắp các công trình chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của Công ty
* Các đặc điểm cơ bản của hoạt động kinh doanh xây lắp :
- Sản phẩm xây lắp các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất dài, Do vậy, việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết phải có các dự toán thiết kế, thi công
-Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất , còn các điều kiện sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm
-Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu
tư từ trươc, do đó, tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ ràng
- Tổ chức sản xuất phổ biến theo phương thức "khoán gọn" các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội,
xí nghiệp ) Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán
- Địa bàn kinh doanh rộng lớn, hoạt động mang tính lưu động cao
2.1.3 Quy trình sản xuất kinh doanh
Quy trình sản xuất kinh doanh của Công ty bắt đầu từ khi Công ty tham gia đấu thầu hoặc được giao thầu xây dựng
Đấu thầu trong xây dựng có các hình thực khác nhau như đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu Khi tham gia đấu thầu, Công ty phải xây dựng các chiến lược đấu thầu để thắng thầu
Trang 32Sau khi trúng thầu hoặc được giao thầu, theo quy chế chung, Công ty và bên giao thầu sẽ thoả thuận hợp đồng xây dựng trong đó ghi rõ các thoả thuận về giá trị công trình, thời gian thi công, phương thức tạm ứng, thanh toán, tỷ lệ bảo hành…
Khi hợp đồng xây dựng có hiệu lực Công ty tiến hành tổ chức sản xuất: Công ty thường giao khoán trực tiếp cho các đội xây dựng Các đội xây dựng tiến hành thi công từ khâu đào móng, xây thô, đổ bê tông …và hoàn thiện công trình
Sau khi hoàn thiện, bên A sẽ nghiệm thu công trình Công ty tư vấn tiến hành quyết toán và bên A chấp nhận thanh toán
Sơ đồ 1- Quy trình công nghệ sản xuất tại Công ty Cổ phần và tư vấn đầu tư & Kiểm định xây dựng
2.1.3 Đặc điểm tổ chức Bộ máy quản lý của Công ty
Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản mang tính chất phức tạp trong kỹ thuật nên bộ máy của Công ty được tổ chức thành các bộ phận chuyên môn hoá cụ thể theo chức năng có sự phân biệt mạnh giữa quản lý kinh tế và quản lý kỹ thuật
Công ty thực hiện chế độ lãnh đạo một thủ trưởng với sự tư vấn của các bộ phận chức năng Các phòng ban chức năng thực hiện các chức năng giải quyết xử lý các khía cạnh theo nội dung chi tiết của hai lĩnh vực trên
Theo những đặc điểm trên, bộ máy của Công ty chia thành các phòng ban như sau:
- Giám đốc Công ty: Là người giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công ty, chỉ đạo trực
tiếp đến từng công trình, chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và kinh doanh tài chính của Đơn vị
- Các Phó Giám đốc: Làm nhiệm vụ tham mưu, giúp đỡ Giám đốc và chịu trách
nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực phụ trách
Đấu thầu
Ký kết hợp đồng xây dựng
Khởi công
Đổ móng
Quyết
toán
Nghiệm thu
Hoàn thiện
Xây thô
Trang 33
- Phòng hành chính quản trị: Thực hiện công tác hành chính quản trị, công tác
phòng và chữa bệnh Hướng dẫn giúp đỡ các đơn vị, các phòng ban trong công tác hành chính văn thư, chăm lo bảo vệ sức khoẻ của cán bộ công nhân viên trong Công ty Quản lý công văn sổ sách giấy tờ lưu trữ, quản lý sử dụng xe con, kho xưởng bến bãi của toàn Công ty
- Phòng Kế hoạch kinh tế: Thực hiện công tác tiếp thị, soạn thảo các hợp đồng kinh
tế, lập và kiểm tra việc thực hiện các dự toán công trình, lập kế hoạch sản xuất cung cấp các thông tin số liệu cần thiết, phân tích tình hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị cho giám đốc
- Phòng Quản lý dự án và hồ sơ thầu: Tham mưu giúp cho Giám đốc trong công việc
khảo sát và thực hiện các dự án của Công ty, làm thủ tục và đăng ký dự thầu các công trình, chủ trì và triển khai các công việc theo nội dung hồ sơ mời thầu
- Phòng Tổ chức lao động – tiền lương: Nghiên cứu tổ chức bộ máy sản xuất, bộ máy
quản lý, quản lý biên chế, quản lý hồ sơ, thống kê báo cáo, phụ trách công tác tiền lương, lập và theo dõi kiểm tra thực hiện thanh lý hợp đồng giao khoán với các đơn vị
- Phòng Tài chính kế toán: Chức năng chính của Phòng là tham mưu giúp việc cho
Cấp uỷ và Thủ trưởng Công ty về công tác Kế toán – Tài chính – Thống kê Quản lý tài chính công ty (bao gồm việc lo và ứng vốn tạm thời theo dự toán thiết kế cho các đơn vị thi công, kiểm tra việc sử dụng vốn và kết hợp với phòng kế hoạch thị trường lập và thực hiện kế hoạch thu hồi vốn), tổ chức và thực hiện công tác kinh tế
- Phòng Kỹ thuật thi công: Phụ trách xây dựng tiến độ, biện pháp thi công, kiểm soát
chất lượng công trình, hướng dẫn thực hiện tiến độ biện pháp thi công cho các đơn vị trực thuộc, đồng thời quan hệ với Chủ đầu tư để giải quyết những vướng mắc về kỹ thuật, chất lượng, thay đổi thiết kế trong quá trình thi công Kiểm tra hoặc kết hợp với các đơn vị làm các hồ sơ hoàn công khi công trình hoàn thành
- Phòng Cơ điện: Quản lý máy móc, thiết bị điện nước thi công, tư vấn cho các đơn vị
trực thuộc thiết lập các biện pháp tháo lắp, bảo dưỡng máy móc, lập các phương án, kế hoạch mua thanh lý máy móc, kiểm tra, giám sát việc sử dụng máy móc thiết bị thi công của Công ty cho các đơn vị quản lý sử dụng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa Công ty với đơn vị hoặc giữa các đơn vị với nhau đảm bảo an toàn và có hiệu quả, kết hợp cùng với phòng tài vụ xây dựng đơn giá ca máy, tính toán tỷ lệ đối với đội vận tải
Trang 34
- Ban an toàn: Phụ trách công tác an toàn và bảo hộ lao động, đồng thời quan hệ với
chủ đầu tư để giải quyết vướng mắc về công tác an toàn trong quá trình thi công
Bộ phận sản xuất kinh doanh của công ty được tổ chức thành các đội, xưởng, xí nghiệp trực thuộc công ty
Hiện nay Công ty có 10 Xí nghiệp trực thuộc: Xí nghiệp xây dựng số 1, số 2, số 4, số
5, số 7, số 8, số 9, số 18, Xí nghiệp xây lắp và hoàn thiện; và Xí nghiệp xây lắp kinh doanh nhà Các Xí nghiệp được trực tiếp tiến hành sản xuất kinh doanh và có quy mô sản xuất kinh doanh tương đối lớn Các Xí nghiệp không được Công ty giao vốn nhưng vẫn tổ chức hạch toán báo sổ Xí nghiệp không có tư cách pháp nhân nhưng cũng có thể trực tiếp ký kết những hợp đồng nhỏ dưới sự bảo lãnh của Công ty Xí nghiệp được mở tài khoản tại ngân hàng nhưng không được vay tiền ngân hàng
Xí nghiệp có cơ cấu tương tự với cơ cấu của Công ty, dưới Xí nghiệp có các đội xây dựng trực thuộc Xí nghiệp
Công ty còn có các đội công trình xây dựng và các đội phục vụ như Đội cơ giới, Đội điện nước, xưởng cơ khí, xưởng mộc Các Đội trực tiếp sản xuất không có tư cách pháp pháp nhân, không được mở tài khoản tại ngân hàng, qu mô sản xuất kinh doanh nhỏ, không tổ chức hạch toán báo sổ
Cơ cấu của các Đội tương tự cơ cấu của Xí nghiệp nhưng quy mô nhỏ hơn, dưới các Đội là các tổ công nhân kỹ thuật trực thuộc đội
Có thể khái quát mô hình tổ chức sản xuất và bộ máy quản lý của Công ty theo sơ đồ sau:
Trang 35doanh
Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật
Các liên đội, các đội xây dựng trực thuộc công
Ban an
nghiệp trực thuộc tổng công
Các đội xây dựng trực thuộc
xí nghiệp
Trang 36
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán:
- Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng TC – KT: Phụ trách chung, chỉ đạo công tác kế
toán tài chính từ công ty đến các đơn vị, theo dõi tiền các bên A trả công ty, các đơn vị vay vốn của công ty, tính lập kế hoạch tài chính, kế hoạch thu hồi vốn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc công ty, tham mưu cho ban Giám đốc trong mọi công việc có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
- Kế toán tổng hợp: Kế toán chi phí giá thành công trình, tham mưu thu hồi vốn,
quyết toán thuế VAT đồng thời thực hiện công tác kế toán tổng hợp, phụ trách công tác hạch toán của đơn vị trực thuộc lập báo cáo tài chính theo chế độ quy định
- Kế toán thuế: Báo cáo, kê khai thuế giá trị gia tăng và các loại với các tỉnh mà công
ty thi công Tổng hợp thuế VAT đầu vào, đầu ra của toàn công ty, tham gia quyết toán thuế VAT Tính lãi vay vốn với các đơn vị nội bộ Tham gia công tác thu hồi vốn
- Kế toán ngân hàng: Thực hiện các giao dịch với ngân hàng Bảo lãnh dự thầu, bảo
lãnh hợp đồng và các loại bảo lãnh khác, theo dõi trả vốn vay ngân hàng và các nghiệp vụ liên quan đến ngân hàng Tham mưu thu vốn
- Kế toán thanh toán, kế toán lương, BHXH, kế toán công nợ, kế toán bán hàng kiêm
kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ: Theo dõi chi tiết các khoản phải thu phải trả, tính ra tiền
lương phải trả CBCNV, kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ, tham gia thu vốn
- Thủ quỹ kiêm kế toán tài sản cố định: Có trách nhiệm giữ quỹ tiền mặt của Công ty,
đồng thời theo dõi các nghiệp vụ về tài sản cố định của toàn Công ty
Mỗi Xí nghiệp trực thuộc có 1 phụ trách kế toán và thường có 2 nhân viên kế toán Các Xí nghiệp này hạch toán phụ thuộc thông qua tài khoản phải thu trả nội bộ Phòng kế toán ở các Xí nghiệp trực thuộc thực hiện toàn bộ công tác kế toán ở các Xí nghiệp đó, định kỳ gửi báo cáo kế toán về Phòng tài vụ của Công ty
Các Đội công trình trực thuộc Công ty cũng có nhân viên kinh tế (gọi là kế toán đội) kiêm thủ quỹ của đội, làm nhiệm vụ thu thập các chứng từ ban đầu rồi chuyển về Phòng Tài chính kế toán của Công ty theo định kỳ (hàng tháng) Đồng thời kế toán đội cũng mở các sổ theo dõi chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí khác phát sinh của từng công trình và theo dõi thu chi tiền mặt tại đội công trình đó
Phòng kế toán Công ty thu nhận các chứng từ ban đầu từ các đội công trình gửi lên rồi xử lý các chứng từ đó cùng toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh khác ở cơ quan văn phòng
Trang 37Định kỳ thu nhận các báo cáo kế toán của các phòng kế toán Xí nghiệp trực thuộc gửi về, phòng kế toán Công ty tiến hành tổng hợp số liệu, lập báo cáo kế toán chung của toàn Công ty
Có thể khái quát bộ máy kế toán của Công ty bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại công ty Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Kiểm
định xây dựng
* Hình thức kế toán và hệ thống sổ sách kế toán áp dụng tại công ty
Hình thức kế toán áp dụng tại Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Kiểm định xây dựng hiện nay là hình thức Nhật ký chung Đặc trưng của hình thức kế toán Nhật ký chung
là tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều được ghi vào sổ nhật ký, trọng tâm là
sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian và định khoản kế toán của nghiệp vụ đó, sau đó lấy số liệu trên sổ Nhật ký để ghi vào sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh
Hệ thống sổ kế toán sử dụng tại công ty để ghi chép, hệ thống hoá thông tin các chứng từ kế toán hợp lệ phù hợp với hình thức kế toán sổ Nhật ký chung
Hệ thống sổ kế toán tại công ty bao gồm:
Kế toán vật tư, tiền lương, chi
Kế toán TSCĐ kiêm thủ quỹ
Kế toán bán hàng kiêm kế toán thuế
Kế toán vật tư, tiền lương, chi
Trang 38(Sơ đồ Tổ chức sổ theo Hình thức Nhật ký chung được thể hiện trên sơ đồ 4)
Do sự phát triển của công nghệ thông tin và yêu cầu của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải cung cấp các thông tin kinh tế tài chính một cách nhanh chóng, kịp thời, công ty
đã ứng dụng tin học vào trong kế toán Hiện nay, Công ty đang áp dụng phần mềm kế toán CAP được công ty đầu tư phát triển kỹ thuật công nghệ Bình Minh (Binh Minh Co.Ltd) xây dựng CAP được ứng dụng chung cho toàn bộ Tổng công ty xây dựng Hà Nội
Để theo dõi chi tiết chi phí phát sinh của từng công trình, kế toán công ty phải tiến hành mã hoá:
- Mã hoá chứng từ nhập vào chương trình:
Các chứng từ nhập vào chương trình CAP luôn có số đầu tiên ký hiệu của chứng từ
và các số sau là số của chứng từ
- Mã hoá các khoản mục chi phí: Đối với các khoản mục chi phí (các TK đầu 6),
công ty quy ước luôn có mã là S
- Mã hoá các công trình và các đơn vị:
Chương trình CAP cho phép kế toán nhập tên của công trình và ký hiệu của công trình (thường ký hiệu của công trình là các chữ viết tắt của tên công trình để có thể thuận tiện cho việc theo dõi chi tiết cho từng công trình)
Sơ đồ 4: Sơ đồ tổ chức hệ thống sổ theo hình thức Nhật ký chung
Chứng từ gốc
Nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối số phát sinh
Báo cáo tài chính
Sổ kế toán chi tiết
Sổ cái
Trang 39
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Quan hệ đối chiếu
Đồng thời công ty cũng tiến hành đặt ký hiệu cho đơn vị thi công công trình để quản
lý chi phí của từng đơn vị
Trang 40
Quy trình tổ chức sổ kế toán có sử dụng kế toán máy:
Sơ đồ 5: Quy trình xử lý nghiệp vụ
Trình tự ghi sổ như sau: Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc như hoá đơn bán hàng của người bán, bảng theo dõi ngày công lao động, Phiếu thu, Phiếu chi,….kế toán các phần hành nhập các dữ liệu vào máy tính, máy tính sẽ tự động lên Nhật ký chung, từ đó lấy
số liệu lên Sổ cái, máy tính cũng sẽ tự động lập sổ chi tiết liên quan Cuối tháng, máy tính
tự động cộng Sổ cái lấy số liệu lập bảng cân đối số phát sinh, đồng thời cộng sổ chi tiết để lập Bảng tổng hợp chi tiết Sau khi kế toán kiểm tra tính khớp đúng của số liệu hai bảng trên sẽ kiểm tra tính đúng đắn của báo cáo tài chính mà máy tính đã lập
2.2 Thực trạng công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Kiểm định xây dựng
2.2.1 Đối tượng hạch toán CPSX
Từ những đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất và tình hình thực tế tại đơn vị, Công
ty đã xác định đối tượng tập hợp CPSX là các công trình, hạng mục công trình hay những đơn đặt hàng riêng biệt Kế toán mở riêng những sổ chi tiết chi phí để tập hợp CPSX phát sinh cho từng công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành bàn giao CPSX phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí thì sẽ được tập hợp theo từng nhóm đối tượng có liên quan CPSX của Đơn vị bao gồm các khoản mục:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)
Báo cáo tài chính sổ sách kế toán
Lập chứng từ
Cập nhật chứng từ vào máy
Tổng hợp số liệu cuối tháng
Lên báo cáo