1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

111 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Trường học Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán, Tài chính, Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông XDCTGT Việt Nam hiện nay là làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triể

Trang 1

LUẬN VĂN:

Giải pháp tài chính nhằm nâng cao

năng lực cạnh tranh của các doanh

nghiệp xây dựng công trình giao thông

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở

ra một trang sử mới trong phát triển kinh tế xã - hội của đất nước WTO mở ra nhiều cơ hội mới để cả nền kinh tế nước ta cũng như mỗi doanh nghiệp thu hút thêm sức mạnh để tăng năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh và bền vững Trong xu hướng tích cực chủ động hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông nói riêng cần phải đón đầu nắm bắt những cơ hội và hạn chế, khắc phục các tác động tiêu cực - coi đó như là những thách thức cần phải vượt qua Vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông (XDCTGT) Việt Nam hiện nay là làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tồn tại

và phát triển bền vững trong điều kiện thị trường có sự tham gia của các tập đoàn quốc tế

đổ bộ vào Việt Nam, thời hậu WTO

Trên cả thị trường trong nước và quốc tế, năng lực cạnh tranh hiện nay của hầu hết các doanh nghiệp XDCTGT Việt Nam được đánh giá là còn thấp Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đó là do năng lực tài chính của các doanh nghiệp XDCTGT còn rất khiêm tốn, đã hạn chế các doanh nghiệp trong việc tập trung vốn đầu tư, nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu, xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý và điều hành, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đổi mới công nghệ, sử dụng nhân lực và các nhu cầu phát triển khác của doanh nghiệp

Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp XDCTGT là một tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Nếu không làm được điều này, doanh nghiệp không chỉ thất bại trên "sân khách" mà còn gánh chịu những hậu quả tương

Trang 3

tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông"

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu khả năng cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và vai trò của tài chính trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT Phân tích các đặc điểm của doanh nghiệp XDCTGT và đặc điểm của sản phẩm XDCTGT ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT

- Đánh giá thực trạng tình hình tài chính, thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT trong hoạt động kinh doanh từ đó đề xuất các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT trong điều kiện hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh và các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Năng lực cạnh tranh và việc sử dụng các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT là vấn đề rất rộng lớn Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tế ở các doanh nghiệp XDCTGT Nhà nước trong lĩnh vực cầu, đường bộ

Đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT, ngoài việc đánh giá chung, luận văn tiến hành khảo sát, phân tích số liệu ở một số doanh nghiệp cụ thể từ năm 2004 đến nay - đây cũng là thời kỳ mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đặt ra bức thiết nhất

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 4

Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngày càng gay gắt và khốc liệt Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và cho các doanh nghiệp XDCTGT nói riêng là một nội dung cần được quan tâm Vấn đề này đã và đang trở thành vấn đề có tính thời sự được Chính phủ, cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm Do vậy những nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, nhân tố ảnh hưởng, các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh và vai trò của tài chính đối với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT Đồng thời, về thực tiễn luận văn đã đánh giá thực trạng

và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng cầu đường bộ - Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) trong thời gian qua Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp tài chính cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT - đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp trong tình hình hiện nay

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Doanh nghiệp XDCTGT và vai trò của tài chính đối với năng lực

cạnh tranh của các doanh nghiệp XDCTGT

Chương 2: Thực trạng tài chính và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

XDCTGT

Chương 3: Giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh

nghiệp XDCTGT

Trang 5

Sự tiến triển của thị trường, các hình thức cạnh tranh mới, các công nghệ sản xuất mới xuất hiện thúc đẩy doanh nghiệp phải tự thích ứng, phải trở nên mềm dẻo hơn Dưới áp lực của nhiều ràng buộc cả từ bên ngoài (Nhà nước, nhà cung cấp, khách hàng, các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp khác ) lẫn từ bên trong, doanh nghiệp phải quyết đoán để có thể tồn tại và phát triển

1.1.1 Doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông và các mối quan hệ trong kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trừ các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động công ích, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói chung có thể được hiểu là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời, được luật pháp thừa nhận (pháp nhân hoặc thể nhân), được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có mức vốn không thấp hơn mức vốn pháp định do Nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp có từ một chủ sở hữu trở lên, và chủ

sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm vô hạn hoặc trách nhiệm hữu hạn), có tên gọi riêng và hoạt động với doanh nghiệp riêng

Trang 6

Doanh nghiệp XDCTGT là một dạng doanh nghiệp mà chức năng chớnh của nú

là sản xuất cỏc sản phẩm xõy lắp, xõy dựng cỏc cụng trỡnh giao thụng phục vụ giao lưu kinh tế trong xó hội

Quỏ trỡnh hoạt động sản xuất kinh doanh của cỏc doanh nghiệp XDCTGT luụn diễn

ra trong một mụi trường kinh tế - xó hội với những mối quan hệ qua lại tỏc động lẫn nhau của nhiều chủ thể kinh tế - xó hội khỏc nhau

Riờng trong phạm vi cỏc quan hệ kinh tế cú thể phõn thành hai nhúm quan hệ: Nhúm cỏc quan hệ kinh tế bờn trong doanh nghiệp và nhúm cỏc quan hệ kinh tế bờn ngoài doanh nghiệp

Nhúm cỏc mối quan hệ kinh tế bờn ngoài doanh nghiệp gồm: Cỏc mối quan hệ

với ngõn sỏch nhà nước, với cấp trờn, với chủ đầu tư, cỏc tổ chức tư vấn xõy dựng, cỏc tổ chức cung ứng vật tư thiết bị, cỏc tổ chức tớn dụng và với thị trường trong mụi trường kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT

Doanh nghiệp

XD giao thông

Môi sinh thá

i

trư ờng Cá c chủ đầu tư

Cá c tổ chức cung cờp vật tư

má y móc xây dựng

Nhà nư ớ c

Những ngư ời lao động

XD CTGT

Cá c đối thủ cạ nh tranh

Cá c tổ chức cung cấp tiền

và vốn cho xây dựng

Cá c cơ quan tư vờn,thiết kế dịch vụ xây dựng

Môi trư ờng Môi trư ờng Môi trư ờng

công nghệ

y tế xã hội

Hỡnh 1.1: Mối quan hệ và mụi trường kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT

Doanh nghiệp XDCTGT

Cỏc chủ đầu tư

Cỏc tổ chức cung ứng vật

tư mỏy múc xõy dựng

Cỏc cơ quan

tư vấn, thiết kế dịch vụ xõy dựng

Trang 7

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, thiết kế, dịch

vụ diễn ra chủ yếu thông qua đấu thầu, ký kết hợp đồng, thanh toán và bàn giao công trình đã hoàn thành

Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị, máy móc xây dựng là quan hệ mua bán tại cửa hàng hay theo bản hợp đồng cung cấp

Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước là những quan hệ về cấp phát vốn, các khoản thuế, lệ phí Những quan hệ này được giới hạn trong khuôn khổ do luật định

Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư cho vay, với bạn hàng, với khách hàng phát sinh khi doanh nghiệp tiến hành các nghiệp vụ huy động vốn đầu tư qua liên doanh, qua phát hành cổ phiếu, qua vay tín dụng và ngược lại cũng liên doanh, đầu tư cho vay vốn với các doanh nghiệp khác Các quan hệ kinh tế này luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sự điều chỉnh của pháp luật của Nhà nước

Xét cả về lý luận lẫn thực tiễn, trong cơ chế kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế này của doanh nghiệp hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu coi nhẹ, không nắm bắt và thiếu hiểu biết về nó thì cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể đạt tới đỉnh cao

Nhóm các quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp: Đó là những mối quan

hệ về sản xuất - kỹ thuật - phân phối - tài chính và quan hệ hạch toán kinh tế giữa doanh nghiệp với các bộ phận trong doanh nghiệp, giữa các bộ phận với nhau và giữa doanh nghiệp, các bộ phận với người lao động nẩy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Nhiệm vụ của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp XDCTGT có các nhiệm vụ chung sau đây:

Trang 8

- Hoạt động sản xuất kinh doanh xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường GTVT về xây dựng các tuyến đường, các cây cầu, nhà ga, bến cảng trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hóa, hành khách, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu vận chuyển không ngừng tăng lên của nền kinh tế và nhu cầu đi lại của nhân dân

- Thực hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ Giải quyết thỏa đáng các quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh theo nguyên tắc bình đẳng cùng

có lợi

- Chăm lo đời sống của người lao động trong doanh nghiệp

- Bảo toàn và tăng trưởng vốn, mở rộng quy mô kinh doanh

- Bảo vệ môi trường, bảo vệ sản xuất, bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội

- Chấp hành luật pháp, thực hiện chế độ hạch toán thống kê thống nhất và có nghĩa vụ đối với Nhà nước

1.1.3 Hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường

Hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp XDCTGT là xây dựng các công trình giao thông vận tải Hoạt động ấy được tiến hành theo một số giai đoạn kế tiếp và có quan

hệ mật thiết với nhau đó là: Nghiên cứu thị trường - chuẩn bị các yếu tố đầu vào - sản xuất - tiêu thụ Nội dung cụ thể của từng giai đoạn đó là:

* Giai đoạn nghiên cứu thị trường

Thị trường theo nghĩa đen là nơi mua bán hàng hóa Theo nghĩa rộng thị trường

là nơi hay còn là một quá trình trong đó người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa cần mua bán

Trong XDCTGT thị trường tồn tại chủ yếu dưới dạng đấu thầu, đàm phán và một

số hình thức khác

Hai lực lượng cung và cầu đóng vai trò chủ yếu trong thị trường sản xuất XDCTGT là các doanh nghiệp XDCTGT (bên cung) và các chủ đầu tư (bên cầu) Các

Trang 9

doanh nghiệp XDCTGT có nhiệm vụ dùng năng lực sản xuất của mình để xây dựng các công trình theo nhu cầu và đơn đặt hàng (hợp đồng) của chủ đầu tư

Tham gia vào thị trường XDCTGT còn có các tổ chức dịch vụ, tư vấn, thiết kế đóng vai trò cung cho các chủ đầu tư và các tổ chức cung cấp máy móc thiết bị, vật tư dịch vụ đóng vai trò cung cho các doanh nghiệp XDCTGT

Khi nghiên cứu thị trường XDCTGT cần chú ý đặc điểm sau:

- Vì sản phẩm XDCTGT có tính chất cá biệt cao, giá trị lớn, chúng được sản xuất theo đơn đặt hàng cho nên không thể sản xuất hàng loạt, không có thời gian lưu kho, chưa được xây dựng khi chưa có đơn đặt hàng và chào hàng

- Quá trình mua bán xảy ra trước lúc bắt đầu giai đoạn sản xuất (tức giai đoạn xây dựng công trình) thông qua việc đấu thầu và ký kết hợp đồng xây dựng và còn tiếp diễn thông qua các đợt thanh toán trung gian cho đến khi bàn giao công trình và quyết toán cuối cùng

- Việc tiêu thụ sản phẩm XDCTGT được tiến hành trực tiếp giữa người bán (doanh nghiệp XDCTGT) và người mua (chủ đầu tư) không qua khâu trung gian

- Quy luật cạnh tranh trong thị trường XDCTGT xảy ra phổ biến dưới hình thức đấu thầu

- Thị trường XDCTGT phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường đầu tư và định hướng phát triển của ngành, của đất nước

- Trong XDCTGT không có giá cả thống nhất cho một công trình toàn vẹn

- Marketing trong XDCTGT được tiến hành cá biệt cho từng trường hợp tranh thầu Quảng cáo tiến hành chủ yếu thông qua các thành tích đã đạt được của doanh nghiệp trong việc xây dựng các công trình

- Vai trò của Nhà nước đối với XDCTGT lớn hơn so với ngành khác vì XDCTGT có liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường và nguồn vốn đầu

tư của Nhà nước

Trang 10

* Giai đoạn chuẩn bị các yếu tố đầu vào

- Yếu tố lao động, bao gồm số lượng và chất lượng lao động trong XDCTGT, trình độ tổ chức lao động khoa học, các biện pháp động viên, kích thích lao động

- Yếu tố tư liệu lao động, bao gồm các thiết bị, máy móc, nhà xưởng phục vụ cho XDCTGT

- Yếu tố đối tượng lao động, bao gồm vật liệu xây dựng, kết cấu xây dựng,

- Vốn cho xây dựng, bao gồm vốn cố định, vốn lưu động, đất đai, bản quyền sáng chế, phát minh

- Thông tin phục vụ cho quản lý sản xuất và kinh doanh

* Giai đoạn kết hợp các yếu tố đầu vào và tiến hành sản xuất tạo ra sản phẩm

* Giai đoạn tổ chức tiêu thụ và thu tiền

Bốn giai đoạn kể trên tạo nên nội dung cốt lõi của quá trình sản xuất kinh doanh XDCTGT Để đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp XDCTGT cần phải chú ý:

Một là, áp dụng nhiều biện pháp nhằm rút ngắn thời gian xây dựng, tức là rút

ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh hay rút ngắn thời gian thực hiện các khâu của quá trình kinh doanh

Hai là, nhận dạng đúng từng hình thái thị trường để có cách ứng xử phù hợp

Để có ưu thế trong thị trường xây dựng hoặc có thể thắng thầu xây dựng, các doanh nghiệp XDCTGT cần phải:

- Cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ

- Không ngừng phát triển và hoàn thiện công cụ lao động như máy móc và thiết

bị xây dựng

- Hoàn thiện và áp dụng kỹ thuật thi công tiên tiến

- Hoàn thiện và áp dụng công nghệ mới trong XDCTGT

Trang 11

- Sử dụng vật liệu mới có hiệu quả, áp dụng cấu kiện mới, các cấu kiện đúc sẵn

- Hoàn thiện và hợp lý hóa các phương pháp tổ chức sản xuất xây dựng, đổi mới công nghệ quản lý sản xuất

Ba là, nắm vững môi trường kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện trong những môi trường kinh doanh cụ thể Để có hiệu quả cao, tối đa hóa lợi nhuận, bí quyết thành công của các nhà doanh nghiệp phụ thuộc trước hết vào khả năng phân tích và sự am hiểu môi trường kinh doanh từ đó hoạch định được chính xác chiến lược kinh doanh và thực hiện chiến lược đó một cách nhất quán, năng động, linh hoạt, không thụ động, cam chịu rủi ro đưa đến một cách ngẫu nhiên

Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT bao gồm: thị trường của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất xây dựng (vật tư, máy móc ); thị trường đầu ra tức

là thị trường tiêu thụ sản phẩm XDCTGT (các chủ đầu tư); thị trường vốn (bao gồm thị trường chứng khoán, ngân hàng, tín dụng ); thị trường lao động; cơ quan chính quyền và công chúng xã hội Người ta có thể chia thành hai nhóm:

Nhóm thứ nhất: Gồm những yếu tố và mối quan hệ mà các doanh nghiệp có thể

kiểm soát hoặc làm chủ được thông qua các mối liên hệ chằng chịt trên thị trường Ví dụ

số lượng sản phẩm bao nhiêu, chất lượng ra sao, dùng phương pháp công nghệ kỹ thuật

và các nguồn lực sản xuất nào, giá cả và các trung gian phân phối

Nhóm thứ hai: Gồm các yếu tố, những mối liên hệ nằm ngoài khả năng kiểm soát

của doanh nghiệp như các yếu tố chính trị, luật pháp, lạm phát Doanh nghiệp phải tìm hiểu cặn kẽ để có phương thức xử lý thích hợp, đặc biệt phải tìm hiểu nghiên cứu, nắm vững luật pháp để thực hiện đúng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật

Bốn là, phải lựa chọn chiến lược sản xuất kinh doanh

Chiến lược sản xuất kinh doanh là phương hướng hoạt động cụ thể của doanh nghiệp Nó quy định loại sản phẩm hay dịch vụ doanh nghiệp đảm nhận, quy mô sản xuất

Trang 12

kinh doanh, các nguồn lực sản xuất, khả năng sinh lời cũng như triển vọng phát triển của doanh nghiệp

Việc xác định mục tiêu của chiến lược sản xuất kinh doanh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Thông thường bao gồm:

- Lợi nhuận

- Thế lực trong cạnh tranh

- An toàn, tránh những rủi ro

Để thực hiện chiến lược đã hoạch định, đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện một

hệ thống các chính sách như:

- Chính sách sản phẩm

- Chính sách giá cả

- Chính sách phân phối

- Chính sách giao tiếp, quảng cáo

Cần phải có kế hoạch cụ thể triển khai chiến lược sản xuất kinh doanh

Năm là, Xác định giá trị sản lượng hoàn thành, đạt lợi nhuận cao nhất

Cần phải phân tích các loại chi phí, thu nhập làm căn cứ tính toán sao cho giá trị sản lượng doanh nghiệp đạt được phải dừng lại ở đơn vị sản phẩm có chi phí cận biên bằng thu nhập cận biên Nếu ít hơn thì doanh nghiệp sẽ không đạt lợi nhuận tối đa, nếu nhiều hơn thì doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ

1.2 Đặc điểm sản phẩm xây dựng công trình giao thông và đặc điểm quy trình sản xuất xây dựng công trình giao thông

1.2.1 Đặc điểm sản phẩm xây dựng công trình giao thông

Sản phẩm XDCTGT là các tuyến đường, các cây cầu, nhà ga, bến cảng trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho quá trình vận chuyển hàng hóa, hành khách Nó là bộ phận quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đảm bảo thỏa mãn nhu

Trang 13

cầu vận chuyển không ngừng tăng lên của nền kinh tế quốc dân và nhu cầu đi lại của nhân dân

Sản phẩm XDCTGT có những đặc điểm sau:

Sản phẩm XDCTGT cố định tại nơi sản xuất cho nên chịu sự ảnh hưởng của điều

kiện khí hậu, địa chất, thủy lực, thủy văn nơi công trình đi qua Vì vậy trước khi thiết

kế xây dựng đòi hỏi phải chi ra những khoản tiền để thăm dò, khảo sát thật kỹ lưỡng, đảm bảo cho việc đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả cao; Ngân hàng thế giới gọi khoản tiền đó là khoản bảo hiểm để chống lại những quyết định sai lầm

Sản phẩm XDCTGT có khối lượng lớn, thời gian xây dựng dài cho nên chi phí

lao động, vật tư, tiền vốn lớn do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây nên những lãng phí rất lớn Vì vậy phải có biện pháp sao cho tiết kiệm được chi phí, giảm tới mức thấp nhất khối lượng xây lắp dở dang tránh ứ đọng vốn Đồng thời cũng phải xác định nhu cầu vốn sao cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, đồng vốn không bị ứ đọng

Mặt khác để phù hợp với yêu cầu của công việc, quyết toán về tài chính cần phân biệt sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng của XDCTGT Sản phẩm trung gian có thể là công việc xây dựng, các giai đoạn và đợt xây dựng đã hoàn thành Sản phẩm cuối cùng là các công trình hay hạng mục công trình hoàn thành Chính vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp XDCTGT phải có biện pháp thi công dứt điểm từng hạng mục công trình, tránh tình trạng thi công dàn trải gây ứ đọng và thất thoát vốn

Sản phẩm XDCTGT được sản xuất ngoài trời Đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức

thi công hợp lý, giảm thời gian ngừng nghỉ do ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu đồng thời

có biện pháp tổ chức quản lý, cung ứng vật tư đều đặn, kịp thời, đầy đủ điều đó lại liên quan đến việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất xây dựng Giảm sự di chuyển, tiết kiệm chi phí

Sản phẩm XDCTGT thường được sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, được

sản xuất ra ở những điều kiện, địa điểm khác nhau, chi phí cũng thường khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm

Trang 14

Sản phẩm XDCTGT tồn tại lâu dài: Đặc điểm này đòi hỏi công trình giao thông

phải đảm bảo bền vững về mặt kỹ thuật và mỹ quan kiến trúc Mặt khác do tồn tại lâu dài cho nên nhiệm vụ sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn, cải tạo và mở rộng là một nhu cầu tất yếu và phải giành một khoản chi phí lớn

Những đặc điểm trên của sản phẩm XDCTGT chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan như: khảo sát, thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công và cả về phương pháp tổ chức quản lý, tổ chức lao động, xác định nhu cầu vốn và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn đó cho nên việc nắm vững những đặc điểm của sản phẩm do mình tạo ra là cần thiết đối với các doanh nghiệp XDCTGT

1.2.2 Đặc điểm quá trình sản xuất xây dựng công trình giao thông

Đặc điểm của sản phẩm XDCTGT tác động trực tiếp tới quá trình sản xuất xây dựng và tạo nên những đặc điểm riêng của nó Bao gồm những đặc điểm sau:

Điều kiện sản xuất xây dựng trong XDCTGT thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng Cụ thể trong XDCTGT, con người và công cụ lao động luôn

phải thay đổi theo địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho việc

tổ chức sản xuất, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp XDCTGT phải chú ý tăng cường tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định, lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, giảm chi phí liên quan đến vận chuyển, lợi dụng tối đa lực lượng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu Đặc điểm này cũng đòi hỏi phát triển rộng khắp loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng như dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng

Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) dài: Đặc điểm này làm cho

vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của các doanh nghiệp XDCTGT thường

bị ứ đọng lâu tại các công trình đang được xây dựng, các doanh nghiệp XDCTGT dễ gặp

Trang 15

phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp XDCTGT phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phương án, có chế độ thanh toán

Sản xuất XDCTGT phải tiến hành ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, điều kiện làm việc năng nhọc ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn

quá trình thi công, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp XDCTGT không được sử dụng điều hòa theo bốn quý, gây khó khăn cho việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn Đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp XDCTGT phải lập tiến độ thi công hợp lý, áp dụng cơ giới hóa, chú ý đến nhân tố rủi ro vì thời tiết khi tranh thầu, xác định lượng vật tư dự trữ vật tư hợp lý để tránh ứ đọng vốn

Kỹ thuật thi công phức tạp Đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự tính toán cụ thể

Một là phải bỏ vốn ra để đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị thi công; hai là đi thuê của doanh nghiệp khác

Tất cả các đặc điểm trên đã ảnh hưởng đến mọi khâu của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT, kể từ khâu tổ chức dây chuyền công nghệ sản xuất, trình độ kinh doanh, tổ chức cung ứng vật tư, cấu tạo trang bị vốn cố định, chế độ thanh toán, chế

độ kiểm tra chất lượng sản phẩm, chính sách đối với lao động, chính sách giá cả,

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông hiện nay

1.3.1 Hội nhập quốc tế và sự ảnh hưởng của nó tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

Trang 16

Thực tế đã chứng minh một nền kinh tế không thể phát triển nếu không hội nhập với cộng đồng kinh tế quốc tế, đặc biệt với những nước đang phát triển như Việt Nam Hàng hóa của các doanh nghiệp Việt nam phải chịu thuế cao ở nhiều thị trường lớn là một nguyên nhân làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung Mặt khác nếu không hội nhập thì khó thu hút được các nhà đầu tư quốc tế sẽ làm nền kinh tế thiếu hụt nguồn vốn đầu tư để phát triển

Cùng với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, nhất là từ sau Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mở đường cho chiến lược phát triển hội nhập và mở cửa, Việt Nam đã và đang ngày càng tham gia tích cực vào quá trình hội nhập Toàn cầu hóa và khu vực hóa làm cho nền kinh tế Việt Nam bắt đầu vận động theo những hình thái mới: Năm 1992, Việt Nam ký hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với cộng đồng Châu

âu (EU), Nhật Bản và là quan sát viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN); Năm 1995, chính thức gia nhập ASEAN và cam kết trong giai đoạn 1996 - 2006 triển khai thực hiện chương trình của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Năm 1998 là thành viên của Diễn đàn hợp tác Châu á Thái Bình Dương (APEC); Năm 2000 ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ; Năm 2006, chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới Tính đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với trên 150 nước và vùng lãnh thổ

Bằng việc cắt giảm thuế quan trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đã xóa nhòa ranh giới giữa các quốc gia về mặt kinh tế và đặt các doanh nghiệp trong nước nằm trong một mặt bằng kinh tế chung với các doanh nghiệp nước ngoài Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp XDCTGT nói riêng phải phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để tồn tại và phát triển không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay cả ở trong nước Như vậy, hội nhập chịu sức ép của cả yếu tố chủ quan và khách quan và là một xu thế tất yếu mà cộng đồng doanh nghiệp phải đón nhận

và có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh

1.3.2 Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông khi tham gia hội nhập

Trang 17

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cho các doanh nghiệp XDCTGT nhiều cơ hội thuận lợi:

Thứ nhất, nhờ cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam mà tạo ra khả

năng giảm thấp chi phí đầu vào, góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có doanh nghiệp XDCTGT

Thứ hai, môi trường kinh doanh và đầu tư được cải thiện, các quốc gia và các

doanh nghiệp có thêm nhiều điều kiện để tiếp nhận nguồn vốn quốc tế với nhiều hình thức đa dạng Hiện nay, nguồn tài chính lại vẫn đang là điểm nóng đối với các doanh nghiệp XDCTGT Việt Nam, vì vậy, tận dụng được các nguồn vốn vay ưu đãi chính thức, vay thương mại, các nguồn viện trợ của nước ngoài, hoặc qua con đường hợp tác liên doanh, liên kết, đầu tư trực tiếp nước ngoài, các chương trình dự án hỗ trợ phát triển là con đường lựa chọn thích hợp

Thứ ba, nhờ mở cửa thị trường đã góp phần giúp các doanh nghiệp XDCTGT

Việt nam tiếp cận nhanh chóng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại của thế giới với giá

rẻ hơn hoặc thông qua con đường chuyển giao công nghệ, rút ngắn những bước đi dò dẫm, giảm chi phí trong công tác nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, thông qua nhiều con đường như liên doanh, liên kết, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ các doanh nghiệp XDCTGT Việt Nam có thể tiếp nhận nhanh chóng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho chính mình

Thứ tư, nhờ hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, học tập

những kinh nghiệm và kỹ năng quản lý tiên tiến của thế giới Một trong những điều kiện

để thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa là sự phát triển của công nghệ thông tin - viễn thông Kết quả của hệ thống thông tin toàn cầu còn là điều kiện để nâng cao dân trí, mở rộng và giao lưu giữa các dòng văn hóa, các dân tộc, tạo điều kiện cho việc tiếp xúc với một thế giới mở, nâng cao năng lực đổi mới và hiện đại hóa công tác quản lý, trao đổi những tri thức và kinh nghiệm đã được tìm tòi, đúc kết từ bao đời, hưởng thụ nền văn minh nhân

Trang 18

loại, tiết kiệm thời gian và nguồn lực Đồng thời xu thế cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên trí tuệ, cũng là cơ hội tiềm tàng có nhiều hứa hẹn đối với những nền kinh tế non trẻ

Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp XDCTGT

Thứ nhất, Vai trò bảo hộ của Nhà nước sẽ yếu dần đi và không còn nữa Các

doanh nghiệp XDCTGT buộc phải cạnh tranh không những ở thị trường nước ngoài mà còn phải thực hiện cạnh tranh với các đối thủ hùng mạnh trên thế giới ngay tại thị trường trong nước Có thể nói là các doanh nghiệp phải đối mặt với cuộc cạnh tranh không biên giới Các đối thủ tiềm năng chính của các doanh nghiệp Việt Nam là các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, Pháp thì đã có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam khoảng vài chục năm Trong bối cảnh đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp XDCTGT là vô cùng cần thiết và cấp bách

Thứ hai, năng lực cạnh tranh của Việt Nam nói chung còn ở thứ bậc thấp trên cả

ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2002 Việt Nam xếp thứ 68/75 nước được xem xét; năm 2003: 60/102; năm 2004: 77/104; năm 2005: 74/125 và năm

2006 xếp thứ 77/125 nước được xếp hạng Như vậy, chỉ số cạnh tranh quốc tế của Việt Nam ngày càng lùi xa vị trí xếp hạng đầu tiên trong bảng Từ đó cho ta thấy, trong thời gian qua, năng lực cạnh tranh kinh tế của Việt Nam vẫn còn yếu kém so với nhiều nước khác, nếu không muốn nói ít nhiều đã có sự thụt lùi

Thứ ba, quá trình hội nhập cũng tạo ra nguy cơ lây nhiễm các rủi ro của nền kinh

tế thế giới Do quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa được quốc tế hóa cao độ, thị trường thế giới hình thành một thể thống nhất Sự rủi ro hoặc khủng hoảng ở một quốc gia bất kỳ cũng tạo ra nguy cơ khủng hoảng của cả hệ thống thế giới Trong quá trình tham gia hội nhập, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của sự rủi ro chung của kinh tế thế giới và lôi kéo các doanh nghiệp Việt Nam vào vòng xoáy của nó

Trình độ công nghệ, quản lý, khả năng khai thác thông tin thị trường cũng như thực tiễn về kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp XDCTGT Việt Nam là rất yếu kém

Trang 19

nên việc tham gia vào thị trường quốc tế không tránh khỏi những khó khăn thậm chí thất bại Tuy vậy, nhìn chung những lợi ích từ hội nhập là cơ bản và to lớn Vì vậy, thách thức cạnh tranh ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp XDCTGT nói riêng Các doanh nghiệp XDCTGT cần chú ý tới những thay đổi mang tính đột phá để có thể chuẩn bị tương đối sẵn sàng trong bối cảnh cạnh tranh từ nước ngoài đang cận kề và thực tế sẽ đến rất nhanh

1.4 năng lực cạnh tranh và vai trò của tài chính đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

1.4.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4.1.1 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Các học thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường

Hiểu theo nghĩa thông thường, cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần

thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như

nhau

Dưới góc độ kinh tế học, cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh

tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi

Đối với doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận tối đa trên cơ sở cùng ganh đua với các đơn vị khác để giữ và mở rộng thị phần

Trang 20

trên thị trường Vì vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được xem xét như là

khả năng đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để giành được thị phần cung cấp sản phẩm một cách lâu dài và thu lợi nhuận ngày càng cao hơn, đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và bền vững cho doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm, dịch vụ Giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có

sự khác nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là thị phần của sản phẩm, dịch

vụ đó trên thị trường

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một khái niệm rộng hơn năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với nhau Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, trước hết các sản phẩm mà doanh nghiệp đó kinh doanh phải có năng lực cạnh tranh, phải chiếm lĩnh được một thị phần đáng kể trên thị trường Một sản phẩm có năng lực cạnh tranh cũng phản ánh một phần năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngoài việc tìm mọi biện pháp để gia tăng lợi nhuận một cách lâu dài và xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, rất cần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh

Khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không thể không đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia vì giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết

Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng

trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới

Trang 21

Ba cấp độ sức cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao Ngược lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thì môi trường kinh doanh phải thuận lợi, các chính sách vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được; nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả nghĩa là, năng lực cạnh tranh quốc gia cao là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Xét về biểu hiện bề ngoài, có thể thấy có hai tiêu chí lớn thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đó là:

Thị phần: Thị phần của một doanh nghiệp về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất

định được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường Thị phần càng lớn càng thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh Để tồn tại và có sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm giữ được một phần thị trường bất kể nhiều hay ít, dù nó là địa phương hay thế giới

Lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp cuối cùng phản ánh hiệu quả hoạt động

của doanh nghiệp, là số chênh lệch giữa tổng doanh thu, thu nhập của doanh nghiệp với toàn

bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định Xét tổng thể xu hướng biến đổi lợi nhuận của doanh nghiệp trong mối tương quan với các doanh nghiệp khác; xét trong ngắn hạn và dài hạn để thấy được doanh nghiệp có thể tiếp tục đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh hay không, bởi vì nếu lợi nhuận được duy trì bền vững và có khả năng gia tăng (đặt trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và trong lâu dài) chứng tỏ sự vững chắc về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Xét về tiêu chí chiều sâu, Diễn đàn kinh tế thế giới sử dụng hai chỉ số để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: Mức độ tinh xảo của các chiến lược kinh doanh và chất lượng môi trường kinh tế vi mô cho doanh nghiệp hoạt động

Một là, mức độ tinh xảo của các chiến lược kinh doanh

Trang 22

Mức độ tinh xảo của các chiến lược kinh doanh là một chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là bởi vì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh và các hoạt động tạo ra, tìm kiếm, vận dụng và duy trì lợi thế cạnh tranh - một bộ phận cốt yếu của chiến lược kinh doanh

Chỉ số mức độ tinh xảo của các chiến lược kinh doanh được xây dựng nhằm đánh giá tri thức, công nghệ, vốn vật chất và kỹ năng quản lý được thể hiện trong chiến lược kinh doanh, trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhiều thước đo được sử dụng

để đo lường chỉ số này như trình độ công nghệ sản xuất, mức độ hoạt động tiếp thị, tính đặc thù của sản phẩm và tham gia thị trường quốc tế

Hai là, chất lượng môi trường kinh tế vi mô cho doanh nghiệp hoạt động

Chất lượng môi trường kinh tế vi mô cho doanh nghiệp hoạt động là một chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì chính chất lượng môi trường kinh tế vi

mô sẽ quyết định đến vhất lượng sản phẩm, năng suất lao động và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Đây lại chính là những yếu tố thiết yếu để doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh Môi trường kinh tế vi mô cho doanh nghiệp hoạt động chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố như chất lượng và chi phí các đầu vào cho sản xuất kinh doanh; nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ; trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp; chất lượng đội ngũ nhân viên

1.4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

ảnh hưởng và quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có rất nhiều nhân tố Việc nắm bắt được từng nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp một cách hiệu quả và bền vững Xét theo phạm vi, các nhân

tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm: nhóm các nhân tố thuộc về bên trong doanh nghiệp và nhóm các nhân tố thuộc về bên ngoài doanh nghiệp

a) Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Trang 23

Các nhân tố bên trong doanh nghiệp là những nhân tố chủ yếu quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có rất nhiều nhân tố, đó là:

1- Năng lực tài chính của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có vốn Vốn phải tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định

để thuê được đội ngũ cán bộ quản lý, lao động lành nghề, để đầu tư kỹ thuật công nghệ hiện đại và để quảng cáo, chào hàng… do đó vốn là tiền đề để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở số vốn hiện có mà nó còn thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng các nguồn lực tài chính trong

và ngoài doanh nghiệp Năng lực tài chính đủ mạnh cho phép doanh nghiệp mở rộng qui

mô sản xuất, đầu tư công nghệ kỹ thuật hiện đại từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, chiến thắng thường thuộc về những đối thủ trường vốn

2- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp bị chi phối bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đúng hay sai Nếu có chiến lược kinh doanh đúng thì sức cạnh tranh sẽ được nâng lên

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chiến lược về sản phẩm,

về thị trường, chiến lược về đổi mới công nghệ, về đầu tư dài hạn, về nguồn nhân lực… Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là những định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai (gồm trong cả ngắn hạn và dài hạn), thể hiện mục tiêu của doanh nghiệp và con đường để đạt mục tiêu đó Để xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích đúng đắn nhu cầu thị trường, phân tích chính xác lợi thế và các bất lợi của doanh nghiệp từ đó xác định thị phần cho mình

Do đó chiến lược kinh doanh thể hiện phương thức khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài doanh nghiệp, thể hiện mảng thị trường nhất định mà doanh nghiệp tập trung khai thác và phát triển những sản phẩm mà doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh Như vậy, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp không những ảnh hưởng đến năng lực

Trang 24

cạnh tranh hiện tại mà còn quyết định đến cả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai

3- Trình độ kỹ thuật công nghệ

Một nguyên lý do C Mác nêu ra từ thế kỷ XVIII và đã được thực tiễn lịch sử chứng minh là: Công cụ lao động quyết định năng suất lao động Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế tri thức ngày nay, khi mà hàm lượng tri thức được vật chất hóa thành kỹ thuật công nghệ, mà cùng với nó là hàm lượng tri thức trong sản phẩm ngày càng cao thì

kỹ thuật, công nghệ trở thành yếu tố then chốt, quyết định trong việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Tức là, nó là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này lý giải tại sao các doanh nghiệp của các nước có nền công nghiệp phát triển thường chiếm ưu thế áp đảo trong cạnh tranh

so với các nước kém phát triển

4- Kinh nghiệm, sở trường

Nói đến kinh nghiệm, sở trường là nói đến những lĩnh vực mà doanh nghiệp đã từng làm và đạt kết quả Khi doanh nghiệp càng có nhiều kinh nghiệm thì chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được nâng cao, có nghĩa là khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp cao, do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ được nâng cao

5- Khả năng quản lý

Nói đến khả năng quản lý của một doanh nghiệp là nói đến phương thức, quy trình quản lý và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Phương thức quản lý không phù hợp sẽ dẫn tới tăng chi phí quản lý hoặc không kiểm soát tốt quá trình sản xuất kinh doanh, do vậy làm giảm chất lượng sản phẩm Trình độ, năng lực của các thành viên trong bộ máy lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, có mối quan

hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ không những đem lại cho doanh nghiệp lợi ích trước mắt như tạo công ăn việc làm, tăng doanh thu, lợi nhuận, mà còn cả uy tín và lợi ích lâu dài

Trang 25

của doanh nghiệp - Đây mới là yếu tố quan trọng có tác động đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp Nói chung, khả năng quản lý kém có thể dẫn tới yếu kém toàn diện một doanh nghiệp, từ việc tăng chi phí đến không đảm bảo chất lượng và không làm tốt các biện pháp bổ trợ cần thiết như chăm sóc khách hàng, quảng cáo

6- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thái độ lao động của người lao động

Yếu tố này phản ánh kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các nhân viên tác nghiệp và công nhân trong doanh nghiệp Trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ của người lao động và lòng hăng say làm việc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, chuyên môn cao lại cộng thêm lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền

đề để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh

8- Thương hiệu của doanh nghiệp

Thương hiệu của một doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tạo lập được một thương hiệu có uy tín chính là tạo lập được một chỗ đứng vững chắc trong suy nghĩ của khách hàng về doanh nghiệp và về sản phẩm của doanh nghiệp Nó là một yếu tố đảm bảo cho năng lực cạnh tranh lâu dài của doanh

Trang 26

nghiệp Các hãng kinh doanh lớn, có năng lực cạnh tranh cao trên thế giới đều có thương hiệu rất nổi tiếng, đều có một sự đầu tư có chiến lược, bài bản cho việc xây dựng, quảng bá, bảo vệ, duy trì và phát triển thương hiệu Vì thế, việc đầu tư cho nghiên cứu, triển khai thương hiệu được coi là một nhân tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

9- Văn hóa doanh nghiệp

Theo nghĩa chung nhất, văn hóa doanh nghiệp được hiểu là một hệ thống bao

gồm những giá trị, truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, có khả năng lưu truyền, tạo nên bản sắc riêng và có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp

Một trong những chức năng cơ bản của văn hóa doanh nghiệp là tạo ra cảm giác thống nhất của mọi thành viên, tạo ra hình ảnh "chúng tôi" tập thể, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân Trong văn hóa doanh nghiệp, mỗi thành viên của nó đều nhận thức được vai trò của mình trong hệ thống doanh nghiệp, nhận thức được những gì

mà doanh nghiệp trông đợi và có thể đáp lại những trông đợi ấy như thế nào Như vậy, văn hóa doanh nghiệp động viên mọi nguồn lực trong doanh nghiệp và hướng những nguồn lực

ấy vào việc phấn đấu cho mục đích của doanh nghiệp Chẳng hạn như với quan điểm kinh doanh phải vì lợi ích người tiêu dùng do người tiêu dùng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp hay quan điểm ứng xử với mọi nhân viên rằng doanh nghiệp là gia đình thứ hai của mình , doanh nghiệp sẽ tạo ra những sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng và phát huy tính chủ động, sáng tạo của mọi nhân viên, từ đó tạo sức hấp dẫn cho sản phẩm của doanh nghiệp Với sức hấp dẫn cao doanh nghiệp sẽ lôi cuốn và thu hút được nhiều khách hàng hơn Hình ảnh doanh nghiệp thể hiện ở sức hấp dẫn được xem là có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp trên thương trường

b) Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Nhóm nhân tố này tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với tư cách là các yếu tố của cả nền kinh tế tác động chung đến các doanh nghiệp hoặc nó là

Trang 27

nhân tố nằm ngoài tầm chi phối của doanh nghiệp Thuộc nhóm nhân tố này có các yếu tố: Môi trường vật chất - kinh tế; môi trường công nghệ; môi trường chính trị - pháp luật; các chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước; mức độ cạnh tranh trên thị trường; khả năng xuất hiện sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế

Thứ nhất, môi trường chính trị - pháp luật

Hệ thống pháp luật giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh

Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng của các định hướng chính trị, nhằm quy định những hành vi mà các thành viên xã hội được làm và không được làm trong những hoàn cảnh nhất định, quy định những chế tài xử lý những hành vi vi phạm các mối quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ

Hệ thống pháp luật rõ ràng, công bằng, ổn định và được thực thi tốt tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, ổn định, thuận lợi từ đó khuyến khích các doanh nghiệp tăng đầu tư, kinh doanh lâu dài, làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Ngược lại, một hệ thống pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định sẽ làm các nhà kinh doanh không mạnh dạn đầu tư vì sự thay đổi bất lợi từ pháp luật, tất yếu sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trong thời đại ngày nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia mà còn trên cả phạm vi quốc tế Các quan hệ chính trị giữa các quốc gia có thể đem lại lợi thế hay bất lợi cho việc chiếm lĩnh thị trường của các sản phẩm hàng hóa Xã hội ổn định về chính trị, môi trường pháp lý vững chắc, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, về quyền sở hữu các sản phẩm khác sẽ là điều kiện tiền đề để tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Mặt khác, quan hệ quốc

tế tốt đẹp sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế giữa các nước và hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường bên ngoài

Thứ hai, môi trường vật chất - kinh tế

Trang 28

Môi trường vật chất - kinh tế là tổng thể các yếu tố về cơ sở hạ tầng kinh tế, điều kiện vật chất phục vụ cho sản xuất kinh doanh và các đặc điểm của hệ thống kinh tế mà trong đó các doanh nghiệp hoạt động

Trong tương quan cạnh tranh quốc tế, các yếu tố thuộc môi trường vật chất - kinh

tế tạo nên những điều kiện tiền đề để tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa nhờ vào lợi thế từ điều kiện tự nhiên, từ các lợi thế so sánh và cơ sở hạ tầng kinh tế, đồng thời đây cũng là nhân tố quyết định đến sức hấp dẫn đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng bền vững

Thứ ba, môi trường công nghệ

Môi trường công nghệ phản ánh trình độ phát triển khoa học, công nghệ của một quốc gia, phản ánh năng lực phát triển công nghệ trong nước, khả năng quản lý, khai thác

và chuyển giao công nghệ Môi trường khoa học công nghệ là kết quả của một hệ thống giáo dục đào tạo, chính sách nghiên cứu và phát triển trong một thời gian dài Trình độ kỹ thuật công nghệ của một doanh nghiệp gắn liền và trong nhiều trường hợp, là kết quả của trình độ công nghệ chung của ngành và của quốc gia nên môi trường công nghệ của quốc gia tác động đến trình độ trang bị công nghệ của các doanh nghiệp, và từ đó tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Thứ tư, các chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước

Các chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước thể hiện quan điểm, định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước, do đó tác động trực tiếp đến môi trường kinh tế vĩ

mô của một đất nước Chính sách kinh tế - tài chính thể hiện những ưu đãi, khuyến khích hoặc hạn chế đối với một số khu vực hay ngành kinh tế, hoặc chính sách khuyến khích chuyên môn hóa, khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, khuyến khích cạnh tranh Chính sách kinh tế - tài chính đúng đắn, phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và làm cho việc phân bổ các nguồn lực xã hội một cách hiệu quả

Trang 29

Tác động của chính sách kinh tế - tài chính tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn là kết quả của năng lực thực thi các chính sách và năng lực làm việc của đội ngũ công chức Nhà nước Chính sách kinh tế - tài chính đúng đắn, ổn định chỉ là điều kiện cần để tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp Chính sách này cần được thực thi hiệu quả và đúng mục đích, được cụ thể hóa một cách minh bạch bằng các văn bản pháp quy, do vậy, Chính phủ cần có bộ máy đủ lớn song không cồng kềnh, không tham nhũng

Thứ năm, mức độ cạnh tranh trên thị trường

Doanh nghiệp không thể tách rời khỏi thị trường vì thị trường là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào, cũng là nơi quyết định sản phẩm có được tiêu thụ hay không Mức độ cạnh tranh trên thị trường gay gắt hay không có ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh về loại sản phẩm, dịch vụ nào đó; năng lực cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường

Thứ sáu, mức độ tham gia vào phân công lao động quốc tế

Tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế và phân công lao động quốc tế chứng

tỏ quốc gia có sức cạnh tranh tốt trên thị trường quốc tế Độ mở cửa của nền kinh tế làm cho thị trường vốn, thị trường công nghệ, thị trường lao động hoạt động linh hoạt nên doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, từ đó giúp tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong quốc gia đó Hơn nữa tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế tạo ra sức ép cạnh tranh, buộc doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải tự tìm cách tồn tại và phát triển, đây chính là động lực buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Tóm lại, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng Mỗi nhân tố có mức độ ảnh hưởng và tầm quan trọng khác nhau; các nhân tố lại ảnh hưởng đan xen lẫn nhau đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì thế các doanh nghiệp cần phải xem xét đầy đủ các nhân tố, từ đó mà "gạn đục, khơi trong" tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho chính

Trang 30

doanh nghiệp mình Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần sự trợ giúp đắc lực từ phía Nhà nước

để tạo môi trường thuận lợi, làm chất "xúc tác" cho nền kinh tế cũng như cho doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh lành mạnh, phát triển đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế

1.4.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế phát triển tất yếu, các nước dù muốn dù không đều chịu ảnh hưởng của quá trình này và doanh nghiệp cần trở thành nhân tố tích cực nhất tham gia toàn cầu hóa, nơi mà cạnh tranh đã được nâng lên tầm cao mới là cạnh tranh quốc tế với những qui tắc và thông lệ quốc tế Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã cảm nhận được làn sóng cạnh tranh được ví như "sóng thần" khi các tập đoàn quốc tế đổ bộ vào việt Nam, thời hậu WTO Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức với việc tôn vinh những sản phẩm

có giá trị sáng tạo và hàm lượng chất xám cao cũng làm tính cạnh tranh trên thị trường trở nên sâu sắc hơn Như vậy những bước đi đầu tiên của doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trên thị trường trong và ngoài nước luôn đứng trước thách thức của cạnh tranh quốc tế và đứng trước các thử thách mang tính thời đại của công nghệ và tri thức

Nền kinh tế thị trường phát triển đã hình thành nên hệ thống các quan hệ tài chính phong phú và đa dạng phát sinh trong quá trình vận động và chuyển dịch của các luồng tài chính giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Gia tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một mục tiêu lâu dài và cần sự nỗ lực từ nhiều phía, trong đó tài chính doanh nghiệp không chỉ là lực lượng vật chất bằng tiền mà còn là động lực làm thay đổi kết cấu lực lượng sản xuất, giải phóng nguồn lực xã hội để điều khiển các hành

vi kinh tế Tài chính doanh nghiệp do đó có cả tác động trực tiếp và tác động gián tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vai trò đó của tài chính doanh nghiệp được thể hiện như sau:

Thứ nhất: Đảm bảo đủ nguồn tài chính cho doanh nghiệp

Trang 31

Thực hiện chức năng này, tài chính thực hiện công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho nhu cầu đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành, trước hết các doanh nghiệp cần phải có vốn - đây là yếu tố cơ bản đầu tiên Doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất kinh doanh khi không có tiền để trả các hóa đơn mua hàng, mua nguyên vật liệu hay trả lương cho công nhân Vốn cần cho sản xuất kinh doanh từ khi bắt đầu hoạt động cũng như quá trình sản xuất kinh doanh đang tiến hành

Trong cơ chế tập trung bao cấp trước đây vốn chỉ được hình thành từ hai nguồn chủ yếu đó là cấp phát của ngân sách nhà nước và vay qua ngân hàng Vì vậy việc tạo vốn của doanh nghiệp vô cùng thụ động Chuyển sang nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết quy luật cạnh tranh và đào thải được phát huy hết tác dụng Trong điều kiện ấy, để tồn tại và phát triển, buộc các doanh nghiệp phải chủ động, năng động và sáng tạo trong việc tạo vốn Muốn đầu tư mở rộng sản xuất để giành lợi thế trong cạnh tranh đạt lợi nhuận cao đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trường để đưa vào sản xuất một cách hợp lý nhất, hiệu quả nhất Vấn đề ở chỗ phải xác định chính xác nhu cầu vốn, cân nhắc lựa chọn phương án, hình thức thu hút vốn thích hợp thông qua các đòn bẩy lãi suất, cổ tức, …Đó chính là khai thác chức năng phân phối, giám đốc của tài chính, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có đủ nguồn vốn thanh toán bất kỳ món nợ nào và bất kỳ lúc nào doanh nghiệp cần Khi huy động nguồn tài chính phải đảm bảo rằng các nguồn tài trợ phù hợp với nhu cầu tài chính của doanh nghiệp, phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh

Thứ hai: Sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn tài chính của doanh nghiệp

Việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là đòi hỏi đối với sự tồn tại

và phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu khắt khe của các quy luật kinh tế cơ bản đặt ra cho các doanh nghiệp là không phải sản xuất bằng bất cứ giá nào, cũng không phải bán cái mình có mà phải bán cái thị trường cần Để đáp ứng yêu cầu đó, đòi hỏi phải sử dụng vốn tiết kiệm hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng các biện pháp để quay nhanh vòng luân chuyển vốn, nâng cao khả năng sinh lời

Trang 32

Để phát huy vai trò này, trước hết phải đảm bảo sự ổn định về nguồn tài chính dài hạn, huy động đủ nguồn vốn cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh Hơn nữa các hoạt động mua hàng phải được cân nhắc tính toán với giá mua càng rẻ càng tốt nhằm tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận Khi quyết định đầu tư cần cân nhắc kỹ để đầu tư vào lĩnh vực nào

có tỷ suất sinh lời cao, đảm bảo vốn bỏ ra phải có khả năng thu hồi Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, không chỉ đòi hỏi phải xác định rõ kết cấu hợp lý giữa các loại tài sản ngắn và dài hạn mà còn phải tìm cơ hội đầu tư tốt nhất

Thứ ba: Thông qua sử dụng các đòn bẩy kích thích, tài chính vừa tạo ra động lực,

vừa tạo ra áp lực thúc đẩy DN nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách gắn liền lợi ích kinh tế của từng chủ thể cạnh tranh với việc đạt được các tiêu chí cạnh tranh

Vai trò kích thích, điều tiết của tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ tạo ra

"sức mua" hợp lý để thu hút vốn đầu tư, đồng thời cũng xác định giá bán hợp lý Bằng việc xây dựng giá mua giá bán hợp lý sẽ có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh

Khả năng kích thích, điều tiết của tài chính doanh nghiệp cũng có thể phát huy tác dụng ngay trong quá trình sản xuất thông qua các hoạt động phân phối thu nhập giữa các hội viên góp vốn Phân phối tiền lương, tiền thưởng hợp lý sẽ kích thích tinh thần tự giác và sự gắn bó với doanh nghiệp cũng như tinh thần thi đua hăng hái trong lao động sản xuất của người lao động

Thứ tư: Là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tình hình tài chính của doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực nhất kết quả sản xuất kinh doanh Thông qua các chỉ tiêu tài chính có thể nhận biết chính xác tình trạng tốt hay xấu trong các khâu của quá trình sản xuất Qua phân tích tình hình tài chính xác định điểm mạnh, điểm yếu về tài chính, qua đó có thể phát hiện, điều chỉnh, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh, có thể có quyết định tăng vốn đầu tư tiền bạc một cách hợp lý nhất hay có thể đánh giá nhu cầu tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp, chống lại sự cạnh tranh của bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu đã định

Trang 33

Thực hiện Nghị định 388-HĐBT và các Quyết định QĐ90/TTg, QĐ91/TTg và Chỉ thị 500/TTg trong xây dựng giao thông đã thành lập các tổng công ty nhà nước và đi liền với nó là các luật, các văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động Nhờ đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh, có điều kiện đầu tư đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng qui mô

Ngành GTVT hiện nay được xem là khá hùng hậu với sáu tổng công ty XDCTGT hoạt động theo mô hình tổng công ty 90, đó là Tổng công ty XDCTGT 1, Tổng công ty XDCTGT 4, Tổng công ty XDCTGT 5, Tổng công ty XDCTGT 6, Tổng công ty XDCTGT 8, Tổng công ty xây dựng Thăng Long Trong mỗi tổng công ty lại có rất nhiều doanh nghiệp thành viên Tổng công ty XDCTGT 1 có 36 công ty thành viên, Tổng công ty XDCTGT 4 có 20 công ty, Tổng công ty XDCTGT 5 có 28 công ty, Tổng công ty XDCTGT 6 có 18 công ty, Tổng công ty XDCTGT 8 có 15 công ty, Tổng công

ty xây dựng Thăng Long có 17 công ty

Trang 34

Các Tổng công ty XDCTGT của Việt Nam hiện nay đều là những DNNN, trưởng thành từ những công trình trọng điểm của Nhà nước trước đây trong thời gian chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có bề dày kinh nghiệm thi công nhiều năm Đầu tiên là Tổng công ty XDCTGT 1 tiền thân là Ban chỉ đạo miền Tây, thành lập năm 1964

Kế đó là Tổng công ty XDCTGT 8, tiền thân là Ban xây dựng 64, thành lập năm 1965 Sau đó là các Tổng công ty XDCTGT 4, tiền thân là Cục công trình 1, thành lập năm

1965 - 1966; Tổng công ty XDCTGT 5, tiền thân là Ban xây dựng 67, thành lập năm 1967; Tổng công ty xây dựng Thăng Long, tiền thân là Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long, thành lập năm 1973; Tổng công ty XDCTGT 6, thành lập năm 1982 Thời kỳ từ những năm 1986 trở về trước, các doanh nghiệp này được Nhà nước bảo trợ, sản xuất theo kế hoạch (được giao nhiệm vụ từ cấp trên), thực hiện cơ chế xin - cho Nhưng từ những năm 1986 trở lại đây (mà thực sự là từ những năm 1989) các doanh nghiệp này đã chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh, tự tìm kiếm công ăn việc làm, tự lấy thu bù chi

và đảm bảo có lãi Đây có thể nói là những vấn đề rất khó khăn đối với các doanh nghiệp khi bắt đầu bước vào cơ chế thị trường Song không thể phủ nhận những thành tích mà các doanh nghiệp đã làm được trong thời gian qua

Tổng công ty XDCTGT 1 là một trong những DNNN hàng đầu về lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là xây dựng cầu đường bộ Tổng công ty XDCTGT 1 với đội ngũ hàng trăm cán bộ quản lý, kỹ thuật viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm, hàng nghìn công nhân thạo việc, tay nghề cao, có khả năng sử dụng thành thạo các thiết bị thi công đường hiện đại Cùng với việc phát triển nguồn lực hùng mạnh, Tổng công ty còn luôn chú trọng tới việc đầu tư mua sắm các thiết bị thi công hiện đại, tiếp nhận các công nghệ thi công tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Với thế mạnh nhân lực, thiết bị tiên tiến đáp ứng được yêu cầu công nghệ hiện đại, Tổng công ty XDCTGT 1 đã thắng thầu các dự án không những trong nước mà cả các dự án quốc tế Năm 1992, Tổng công ty thắng thầu dự án cải tạo đường thứ 4 - dự án đấu thầu quốc tế đầu tiên của Việt Nam - đường 13 Bắc Lào từ Luông Prabăng - Kasỉ dài 163 km (km 4 - km 167), đội ngũ cán bộ công nhân viên của Tổng công ty đã tiếp cận, làm quen và trở nên thuần thục với công nghệ xây dựng đường theo qui trình ASSHTO, tiêu chuẩn ASTM, các luật lệ quốc tế từ

Trang 35

công tác chuẩn bị đầu tư (FS, PFS) đến đấu thầu (TENDER) và các điều kiện hợp đồng quốc tế (FIDIC) Hiện tại Tổng công ty đã ứng dụng thành công công nghệ này vào xây dựng các dự án trong nước như: Đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, QL 183, QL 1A đoạn

Hà Nội - Lạng Sơn (N2, N3, N4), đoạn Vinh - Đông Hà, đoạn Hà Nội - Thường Tín,…

Từ ngày thành lập đến nay, Tổng công ty đã tham gia xây dựng hàng chục ngàn kilomet đường các loại, hàng ngàn cây cầu với các loại kết cấu đã có ở Việt Nam (cầu thép, cầu

bê tông dự ứng lực, cầu treo, cầu dây văng…) bằng các giải pháp thi công mới nhất ở Việt Nam như phần trụ mố với hệ thống cọc đúc sẵn, cọc dự ứng lực, cọc thép, cọc khoan nhồi, móng giếng chìm, móng nông đào trần…, phần nhịp dầm với các dầm đúc trên đà giáo, dầm đúc hẫng, đúc đẩy, lắp hẫng, dầm treo, dây văng…Trong số những công trình cầu, đường bộ mà Tổng công ty đã và đang thi công, có thể kể đến những công trình có qui mô lớn, chất lượng cao như:

- QL1, QL2, QL3, QL5, QL6, QL18, QL183; Đường Bắc Thăng Long - Nội Bài;

Hệ thống đường vào nhà máy thủy điện YALY; Đường 13 Bắc Lào (dự án ADB4); Đường Nam Lào (dự án ADB 7); Đường nội thành thủ đô Viêng Chăn (Lào); Đường Láng - Hòa Lạc; Dự án ADB8 (Lào); Hợp đồng vành đai 3 (Hà Nội); Dự án trục chính Lào Cai - Cam Đường; Đường 18B giai đoạn 1 và 2 (Lào);…

- Các cầu có những nét đặc trưng và giải pháp công nghệ khác nhau phải kể đến

đó là các cầu: Cầu Lục Nam (dầm thép bu lông cường độ cao): Cầu Long Đại (Dầm bu lông cường độ cao = 158m/nhịp); Cầu Phố Lu (Thépbê tông liên hợp đường sắt, đường

bộ chạy chung); Cầu Hoàng Thạch (Bê tông dự ứng lực cắt khúc 42m/nhịp); Cầu Chương Dương (Dầm thép tán, 105m/nhịp, L=1200m); Cầu Thái Bình (Thép bê tông

dự ứng lực khung T, 18m); Cầu Đò quan (thép bê tông liên hợp, dầm liên tục, L=147m); Cầu Nông Tiến (bê tông dự ứng lực khung T, dầm treo); Cầu Phú Lương (Bê tông cốt thép dự ứng lực đúc hẫng, khẩu độ 102m/nhịp, đạt huy chương vàng công trình chất lượng cao năm 1996); Cầu Phù Đổng (bê tông cốt thép sử dụng đúc hẫng cân bằng đối xứng, có dự ứng lực theo 3 hướng, khẩu độ 90m/nhịp); Cầu Tân Đệ; Cầu Tiên Hựu; Cầu Sông Hàn; Cầu Nguyễn Tri Phương; Cầu Ông Lãnh; …

Trang 36

Năm 2007 Tổng công ty XDCTGT 1 đang triển khai và tiếp tục thi công các công trình: Nút giao Ngã Tư Vọng; HĐ MD1 (Cần Thơ - Sóc Trăng); HĐ R2 - QL9 (Đông Hà - Lao Bảo); BC1, BC3 (Cầu Bãi Cháy); Đường Nội Bài - Bắc Ninh (giai đoạn 2); Đường tránh Thái Bình gói S1 - QL10;…

Tổng công ty XDCTGT 4 là đơn vị thi công kết cấu hạ tầng chủ lực của ngành GTVT Nhiều công trình quan trọng do Tổng công ty thi công như: Cầu Bến Thủy, Hiền Lương, Đakrông, Nam Đàn, Quán Hầu, QL1A, Đường Hồ Chí Minh,…Tổng công ty đã ứng dụng thành công 4 công nghệ mới, tiên tiến, lần đầu thực hiện ở Việt Nam đó là: công nghệ chế tạo dầm bê tông cốt thép cáp 12,7mm khẩu độ 40,65m; công nghệ sản xuất dầm BTCT UST 33m sử dụng thép cáp 12,7mm; công nghệ lao dầm bê tông khẩu

độ 21-40,65m bằng giàn phóng tự chế tạo; công nghệ đúc đẩy cầu BTCT UST với khẩu

độ lớn Với thành tựu này, Tổng công ty đã vượt khỏi địa bàn lãnh thổ truyền thống để vươn tới mọi miền Tổ quốc và các nước láng giềng

Với thành công ứng dụng các công nghệ mới, Tổng công ty XDCTGT 4 đã xây dựng và đưa vào sử dụng các cầu lớn: Thiệu Hóa Thanh Hóa (QL45); sông Hiếu (QL48); cầu treo Dùng nghệ An (QL15); cầu Linh Cảm (QL8); Hộ Độ, Nghèn - Hà Tĩnh (QL1);… Đây là những công trình có chất lượng về mặt kỹ thuật, đẹp về thẩm mỹ, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế địa bàn dân cư, nhất là các huyện miền núi tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa

Tính đến nay, Tổng công ty XDCTGT 4 đã làm mới và khôi phục được khoảng 300km đường sắt; 10.000km đường ôtô; 20.000m cầu bê tông, cầu thép; 3.000m cảng biển, cảng sông; 25.000m2 đường sân bay; nâng cấp và thảm bê tông nhựa hơn 600km quốc lộ trên địa bàn 43 tỉnh, thành phố cả nước và nước ngoài Và hiện nay, Tổng công ty

đã đăng ký dự thầu các công trình; cầu Phù Đổng, cầu Đông Trù, đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình, đường sắt Yên Viên - Phả Lại, đường cao tốc Long Thành - Dầu Dây, cảng Cái Mép - Thị Vải, 7 cầu Cần Thơ - Năm Căn (QL1),…

Tổng công ty xây dựng Thăng Long, với trên 30 năm xây dựng và phát triển,

mà khởi đầu thành lập được đánh dấu bằng công trình cầu Thăng Long của những thập

Trang 37

niên 70-80 Đội ngũ thợ cầu Thăng Long đã xây dựng cho đất nước hàng ngàn cầu, cống và các công trình giao thông khác trong đó có trên 100 cầu lớn, đặc biệt là các công trình vừa có qui mô lớn vừa mang nhiều ý nghĩa chính trị, xã hội như cầu Chương Dương, cầu Bến Thủy, cầu Sông Gianh, cầu Hoàng Long, cầu Trung Hà, cầu Yên Lệnh,… Đặc biệt hơn cả là sự vươn lên trong thời kỳ đổi mới để chuyển đổi từ một doanh nghiệp được hưởng một sự ưu ái, bao cấp của Nhà nước trong suốt hơn 10 năm xây dựng cầu Thăng Long trở thành một Tổng công ty sớm thích ứng với cơ chế thị trường Với đội ngũ trên một vạn lao động trong đó có hàng ngàn kỹ sư, các chuyên gia

kỹ thuật và công nhân lành nghề giàu kinh nghiệm và luôn đi đầu trong lĩnh vực tiếp thu và ứng dụng công nghệ thi công tiên tiến của thế giới

Chỉ tính riêng 10 năm trở lại đây, các doanh nghiệp XDCTGT đã tiến hành cải tạo, nâng cấp và làm mới hơn 16.000 km đường bộ; 1.400 km đường sắt; hơn 140 km cầu; nâng cấp và xây dựng mới hơn 5.400 mét dài bến cảng; cải tạo nâng cấp hơn 20 sân bay; nạo vét khoảng 4,8 triệu m3 luồng lạch

Trong số những công trình giao thông được các Tổng công ty XDCTGT xây dựng trong thời gian qua, nhiều công trình có qui mô lớn, mức độ hiện đại ngang tầm khu vực và kể cả thế giới Nhiều doanh nghiệp đã trở thành những đơn vị dẫn đầu trong việc ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến Thành tựu của các Tổng công ty XDCTGT

là không nhỏ Sự trưởng thành trong thi công và nâng cao trình độ của đội ngũ những người thợ cầu đường Việt Nam cũng là điều đáng tự hào Trong giai đoạn 2006 - 2010, tổng vốn đầu tư hạ tầng giao thông sẽ khoảng 200.000 tỷ đồng, với tỷ trọng huy động ngoài ngân sách tới 1/4, tạo ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp kết cấu hạ tầng giao thông Khối lượng công việc mà các nhà xây dựng giao thông được đón nhận trong thời gian này là rất lớn Đó là những tính toán và dự báo cho giai đoạn 2006 - 2010 Tuy nhiên cơ hội này cũng gặp phải những làn sóng cạnh tranh mạnh mẽ khi thời gian tới Việt Nam chính thức cho phép thành lập công ty xây dựng 100% vốn nước ngoài và sau 3 năm còn được thành lập chi nhánh

Trang 38

Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, thực tế giữa các doanh nghiệp

đã xuất hiện cạnh tranh Trong lĩnh vực XDCTGT, xảy ra cạnh tranh giữa DNNN với DNNN, khi xuất hiện doanh nghiệp tư nhân thì lại xảy ra cạnh tranh giữa DNNN với doanh nghiệp tư nhân và giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau Nhưng trong một thời gian dài đã xảy ra tình trạng cạnh tranh không bình đẳng Đối với các doanh nghiệp XDCTGT Nhà nước, có vốn chủ sở hữu được Nhà nước bảo trợ; có lực lượng cán bộ công nhân kỹ thuật cao, có kinh nghiệm thi công lâu năm, thi công các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao; thiết bị thi công nhiều, đầy đủ chủng loại, có chất lượng mà tư nhân không thể có được; có lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật hùng hậu như các cục,

vụ, viện nghiên cứu khoa học; cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, có sự lãnh đạo thống nhất Với những thế mạnh như vậy nên các doanh nghiệp XDCTGT Nhà nước thường được giao hoặc trúng thầu những công trình lớn hoặc chia nhau những công trình, dự án lớn trong cả nước Gần đây khi xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân hoặc hình thức là tư nhân nhưng thực chất là "sân sau" của các quan chức thì thị phần trong kinh doanh của các DNNN bị chiếm một phần lớn Đa số các công trình có khả năng thanh toán và thu hồi vốn nhanh là thuộc về các doanh nghiệp tư nhân, các DNNN rất ít khi trúng Thời gian các doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh nhất là từ 1996 - 2004 Chủ yếu làm các công trình vừa và nhỏ, giao thông nông thôn, cầu nhỏ thuộc các chương trình như: 135; giao thông nông thôn; Ngân hàng thế giới (WB);…Và để thắng thầu thì thường là dàn xếp để thắng thầu, chi phí cho chấm thầu, lại quả cho chủ đầu tư, quà cáp, đút lót….Vì thế các doanh nghiệp XDCTGT muốn thắng thầu thì thường cũng phải sử dụng những giải pháp tiêu cực Ví dụ như:

Vây thầu: Các nhà thầu thỏa thuận với nhau, cùng nhau mua hồ sơ, lập hồ sơ đấu

thầu sau đó để cho một nhà thầu thắng với giá gần bằng giá dự toán thiết kế Đây thực chất là biện pháp liên doanh các nhà thầu để loại các đối thủ cạnh tranh khác

Chia thầu: Cũng giống như vây thầu nhưng sau đó chia lại công việc cho từng

nhà thầu tham gia

Trang 39

Bỏ thầu với giá thấp để thắng thầu sau đó đề xuất thay đổi thiết kế, thay đổi

phương án thi công để điều chỉnh dự toán thiết kế Thực chất là để bù đắp lại phần chi phí

do hạ giá

Chạy dự án từ Trung Ương: Nhờ "các cò" chuyên chạy dự án (loại này là tiêu

cực nhất); dùng thư tay của lãnh đạo Bộ chủ quản, lãnh đạo Trung Ương, Tỉnh gửi xuống

ép chủ đầu tư phải giao việc cho doanh nghiệp; chạy, đút lót để được cơ chế chỉ định thầu

Và ngoài ra các doanh nghiệp XDCTGT còn có lợi thế lớn nữa đó là có cơ quan chủ quản và do mối quan hệ giữa hai chủ thể này khá gần gũi Hơn nữa, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp thường dựa vào mối quan hệ nhiều hơn là hệ thống luật pháp Đây là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của DNNN và một số đơn vị có vỏ bọc

tư nhân nhưng thực chất là "sân sau" của một số cán bộ có chức, có quyền

Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp không thể tiếp tục các giải pháp tiêu cực để tìm kiếm việc làm bởi vì Nhà nước đã ban hành các luật như Luật Đấu thầu; Luật Doanh nghiệp; Luật Cạnh tranh; Luật Xây dựng,… các văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện Mặt khác, chúng ta đã gia nhập WTO, hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế sẽ không tránh khỏi việc các tập đoàn quốc tế sẽ vào tìm kiếm việc làm tại thị trường Việt Nam Mà các tập đoàn quốc tế, có nhiều tập đoàn có lợi thế hơn các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều như lợi thế về tài chính, về kỹ thuật công nghệ,… Do đó các doanh nghiệp cần chủ động tháo gỡ những khó khăn, thắng thầu lành mạnh Và một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp XDCTGT hiện nay

Trang 40

Hiện nay tất cả các doanh nghiệp XDCTGT đều đang gặp những khó khăn về tài chính, gây trở ngại đến hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể là:

Bình quân một DN

Vốn chủ sở hữu Nợ phải trả

Số tiền Tỷ lệ

(%) Số tiền

Tỷ lệ (%) Năm 2004

Tổng 119 15.324.1

39

128.774 895.563 5,8 14.428.5

76 94,2

Ngày đăng: 30/06/2014, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giao thông vận tải (2006), Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2006
Tác giả: Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2006
2. Bộ Giao thông vận tải (2007), Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2007
Tác giả: Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2007
3. Chính phủ (2004), Quyết định số 206/2004/QĐ-TTg ngày 10/12 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 206/2004/QĐ-TTg ngày 10/12 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
4. Bạch Thụ Cường (2002), Bàn về cạnh tranh toàn cầu, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cạnh tranh toàn cầu
Tác giả: Bạch Thụ Cường
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2002
5. Trần Quốc Dân (2005), Sức hấp dẫn một giá trị văn hoá doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức hấp dẫn một giá trị văn hoá doanh nghiệp
Tác giả: Trần Quốc Dân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Nghiêm Văn Dĩnh (1997), Kinh tế xây dựng công trình giao thông, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế xây dựng công trình giao thông
Tác giả: Nghiêm Văn Dĩnh
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 1997
7. Lê Đăng Doanh - Nguyến Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân (1998), Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước
Tác giả: Lê Đăng Doanh - Nguyến Thị Kim Dung - Trần Hữu Hân
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
8. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (1999), Tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1999
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Lưu Thị Hương - Vũ Duy Hào (2006), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Lưu Thị Hương - Vũ Duy Hào
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2006
12. Nguyễn Đình Kiệm - Nguyễn Đăng Nam (1999), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Kiệm - Nguyễn Đăng Nam
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1999
13. Nguyễn Thị Hoài Lê (2005), Sử dụng công cụ tài chính vĩ mô nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công cụ tài chính vĩ mô nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Lê
Năm: 2005
14. Luật đấu thầu - Luật xây dựng và nghị định hướng dẫn chung (2006), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đấu thầu - Luật xây dựng và nghị định hướng dẫn chung
Tác giả: Luật đấu thầu - Luật xây dựng và nghị định hướng dẫn chung
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
15. Đỗ Đức Minh (2006), Tài chính Việt Nam 2001 - 2010, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Việt Nam 2001 - 2010
Tác giả: Đỗ Đức Minh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2006
16. Paul A. Samuelson - William D. Nordhaus (1997), Kinh tế học, (xuất bản lần thứ 15), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Paul A. Samuelson - William D. Nordhaus
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
17. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thanh
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2005
18. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2005), Báo cáo tài chính năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính năm 2004
Tác giả: Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1
Năm: 2005
19. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2006), Báo cáo tài chính năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính năm 2005
Tác giả: Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1
Năm: 2006
20. Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (2007), Báo cáo tài chính năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính năm 2006
Tác giả: Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông 1
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Mối quan hệ và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Hình 1.1 Mối quan hệ và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp XDCTGT (Trang 6)
Bảng 2.2: Lãi vay phải trả của các doanh nghiệp XDCTGT - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Bảng 2.2 Lãi vay phải trả của các doanh nghiệp XDCTGT (Trang 42)
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Bảng 2.4 Cơ cấu tài sản (Trang 46)
Bảng 2.5: Nợ phải thu và tỷ lệ nợ phải thu trên doanh thu - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Bảng 2.5 Nợ phải thu và tỷ lệ nợ phải thu trên doanh thu (Trang 47)
Bảng 2.6: Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp XDCTGT - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Bảng 2.6 Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp XDCTGT (Trang 52)
Hình 3.1: Nguồn vốn của doanh nghiệp - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Hình 3.1 Nguồn vốn của doanh nghiệp (Trang 72)
Hình 3.3: Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp xây dựng   công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Hình 3.3 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong nền kinh tế thị trường (Trang 87)
Hình 3.4: Căn cứ lựa chọn hình thức huy động vốn của doanh nghiệp XDCTGT  Đó  là  những  căn  cứ  làm  cơ  sở  cho  các  doanh  nghiệp  XDCTGT  cân  nhắc  lựa  chọn trước khi có một quyết định huy động vốn - luận văn   giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông
Hình 3.4 Căn cứ lựa chọn hình thức huy động vốn của doanh nghiệp XDCTGT Đó là những căn cứ làm cơ sở cho các doanh nghiệp XDCTGT cân nhắc lựa chọn trước khi có một quyết định huy động vốn (Trang 94)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w