Dân tộc Việt ta trải qua hơn một ngàn năm đô hộ nhưng vẫn giữ được những bản sắc văn hóa đặc trưng: Yêu nước, tự cường,đoàn kết, giàu lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình trọng nghĩa, cầ
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mahatma Gandhi từng nói về văn hóa rằng: “Nền văn hóa của một quốcgia nằm trong trái tim và tâm hồn của nhân dân.” Đúng vậy, văn hóa dân tộc làmột dòng chảy không ngừng và ở đó mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều mang trongmình một bản sắc văn hóa riêng Dân tộc Việt ta trải qua hơn một ngàn năm đô
hộ nhưng vẫn giữ được những bản sắc văn hóa đặc trưng: Yêu nước, tự cường,đoàn kết, giàu lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình trọng nghĩa, cần cù sáng tạo,
… Trong hành trình tìm về với cội nguồn, những bản sắc văn hóa đặc trưng mà
tổ tiên, ông cha ta để lại là hành trang mà mỗi người gánh trên vai, là những hạtgiống tinh túy nhất để khi đến với vùng đất mới, hạt giống tốt đẹp ấy sẽ sinh sôinảy nở và lớn mãi không ngừng
Chiều sâu trong văn hóa trang phục truyền thống của dân tộc ta là bảo lưucội nguồn, là thứ vũ khí sắc bén cho mọi thời đại của dân tộc Trang phục truyềnthống mang một ý nghĩa văn hóa dân tộc cũng góp phần to lớn trong việc quảng
bá và xây dựng hình ảnh nước nhà đến với bạn bè thế giới Trên mỗi cuộc thi sắcđẹp, hình ảnh những tà áo dài hay những bộ trang phục mang đậm chất Việtđược tung hô trên toàn thế giới chúng ta lại cảm thấy tự hào vì đó là văn hóa ViệtNam, là hiện thân cho đất nước Việt Nam
Hiện thực đáng buồn của xã hội hiện đại cho ta thấy với nhịp sống côngnghiệp và các dòng chảy thương mại toàn cầu khiến thế giới dường như trở nênnhỏ bé hơn và hiện hữu rõ nét nguy cơ mai một tính đa dạng văn hóa, làm mất đimàu sắc văn hóa dân tộc Những nền văn hóa mới từ nhiều nơi đã làm phai nhạt
đi phần nào nét đẹp văn hóa trang phục truyền thống Thật hiếm khi gặp hìnhảnh những thanh niên tuổi trẻ thướt tha trong bộ áo tứ thân, hay nhẹ nhàng dưới
tà áo dài Trong bối cảnh như vậy, văn hóa trang phục truyền thống là biểutượng cho dân tộc Việt Nam, là nét đẹp đáng để lưu giữ và trân trọng ngàn đời
Trang 2Xuất phát từ điểm nhìn thực tiễn, bản thân tôi thấy văn hóa trang phụctruyền thống cần được bảo tồn và phát triển trở lại nhằm làm bừng lên mộtluồng sinh khí mới để phù hợp với cuộc sống hiện đại Nhưng cho dù đổi mới đểphù hợp như thế nào thì điều chúng ta cần làm là phải không đánh mất bản sắcvốn có của văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam Để làm được điều đó,trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống về đặcđiểm nguồn gốc, bản chất của văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề cơ bản về đặc điểm trang phục tryềnthống của Việt Nam
- Thứ hai: Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đưa
ra những ưu, nhược điểm trong việc biến đổi văn hóa trang phục truyền thốngViệt Nam
- Thứ ba: Đề xuất những ý kiến, giải pháp nhằm bảo vệ và phát triểnnhững giá trị văn hóa vốn có của trang phục truyền thống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm văn hóa trang phục truyền thống ViệtNam
- Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: Việt Nam
Trang 34 Ý nghĩa của đề tài
Trải qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện những vấn đề về văn hóatrang phục truyền thống của Việt Nam sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lýluận và thực tiễn của đề tài
-Về mặt lý luận: mọi quan điểm, đánh giá, kết luận của đề tài có thể được
sử dụng làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy về văn hóatrang phục truyền thống của Việt Nam sau khi đề tài được nghiệm thu, công bố
và ứng dụng
-Về mặt thực tiễn: Những giải pháp được đưa ra có thể được xem xét,kiểm tra và tiến hành áp dụng vào thực tế góp phần nâng cao ý thức của ngườidân trong việc tham gia lưu giữ vẻ đẹp trang phục truyền thống
5 Kết cấu của tiểu luận
Kết cấu của tiểu luận gồm:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: 3 chương
+ Chương 1: Văn hóa trang phục truyền thống của Việt Nam
+ Chương 2: Thực trạng về vấn đề biến đổi văn hóa trang phục truyềnthống Việt Nam
+ Chương 3: Một số giải pháp đưa ra nhằm hạn chế những biến đổi tiêucực về văn hóa trang phục
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN HÓA TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VIỆT
NAM.
I Những vấn đề cơ bản về văn hóa, văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam
1.1 Khái niệm văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO: ‘Văn hóa làtổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giátrị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗidân tộc”
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa” Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụthể và đầy đủ hơn
Theo giáo trình Cơ sở văn hóa do TS Nguyễn Thị Hồng chủ biên: “Vănhóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch
sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộngđồng chấp nhận, vận hanh trong đời sống xã hội, được xã hội giữ gìn, traochuyển cho thế hệ sau Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tínhriêng của mỗi dân tộc ”
Tóm lại, văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra
trên nền của thế giới tự nhiên Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rấtnhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thầncủa con người Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như
Trang 5vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội nhưngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, cácphương tiện, v.v
1.2 Khái niệm trang phục, văn hóa trang phục, trang phục truyền thống
Theo cuốn Cơ Sở văn hóa Việt Nam của tác giả Phạm Ngọc Trung, trang phục là một trong những tiêu chí quan trọng góp phần hình thành văn hóa dân
tộc, trong trang phục bao gồm nhiều nội dung khác nhau như: y phục (quần áo),
đồ trang sức (vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi,…), khăn, nón, trâm càitóc, các vật trang trí trên quần áo và cơ thể con người
Trong cuốn “Ngàn năm áo mũ” của Trần Quang Đức có nhận định: “Cổ
nhân cho rằng trang phục là một phần quan trọng, thậm chí là mở đầu của lễ,
cũng tức là văn minh, để con người đúng nghĩa là con người, khác với cầm thú.”
Cũng như các dân tộc trên khắp thế giới, trang phục của người Việt cổluôn luôn phù hợp với môi trường tự nhiên, phù hợp với hoàn cảnh sống, vàthực tế lao động sản xuất Cùng với sự phát triển đi lên xã hội, khi xã hội phânchia thành giai cấp, tầng lớp thì trang phục luôn mang theo những yếu tố tâmlinh, tín ngưỡng phản ánh những ước mơ, khát vọng, phong tục tập quán củatừng dân tộc
Cũng theo tác giả Phạm Ngọc Trung, văn hóa trang phục là sự tổng hợp
những cách chế tạo, những thói quen và quan niệm thẩm mỹ của một cộng đồngdân cư để tạo ra những trang phục phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và điều kiệnkinh tế của dân tộc mình, góp phần phân biệt dân tộc này với dân tộc khác
Theo Từ điển Tiếng Việt, truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đờitrong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang phục truyền thống là quần áo và trang phục truyền thống của một
Trang 6của một nhóm người Mặc quốc phục thường mang ý niệm củng cố tinh thầnđoàn kết của một cộng đồng hay đoàn thể.
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của trang phục truyền thống Việt Nam.
Điểm qua các giai đoạn phát triển của lịch sử nước ta, sẽ thấy rất rõ mỗigiai đoạn đều có những dấu ấn về trang phục rất riêng và hàm chứa nhiều ngạcnhiên thú vị
- Thời Hùng Vương: Khác với nhiều tranh ảnh, sách truyện thường minhhọa trang phục phổ biến thời này là nam cởi trần, đóng khố bằng lá cây, nữ mặcyếm và váy ngắn khá sơ khai, theo nhiều khảo sát có cơ sở khoa học vững chắc,các nhà nghiên cứu đã khẳng định ngay từ thời kỳ đầu mở nước, nghệ thuật dệtvải đã ở trình độ cao, với ít nhất hai loại vải dệt từ cây và sợi
- Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê: Đến thời kỳ này, ngành dệt may đã cónhững bước phát triển vượt bậc, với sự xuất hiện của hàng loạt các chất liệu vảikhác nhau như vải bông thô, vải đay, vải gai, vải cát bá loại mịn, lụa…, đặc biệt
là các loại vải được dệt từ tơ tre, tơ chuối, trong đó loại vải dệt từ tơ chuối có têngọi là vải Giao Chỉ rất nổi tiếng Đồng thời, nghệ thuật thêu cũng ngày càng tinh
tế, mang đến những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, như khăn bông thêu rất đẹpđược biết đến với tên gọi “Bạch Diệp”
- Thời Lý: Là một trong những giai đoạn cực thịnh của triều đại phongkiến, vua thời Lý đã ban hành những quy định về phục trang để phân biệt giữacác tầng lớp nhân dân và quan lại Nhà vua còn thể hiện tinh thần tự lập tựcường của dân tộc qua việc không dùng gấm vóc của triều Tống để may lễ phục
mà sử dụng các chất liệu vải trong nước
- Thời Trần: Điểm nổi bật nhất trong triều đại nhà Trần chính là 3 lầnđánh bại giặc xâm lược Nguyên – Mông Do liên tiếp phải đối đầu với những kẻthù hùng mạnh, nên tâm lý sẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” luôn
Trang 7thường trực trong cuộc sống quân dân thời Trần, ảnh hưởng đến cả phục sức vàquan niệm thẩm mỹ của cả dân tộc.
- Thời Lê Mạc: Trang phục trong triều đại này đã rất gần với chiếc áo tứthân, vấn khăn mỏ quạ của phụ nữ làng quê Việt Nam vào thế kỷ 19-20, với sựxuất hiện của “mốt” để tóc dài, vấn khăn, rẽ đường ngôi giữa, mặc áo dài tứ thân
cổ tròn, thắt lưng buông dài trước bụng, váy dài và rộng Thời trang hơn, phụ nữquý tộc còn mang những dải xiêm nhiều màu sắc rủ xuống chân, góp phần manglại vẻ đẹp yểu điệu, thướt tha Trang sức cũng ngày càng đa dạng hơn về kiểudáng, màu sắc, với vòng tay tròn dẹt, hoa tai hình quả bầu, hình hoa sen haykhuyên tròn đẹp mắt
- Thời Nguyễn: Đời sống xã hội trong thời kỳ này có ảnh hưởng khôngnhỏ đến trang phục của người dân Nếu như trang phục của tầng lớp thống trịngày càng bị “pha tạp” theo lối đua đòi cải cách nửa mùa, thì trong xã hội,những phục trang truyền thống như áo dài, áo yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ,nón quai thao… đã trở thành hơi thở và là kết tinh văn hóa của cả dân tộc Trongkhi chiếc yếm đào vượt khỏi chốn cung đình để cùng người phụ nữ cần lao
“dầm mưa dãi nắng” ngoài đồng ruộng, hay cùng áo tứ thân lượt là trong nhữngbuổi hội Lim, thì thời trang phương Tây với những chiếc váy xòe, những chiếcđầm cách tân hiện đại cũng dần du nhập và được phụ nữ quý tộc trẻ ưa chuộng,trong đó Hoàng hậu Nam Phương – vị hoàng hậu cuối cùng của triều đại phongkiến Việt Nam, là người rất thích mặc trang phục Tây phương và mặc rất đẹp
- Đến thế kỷ 19,20 áo dài bắt đầu trở thành thứ trang phục không thể thiếutrong đời sống xã hội Việt, từ các bà hoàng, công chúa trong hoàng cung với cáckiểu áo dài được may trang trọng, quý phái bằng chất liệu gấm, thêu chỉ vàng…đến các bà, các cô vận áo dài đến trường, đến công sở, ra chợ, dạo phố Một thờigian dài trong thế kỷ 19-20, áo dài đã trở thành một loại thường phục được namphụ lão ấu trên đất Việt yêu chuộng Trải qua nhiều biến động lịch sử, cùng với
Trang 8sự du nhập của khuynh hướng thời trang phương Tây, áo dài đã có nhiều cải tiếntheo từng trào lưu nhất định.
II Trang phục truyền thống người Việt
2.1 Trang phục cổ truyền của người Việt
❖ Đối với nam: Khố
Khố là một dải vải, chiều ngang khoảng 10cm, chiều dài khoảng 1,2mhoặc dài hơn nữa Tùy theo chiều dài của khố mà người ta quấn thành một haynhiều vòng quanh bụng thả đuôi khố về trước hoặc sau Ở Việt Nam, hình ảnhchiếc khố có thể thấy qua các hoa văn trên trống đồng hay dấu ấn trong nhữngcâu truyện cổ tích, truyền thuyết (như truyền thuyết về Chử Đồng Tử ), đếnthời kì Pháp thuộc thì có lính khố xanh, lính khố đỏ tuy họ không mặc khốnhưng có đeo thắt lưng buông thõng tương tự như cái khố Tại miền Bắc ViệtNam, đến đầu thế kỷ XX, tại một số địa phương dân chúng vẫn còn sử dụng khố
❖ Đối với nữ: Váy và yếm
Yếm là một thứ trang phục nội y không thể thiếu của người phụ nữ Việtxưa Có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét lỗ làm cổ hai đầu của lỗ
Trang 9đính hai sợi dây cột ra sau gáy Nếu cổ tròn là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ
V gọi là yếm cổ xẻ , đít chữ V mà sẻ sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn Chiếcyếm luôn mang ý nghĩa đó là để tôn lên cái lưng ong vốnđược xem là một nétđẹp của người phụ nữ trong văn hóa Việt Nam Mặc dù yếm đào đã xuất hiện từ
xa xưa, nhưng đến thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn, chiếc yếm mới trở thành mộttrong những loại “quốc phục” được cả dân tộc nâng niu, trân trọng Chiếc yếmchính là hiện thân đầy quyến rũ, gợi cảm của nét đẹp phụ nữ Việt Nam Cónhiều loại yếm như yếm cô viên cổ tròn, yếm cổ xẻ hình chữ V, yếm cổ cánhnhạn, yếm cổ xây… Đặc biệt là loại yếm “đeo bùa” là một “vũ khí lợi hại” mangđến nhiều vấn vương cho người đối diện bởi mùi xạ hương thoang thoảng đượcgiấu bên trong yếm Quan niệm truyền thống của người Việt cho rằng: Một côgái đẹp là phải có cái lưng được thắt đáy nhỏ nhắn như cái lưng ong và nó khôngchỉ mang một dáng hình đẹp mà còn có đầy đủ tất cả những đức hạnh của mộtngười vợ, người mẹ Nét truyền thống của yếm được đưa vào rất nhiều nhữngcâu văn, câu thơ từ xưa:
“Mình về có nhớ ta chăng
Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình
Ta về ta cũng nhớ mìnhNhớ yếm mình mặc nhớ tình mình trao.”
Trang 112.2 Sự phát triển của trang phục
Đối với nam giới: chuyển sang mặc áo cánh (ở Nam Bộ gọi là áo bà ba ),quần lá tọa Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm thì nam giới ngườiViệt tiếp thu chiếc quần vào văn hóa mặc sớm nhất vào văn hóa mặc truyềnthống của Việt Nam Người Việt vốn là một dân tộc thiết thực trong cách mặc,
họ tiếp thu và đã "Việt hóa" nó thành chiếc quần lá tọa Quần lá tọa của nam giớingười Việt là một thứ quần ống rộng và thẳng, đũng sâu, cạp quần (lưng quần)
to bản Khi mặc, người đàn ông buộc dây thắt lưng ra ngoài, rồi thả phần cạpthừa phía trên rũ xuống lòe xòe ra ngoài thắt lưng (vì thế, gọi là lá tọa) Quần látọa, do đó tuyệt đối thích hợp với khí hậu nắng nôi nóng bức của Việt Nam, bởiống rộng nên đàn ông mặc nó mát mẻ không kém gì đàn bà Việt mặc váy
• Đối với nữ: mặc những bộ áo bà ba
Trang 12Áo bà ba đã trải qua giai đoạn phát triển lâu dài mới có được mẫu mã nhưngày hôm nay Áo bà ba vốn không có cổ, thân áo được may bằng vải nguyên vàphần thân trước chia làm hai mảnh, nối lại với nhau bằng cúc Áo bà ba cho nữthì có chít eo ở hai bên hông làm tôn vinh lên dáng của nữ giới.
Thời đại trước áo bà ba thường được sử dụng ở tầng lớp nông dân vớikiểu áo màu nâu hoặc đen, chất liệu sử dụng là chất liệu nhanh khô, đem lại sựtiện lợi Sau này áo bà ba còn cải tiến thêm ở chỗ nút bấm để tạo thêm điểmnhấn Ngoài ra áo bà ba còn có thể nhuộm rất nhiều màu sắc khác nhau nhưxanh, vàng, hồng, và được may sáng tạo với kiểu tay, cổ khác nhau
Áo bà ba cũng tượng trưng cho hình ảnh của người phụ nữ Việt Nammạnh mẽ, kiên cường trong các cuộc chiến tranh chống giặc và giữ nước Hìnhảnh người phụ nữ Nam Bộ luôn gắn với 3 vật bất ly thân: nón lá, khăn rằn, áo bà
ba Những hình ảnh của các chị, các mẹ xông pha trong chiến đấu vẫn đẹp vàlung linh cho đến ngày nay
2.3 Trang phục truyền thống trong lễ hội
Nhìn chung, trang phục hằng ngày cũng như trong lao động của ngườidân quê hết sức đơn giản, gọn nhẹ, nhưng trong lễ hội người dân Việt lại ăn mặckhá tơm tất thậm chí rất cầu kì, đa dạng
• Đối với đàn ông: mặc áo dài the lụa, gấm, quần ông sớ, chít khăn xếp, đigiày hay dép
Trang 13Chiếc áo dài của nam giới: Cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài quá gối.
Áo dài thường màu đen, chất liệu là lương, the hoặc đối với người khá giả hơnthế áo ngoài may bằng đoạn màu đen, cũng có người áo dài phủ ngoài may hailần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần trong bằng lụa mỏng màuxanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là áo kép Cùng với quần, áo,khăn xếp, dép người nam dùng ô đen
Các phụ kiện khác là khăn tay, lược, những “xa xỉ phẩm” theo quan niệmthời xưa Khăn tay bằng lụa hoặc bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vànhkhăn, thắt lưng hoặc trong túi trong Chiếc áo dài nam của người đàn ông Việt
đã vô cùng tối giản Nó mang tính giáo dục rất cao, khi ta mặc bộ trang phục lênngười, nó buộc chúng ta phải có phong thái nghiêm trang, đĩnh đạc, ngay lập tức
ta biến thành một con người hoàn toàn khác
• Đối với đàn bà: mặc áo tứ thân
Áo tứ thân: Khi mặc áo tứ thân, người phụ nữ sử dụng ba lớp: ngoài cùng
là 4 mảnh vải chia đều, tiếp đến là áo cánh và trong cùng là áo yếm
Lớp ngoài áo dài từ cổ xuống đầu gối, phần thanh sau mép dọc được khâu
Trang 14tuổi thì sử dụng áo yếm màu đậm và phụ nữ trẻ thì mặc màu đỏ Khi mặc áo tứthân luôn kèm với chiếc thắt lưng làm từ vải lụa hay cái “ruột trượng” đượcdùng để đựng tiền và đồ vặt nhỏ.
Thời kì đầu áo tứ thân chỉ có những gam màu tự nhiên, sử dụng màunhuộm có sẵn trong thiên nhiên Trải qua nhiều thời kì, đến nay áo đã được mayvới nhiều loại chất liệu và màu sắc khác nhau, làm nổi bật hơn hình ảnh của áo
Áo tứ thân dài gần chấm gót thường mặc cùng với quần lĩnh đen và khăn mỏquạ, nón quai thao Trong bài bài hát "Chân quê" của Nguyễn Bính đã tả hìnhảnh truyền thống của người phụ nữ Việt Nam:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?