1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận một sự kiện thuộc phạm vi Điều chỉnh của luật quốc tế và chỉ rõ nguyên tắc cơ bản nào Được luật quốc tế áp dụng

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận một sự kiện thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế và chỉ rõ nguyên tắc cơ bản nào được luật quốc tế áp dụng
Tác giả Ngô Mạnh Hùng, Văn Thị Mai Anh, Nguyễn Nữ Tố Lan, Nguyễn Lệ Huyền Trang
Người hướng dẫn TS Nguyễn Lan Nguyên
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Công pháp Quốc tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦUTừ khi Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký vào ngày 26/06/1945 tại San Francisco có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 cho đến nay; cùng với những nội dung cơ bản về mục đích, nguyên t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

ĐỀ TÀI BÌNH LUẬN MỘT SỰ KIỆN THUỘC PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT QUỐC TẾ VÀ CHỈ RÕ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

NÀO ĐƯỢC LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG

Giảng viên : TS Nguyễn Lan Nguyên

Học phần : Công pháp Quốc tế

Học viên : Ngô Mạnh Hùng - 23068071

Văn Thị Mai Anh - 23068059 Nguyễn Nữ Tố Lan - 23068082 Nguyễn Lệ Huyền Trang - 23068096 Lớp : QH-2023-L-VB2-A3

Hà Nội, tháng 08 năm 2024

1

Trang 2

I PHẦN MỞ ĐẦU

Từ khi Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký vào ngày 26/06/1945 tại San Francisco có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 cho đến nay; cùng với những nội dung

cơ bản về mục đích, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức hoạt động, quy chế thành viên, các

cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc, ta có thể thấy rõ vai trò điều chỉnh mối quan

hệ giữa các quốc gia đặc biệt thông qua những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế (Ghi nhận trong Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố ngày 24/10/1970) Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là thước đo giá trị hợp pháp của mọi nguyên tắc, mọi quy phạm pháp luật của Luật quốc tế; là căn cứ pháp lý

để giải quyết các tranh chấp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thường được viện dẫn trong hệ thống các cơ quan của Liên hợp quốc và là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Luật quốc tế Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế luôn đóng vai trò là khuôn mẫu xử sự và là thước đo giá trị pháp lý của tất cả các quy phạm luật quốc tế, kể cả pháp luật quốc gia

Lấy nội dung là sự kiện Cộng hòa Nicaragua chống lại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) vào năm 1984 - 1986 Sự kiện là một

trong những vụ kiện nổi bật trong lịch sử, được coi là một tiền lệ quan trọng trong việc áp dụng và thực thi luật pháp quốc tế; đặc biệt là trong các vụ kiện liên quan đến can thiệp quân sự và vi phạm chủ quyền quốc gia Nhóm học viên chúng em xin trình bày khái quát chung về Luật quốc tế, nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

để từ đó bình luận về sự kiện thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế và chỉ rõ những nguyên tắc cơ bản của luật được áp dụng

Trang 3

II PHẦN NỘI DUNG

1 Khái quát chung về Luật quốc tế

1.1.Định nghĩa Luật quốc tế

Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên trên cơ sở

tự nguyện và bình đẳng, nhằm điểu chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế

1.2.Chủ thể của Luật quốc tế

Chủ thể của Luật quốc tế là bộ phận cấu thành cơ bản của quan hệ pháp luật quốc tế, là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào những quan hệ

đó một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế về những hành vi mà chính chủ thể thực hiện

Từ định nghĩa trên, ta thấy chủ thể đầu tiên, chủ yếu của pháp luật quốc tế là quốc gia Quốc gia chính là trung tâm của quan hệ quốc tế Các tổ chức quốc tế liên chính phủ do các quốc gia thỏa thuận thành lập phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại là chủ thể hạn chế của luật quốc tế, vì tổ chức quốc tế liên chính phủ chỉ có một số quyền và nghĩa vụ hạn chế do các quốc gia thành viên thỏa thuận giao cho Bên cạnh đó, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được coi là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế

1.3.Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế

Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh riêng, điều chỉnh một số quan hệ

xã hội nhất định Luật quốc gia điều chỉnh mối quan hệ phát sinh trong phạm vi của quốc gia Còn luật quốc tế có nhiêm vụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế Quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn quốc tế gồm: quan hệ chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội giữa các quốc gia

Trang 4

và các chủ thể khác của Luật quốc tế với nhau Không giống với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế là những quan hệ mang tính quốc gia, liên chính phủ phát sinh trong mọi mặt của đời sống quốc tế

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế là các quan hệ liên quốc gia (liên chính phủ) giữa các quốc gia và các thực tế quốc tế khác phát sinh trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, mà chủ yếu là khía cạnh chính trị của những lĩnh vực đó

2 Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

2.1 Khái niệm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

Về phương diện pháp lý quốc tế, thuật ngữ “các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế” dùng để chỉ các nguyên tắc được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 và còn được ghi nhận trong Tuyên bố ngày 24/10/1970

Có thể hiểu, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, nền tảng, bao trùm và có giá trị bắt buộc chung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể của luật quốc tế áp dụng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lĩnh vực của quan hệ quốc tế Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đặt nền tảng và khuôn khổ pháp lý cho việc pháp điển hóa và thực thi hệ thống pháp luật quốc tế, nhằm bảo vệ hòa bình, an ninh quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia, bảo vệ quyền con người

2.2 Đặc điểm của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

- Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính mệnh lệnh chung

- Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính bao trùm nhất

- Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính phổ cập

- Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có mối quan hệ tương tác trong một chỉnh thể thống nhất

Trang 5

2.3 Vấn đề hệ thống hóa các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế

 Giai đoạn 1 Các nguyên tắc được ghi nhận lần đầu tiên trong Điều 2 Hiến:

chương Liên Hợp Quốc năm 1945 bao gồm:

- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

- Nguyên tắc tận tâm thực hiện cam kết quốc tế

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế

- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội của các quốc gia

 Giai đoạn 2: Các nguyên tắc được Tuyên bố ngày 24/10/1970

- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

- Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết

3 Vụ kiện Cộng hòa Nicaragua chống lại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) năm 1984 - 1986

3.1.Bối cảnh

 Sự kiện

- Can thiệp quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ tại Nicaragua diễn ra dưới thời Tổng thống Taft Năm 1909, ông ra lệnh lật đổ Tổng thống Nicaragua José Santos Zelaya Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1912, một đội quân gồm 2.300 lính hải quân Mỹ đổ bộ vào cảng Corinto và chiếm giữ León và đường ray đi đến Granada Một chính quyền thân Mỹ được lập ra bởi quân chiếm đóng Hiệp ước Bryan - Chamorro năm 1914 trao quyền cai quản kênh đào vĩnh viễn cho Hoa Kỳ tại Nicaragua và được ký mười ngày trước khi Kênh đào Panama do Hoa Kỳ vận hành bắt đầu đưa vào sử dụng, từ đó ngăn không cho bất kỳ ai xây dựng một kênh đào cạnh tranh tại Nicaragua mà không có sự cho phép của Hoa Kỳ

- Năm 1927, dẫn đầu bởi Augusto César Sandino, một cuộc khởi nghĩa nông

Trang 6

dân lớn nổ ra, chống lại cả quân Mỹ chiếm đóng và chính quyền Nicaragua lâm thời Năm 1933, Hải quân Hoa Kỳ rút lui và để Lực lượng Vệ binh Quốc gia Nicaragua chịu trách nhiệm an ninh và bầu cử trong nước Năm 1934, Anastasio Somoza García, người đứng đầu Vệ binh Quốc gia, ra lệnh binh lính bắt và giết Sandino Năm 1937, Somoza lên làm tổng thống, trong khi vẫn kiểm soát lực lượng vệ binh, tạo thành một chính quyền độc tài mà gia đình ông kiểm soát cho đến năm 1979

- Năm 1979, chế độ Sandinista giảnh chính quyền ở Nicaragua và mở chiến dịch giải phóng Honduras, El Salvador và Costa Riea Niearagua cung cấp vũ khi, đạn được, trang thiết bị khí tài, tài chính cho phong trào kháng chiến El Salvador

- Ngày 23/11/1981, Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Rengan kỳ Chi thị 17 trao quyền cho Cục tỉnh bảo trung ương (CIA) thành lập lực lượng Contra để lật đổ chế

độ Sandinista ở Nicaragua, đồng thời viện trợ quản sự cho Honduras và Bl Salvador Hoa Kỳ đã đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contras và hỗ trợ các hoạt động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua

- Trong các năm 1983 - 1984, Hoa Kỳ tấn công vũ trang vào Nicaragua bằng đường biển, đường bộ và đường không vào các căn cứ Puerto Sandino, Corinte, potosi và các tàu tuần tra ở Puerto Sandino Đồng thời, Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng các biện pháp trực tiếp và giản tiếp để cưỡng ép và đe dọa chính phủ Nicaragua,

sử dụng vũ lực và đe đọa sử dụng vũ lực chống lại Nicaragua bằng việc đặt mìn ở nội thủy và lãnh hải của Nicaragua trong những tháng đầu năm 1984, can thiệp vào công việc nội bộ của Nicarngua, cản trở thương mại đường biển hòa bình, giết hại, gây thương vong và bắt cóc người dân Nicaragua

 Thời gian: Ngày 09/04/1984, Cộng hòa Nicaragua kiện Hợp chúng quốc Hoa

Kỳ lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ)

 Chủ thể tham gia

- Cộng hòa Nicaragua: Là nguyên đơn

Trang 7

- Hợp chúng quốc Hoa Kỳ: Là bị đơn

Đây đều là những thực thể độc lập, có khả năng nhân danh bản thân để thiết lập và tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế; có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế cũng như khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi

do mình thực hiện

 Đối tượng điều chỉnh là quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chính trị, quân sự giữa Nicaragoa và Hoa Kỳ

3.2 Các cáo buộc chính:

Nicaragua cáo buộc Hoa Kỳ rằng:

 Hoa Kỳ qua việc tuyển chọn, đào tạo, trang bị, tài trợ, cung cấp và đồng thời khích lệ, ủng hộ, giúp đỡ, và chỉ đạo các hoạt động quân sự và bán quân sự trong

và chống lại Nicaragua, đã vi phạm nghĩa vụ hiệp ước với Nicaragua theo:

- Điều 2 (4) của Hiến chương Liên Hợp Quốc

- Điều 18 và 20 của Hiến chương của Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ

- Điều 8 của Công ước về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia

- Điều I, thứ ba, của Công ước về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia trong trường hợp Nội chiến

 Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế:

- Xâm phạm chủ quyền của Nicaragua:

 Tấn công vũ trang chống lại Nicaragua qua đường hàng không, đất liền, và biển

 Xâm nhập vào lãnh hải của Nicaragua

 Xâm nhập vào không phận của Nicaragua

Trang 8

 Nỗ lực trực tiếp hoặc gián tiếp để ép buộc và đe dọa Chính phủ Nicaragua

- Sử dụng vũ lực và đe dọa vũ lực chống lại Nicaragua

- Can thiệp vào công việc nội bộ của Nicaragua

- Xâm phạm vào tự do biển cả và làm gián đoạn giao thương hàng hải hòa bình

- Giết hại, làm thương và bắt cóc công dân của Nicaragua

Nicaragua yêu cầu dừng tất cả những hành động trên và rằng Hoa Kỳ có nghĩa

vụ bồi thường chính phủ cho tổn thất về người, tài sản và kinh tế

3.3 Lập luận của Hoa Kỳ

 Quyền tự vệ tập thể: Hoa Kỳ lấy lý do vì Nicaragua gây chiến sự xuyên biên giới El Salvador và một số nước khác, đe đọa đến an toàn cho Hoa Kỳ Vì vậy Hoa Kỳ sử dụng quyền tự vệ tập thể để chống lại Nicaragua

 Thiếu thẩm quyền: Hoa Kỳ là nước duy nhất đưa ra lập luận nghi ngờ tính hợp

lệ của phán quyết của tòa, cho rằng tòa đã thông qua một phán quyết mà tòa "không

có thẩm quyền hay khả năng để thi hành"

3.4 Kết luận của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ)

 Tòa tìm thấy bằng chứng của việc vận chuyển vũ khí giữa Nicaragua và quân phiến loạn ở El Salvador từ năm 1979 - 1981 Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng

để cho thấy chính phủ Nicaragua đứng đằng sau vụ việc hay phản ứng của Hoa Kỳ

có phù hợp hay không

 Tòa cũng phát hiện một số việc xâm nhập xuyên biên giới vào lãnh thổ Guatemala và Costa Rica, trong các năm 1982, 1983 và 1984, không thể quy cho Chính phủ Nicaragua Tuy nhiên, cả Guatemala lẫn Costa Rica đều không yêu cầu

Mỹ can thiệp; El Salvador có yêu cầu năm 1984, lâu sau khi Hoa Kỳ đơn phương can thiệp

Trang 9

 Về việc vi phạm quyền con người của Contras, Tòa phải quyết định xem mối quan hệ của Contras với Hoa Kỳ có làm Contras tương đương về mặt pháp lý với một cơ quan của Chính phủ Hoa Kỳ Tòa quyết định rằng chứng cứ có sẵn không

đủ để cho thấy sự phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Hoa Kỳ

 Tòa kết luận rằng Hoa Kỳ, mặc cho những phản đối, thuộc thẩm quyền của Tòa

án Ngày 26 tháng 11 năm 1984, Tòa bỏ phiếu với 11 phiếu thuận rằng nó có thẩm quyền đối với vụ việc trên cơ sở Điều 36 của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (thẩm quyền bắt buộc) hoặc trên Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải năm

1956 giữa Hoa Kỳ và Nicaragua Tòa cũng đồng loạt nhất trí rằng vụ việc là chấp nhận được

3.5 Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ)

 Ngày 27 tháng 6 năm 1986, Tòa án đưa ra phán quyết như sau:

1 Quyết định rằng trong việc xét xử tranh chấp đưa ra bởi Khiếu nại của Cộng hòa Nicaragua ngày 9 tháng 4 năm 1984, Tòa án buộc phải áp dụng "bảo lưu hiệp ước đa phương" có trong điều (c) cho tuyên bố chấp chận thẩm quyền theo Điều

36, đoạn 2, của Hiến chương Tòa án bởi Chính phủ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ký gửi ngày 26 tháng 8 năm 1946;

2 Bác bỏ biện minh tự vệ tập thể đưa ra bởi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ liên quan đến hoạt động quân sự và bán quân sự trong và chống lại Nicaragua, bên đưa đơn

vụ kiện;

3 Quyết định rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, qua việc huấn luyện, trang bị, tài trợ và cung cấp lực lượng Contras hoặc trong trường hợp khác khuyến khích, ủng

hộ và viện trợ hoạt động quân sự và bán quân sự trong và chống lại Nicaragua, đã hành động chống lại Cộng hòa Nicaragua, vi phạm trách nhiệm của mình dưới luật pháp quốc tế không can thiệp vào vấn đề nội bộ của Quốc gia khác;

Trang 10

4 Quyết định rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, qua một số vụ tấn công vào lãnh thổ Nicaragua trong 1983–1984, cụ thể là các vụ tấn công Puerto Sandino ngày 13 tháng 9 và ngày 14 tháng 10 năm 1983; vụ tấn công Corinto ngày 10 tháng 10 năm 1983; vụ tấn công Căn cứ Hải quân Potosi ngày 4/5 tháng 1 năm 1984; vụ tấn công San Juan del Sur ngày 7 tháng 3 năm 1984; các vụ tấn công tàu tuần tra ở Puerto Sandino ngày 28 và 30 tháng 3 năm 1984; và vụ tấn công San Juan del Norte ngày 9 tháng 4 năm 1984; và ngoài ra qua những hành động can thiệp được

đề cập trong tiểu đoạn (3) liên quan đến việc sử dụng vũ lực, đã hành động, chống lại Cộng hòa Nicaragua, vi phạm trách nhiệm của mình dưới luật pháp quốc tế không sử dụng vũ lực chống lại Quốc gia khác;

5 Quyết định rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, qua việc chỉ đạo hoặc ủy quyền các chuyến bay xâm nhập lãnh thổ Nicaragua, và qua những hành động có thể quy cho Hoa Kỳ được đề cập trong tiểu đoạn (4), đã hành động, chống lại Cộng hòa Nicaragua, vi phạm trách nhiệm của mình dưới luật pháp quốc tế không xâm phạm chủ quyền của Quốc gia khác;

6 Quyết định rằng, qua việc thả ngư lôi vào nội thủy hay lãnh hải của Cộng hòa Nicaragua trong những tháng đầu năm 1984, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã hành động, chống lại Cộng hòa Nicaragua, vi phạm trách nhiệm của mình dưới luật pháp quốc tế không dùng vũ lực chống lại Quốc gia khác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước đó, không xâm phạm chủ quyền và không làm gián đoạn giao thương hàng hải thời bình;

7 Quyết định rằng, qua những hành động được nói đến trong tiểu đoạn (6), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã hành động, chống lại Cộng hòa Nicaragua, vi phạm trách nhiệm của mình dưới Điều XIX của Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải giữa Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Cộng hòa Nicaragua ký tại Managua ngày 21 tháng 1 năm 1956;

8 Quyết định rằng Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, qua việc không tiết lộ sự tồn tại

và vị trí của ngư lôi mình đã thả, được đề cập đến trong tiểu đoạn (6), đã hành

Ngày đăng: 06/01/2025, 08:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4] Bài viết "Trung Quốc lợi dụng kẽ hở trong luật pháp để theo đuổi bá quyền ở Đông Á", địa chỉ: http://nghiencuubiendong.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc lợi dụng kẽ hở trong luật pháp để theo đuổi bá quyềnở Đông Á
[5] Bài viết "18/01/1985: Mỹ phớt lờ Tòa án Công lý Quốc tế", nguồn: "United States walks out of World Court case," History.com, biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng, địa chỉ: http://nghiencuuquocte.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18/01/1985: Mỹ phớt lờ Tòa án Công lý Quốc tế", nguồn: "UnitedStates walks out of World Court case
[6] Bài viết "Bài học từ vụ kiện Nicaragua - Mỹ"địa chỉ: Bài học từ vụ kiện Nicaragua – Mỹ | biendong.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học từ vụ kiện Nicaragua - Mỹ
[7] Xem "Nicaragua vs United state (summary) on self defence and use of force", địa chỉ: https://ruwanthikagunaratne.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nicaragua vs United state (summary) on self defence and use offorce
[1] Xem Giáo trình Công pháp quốc tế (2014), PGS.TS Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[2] Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970:Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc Khác
[3] Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm