Vì vậy, nền kinh tế muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững, thì phải phát huy tốt mọi nguồn lực, nhưng quan trọng nhất là phải biết tận dụng “Qui luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản x
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN : TRIẾT HỌC MÁC-LENIN
Đề tài:
QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA KINH TẾ TRI
THỨC HIỆN NAY Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THÀNH TRÍ
Nhóm 6:
23718011 Trần Thu Thủy
23724871 Nguyễn Thị Hiền Thục
23719781 Nguyễn Phương Thy
23672501 Ngô Ngọc Thúy
23698861 Lê Hồ Thu Thủy
23699291 Đỗ Thị Ngọc Tâm
23697721 Bùi Chí Thanh
Trang 223736751 Nguyễn Huỳnh Minh Thư
Mục lục
A LỜI MỞ ĐẦU: - 3
B MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: - 3
C NỘI DUNG - 5
I Các khái niệm cơ bản: - 5
II Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - 7
III Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất : - 8
IV Nền kinh tế tri thức : - 9
D KẾT LUẬN: - 11
E TÀI LIỆU THAM KHẢO: - 12
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU:
Lịch sử Triết học là một phần học trong chương trình môn Triết học Mác - Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng giúp người học nắm được quá trình hình thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của tư duy triết học nhân loại, đồng thời nhận thấy
rõ sự ra đời của phát triển của triết học Mác - Lênin là một tất yếu hợp quy luật chứ không phải là một trào lưu biệt lập nằm ngoài dòng chảy của văn minh nhân loại
Việt Nam tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ một nền kinh tế còn phổ biến
là sản xuất nhỏ, ruộng đất canh tác bình quân đầu người thấp,tài nguyên khoáng sản tuy đa dạng phong phú, song trữ lượng không lớn như nhiều nước khác, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế, khoa học, kỹ thuật so với các nước phát triển Vì vậy, nền kinh tế muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững, thì phải phát huy tốt mọi nguồn lực, nhưng quan trọng nhất
là phải biết tận dụng “Qui luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình vận dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”
Ngày nay, nhiều nước đang tiến vào làn sóng văn minh mới, với nền sản xuất hiện đại, khoa học, kỹ thuật công nghệ tiên tiến Nhiều nước cách đây mấy chục năm có điểm xuất phát thấp hơn Việt Nam, nhưng họ đã phát triển nhanh chóng nhờ có chiến lược phù hợp, có những chính sách khôn ngoan, năng động Nhiều quốc gia vốn cùng nghèo về tài nguyên khoáng sản, nhưng nhờ biết phát huy yếu tố “Qui luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất trong quá trình vận dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức hiện nay”, đặt con người ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, nên đã vươn lên đuổi kịp và vượt các nước khác
B MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đối với việc nghiên cứu đề tài trên nhằm những mục đích sau:
- Củng cố kiến thức và hiểu biết thêm về môn triết học liên quan đến đời sống như thế nào
- Rèn luyện được kỹ năng nghiên cứu dựa trên việc tìm kiếm và tham khảo từ nhiều nguồn
Trang 4- Hiểu rõ hơn về vấn đề các mối quan hệ và những đổi mới ảnh hưởng như thế nào trong đời sống hiện tại
Trang 5C NỘI DUNG
I Các khái niệm cơ bản:
a. Phương thức sản xuất :
- Là phương pháp con người sử dụng trong quá trình sản xuất của cải vật chất Mỗi giai đoạn của lịch sử sẽ có một phương thức sản xuất khác nhau Tương ứng với từng phương thức sản xuất, những đặc điểm, tính chất và kết cấu sẽ được hình thành cùng với sự phát triển của xã hội
- Nói cách khác, phương thức sản xuất là “ tổng thể hữu cơ ” ( hay tái sản xuất tổng thể ) của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đó là quá trình con người sử dụng những công cụ lao động, tài nguyên thiên nhiên để tác động vào tự nhiên và tạo ra của cải vật chất, phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người
- Mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có một phương thức sản xuất riêng Sự kế thừa và thay thế tiếp nối nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ cổ đại đến hiện đại
- Trong xã hội nguyên thủy, phương thức sản xuất là những kĩ thuật đánh bắt tự nhiên, vũ khí thô sơ, không có sự sáng tạo Còn đối với xã hội hiện đại, phương thức sản xuất đã có những yêu cầu cao hơn, về trình độ, bằng cấp, kinh nghiệm và công nghệ
- Là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất và sức lao động mà người ta dùng cho sản xuất, trong đó quan trọng nhất là sức lao động
- Lực lượng để sản xuất ra của cải phải gồm có người lao động và tư liệu sản xuất Do đó hai yếu tố này tạo thành lực lượng sản xuất Trước hết là công cụ lao động để tạo ra sức sản xuất vật chất nhất định Kết cấu của lực lượng sản xuất bao gồm:
+ Người lao động (lực lượng lao động)
+ Tư liệu sản xuất gồm:
∙ Đối tượng lao động hay đối tượng sản xuất: đất đai, nguyên vật liệu, thông tin
Trang 6∙ Công cụ lao động hay công cụ sản xuất
∙ Phương tiện lao động: đường xá, cầu cống, bến bãi, kho
∙ Khoa học - kĩ thuật
- Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất; được thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định; được biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất Gắn với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hoá Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình
độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất trở thành không phù hợp, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, tất yếu dẫn đến việc thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời
c. Quan hệ sản xuất:
- Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất
- Là hình thức xã hội của sản xuất, nó do con người tạo ra, nhưng lại hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Các quan hệ kiểm soát và phân chia sản phẩm được sản xuất ra trong xã hội, thông thường được đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội Quan hệ sản xuất bao gồm:
+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
∙ Là quan hệ xã hội giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải trong xã hội nhất định, mối quan hệ này đòi hỏi phải có hai người trở lên Như vậy, sở hữu về tư liệu sản xuất
là quan hệ giữa người và người hoặc giữa các cộng đồng người trong việc chiếm hữu về tư liệu sản xuất xã hội
∙ Sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ khác vì đây là quan hệ trung tâm của quan hệ sản xuất Bởi lẽ, ai nắm trong tay tư liệu sản xuất, người đó sẽ quyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm
Trang 7∙ Có hai hình thức cơ bản, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất.Trong
đó :
▪ Sở hữu tư nhân là sở hữu đối với tài sản hợp pháp của mình (nó bao gồm 3 loại nhỏ đó là cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân)
▪ Sở hữu về tư liệu sản xuất gồm hai hình thức đó là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Các thành phần sở hữu ở nước ta, toàn dân (nhà nước), tập thể, tư bản tư nhân (tư bản nhà nước,
và cá nhân) đã và đang phát huy tác dụng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý nhà nước đã tạo sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế và giữ được sự ổn định về chính trị gắn với công bằng tiến bộ xã hội…
=> Các quan hệ sản xuất về sở hữu hiện nay đang dần được luật hóa thông qua các bộ luật
khác nhau để thể hiện sức sống tốt đẹp của nó và phát huy sức mạnh của nó trong cuộc sống.
+ Quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất
∙ Quan hệ này hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bởi vì, những chủ thể xã hội nào nắm tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, thì họ sẽ là người nắm vai trò tổ chức và quản lý sản xuất vật chất của xã hội Quan hệ điều hành quản lý sản xuất hiện nay trong các thành phần kinh tế được luật pháp bảo vệ và theo hướng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hai bên cùng có lợi
∙ Đặc biệt, với chủ trương cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất - kinh doanh giữa các thành phần kinh tế cũng như thực hiện thi đua yêu nước trong hoạt động kinh tế đã làm cho tính ưu việt của chế độ ta trong lĩnh vực kinh tế xã hội hiện nay ngày một phát huy hiệu quả
+ Quan hệ trong phân phối sản phẩm
∙ Quan hệ này phụ thuộc vào quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bới vì, chủ thể xã hội nào nắm tư liệu sản xuất thì đồng thời họ là người có mức hưởng thụ nhiều hơn, và là người
có quyền quyết định phân phối sản phẩm vật chất của xã hội
∙ Quan hệ này có vai trò thúc đẩy tốc độ của nền kinh tế, tăng nhịp điệu sản xuất và năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Ngược lại, nếu quan hệ phân phối sản phẩm lao động không được thực hiện tốt thì có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất
=> Trong ba mặt quan hệ của quan hệ sản xuất đều có sự tác động qua lại lẫn nhau Nhưng
quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ giữ vai trò quyết định trong quan hệ sản xuất.
Tuy nhiên, các mặt còn lại cũng có vai trò quan trọng trong quan hệ sản xuất, tác động đến sự
Trang 8kết hợp giữa các yếu tố sản xuất cũng như động lực của người lao động Vì thế không thể xem nhẹ bất kỳ mặt nào trong quan hệ sản xuất
- Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó, theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
II Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được xem là hai khía cạnh của phương thức sản xuất, giữa chúng tồn tại mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau Chúng phụ thuộc và tác động lẫn nhau tạo thành quy luật xã hội cơ bản của lịch sử loài người Quy luật thể hiện động lực và xu thế phát triển của lịch sử
a Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
- Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và của người lao động
Có tính cá thể hoặc xã hội, thể hiện sự đòi hỏi trong nền sản xuất
- Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện qua trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động của con người, sự phát triển của các công cụ lao động, trình độ phân công lao động và tổ chức quản lí lao động xã hội, quy mô của nền sản xuất
- Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời và phát triển của quan hệ sản xuất, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa người lao động với nhau
b Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
- Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất và chỉ làm biến đổi cục bộ chứ không thể thay đổi toàn diện bởi quy luật này thể hiện sự cân đối hài hòa của bản chất mối quan hệ trên
- Lực lượng sản xuất được xem là nội dung của quá trình sản xuất có xu hướng phát triển và biến đổi thường xuyên, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có yếu tố
Trang 9tương đối ổn định và bảo thủ, khi nội dung thay đổi làm hình thức thay đổi theo.
- Sự phù hợp giữa chúng tạo động lực giúp cho sản xuất phát triển cân đối, có hiệu quả giữa các yếu tố, làm tăng năng suất lao động đồng thời giảm chi phí và thời gian sản xuất
c Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất
- Trong mối quan hệ biện chứng, quan hệ sản xuất giữ vai trò hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, là tiền đề tạo ra mục tiêu thích hợp cho lực lượng sản xuất Do đó quan hệ sản xuất
đã tác động trở lại, quy định mục đích, cách thức sản xuất và phân phối những lợi ích từ quá trình sản xuất, gây ra tác động trực tiếp tới thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động và ngược lại Từ đó
có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Sự phù hợp giữa giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo động lực và điều kiện giúp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
- Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời do tính chất ổn định không còn phù hợp với tính chất vận động của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất, điều này thường xảy ra trong lịch sử do sự vận động của xã hội Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong điều kiện nhất định và mức giới hạn quy định Đây được xem là quy luật
cơ bản, chi phối sự vận động của xã hội loài người và không ngừng phát triển phá vỡ sự phù hợp Khi cả hai không đồng nhất, phù hợp với nhau sẽ tạo ra mâu thuẫn về mặt xã hội được gọi là mâu thuẫn giai cấp và chỉ mang tính chất tạm thời, khi đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ sẽ được giải quyết bằng cách thay thế quan hệ sản xuất
cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất
III Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất :
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội
- Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét
Trang 10đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công
cụ lao động
a)
Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất:
- Tính chất của Lực lượng sản xuất: Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ
chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa
- Trình độ của lực lượng sản xuất: Được thể hiện qua trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động
của con người, trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, ứng dụng khoa học vào sản xuất
=> Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời và phát triển của quan
hệ sản xuất, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa người lao động với nhau
b)
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
- Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất Và chỉ làm biến đổi cục bộ chứ không thể thay đổi toàn diện bởi quy luật này thể hiện sự cân đối hài hòa của bản chất mối quan hệ trên
- Lực lượng sản xuất được xem là nội dung của quá trình sản xuất có xu hướng phát triển và biến đổi thường xuyên, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có yếu tố tương đối ổn định và bảo thủ, khi nội dung thay đổi làm hình thức thay đổi theo Sự phù hợp giữa chúng tạo động lực giúp cho sản xuất phát triển cân đối, có hiệu quả giữa các yếu tố, làm tăng năng suất lao động đồng thời giảm chi phí và thời gian sản xuất
c)
Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất:
- Trong mối quan hệ biện chứng, quan hệ sản xuất giữ vai trò hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, là tiền đề tạo ra mục tiêu thích hợp cho lực lượng sản xuất Do đó quan hệ sản xuất
đã tác động trở lại, quy định mục đích, cách thức sản xuất và phân phối những lợi ích từ quá trình sản xuất, gây ra tác động trực tiếp tới thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động và ngược lại Từ đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo động lực và điều kiện giúp thúc