Trong chủ nghĩa Mác - Lênin thì lý luận nhận thức duy vật biện chứng là một nội dung cơ bản, đó là học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới thông qua hoạt động thự
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG THƯƠNG TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o BÀI TẬP TIỂU LUẬN HỌC PHẦN:
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
NHÓM: 7
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2023
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG THƯƠNG TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2023
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2
1 Thực tiễn là gì ? 2
Nhóm: 7
Trưởng nhóm:
Huỳnh Nguyễn Thanh Tuyền - 2022231436
Thành viên:
1 Ngô Hồng Điểm - 2022231520
2 Nguyễn Đình Quỳnh Nhi - 2022230062
3 Lê Thành Tài – 2022231687
4 Nguyễn Ngọc Phương Trang -2022230096
5 Lê Nguyễn Ngọc Yến - 2022231404
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Cẩm Tú
Trang 31.2 Đặc trưng 2
1.3 Các hình thức cơ bản 4
1.3.1 Hoạt động sản xuất vật chất 4
1.3.2 Hoạt động chính trị - xã hội 4
1.3.3 Hoạt động thực nghiệm khoa học 5
2 Vai trò thực tiễn đối với nhận thức 5
2.1 Thực tiễn là cơ sở, động lựa của nhận thức 6
2.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức 7
2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lí 8
3 Thực tiễn từ kết quả thi TNPTQG 2023 9
KẾT LUẬN 12
NGUỒN THAM KHẢO 13
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Thực tiễn là gì? Thực tiễn có phải là những hoạt động, những việc, những diễn biết
mà chúng ta tác động đến, diễn ra xoay quanh cuộc sống chúng ta và hiện hữu để chúng ta nhìn thấy, nắm được và biết đến chúng hay không?
Trong chủ nghĩa Mác - Lênin thì lý luận nhận thức duy vật biện chứng là một nội dung cơ bản, đó là học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới thông qua hoạt động thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến thế giới khách quan, thực tiễn là hoạt động vật chất Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của con người đề là hoạt động thực tiễn Mục đich cuối cùng của bài luận là tìm hiểu rõ ràng về thực tiễn trong triết học đồng thời giúp chúng ta hiểu sâu hơn về một trong những phạm trù cơ bản quan trọng của triết học
Trang 5NỘI DUNG
1.Thực tiễn là gì ?
1.1 Khái niệm
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác -Lênin nói chung và lý luận nhận thức Mác nói riêng Trong lịch sử triết học, đây là một phạm trù được nghiên cứu lâu đời, có nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra Chẳng hạn như chủ nghĩa duy tâm cho rằng hoạt động thực tiễn là hoạt động tạo ra vũ trụ của Đấng sáng tạo thì các nhà triết học trước Mác đã có những quan điểm đúng đắn hơn về mặt nhận thức Họ hiểu được thực tiễn là một hoạt động vật chất của con người nhưng chưa một ai có thể hiểu chính xác về bản chất của thực tiễn
Khắc phục những sai lầm, kế thừa và phát triển những quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, triết học Mác - Lênin đã có quan điểm về nhận thức như
sau: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ.”
1.2 Đặc trưng
Từ quan niệm trên về thực tiễn ta có thể thấy thực tiễn gồm những đặc trưng sau:
Thực tiễn là những hoạt động vật chất - cảm tính của con người
Thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính, hay đó là những hoạt động vật chất của con người cảm giác được; nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vật chất này Hoạt động vật chất - cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng Trên cơ sở
đó, con người mới làm biến đổi được thế giới khách quan phục vụ cho mình
Trang 6VD: Con người thấy nước chảy và sử dụng sức chảy của dòng nước để tạo ra điện, phát minh và nâng cấp từ điện thoại đơn giản đến smartphone hiện đại,
Thực tiễn là các hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người
Tính lịch sử: ở mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau, hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên xã hội của con người khác nhau
Tính xã hội (tính phổ biến): nghĩa là hoạt động thực tiễn không phải hoạt động của
cá nhân đơn lẻ, tách rời, mà phải gắn với cộng đồng, gắn với xã hội, nhấn mạnh tính phổ biến, tính thường xuyên, liên tục
Tóm lại, hoạt động thực tiễn chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia đông đảo của mọi người, luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể và cũng trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể Trong hoạt động thực tiễn, con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác
VD: Thất bại của phong trào Duy Tân 1906 - 1908 (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng) và phong trào Đông Du 1905 - 1908 (Phan Bội Châu) trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã để lại những bài học kinh nghiệm cho những cuộc Cách mạng chống thực dân xâm lược sau này được cải cách đổi mới, phát triển thành công
Thực tiễn là những hành động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người
Khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát của động vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới, con người chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới Như vậy, nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng thụ động thích nghi của động vật
Trang 7Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao gồm mục đích, phương tiện và kết quả Kết quả của hoạt động thực tiễn phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc vào mục đích đặt ra và phương tiện con người sử dụng để đạt được mục đích đó VD: Thành tựu nghiên cứu bản đồ gen người Mục đích: Chữa bệnh nan y và khám phá
cơ thể người, sử dụng phương pháp lai tạo Mục đích: Tạo ra được giống lúa mới năng suất cao hơn, ngon hơn
1.3 Các hình thức cơ bản
Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng có ba hình thức cơ bản sau: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học
1.3.1 Hoạt động sản xuất vật chất
Đây là hình thức cơ bản, đầu tiên và quan trọng của thực tiễn Sản xuất vật chất biểu thị mối quan hệ của con người với tự nhiên, là phương thức tồn tại cơ bản của con người
và xã hội loài người Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội Không có sản xuất vật chất, con người
và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển Suy ra, sản xuất vật chất đóng vai trò
là cơ sở chia phối các hoạt động khác, đồng thời là điều kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
VD: Lao động của công nhân trong các xí nghiệp, nhà máy, hoạt động gặt lúa, thu hoạch của nông dân…
1.3.2 Hoạt động chính trị - xã hội
Là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển Đây là hình thức cao nhất của thực tiễn xã hội gồm các hoạt động như đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân
Trang 8tộc, đấu tranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội, nhằm tạo ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người VD: Hoạt động bầu cử Đại biểu quốc hội, Thanh Niên tham gia tình nguyện giúp đồng bào vùng sâu vùng xa, người dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc
1.3.3 Hoạt động thực nghiệm khoa học
Là một hình thức đặc biệt của thực tiễn Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu Ngày nay, dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng quan trọng trong sự phát triển của
xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
VD: Hoạt động nghiên cứu tạo ra vaccine phòng chống Covid-19 của hai nhà khoa học Katalin Kariko người Hungary và Drew Weissman người Mỹ
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác Bởi vì, nó là hoạt động nguyên thuỷ nhất và tồn tại một cách khách quan Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể
có các hình thức thực tiễn khác
Tuy hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng, quyết định hai hình thức thực tiễn kia nhưng hai hình thức thực tiễn kia là hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học có tác dụng kìm hãm hoặc thúc đẩy sản xuất vật chất Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho hoạt động thực tiễn vận động, phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức
Trang 9Trước khi tìm hiểu vể vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, vậy nhận thức là gì ?
Triết học Mác - Lênin cho rằng:“Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trong bộ
óc con người.”
Hoạt động thực tiễn của con người chính là cơ sở của mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức Do đó, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể Trong mối quan hệ với nhận thức, thực tiễn có vai trò: là cơ sở, động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí
2.1 Thực tiễn là cơ sở, động lựa của nhận thức
Mối quan hệ giữa con người và thế giới luôn được duy trì thông qua thực tiễn hơn là
lý luận Nhận thức ngay từ đầu luôn luôn bắt đầu từ thực tiễn và do thực tiễn qui định, chính trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà con người mới hình thành nên nhận thức và phát triển Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh về con người tác động vào thế giới được bộc lộ qua những thuộc tính, quy luật Từ những tài liệu ban đầu, con người đã tiến hành so sánh, phân tích, trừu tượng hóa vấn đề,… để phản ánh quy luật sự vật, hiện tượng để xây dựng thành lý luận
Như vậy, thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người Không có thực tiễn thì không có nhận thức, khoa học hay lý luận, bởi lẽ tri thức của con người xét đến cùng đều được nảy sinh từ thực tiễn Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ
và phương hướng phát triển, thúc đẩy sự ra đời của ngành khoa học
VD: Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn con người cần phải “Đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo cơ khí” mà toán học đã ra đời và phát triển
Trang 10Hoạt động thực tiễn góp phần rèn luyện giác quan của con người làm phát triển hơn,
từ đó giúp con người nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về thế giới Không những thế, thực tiễn còn là cơ sở để tạo ra những công cụ, phương tiện, máy móc để hỗ trợ con người VD: Sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 với nhu cầu của con người là đẩy lùi dịch bệnh, ngăn chặn tình trạng lây lan thì các nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu ra các loại vaccine để hỗ trợ thế giới chống đại dịch Covid-19
2.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Những tri thức khoa học có ý nghĩa thật sự khi nó được vận dụng vào thực tiễn để biến đổi thế giới và bản thân con người Mục đích của nhận thức không phải là tự thân hoạt động vì nhận thức mà vì thực tiễn, cuộc sống của con người Bởi vậy, những tri thức đạt được phải quay về để phục vụ con người, kết quả nhận thức phải hướng dẫn, điều chỉnh và chỉ đạo thực tiễn Quá trình giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn, nhận thức không ngừng phát triển
VD: Với thực tiễn xây dựng Đất Nước đầu tiên bởi vì mục đích của nhân dân lao động, giai cấp công nhân, nếu không vì mục đích, nhân dân sẽ không còn động lực thúc đẩy phát triển, không huy động được sức mạnh toàn dân để thực hiện trong công cuộc đổi mới
và phát triển đất nước
Ví dụ trên cũng chứng minh rằng: Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức mà là để cải tạo tự nhiên, xã hội đáp ứng nhu cầu của con người Chính nhu cầu đời sống, vật chất đã thúc đẩy nên sự phát triển của khoa học, nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức, kinh nghiệm, khái quát lý luận thúc đẩy sự ra đời và phát triển của ngành khoa học Vì vậy, nhận thức chỉ hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn, nếu không vì thực tiễn, nhận thức sẽ mất phương hướng, bế tắc Thông qua hoạt động thực tiễn, tri thức của con người được áp dụng vào đời sống thực tế một cách trực tiếp hay gián
Trang 11VD: Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường (ô nhiễm âm thanh, ), mọi người đã tạo ra chiếc của cách âm, các vật liệu cách âm…
2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lí
"Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý" là một câu nói phổ biến đồng nghĩa với việc chỉ có thể đánh giá được tính chân lý của một ý kiến hoặc ý tưởng thông qua việc áp dụng nó vào thực tế và quan sát kết quả Điều này đồng nghĩa với việc ý tưởng hoặc lý thuyết chưa được kiểm chứng qua thực tế mà có thể chỉ là một quan điểm trừu tượng và không có giá trị thực tế Theo triết học Mác Lênin, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lí, bác bỏ sai lầm Dựa vào thực tiễn, người ta có thể chứng minh, kiểm nghiệm chân lí
VD: Muốn biết một món ăn ngon hay không thì phải thử nó kiểm tra bằng thực tiễn.
Có nhiều hình thức thực tiễn khác nhau, do vậy cũng có nhiều hình thức kiểm tra chân lí khác nhau, có thể bằng thực nghiệm khoa học, có thể áp dụng lí luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội, Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối Tuyệt đối vì nó là tiêu chuẩn khách quan duy nhất, tương đối vì bản thân thực tiễn luôn biến đổi phát triển Sự thay đổi này dẫn đến sự tiếp tục bổ sung, phát triển những tri thức đã có trước đó Nhận thức của con người cuối cùng phải được kiểm tra trong thực tiễn, nếu chưa hoàn thiện thì được bổ sung, nếu sai lầm thì bị bác bỏ Trong thức tiễn con người phải chứng minh chân lý
VD: Trái đất quay quanh mặt trời, nhà bác học Galilê phát minh ra định luật về sức cản của không khí
Qua ví dụ trên, ta chứng minh được thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Chỉ khi có một lý thuyết, quan điểm hoặc ý kiến được áp dụng và đạt được thành công trong thực tế thì mới có thể được coi là chân lý Điều này đề cao ý nghĩa của việc kiểm tra và xác nhận ý kiến thông qua thực tế Thay vì chỉ dựa vào lý thuyết hoặc giả định,
Trang 12thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính hợp lý, khả thi và ứng dụng của một ý tưởng hoặc quan điểm
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thực tiễn cũng có thể mang lại những hạn chế và giới hạn trong việc kiểm tra chân lý Nếu một đề xuất hoặc quan điểm không thể áp dụng và không
có hiệu quả trong thực tế, nó không được xem là chân lý Do đó, đánh giá chân lý vẫn cần được đối chiếu và thảo luận một cách kỹ lưỡng, và không nên coi thực tiễn như tiêu chuẩn tuyệt đối mà không cần xem xét các yếu tố khác như bằng chứng khoa học, phân tích logic, và đánh giá đa chiều
Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức còn phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình Vì thế mà thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức vừa là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
3 Thực tiễn từ kết quả thi TNPTQG 2023
Kỳ thi THPT Quốc gia là một sự kiện quan trọng đối với học sinh trên toàn quốc, đánh dấu sự chuyển giao từ học sinh cấp 3 sang giai đoạn tiếp theo trong cuộc sống học tập và sự nghiệp Một trong những môn thi quan trọng nhất trong kỳ thi này là Tiếng Anh Phân tích kết quả thi của môn Tiếng Anh sẽ cung cấp dẫn chứng thực tiễn về nhiều khía cạnh trong quá trình học tập và giảng dạy Tiếng Anh
Kỳ thi năm 2023 vừa qua trong số 876,102 thí sinh dự thi, có 494 bài thi đạt điểm
10 Điểm trung bình của thí sinh cả nước là 5,45 điểm, mức điểm có nhiều thí sinh đạt nhất là 4.2 điểm và hơn 44.8% thí sinh bị điểm thi tiếng Anh dưới trung bình Như vậy, nếu so với năm 2022, số lượng bài thi đạt điểm 10 tăng khá nhiều (từ 425 tăng lên 494),
và số bài thi dưới trung bình cũng giảm từ 446,648 xuống còn hơn 392,000 Đây là số liệu khả quan đối với quá trình học tập và giảng dạy Tiếng Anh ở nước ta
Tuy nhiên, với số lượng hơn một nửa bài thi dưới trung bình, ta có thể nhận ra việc