1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Seminar học phần sinh lí hoạt Động thần kinh chủ Đề stress

24 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Stress
Tác giả Dương Hoàng Nhật Anh, Hoàng Hà Châu, Lê Minh Định, Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Nguyễn Việt Thu Giang, Lê Đoàn Ngọc Giàu, Võ Phạm Nhu Mỹ, Dư Thị Tiên, Thái Thị Cẩm Tú, Lâm Gia Tuệ, Lê Thị Ngọc Tỷ, Phạm Thị Thanh Uyên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Tâm Lý Học
Thể loại Seminar
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 165,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu Stress -Trước thế kỉ XIX, khái niệm về stress chưa được hình thành rõ ràng, nhưng các nhànghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến các phản ứng của con người đối v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC

□ & □

Seminar Học phần: SINH LÍ HOẠT ĐỘNG THẦN KINH

4 Nguyễn Thị Thuỳ Dương 50.01.611.014

5 Nguyễn Việt Thu Giang 50.01.611.022

6 Lê Đoàn Ngọc Giàu 50.01.611.023

7 Võ Phạm Nhu Mỹ 50.01.611.052

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày /…/….

Trang 3

Ý tưởng trình bày của nhóm: nhóm sẽ trình bày theo format của gameshow nào? Đặt tên cho Gameshow về chủ đề của nhóm; mô tả vắn tắt các các bước (vòng chơi)

-Ý tưởng trình bày theo format của gameshow: “Đường lên đỉnh Olympia”

-Tên gameshow: “Ai stress hơn ai?”

-Mô tả vắn tắt các bước (vòng chơi): gồm 4 vòng chơi

1 Khởi động

 Thời gian: có 5 câu hỏi, mỗi câu trả lời trong vòng 10 giây

 Mỗi đội chơi trả lời nhanh các câu hỏi thuộc lĩnh vực stress như lịch sửnghiên cứu stress và khái niệm stress

 Mỗi câu trả lời đúng được cộng 10 điểm

2 Vượt chướng ngại vật

 Thời gian trả lời mỗi câu hỏi là 20 giây

 Thí sinh cần giải ô chữ bí mật bằng cách trả lời các câu hỏi gợi ý

 Mỗi câu trả lời đúng mở ra một phần của ô chữ và được 20 điểm mỗi câu

 Trả lời đúng ô chữ sớm sẽ được cộng 40 điểm, sai bị loại khỏi lượt chơi

3 Tăng tốc

 Ban tổ chức trình chiếu câu hỏi, các nhóm trả lời bằng đáp án A, B, C, D từBTC cung cấp

 Xếp điểm theo thứ tự: trả lời đúng nhanh nhất được điểm cao nhất 40 điểm,

20 điểm và cuối cùng là 10 điểm

4 Về đích

 Thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi là 20 giây

 Thí sinh chọn gói câu hỏi 30, 60 hoặc 90 điểm

 Các thí sinh khác có quyền giành trả lời nếu thí sinh chính trả lời sai

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC

Trang 4

STT Họ và tên Nhiệm vụ được giao Mức độ hoàn

3 Lê Minh Định Chuyên gia giải đáp

4 Nguyễn Thị Thùy Dương Soạn câu hỏi vòng 1,

3, 4, diễn viên

5 Nguyễn Việt Thu Giang Soạn nội dung 4, 5,

6, soạn câu hỏi vòng

2, 3, diễn viên

6 Lê Đoàn Ngọc Giàu Chuyên gia giải đáp

7 Võ Phạm Nhu Mỹ Trình bày seminar,

làm ppt

1, 2, 3

clip, chỉnh clip

11 Lê Thị Ngọc Tỷ Soạn nội dung phần

7, diễn viên

12 Phạm Thị Thanh Uyên Soạn câu hỏi phần 2,

3, trình bày seminar,inforgarphic, diễn

viên

Trang 5

BẢNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHUNG CỦA NHÓM

Mức 1 (0 – 3,0 điểm)

Mức 2 (3,1 – 5,0 điểm)

Mức 3 (5,1- 8,0 điểm)

Mức 4 (8,1 – 10,0 điểm)

Nội dung bài

Trang 6

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG TRÌNH BÀY 1

I Lịch sử nghiên cứu Stress 1

II Khái niệm Stress 4

III Phân biệt stress thông thường và stress bệnh lý 4

1 Stress thông thường 4

2 Stress bệnh lí 6

2.1 Các biểu hiện biến đổi tâm lí, tâm thần 6

2.2 Các biểu hiện cơ thể 7

2.3 Các biểu hiện về hành vi 7

IV Các giai đoạn của Stress 8

1 Giai đoạn báo động (Alarm Stage) 8

2 Giai đoạn kháng cự (Resistance Stage) 8

3 Giai đoạn kiệt quệ (Exhaustion Stage) 9

V Những nguyên nhân gây nên Stress 9

VI Hậu quả của Stress 10

VII Cách khắc phục/ giải toả stress 11

1 Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT - Cognitive Behavioral Therapy) 11

2 Âm nhạc trị liệu 11

3 Tự động viên (Positive Self-talk) 11

4 Sắp xếp và quản lý thời gian 12

5 Hoạt động thể chất 12

6 Giấc ngủ 12

Trang 7

C KẾT LUẬN 13

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

E XÂY DỰNG KỊCH BẢN 14

I Tên chương trình 14

II Giới thiệu chương trình, khách mời, đội chơi, 14

III Kịch bản các vòng chơi 15

Vòng 1: Khởi động 15

Vòng 2: Vượt chướng ngại vật 15

Vòng 3: Tăng tốc 16

Vòng 4: Về đích 16

IV Lời kết và thông điệp 16

F SẢN PHẨM LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ 17

Trang 8

B NỘI DUNG TRÌNH BÀY

I Lịch sử nghiên cứu Stress

-Trước thế kỉ XIX, khái niệm về stress chưa được hình thành rõ ràng, nhưng các nhànghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến các phản ứng của con người đối với môi trường vànhững yếu tố gây căng thẳng

- Trong thời kỳ này, các thuật ngữ liên quan đến stress chưa được sử dụng, nhưng cóthể tìm thấy các dấu hiệu của stress trong các nghiên cứu về phản ứng của con ngườitrước các tình huống khó khăn và khủng hoảng

- Vào năm 1910, một vị bác sĩ người Canada là William Osler đã nhắc tới nó, ông nêurằng căng thẳng và trách nhiệm mọi công việc trong đời sống khiến cho các bệnh nhânngười Do Thái bị bệnh viêm họng và tức ngực Ông diễn tả thế này: “ Họ rất nhiệt tình

và sống một cuộc sống đầy tinh thần trách nhiệm với mọi người và đặc biệt là giađình, cũng chính vì điều đó có thể dẫn tới họ đã tiến tiến vào tình trạng căng thẳng khinăng lượng thần kinh đã suy giảm ngày một nghiêm trọng” từ những mô tả ấy màngười đồng hương của ông là bác sĩ Hans Selye đã chính thức đặt nền móng đầu tiêncho quá trình nghiên cứu về hiện tượng stress

- Công thức cơ bản đầu tiên đã được thiết lập cho quá trình nghiên cứu về stress hiệntượng.Với những kết quả thử nghiệm trên động vật, ông đã đưa ra những khẳng địnhrằng cơ thể có các hệ thống đáp ứng công việc thích nghi và cân bằng khi thay đổi môitrường xung quanh Ông gọi tên các phản hồi này là GAS (General Adaptation

Trang 9

- Chính thức vào năm 1936 toàn bộ lý thuyết, khái niệm về stress của vị bác sĩ người Canada được khoa học xác nhận.

- Sau bác sĩ Hans tăng dần nhiều nhà nghiên cứu đã tham gia vào công cuộc tìm hiểu vềhiện tượng trên Và các công trình nghiên cứu sau này được chia làm 3 hướng cơ bản: + Hướng nghiên cứu thứ nhất là nghiên cứu về stress với góc sinh học Đó là về hoạt động của hệ thần kinh, hệ nội tiết, hóc môn có ảnh hưởng nhiều đến cảm xúc và liên quan trực tiếp tới căng thẳng.V.V.Suvorova (1975) cho rằng các phản ứng cảm xúc khi bị stress không chỉ biểu hiện qua các phản ứng ở hoóc môn mà còn ở những sinh lý bên trong cơ thể V.I.Rôgiơ Đêxơcenxcaia (1980) đã chứng minh bằng những thực nghiệm đó Ông nói rằng chỉ những người có triệu chứng stress sẽ làm việc có hiệu quả kém hơn những người bình thường, sự giảm tốc độ này diễn ra ở những người có thần kinh mạnh thì sẽ chậm hơn đôi chút so với người có thần kinh yếu Vì thế các lý thuyết của Hans Selye chỉ tập trung ý kiến cho những phản hồi sinh

lý của chủ thể trước các tác nhân bên ngoài đã bị những mô hình lý thuyết khác chỉtrích Với có một số nhà nghiên cứu cho rằng cách thức đối phó với tác nhân gây căngthẳng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, phản ứng sinh lý đối với bất kỳ trường hợp nàođó

+ Hướng nghiên cứu thứ hai là nghiên cứu về stress như một tác động của môitrường Linderman (1944) với các công trình về sự đau buồn tổn thương tâm lý của

Trang 10

các nạn nhân có người thân hy sinh vì chiến tranh đã cho thấy rằng: ngoài cái sự tànkhốc của chiến tranh thì những sự kiện ảnh hưởng sau đó của chiến tranh cũng có thểgây stress cho cá nhân nào đó Hướng nghiên cứu trên đã xem stress như là một sựkiện của môi trường tác động lên chủ thể Holme và Rahe (1967) đã nghiên cứu stresstheo quan quan điểm môi trường và cũng chỉ ra những sự kiện dẫn tới việc stress như:sinh con, ngồi tù, kết hôn, ly hôn, lễ các thứ…Từng sự kiện đều đòi hỏi mỗi người,mỗi cơ thể phải thay đổi để thích ứng thất tốt từ đó gây ra âu lo căng thẳng Từ danhsách các sự kiện gây stress của Holme và Rahe thì có nhiều nhà nghiên cứu dùng đểđánh giá quan hệ của stress và sức khỏe Như Rabkin và Struening (1976) nghiên cứucác bệnh nhân đột tử do bệnh tim cũng một phần là do stress ảnh hưởng tới

Cũng như trên thì thuyết nghiên cứu cho rằng stress như một sự kiện cũng chịu khánhiều luồng chỉ trích tới từ các lý thuyết khác Các lập luận ấy cho rằng: các sự kiện

có thể giống nhau nhưng mức độ hay sự ảnh hưởng sản sinh ra stress ở mỗi cá nhân làkhác nhau Sức ảnh hưởng của stress là ít hay nhiều là do ý nghĩa của sự kiện đấy nhưthế nào và những khả năng có thể đối phó với sự kiện đó của các cá nhân Từ đóNuchol, Cassel và Kaplan (1972) đã đánh giá những hậu quả của stress và khả năngứng phó trong thai kỳ đối với các biến chứng sinh đẻ Chính vì vậy một lần nữa quanđiểm khi xem stress như là một sự ảnh hưởng chung của các sự kiện trong môi trườngcũng là chưa hoàn thiện

+ Hướng nghiên cứu thứ ba là xem stress như một quá trình tương tác giữa con người với môi trường và ở đó mỗi cá nhân sẽ nhận thức được sự kiện để có thể phát huy được tiềm năng của mình cho việc ứng phó với sự kiện đó (Lazarus và Folkman, 1984) Yếu tố nhận thức được hành vi ở đây đã đóng được vai trò điều hòa giữa các tác nhân kích thích và phản ứng tâm lý của chủ thể Quan điểm này nhấn mạnh về mặtnhận thức hành vi trong nghiên cứu stress và có thể lấp đầy được những lỗ trống của hai quan điểm nghiên cứu trên

 Trọng tâm của quan điểm này đó là nằm ở việc chủ thể có khả năng nhận thức được mức độ của tác động của sự kiện Nếu sự kiện đó có hại hoặc có thể ảnh hưởng xấu và họ ít có khả năng đối phó thì sẽ sản sinh ra stress Ở quan điểm tâm lý này

Trang 11

cũng chứa hạn chế đó là việc bỏ qua bớt một số yếu tố sinh học của stress và mối liên

hệ giữa sinh học với các mặt khác như cảm xúc, hành vi

- Vậy nên những hướng nghiên cứu trên cũng chỉ là để tham khảo rồi từ đó rút ra được ý nghĩa và khái niệm chung của stress chứ không hướng dẫn cụ thể ở bất kì một hướng riêng nào vì mỗi hướng trên đều chỉ tập trung vào một phương diện và loại bỏ các phương diện khác

II Khái niệm Stress

- Stress có thể được định nghĩa là trạng thái lo lắng hoặc căng thẳng về mặt tinh thần do một tình huống khó khăn gây ra, là phản ứng tự nhiên của con người thúc đẩy chúng ta giải quyết những thách thức và mối đe dọa trong cuộc sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với bất kỳ nhu cầu nào dù dễ chịu hay khó chịu

- Mọi người có những ý tưởng rất khác nhau về định nghĩa của họ về căng thẳng

Có lẽ phổ biến nhất là "căng thẳng hoặc áp lực về thể chất, tinh thần hoặc cảm xúc" Một định nghĩa phổ biến khác về căng thẳng là "một tình trạng hoặc cảm giác trải qua khi một người nhận thấy rằng nhu cầu vượt quá các nguồn lực cá nhân và xã hội mà cá nhân đó có thể huy động"

III Phân biệt stress thông thường và stress bệnh lý

1 Stress thông thường

- Stress thông thường (stress cấp tính) là loại căng thẳng được trải nghiệm rộng rãinhất và là kết quả của những áp lực và nhu cầu hàng ngày mà tất cả chúng ta đều phải đối mặt thường chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn

Ví dụ: một lượng khách hàng đông đúc vào giờ ăn trưa, hoàn thành báo cáo trong thời hạn gấp rút

- Tuy nhiên, căng thẳng cấp tính không chỉ được cảm nhận do những trải nghiệm

mà chúng ta nghĩ tiêu cực, mà còn có thể được cảm nhận khi chúng ta tham gia vào các hành động mang lại sự hồi hộp và phấn khích cho cuộc sống của chúng ta

Trang 12

Ví dụ: đó là căng thẳng cấp tính khi bạn đến muộn cho một cuộc hẹn vàbắt đầu cảm thấy các triệu chứng căng thẳng như lo lắng và khó tập trung Căng thẳng cấp tính được chia thành hai loại trang thái theo diễn biến của các phản ứng cảm xúc cấp tính xảy ra tức thì hay chậm chạp

- Phản ứng cảm xúc cấp xảy ra nhanh: Trong trạng thái này, chủ thể hưng phấn

quá mức về mặt tâm thần và cơ thể:

 Tăng trương lực cơ: nét mặt căng thẳng, các cử chỉ cứng ngắc, kèm theo cảm giác đau bên trong cơ thể

 Rối loạn thần kinh thực vật: nhịp tim nhanh, có cơn đau vùng trước tim, cao huyết áp, khó thở, ngất xỉu, chóng mặt giả, vã mồ hôi, nhức đầu, đau nhiều nơi, nhất là đau các cơ bắp

 Tăng quá mức phản ứng của các giác quan, nhất là tai

 Rối loạn trí tuệ: kém khả năng tập trung suy nghĩ do nhớ lại các tình huống stress; trí nhớ về các sự kiện vẫn còn sâu sắc

 Tính tình dễ nổi cáu, bất an, kích động nhẹTrạng thái lo âu, kèm theo nỗi sợ hãi mơ hồ

 Thời gian stress cấp tính này kéo dài từ vài phút đến vài giờ, rồi mờ nhạt dần tùy theo tính chất và tiến triển của stress Sự mờ nhạt càng rõ nét hơn khi có mặt người khác, làm chủ thể yên tâm và khuây khỏa

- Phản ứng cảm xúc cấp xảy ra chậm: Các rối loạn xuất hiện chậm

 Chủ thể có vẻ như chịu đựng được và chống đỡ lại tình huống gây stress Người bệnh tự nhận thức được rằng, mình đã bị các tình huống stress xâm chiếm Cơ thể tiếp tục giai đoạn chống đỡ, nhưng chỉ tạo ra một cân bằng không bền vững, kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày Sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng stress cấp tính, diễn ra chậm Biểu hiện và tiến triển của

nó cũng giống như phản ứng cảm xúc cấp tính, diễn ra tức thì Điều này chứng tỏ chủ thể không còn khả năng dàn xếp với tình huống stress về mặt tâm lí, bị suy sụp và mất bù một cách chậm chạp

Trang 13

2 Stress bệnh lí

 Stress bệnh lý (Căng thẳng mãn tính) xảy ra khi một người phải chịu căng thẳng dai dẳng trong một thời gian dài là kết quả của căng thẳng tích tụ do nhiều yếu tố có thể dẫn đến căng thẳng mãn tính:

 Các mối quan hệ khó khăn

 Nhu cầu công việc và lo lắng về tài chính

 Tình huống căng thẳng có vẻ như không bao giờ kết thú

 Tiếp xúc nhiều lần với các tình huống căng thẳng

 Các hormone mà cơ thể bạn giải phóng trong mỗi đợt căng thẳng

 Căng thẳng tích tụ phát triển từ nhiều tác nhân gây căng thẳng khác nhau đã trải qua có thể dẫn đến bệnh lý nghiêm trọng về thể chất hoặc tâm lý Điều này

có thể dẫn đến các hành vi như tự làm hại bản thân, bạo lực hoặc tự tử của họ

2.1 Các biểu hiện biến đổi tâm lí, tâm thần

- Chủ thể phản ứng quá mức với hoàn cảnh: dễ nổi cáu, có cảm giác khó chịu, căng thẳng về tâm lí, mệt mỏi về trí tuệ và không thư giãn được

- Rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, hay thức giấc và không có cảm giác hồi phục sau khi ngủ

- Các rối loạn này tùy theo tính chất, hoàn cảnh và sự lặp lại của tình huống stress

mà có thể tiến triển thành các triệu chứng sau đây:

 Chủ thể chờ đợi stress một cách bi quan

 Có sự cảnh tỉnh một cách cao độ và luôn ở trong tình trạng nghe ngóng, căng thẳng nội tâm, dễ nổi cáu

 Có biểu hiện lo âu - ám ảnh sợ Những lo âu - ám ảnh sợ này hình thành trên nền một sự lo âu dai dẳng và xuất hiện những cơn lo lắng về nơi đã xảy ra tình huống stress (ở nơi làm việc hay ở gia đình)

Trang 14

- Các rối loạn có khi mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau như người bệnh sợ các phương tiện giao thông công cộng, sợ xung đột với cấp trên, với người thân, ngại giao tiếp, sợ bệnh tật…

2.2 Các biểu hiện cơ thể

- Qua những lời than phiền của người bệnh, chúng ta thấy các rối loạn về tâm thần và chức năng cơ thể của họ như sau:

 Người bệnh trong trạng thái suy nhược kéo dài

 Căng cơ bắp (chuột rút), run tay chân, đổ mồ hôi

 Nhức đầu, đau nửa đầu, đau cột sống kéo dài, dai dẳng

 Đánh trống ngực, đau vùng trước tim và huyết áp tăng không ổn định

 Có biểu hiện bệnh lí chức năng đại tràng và đau bàng quang (nước tiểu

trong)

-Tất nhiên, không phải mọi stress bệnh lí kéo dài đều có tất cả những biểu hiện về cơ thể, về tâm lí như đã nêu ở trên Song ngoài những triệu chứng trên, có khi chúng ta còn gặp những biểu hiện khác về cơ thể có liên quan với trạng thái lo âu

2.3 Các biểu hiện về hành vi

 Các rối loạn hành vi xảy ra do chủ thể có thái độ rút lui, tránh né các quan hệ

xã hội; hoặc ngược lại, do những xung động mất kiềm chế, dẫn đến sự khó khăn trong giao tiếp của người bệnh Có người thay đổi hẳn tính cách, làm chongười khác không nhận ra hoặc có những băn khoăn, suy nghĩ về nhân cách của họ

 Các rối loạn hành vi lúc đầu chỉ gây ra sự khó chịu, nhưng về sau nó phát triển

và gây ra những tổn thất, làm trở ngại cho công việc của người bệnh

 Có người lúc đầu muốn dùng rượu, dùng thuốc để làm dịu những căng thẳng,

lo âu, nhưng sau đó, do bản thân rượu và thuốc lại là chất gây lo âu, nên bắt buộc họ phải tăng dần liều sử dụng Hành vi cứ như vậy lặp đi lặp lại và tăng dần, đưa chủ thể vào một vòng xoắn đáng sợ của sự nghiện rượu, nghiện thuốc

Ngày đăng: 31/12/2024, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHUNG CỦA NHÓM - Seminar học phần sinh lí hoạt Động thần kinh chủ Đề stress
BẢNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHUNG CỦA NHÓM (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w