Có thể nói trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, hình tượng người phụ nữ xuất hiện khá sớm, cách đây khoảng 3000 năm, hình tượng người phụ nữ đúc bằng đồng trên cán dao găm của nền văn hóa
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 4
1.1 Khái niệm "Hình tượng nghệ thuật" 4
1.2 Khái niệm "Hình tượng nghệ thuật" trong Mĩ học 5
2 Đặc trưng của "Hình tượng nghệ thuật" 6
2.1 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa mặt khái quát và cụ thể 6
2.2 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan 6
2.3 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm 6
2.4 Hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ 7
2.5 Hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa 7
3 Hình tượng người phụ nữ trong tranh Nguyễn Thụ 7
3.1 Khái quát về họa sĩ Nguyễn Thụ và các tác phẩm tiêu biểu 7
3.2 Khái quát hình tượng người phụ nữ trong hội họa Việt Nam 9
3.3 Hình tượng người phụ nữ trong tranh Nguyễn Thụ 13
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa, hình tượng người phụ nữ đã luôn là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn đối với văn học nghệ thuật nói chung và đối với ngành hội họa nói riêng Có thể nói trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, hình tượng người phụ nữ xuất hiện khá sớm, cách đây khoảng 3000 năm, hình tượng người phụ nữ đúc bằng đồng trên cán dao găm của nền văn hóa Đông Sơn Khi phật giáo được du nhập vào nước ta thì hình tượng người phụ nữ được biến chuyển sao cho phù hợp với đạo thờ mẫu, vẻ đẹp chuẩn mực của người phụ nữ Á Đông như khuôn mặt hình trái xoan, dôi lông mày hình lá liễu, mắt lá răm rất phúc hậu được đưa vào các pho tượng Phật Bà Quan Âm Trong nghệ thuật chạm khắc đình làng, hình tượng người phụ
nữ cũng được chú ý khai thác
Tiếp thu những truyền thống tinh hoa đó, nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam cũng đã sáng tác nhiều về những người phụ nữ, những người mẹ Các nghệ sĩ tạo hình đầu tiên của Việt Nam đã dày công tìm tòi, khai thác thể hiện hình tượng người phụ nữ ở mọi góc độ, phương diện và các loại hình nghệ thuật đa dạng, phong phú như: Điêu khắc, hội họa Đặc biệt là nghệ thuật hội họa với những chất liệu như sơn mài, sơn dầu, bột màu, tranh lụa, khắc gỗ, hình tượng người phụ nữ như được mặc sức diễn tả với những cảm nhận, những phong cách khác nhau về người phụ nữ qua những thế hệ các họa sỹ
Dưới nét bút của các họa sỹ đầy tài năng thì hình tượng người phụ
nữ hiện hữu một cách rõ ràng bằng ngôn ngữ đặc trưng về đường nét, những mảng hình, độ đậm nhạt và những sắc màu, các họa sỹ không chỉ thể hiện được vẻ đẹp thiên phú tuyệt vời của người phụ nữ, mà qua đó còn phản chiếu những cái nhìn sâu sắc về nội tâm, về phẩm chất và tâm hồn của người phụ nữ ẩn chứa bên trong qua vẻ bề ngoài trên mặt tranh Những tình
Trang 3cảm, những cái nhìn, những cảm nhận riêng của mỗi họa sỹ đã tạo ra những lối vẽ, những phong cách khác nhau, thể hiện trên từng chất liệu khác nhau, cùng những đối tượng khác nhau tạo ra những vẻ đẹp riêng không qua hình ảnh mà qua sắc thái, thấy được cái hồn của đối tượng Ta có thể kể đến các họa sĩ tiêu biểu như Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh…
và đặc biệt không thể không nhắc tới Nguyễn Thụ Nhắc đến họa sĩ Nguyễn Thụ là người ta nghĩ ngay đến tình yêu nghệ thuật của họa sĩ với núi rừng, bản làng, ít ai để ý rằng trước khi đi sâu vào đề tài này, họa sĩ cũng rất thành công trong việc nghiên cứu hình tượng người phụ nữ miền Bắc và người phụ nữ miền Nam qua nhiều chất liệu như thuốc nước, chì than, khắc gỗ
Trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, em thật sự yêu thích và muốn học hỏi kinh nghiệm
về lối vẽ truyền thồng và cách tạo hình của lớp họa sỹ đi trước Chình vì
vậy em đã chọn đề tài "Hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ
Nguyễn Thụ" làm đề tài nghiên cứu tiểu luận của mình
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ khái niệm cơ bản nhất liên quan đến
đề tài như "hình tượng nghệ thuật", "hình tượng nghệ thuật trong mĩ học"
và các đặc trưng của nó Đặc biệt là tiểu luận đi sâu tìm hiểu về "hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa sĩ Nguyễn Thụ" giúp em có cái nhìn sâu rộng về hình tượng người phụ nữ được thể hiện trong nghệ thuật tạo hình của họa sĩ Nguyễn Thụ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng người phụ nữ trong tranh của họa
sĩ Nguyễn Thụ
*Phạm vi nghiên cứu: Em chọn một số tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Nguyễn Thụ vẽ về hình tượng người phụ nữ Việt Nam qua các thời kì, từ
Trang 4đó đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và phân tích phong cách nghệ thuật của tác giả trong việc thể hiện hình tượng người phụ nữ
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài trước tiên là thu thập tài liệu có tính tổng hợp liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp so sánh và nghiên cứu tác phẩm của họa sĩ
- Phương pháp tổng hợp hệ thống, đúc rút kinh nghiệm và bài học
Trang 5NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm "Hình tượng nghệ thuật"
Phạm trù hình tượng là một phạm trù mang tính khái quát phản ánh tính hệ thống của các khái niệm, phạm trù qui luật về đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Vì tất cả những lý giải về nghệ thuật đều xuất phát từ vấn
đề hình tượng Như ta đã biết hình tượng nghệ thuật luôn có xu hướng mang ý nghĩa vượt ra ngoài nó, cấu trúc đặc thù này của hình tượng nghệ thuật được tạo bởi nhiều lý do, trong đó có sự kết hợp của hai yếu tố thực
và hư, hai yếu tố làm cho chức năng thể hiện ý nghĩa của hình tượng thay đổi, để hình tượng không chỉ là sự sao chép đơn giản đời sống mà còn có khả năng biểu hiện những ý nghĩ chủ quan của con người, không chỉ khêu gợi sự tưởng tượng sáng tạo mà còn mở rộng khả năng tự cảm thấy của con người về thế giới và chiều sâu cuộc sống
- Hình tượng là hình thức đặc thù của tư duy nghệ thuật, là sự phản ánh hiện thực trong tính toàn vẹn, sinh động, cảm tính, cụ thể theo qui luật của cái đẹp
- Hình tượng là cơ cấu hài hoà của những yếu tố chủ quan và khách quan, cảm tính – lý tính, cụ thể – khái quát, cá biệt – phổ biến; nhưng được trình bày bằng con đường thông qua cái khách quan, cái cảm tính, cụ thể,
cá biệt để phát hiện cái chủ quan, cái lý tính, cái khái quát, cái phổ biến
Trong tất cả các yếu tố tạo thành hình tượng nghệ thuật nói trên, thì yếu tố cảm xúc – cá biệt mang tính cách cá nhân của chủ thể sáng tạo là quan trọng nhất Tư duy hình tượng – cảm tính: này sinh trên cơ sở tiếp xúc trực tiếp với đối tượng Nó tái hiện đối tượng một cách toàn vẹn những không thoát li đối tượng mà gắn liền với những đặc điểm cụ thể, cá biệt, sinh động về đối tượng để qua đó mà bộc lộ cái khái quát Loại tư duy này
Trang 6bao hàm cả thái độ đánh giá chủ quan của chủ thể Nghệ thuật tái hiện và khái quát cuộc sống dựa trên cơ sở của loại tư duy này Nói một các cụ thể, nghệ sĩ xây dựng nên hình tượng nghệ thuật dựa trên cơ sở các loại tư duy hình tượng – cảm tính, và hình tượng nghệ thuật chính là sự biểu hiện những quan niệm khái quát về cuộc sống dưới hình thức cụ thể, cảm tính như hình thức của bản thân đời sống
Có thể coi như đó là cái phôi, cái tế bào đầu tiên để tạo nên hình tượng và hình tượng là cơ sở để hình thành tác phẩm nghệ thuật để con người cảm thụ, đánh giá, sáng tạo theo qui luật của cái đẹp
1.2 Khái niệm "Hình tượng nghệ thuật" trong Mĩ học
Trong mỹ học hình tượng nghệ thuật được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
- Theo nghĩa rộng: Khái niệm hinh tượng chỉ đặc điểm chung về phương thức phản ánh đời sống của tất cả các loại hình nghệ thuật, để phân biệt nghệ thuật với khoa học và các hình thức ý thức xã hội khác
- Theo nghĩa hẹp: Khái niệm hình tượng được dùng trong phạm vi tác phẩm, chủ yếu là hình tượng cụ thể về một con người, một tập thể người, một con vật, đồ vật hay một cảnh sắc thiên nhiên, một cảnh sinh hoạt lao động thường ngày,…Tất cả mọi thứ dù tầm thường nhất khi đi vào nghệ thuật đều có thể trở thành hình tượng, một khi nó mang trong mình những quan niệm sống, những trải nghiệm cuộc đờ, những triết lý nhân sinh sâu sắc
Để mỗi hình tượng được tái hiện và tồn tại, người nghệ sĩ phải sử dụng những phương tiện vật chất cụ thể như: ngôn từ (văn học), âm thanh (âm nhạc), màu sặc, đường nét (hội họa), lời nói, hành động (sân khấu),…
Nhờ đó, khi khám phá nghệ thuật, người ta không những được cảm thụ, thưởng thức cái đẹp, được tiếp cận với nguồn tri thức vô hạn của nhân loại
mà đồng thời, qua đó người ta còn được tiếp nhận những chân lí về đời
Trang 7sống Đây chính là biểu hiện đỉnh cao của hình tượng, là cái đích mà bất cứ người nghệ sĩ nào trong suốt cuộc đời theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật, theo đuổi cái đẹp, cái hoàn mĩ của mình cũng muốn đạt được
2 Đặc trưng của "Hình tượng nghệ thuật"
2.1 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa mặt khái quát và cụ thể
Mọi sự vật, sự việc đều tồn tại ở dạng độc lập nhưng không phải vì thế mà chúng không có sự liên hệ với nhau Trong mỗi sự vật, sự việc đều
có hai mặt đối lập thống nhất với nhau: cái chung, cái riêng Sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng có sự phổ biến với muôn loài Mà trong nghệ thuật, cái khái quát muốn thể hiện phải qua cái riêng từ đó mới nên sức sống rộng rãi, bền lâu của tác phẩm
2.2 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan
Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ phản ánh hiện thực khách quan qua con mắt chủ quan của người nghệ sĩ
- Khách quan: tính chất, sắc thái, hiện tượng ngoài đời sống
- Chủ quan: ấn tượng, quan niệm, lẽ sống, thái độ của người nghệ sĩ Thế giới chủ quan của người nghệ sĩ chỉ có giá trị khi nó được bộc lộ trên cơ sở nhìn nhận và đánh giá hiện thực khách quan
2.3 Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm
Nghệ thuật có sức tác động kì diệu tới tâm hồn, tình cảm con người
Sự thống nhất, hài hòa giữa lí trí và tình cảm sẽ tạo nên sự thống nhất của hình tượng nghệ thuật
Thiên về lý trí sẽ làm mất tính hấp dẫn còn thiên về tình cảm thì hình tượng sẽ trở nên ủy mị
Trang 82.4 Hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ
Ước lệ là biện pháp tái hiện sự vật hiện tượng bằng hình tượng có tính quy ước Nghệ thuật được hiểu là cách thức mô phỏng cuộc sống Song, dù phản ánh chân thực cuộc sống đến đâu, nghệ thuật cũng không thể mất đi yếu tố sáng tạo, tưởng tượng mà những yếu tố đó gọi chung là tính ước lệ của hình tượng
2.5 Hình tượng nghệ thuật mang tính đa nghĩa
Nghệ thuật là một trong những lĩnh vực sáng tạo phức tạp nhất của con người để phản ánh thực tại Sự thống nhất giữa các mặt đối lập đã làm cho hình tượng nghệ thuật trở thành một tín hiệu đặc biệt lưu giữ những tín hiệu chồng chéo về cuộc đời Bởi vậy, một hình tượng nghệ thuật có thể đem đến cho người thưởng thức những cách nhìn nhiều chiều, những cách
lí giải ở nhiều góc độ khác nhau Đó chính là tính đã nghĩa của hình tượng nghệ thuật
3 Hình tượng người phụ nữ trong tranh Nguyễn Thụ
3.1 Khái quát về họa sĩ Nguyễn Thụ và các tác phẩm tiêu biểu
Họa sĩ Nguyễn Thụ sinh ngày 12 tháng 12 năm 1930, quê quán Hoài Đức, Hà Tây (nay là Hà Nội)
Năm 1946 ông tham gia Đội viên Đội tuyên truyền Thiếu sinh quân liên khu 10 Ngay từ những ngày đầu tham gia kháng chiến, ông đã bắt đầu bộc lộ tài năng thiên bẩm của mình trên các tờ báo viết tay của Đội Thiếu sinh quân Ông làm nhiệm vụ vẽ tranh tuyên truyền tại khu 10 của sư đoàn
312
Sau ngày hòa bình lập lại, ông trở về Thủ đô Hà Nội Năm 1955, ông bắt đầu tham gia khóa học Trung cấp mỹ thuật mang tên Tô Ngọc Vân (1955-1957) Sau khi tốt nghiệp khóa học Tô Ngọc Vân, ông bắt đầu học trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (sau này là trường Đai học Mỹ thuật Việt Nam)
Trang 9Năm 1962, sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại làm giảng viên khoa Hội họa Năm 1977, họa sĩ được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Năm
1984 ông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường Đại học mỹ thuật Hà Nội Năm 1978 ông được bầu bổ sung vào Ban chấp hành Hội mỹ thuật Việt Nam khóa I (1957-1983)
Trong quá trình học tập cũng như công tác giảng dạy và quản lý ở nhà trường, ông luôn tích cực sáng tác, tham gia nhiều triển lãm từ cá nhân đến trong nước, quốc tế và đạt được nhiều giải thưởng danh giá: giải B triển lãm mỹ thuật toàn quốc năm 1976, giải A tại triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1980, huy chương Bạc tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1990, giải Nhất tranh cổ động của Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh… và ông còn đạt giải thưởng chính thức trong triển lãm quốc tế Sofia- Bungari 1979…
Ông được phong hàm Phó Giáo sư- Nhà giáo Nhân dân; Huân chương Lao động hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương chống Mỹ hạng Hai, Các huy chương: Vì Sự nghiệp Văn học nghệ thuật VIệt Nam, Vì Sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam, Vì sự nghiệp Giáo dục,
Vì thế hệ trẻ, Chiến sỹ Văn hóa, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng
Năm 2001, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng họa sĩ Nguyễn Thụ Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Dân quân, Đấu vật, Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân, Bác Hồ nđi công tác, Làng ven núi, Bác Hồ, Mùa đông
Cuộc đời trên 55 năm hoạt động nghệ thuật, ban đầu chỉ là sự say mê
vẽ tranh cổ động, tuyên truyền kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Thụ trở thành một trong những danh hoạ vẽ lụa nổi tiếng của hội hoạ Việt Nam Từ một người lính rồi một nghệ sĩ, họa sĩ Nguyễn Thụ vẽ về đất nước mình, nhân dân mình hết sức chân thực Ông vẽ rất nhiều đề tài trong suốt sự nghiệp
Trang 10sáng tác của mình như sinh hoạt, phong cảnh nông thôn, miền núi, chân dung, dân quân, bộ đội
Với đề tài nông thôn Việt Nam, Nguyễn Thụ cũng đi tìm cái đẹp chất phác, giản dị thông qua công việc, sinh hoạt hàng ngày hay những phong cảnh làng quê quen thuộc, thanh bình nhưng thể hiện bằng một phong cách hoàn toàn mới và rất thành công Có thể kể đến tác phẩm “Mưa”, - đạt giải nhì Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1976, hay bức “Đường quê”, “ Bà
và cháu”, “ Sông Tam Bạc”
Xuất thân là hoạ sĩ quân đội nên Nguyễn Thụ cũng vẽ rất nhiều tác phẩm đề tài này Các tranh về Bác Hồ, tranh về bộ đội, dân quân như bức “ Bác Hồ đi công tác”, - đạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm
1980, “ Bác Hồ trên biên giới”, “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”
Về mảng tranh chân dung, Nguyễn Thụ vẽ rất nhiều các bà, các mẹ, các cô gái Thái, cô gái Tày…trong những khung cảnh thân thuộc, bình dị, với những khoảnh khắc đời thường, mặc sức bộ lộ vẻ đẹp tự nhiên mà
duyên dáng nhất như: Dệt vải, Kéo tơ, Cô gái Thuận Châu, Cô gái Thái,
Cô gái Tày trên đồi cỏ, Hai mẹ con, Thiếu nữ, Cô gái se sợi …
Không dừng lại ở phong cảnh, con người Việt Nam, họa sỹ Nguyễn Thụ đã đến và vẽ nhiều nước trên khắp thế giới như Pháp, Australia, Liên
Xô, Hungari, Bulgari Đây là dịp để ông ghi chép, tích luỹ tài liệu cuộc sống Mỗi lần đặt chân đến bất cứ nơi đâu, hoạ sĩ luôn tìm ra cho mình một nguồn cảm hứng mới, đề tài mới, bút pháp mới, kỹ thuật mới, có những bước đi mới trong nghệ thuật tranh lụa
3.2 Khái quát hình tượng người phụ nữ trong hội họa Việt Nam
Hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất sớm trong lịch sử nghệ thuật tạo hình Việt Nam, từ thuở hồng hoang trên vách đá hang Đồng Nội (Hoà Bình) Người Việt cổ xưa đã phản ánh vẻ đẹp của các cô gái nguyên thuỷ
Trang 11bằng những nét đục khắc thô sơ, ngộ nghĩnh Có lẽ đây là "tác phẩm" mỹ thuật cổ nhất ở nước ta
Đến thời đồ đồng, người phụ nữ cùng công việc, chức năng của họ
đã đi vào đời sống mỹ thuật thực dụng khá độc đáo, phong phú Từ đầu đến
eo, hông của họ được tạo hình thành chuôi dao, cán rìu, rồi đến những công việc như xay thóc, giã gạo, nhảy múa và nhiều động thái vũ đạo đa dạng, phóng khoáng được cách điệu tài tình bằng những nét, mảng kỷ hà khái quát cao độ trên các mặt và tang trống đồng, đặc biệt là trống đồng Ngọc
Lũ Thiên chức làm vợ và sinh nở được đưa lên thành hình tượng nghệ thuật hết sức táo bạo trên nắp thạp đồng Đào Thịnh
Nếu như nghệ thuật ở giai đoạn đồ đá, đồ đồng vai trò người đàn bà được sánh ngang hàng với đàn ông trong sinh hoạt bình thường mang nhiều tính nhân văn thì càng dần về sau hình tượng phụ nữ được phân định thứ bậc Họ đã hoá thân thành Phật Bà linh thiêng với nhiều bàn tay, con mắt đứng ngồi vào hàng tôn nghiêm trong Tam Bảo hoặc được cách điệu đẹp rất "thần linh" trong các nhân vật Thánh Mẫu, Tiên Cô, Bà Chúa theo quan niệm siêu phàm của tín ngưỡng qua các tượng và tranh thờ từ miền xuôi lên miền núi Cái đẹp của thân liễu bồ được các nghệ sĩ cung đình xưa với cách nhìn tinh tế và quan niệm dân gian lành mạnh, khoẻ khoắn, táo bạo đưa lên thành những bố cục chạm khắc bằng chất liệu gỗ, đá vô tri, tạo
ra những tác phẩm tuyệt mỹ như "Cung nữ múa hát", "Nữ tỳ dâng hoa",
"Làm trò", "Chuốc rượu" Lúc thịnh nền văn minh châu thổ trong ấm no, hạnh phúc của xóm làng trù mật thì hình tượng người phụ nữ xuất hiện rất nhiều trong các bức chạm nổi trên gỗ, đá ở đình, chùa, miếu, am; những cảnh "Tắm đầm sen", "Gái trai đùa ghẹo", "Chải tóc", "Bắt cua", "Chèo thuyền" được các nghệ sĩ nơi dân dã thể hiện tài tình bằng những khoảng
"lộng" hay những khối chìm nổi mang lại cho tác phẩm chất thần rất đáng khâm phục
Trang 12Với hội hoạ truyền thống, hình tượng phụ nữ với vẻ đẹp của đôi mắt
lá dăm, đôi mày lá liễu, tóc bỏ đuôi gà cùng những đường cong gợi cảm
ẩn trong mảnh yếm thắm, tà áo tứ thân đã khiến các hoạ sĩ của các dòng tranh dân gian mê đắm, tạo ra nhiều tác phẩm như "Hứng dừa", "Đánh ghen", "Bà Triệu", "Bà Trưng" (Đông Hồ) và "Tố nữ", "Thuý Kiều",
"Hội chùa", "Đi chợ" (Hàng Trống)
Khi mỹ thuật hiện đại ra đời (1925) các hoạ sĩ của Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương được tiếp thu những kiến thức tạo hình hàn lâm, hiện đại, họ nhìn nhận và nghiên cứu hình thể phụ nữ rất kỹ bằng những bài hình hoạ nghiêm túc và đã đưa vẻ đẹp vĩnh hằng với những đường cong tuyệt mỹ vào những kiệt tác mà cho tới mai sau vẫn là báu vật văn hóa nước nhà Có thể kể đến "Thiếu nữ bên hoa huệ", "Bên hoa phù dung" của
Tô Ngọc Vân, "Em Thuý", "Gội đầu" của Trần Văn Cẩn, "Mẹ con" của Lê Thị Lựu, "Thiếu nữ Bắc, Trung, Nam" của Nguyễn Gia Trí, "Chơi ô ăn quan" của Nguyễn Phan Chánh và trong các tác phẩm khác của Nguyễn Khang, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đức Nùng, Lê Phổ Song
mỹ thuật hiện đại không dừng lại ở những vẻ đẹp phụ nữ trong môi trường dáng điệu thuần tuý Các hoạ sĩ, nhà điêu khắc hết sức trân trọng, nâng niu cái đẹp thiên phú và đưa chúng lên một tầm cao hơn, đó là vẻ đẹp của cái nết - cái lõi của tâm hồn xuất phát từ đức hạnh, đạo lý làm con gái, làm vợ, làm mẹ của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử giữ nước và dựng nước Từ những vẻ đẹp gắn với chiến công của các anh hùng, liệt nữ cho đến những
vẻ đẹp sôi động ngoài xã hội của các mẹ, các chị, các em, những hình tượng cao đẹp của người phụ nữ đã chiếm lĩnh và nở rộ trong vườn hoa mỹ thuật cách mạng Việt Nam Hình tượng phụ nữ bao giờ cũng đóng vai trò
"lĩnh xướng" trong các công trình tượng đài và tranh hoành tráng như
"Nam Ngạn chiến thắng", "Bài ca sông Lô" ; hình ảnh các chị với nét nở nang thông qua ngôn ngữ điêu khắc bay vút lên giữa trời xanh lồng lộng
Trang 13thách thức mọi kẻ thù xâm lược Các "Tay bay" có tiếng như Diệp Minh Châu, Dương Đăng Cẩn, Nguyễn Hải, Lê Công Thành, Lê Đình Quỳ, Môlôkai, Đinh Rú, Trần Tía với những "Cô gái Trường Sơn", "Phá bom",
"Chuyển hàng", "Cọc tiêu", "Ngọn đèn đứng gác" ở đây, sự rắn rỏi của ngôn ngữ khối không gian được diễn tả chân thực mà khái quát Những bà
má, em gái vót chông, những cô gái tự vệ sông Hương, du kích Đồng Tháp, nông dân, công nhân, tay liềm tay súng, tay búa tay súng đều được các nhà điêu khắc hoá thân thành những nữ thần chiến thắng duyên dáng, đẹp một cách mạnh mẽ, gợi cảm
Trong hội hoạ, các hoạ sĩ dành nhiều xúc cảm thẩm mỹ và chất liệu quý hiếm cho đề tài phụ nữ Việt Nam, như Lê Lam với tranh sơn dầu
"Dừng lại", Huỳnh Văn Gấm với tranh sơn mài "Trái tim và nòng súng" hoặc Nguyễn Đức Nùng với tranh sơn mài "Kết nạp Đảng trong tù" Và còn nhiều tác phẩm khác phản ánh rất chuẩn xác, hùng hồn sức mạnh diệu
kỳ của đội quân tóc dài anh hùng, bất khuất ở hậu phương lớn miền Bắc, trong những năm đánh Mỹ, phụ nữ với phong trào "Ba đảm đang" được các hoạ sĩ khai thác chắt lọc lên thành những hình tượng đẹp cả về hình thể lẫn tâm hồn Những tác phẩm lớn của các hoạ sĩ như "Tát nước đồng chiêm",
"Mưa mai trên sông Kiến" (Trần Văn Cẩn), "Mùa vàng" (Dương Bích Liên), "Sau giờ trực chiến" (Nguyễn Phan Chánh), "Phân xưởng nhuộm" (Bùi Xuân Phái), "Tan ca" (Nguyễn Đỗ Cung) đều là những tác phẩm có giá trị trong lịch sử hội hoạ
Lão hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh được đánh giá là hoạ sĩ bậc thầy về
vẽ phụ nữ trên lụa Các nhân vật nữ của cụ suốt từ "Chơi ô ăn quan" (1931) đến "Trăng tỏ, trăng lu", "Kỳ lưng", "Sau giờ trực chiến" (1979) đều toát lên vẻ đẹp tuyệt vời của phụ nữ Việt Nam
Chất nữ và nét nữ thật dễ dàng nhận ra ở từng nữ tác giả Đáng yêu
và kính trọng biết bao các cô gái Trường Sơn từ nhiều miền quê ra đi mở