- Quyết định của Toà án tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là mất tích hoặc đã chết để ghi chú theo quy đị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ BUỔI THẢO LUẬN THÁNG THỨ NHẤT
VẤN ĐỀ CHUNG
2 Nguyễn Thị Mai Anh 2353801012018
4 Phan Thị Hương Giang 2353801012047
9 Nguyễn Ý Hảo
(SĐT: 0919817491)
2353801012060
Trang 2MỤC LỤC NỘI DUNG 1 VẤN ĐỀ 1: LẠM DÙNG QUYỀN DÂN SỰ 1
Câu 1.1 Đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về “Lạm dụng quyền dân sự”? 1 Câu 1.2 Việc Tòa án xác định có “lạm dụng quyền dân sự” trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao? 1 Câu 1.3 Tòa án đã áp dụng chế tài nào cho việc “lạm dụng quyền dân sự” trong
vụ việc này? 2 Câu 1.4 Việc áp dụng chế tài nêu trên cho việc “lạm dụng quyền dân sự” trong
vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao? 2
VẤN ĐỀ 2: TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT 3
Câu 2.1 Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết 3 Câu 2.2 Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết? 6 Câu 2.3 Trong các vụ việc trên (quyết định năm 2018 và 2019), cá nhân bị tuyên
bố chết biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao? 7 Câu 2.4 Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nêu cơ sở pháp lý và ví dụ minh hoạ 8 Câu 2.5 Tòa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn nào của các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) cho câu trả lời? 9 Câu 2.6 Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018
và 2019), pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào? 9 Câu 2.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) 10 Câu 2.8 Cho biết căn cứ để hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết và Tòa án tuyên hủy quyết định tuyên bố ông H đã chết trong quyết định năm 2020
có phù hợp với quy định không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11 Câu 2.9 Đối với vụ việc được giải quyết trong quyết định năm 2020, bà T và ông
H có còn được coi là vợ chồng nữa không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 11
Trang 3Câu 2.10 Nếu ông H có tài sản, quan hệ về tài sản trước đây của ông H được xử
lý như thế nào sau khi có quyết định năm 2020? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.12
VẤN ĐỀ 3: TỔ HỢP TÁC 13
Câu 3.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này 13 Câu 3.2 Trong Quyết định năm 2021, đoạn nào cho thấy giao dịch (hợp đồng thuê quyền sử dụng đất) được xác lập giữa ông Th và bà H với Tổ hợp tác? .14 Câu 3.3 Theo Tòa án, ai phía Tổ hợp tác là bên trong giao dịch (với ông Th và bà H)? Hướng xác định như vậy của Tòa án có phù hợp với quy định không? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời 15 Câu 3.4 Theo Tòa án, ai là bị đơn và hướng xác định như vậy của Tòa án có thuyết phục không ? Vì sao 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4NỘI DUNG VẤN ĐỀ 1: LẠM DÙNG QUYỀN DÂN SỰ
Tóm tắt Bản án số 32/2023/DS-PT ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H
Bị đơn: Bà Lê Thị H và chị Đinh Thị Thúy H
Bà Lê Thị H có tài sản là thửa đất số 58 Theo luật, bà H phải dùng tài sản này
để trả cho những người có tên tại Bản án số 47/2020/HSST nhưng bà H lại trốn tránh trách nhiệm bằng thủ đoạn tẩu tán tài sản Bà H đã ủy quyền cho chị Đinh Thị Thúy H
để làm thủ tục chuyển nhượng tài sản trên Bà H đang có nghĩa vụ lại bằng việc ủy quyền (lạm dụng quyền dân sự) gây thiệt hại cho người khác Tòa tuyên hợp đồng ủy quyền chỉ có giá trị pháp lý với nội dung giải chấp tại ngân hàng, các nội dung khác (chuyển nhượng) vô hiệu
Câu 1.1 Đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về “Lạm dụng quyền dân sự”?
Bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về “Lạm dụng quyền dân sự” qua
đoạn: “Về hợp đồng ủy quyền số 2064, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
01/4/2021 văn phòng công chứng K Đ lập Mặc dù tôn trọng sự tự định đoạt của đương sự nhưng việc ủy quyền lại vượt quá giới hạn pháp luật cho phép bởi lẽ, người
ủy quyền đang có nghĩa vụ dân sự theo bản án hình sự ngoài tài sản này, người ủy quyền không còn bất kỳ tài sản nào có giá trị Do đó, khi ký hợp đồng ủy quyền, lẽ ra người ủy quyền chỉ được uỷ quyền phần giao dịch giải chấp tài sản với ngân hàng để giải quyết khoản nợ với ngân hàng từ trước thì người ủy quyền lại ủy quyền cho người nhận ủy quyền được toàn quyền mua bán, chuyển nhượng định đoạt khối tài sản này (là ngoài các quyền bà H có) Việc ủy quyền này đã vượt quá phạm vi được phép ủy quyền và gây thiệt hại cho người khác (cụ thể là chủ nợ) Vậy sáu khi giải chấp khoản vay với ngân hàng thì khối tài sản này đã không còn bị ràng buộc với ngân hàng nhưng lại phát sinh nghĩa vụ ràng buộc với các chủ nợ khác Điều 10 BLDS 2015 quy định về giới hạn thực hiện quyền dân sự…”.
Câu 1.2 Việc Tòa án xác định có “lạm dụng quyền dân sự” trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án xác định có “lạm dụng quyền dân sự” trong vụ việc này là thuyết
phục Vì theo nhận định của Tòa: “Do đó, khi ký hợp đồng ủy quyền, lẽ ra người ủy
quyền chỉ được uỷ quyền phần giao dịch giải chấp tài sản với ngân hàng để giải quyết khoản nợ với ngân hàng từ trước thì người ủy quyền lại ủy quyền cho người nhận ủy
Trang 5quyền được toàn quyền mua bán, chuyển nhượng định đoạt khối tài sản này (là ngoài các quyền bà H có) Việc ủy quyền này đã vượt quá phạm vi được phép ủy quyền và gây thiệt hại cho người khác (cụ thể là chủ nợ)” Việc bà Lê Thị H ủy quyền chuyển
nhượng đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H vì bà là chủ
nợ nhưng lại không được thanh toán số tiền còn lại Căn cứ theo khoản 2 Điều 160
BLDS 2015: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài
sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Do đó việc Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Đinh Thị Thúy H với anh Trần Anh T và Bùi Thị L vô hiệu đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H
Câu 1.3 Tòa án đã áp dụng chế tài nào cho việc “lạm dụng quyền dân sự” trong
vụ việc này?
Trong vụ việc này, việc “lạm dụng quyền dân sự” đã được Tòa án đã áp dụng
02 hình thức chế tài: vô hiệu hóa và khôi phục lại trạng thái ban đầu:
- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng Công chứng K Đ đã thực hiện chỉ
có giá trị pháp lý đối với nội dung ủy quyền giải chấp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Phòng giao dịch T N, các nội dung khác vô hiệu
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị H (do chị Đinh Thị Thúy H được ủy quyền ký với bên A) với Trần Anh T và Bùi Thị L
là vô hiệu
- UBND huyện T N có trách nhiệm thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã được cấp cho Trần Anh T và Bùi Thị L đối với thửa đất số 58
- Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 58 được trả lại cho bà Lê Thị H
Câu 1.4 Việc áp dụng chế tài nêu trên cho việc “lạm dụng quyền dân sự” trong
vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao?
Việc áp dụng các chế tài nêu trên cho việc “lạm dụng quyền dân sự” trong vụ việc này là thuyết phục Vì đã tương đối bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn - bà Nguyễn Thị H Tòa án đã nhận định: “Do đó, khi ký hợp đồng ủy
quyền, lẽ ra người ủy quyền chỉ được uỷ quyền phần giao dịch giải chấp tài sản với ngân hàng để giải quyết khoản nợ với ngân hàng từ trước thì người ủy quyền lại ủy quyền cho người nhận ủy quyền được toàn quyền mua bán, chuyển nhượng định đoạt khối tài sản này (là ngoài các quyền bà H có) Việc ủy quyền này đã vượt quá phạm vi được phép ủy quyền và gây thiệt hại cho người khác (cụ thể là chủ nợ) Vì sau khi giải chấp khoản vay với ngân hàng thì khối tài sản này không còn bị ràng buộc với ngân
Trang 6hàng, nhưng lại phát sinh nghĩa vụ ràng buộc với các chủ nợ khác” Việc Tòa tuyên
bố hợp đồng trên vô hiệu, trả lại quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị H là tạo điều kiện cho bà Lê Thị H thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị H
VẤN ĐỀ 2: TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT
Câu 2.1 Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết.
Giống nhau:
- Đối tượng có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết:
Người có quyền, lợi ích liên quan tới người mất tích hoặc đã chết
- Cơ quan có thẩm quyền tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết: Toà án nhân
dân cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích hoặc bị tuyên bố chết
- Hình thức văn bản tuyên bố: Quyết định.
- Quyết định của Toà án tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là mất tích hoặc
đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch
- Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên
bố để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch
- Khi người bị tuyên bố mất tích, người bị tuyên bố đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người
đó mất tích hoặc đã chết
- Thủ tục tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết tương tự nhau
Khác nhau:
Cơ sở pháp lý Điều 68, 69, 70 BLDS 2015 Điều 71, 72, 73 BLDS 2015
Khái niệm Là sự thừa nhận của Tòa án về
tình trạng biệt tích của một cá nhân, dựa trên cơ sở có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Là sự thừa nhận của Tòa án về cái chết đối với một cá nhân khi cá nhân đó đã biệt tích trong thời hạn theo luật định trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan
Điều kiện tuyên Căn cứ Điều 68 BLDS 2015: Căn cứ Điều 71 BLDS 2015:
Trang 7Tuyên bố mất tích Tuyên bố chết
bố Khi một người biệt tích 02
năm liền trở lên, mặc dù đã áp
dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích
Lưu ý: Thời hạn 02 năm được
tính từ:
+ Ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó
+ Không xác định được ngày thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng;
+ Không xác định được ngày, tháng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng
– Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
– Đáp ứng đủ điều kiện tại 1 trong 04 trường hợp sau:
+ Sau 03 năm, kể từ ngày
quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Biệt tích trong chiến tranh
sau 05 năm, kể từ ngày chiến
tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; + Bị tai nạn hoặc thảm họa,
thiên tai mà sau 02 năm, kể từ
ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
+ Biệt tích 05 năm liền trở lên
và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tuyên bố mất tích
Hậu quả pháp
lý
Căn cứ Điều 68 BLDS 2015: Căn cứ Điều 72 BLDS 2015:
Về tư cách chủ thể:
Biệt tích đã 2 năm liền trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết
Khi Tòa án ra quyết định tuyên
bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích bị dừng lại và khi người đó trở về thì tư cách chủ
Trong trường hợp quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu lực thì thì tư cách chủ thể của cá nhân
đó chấm dứt hoàn toàn Điều này có nghĩa là, tính từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó không
Trang 8Tuyên bố mất tích Tuyên bố chết
thể của người đó lại có hiệu lực pháp lý
thể tham gia vào bất cứ quan
hệ dân sự nào với tư cách là một chủ thể của quan hệ đó, từ quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân, các giao dịch dân sự
Hậu quả pháp
lý
Về quan hệ nhân thân:
Các quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố mất tích cũng tạm dừng Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người
bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn
Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của người đó được giải quyết như đối với người đã chết Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân của cá nhân bị tuyên
bố chết chấm dứt Các quan hệ nhân thân khác cũng chấm dứt tương tự Nếu vợ hoặc chồng của cá nhân bị tuyên bố chết kết hôn với người khác thì việc kiết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật Các quan hệ nhân thân khác như các quan hệ về tên gọi, danh dự, nhân phẩm của cá nhân hay các quan hệ gắn với tài sản như quyền tác giả về các tác phẩm văn học, quyền tá giả về các phát minh, sáng chế, cũng được giải quyết giống như đối với những người đã chết, có nghĩa là chấm dứt tất cả các quan hệ đó
Hậu quả pháp
lý
Về quan hệ tài sản:
Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú thì tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi Tòa án tuyên bố
Cũng được tuyên bố như đối với người đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế Tức là, khi
Trang 9Tuyên bố mất tích Tuyên bố chết
mất tích và thực hiện các quyền, nghĩa vụ Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên
bố mất tích ly hôn thì tài sản của người bị mất tích giao cho con đã thành niên hoặc cha mẹ quản lý, nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người bị mất tích quản lý, nếu không có người thân thích thì tòa sẽ chỉ định người khác quản lý tài sản
quyết định tuyên bố chết đối với một cá nhân của Tòa án có hiệu lực, thì thời điểm đó cũng
là thời điểm mở thừa kế Đồng thời thời điểm đó cũng là thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Trường hợp người bị tuyên bố chết chưa giải quyết xong các nghĩa vụ về tài sản với chủ thể nào đó thì những người được hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi tài sản của người tuyên bố chết để lại
Câu 2.2 Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết?
Theo điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau
đây: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn
này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này” Như vậy một người
biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn 05 năm liền trở lên thì
có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Tóm tắt Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Bùi Thị T
Bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn C là đã chết Cuối năm 1985, ông
T bỏ nhà đi biệt tích, gia đình bà T đã tổ chức tìm kiếm nhưng không có tin tức Công
an phường xác nhận ông C có đăng ký thường trú từ năm 1976 đến năm 1985 Tòa án nhân dân Quận 9 ban hành Thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T
Tóm tắt Quyết định số 04/2028/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Trang 10Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: anh Quản Bá Đ.
Anh Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Quản Thị K là đã chết Chị K bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1992, Gia đình anh Đ đã tìm kiếm nhưng không có kết quả Sau khi thụ lý, Tòa án ra Thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Đ
Tóm tắt Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Phạm Thị K
Bà K yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn C là đã chết Cụ C bỏ nhà đi từ tháng 01 năm 1997 Gia đình bà K đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả Sau khi thụ lý, Tòa án ra Thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà K
Câu 2.3 Trong các vụ việc trên (quyết định năm 2018 và 2019), cá nhân bị tuyên
bố chết biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao?
Theo điểm d Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Biệt tích 05 năm liền
trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này”; và khoản 1 Điều 68: “…Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày
có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng” Trong các vụ việc trên, cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm:
- Trong Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 9 TP.HCM, ông Trần Văn C biệt tích từ ngày 01/01/1986 Vì bà T và ông
T xác định ông C bỏ đi cuối năm 1985, Công an phường Phước Bình, Quận 9 không xác định được ngày, tháng ông C vắng mặt tại địa phương Do đó thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng
vì không xác định được chính xác ngày, tháng có tin tức cuối cùng của cá nhân đó
- Trong Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, chị Quản Thị K biệt tích từ ngày 01/01/1993
Vì chị K đã bỏ nhà đi từ năm 1992 đến nay không có tin tức, thời điểm có tin tức cuối cùng là năm 1992 và không xác định được ngày tháng Do đó thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng