unreported and unregulated fishing, amending Regulationsngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định Quyết định 78/QĐ-TTg
Trang 1KHOA LUẬT KINH TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẮC PHỤC CỦA THẺ VÀNG EU VÌ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG BÁO CÁO VÀ KHÔNG THEO QUY ĐỊNH - BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT
CHO VIỆT NAM
GVHD: TS VŨ KIM HẠNH DUNG SVTH: NGUYỄN THỊ HOÀI PHÚC MSSV: K195022057
Lớp: K195021C
Tp Hồ Chí Minh, 04/2023
Trang 2KHOA LUẬT KINH TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẮC PHỤC THẺ VÀNG CỦA EU VÌ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG BÁO CÁO VÀ KHÔNG THEO QUY ĐỊNH - BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT
CHO VIỆT NAM
GVHD: TS VŨ KIM HẠNH DUNG SVTH: NGUYỄN THỊ HOÀI PHÚC MSSV: K195022057
Lớp: K195021C
Tp Hồ Chí Minh, 04/2023
Trang 3nhân tôi, không thực hiện việc sao chép của bất cứ tác giả nào Khóa luận này là quátrình tôi tự nghiên cứu, dịch thuật tài liệu và tổng hợp, tham khảo các tài liệu nghiêncứu liên quan đến đề tài Khóa luận Nội dung trong khóa luận có sự tham khảo vàtrích dẫn tài liệu tham khảo được trình bày trong phần danh mục tham khảo Các sốliệu thống kê, các báo cáo và những kết qua thu thập trong khóa luận là hoàn toàntrung thực, phù hợp với các quy định, nguyên tắc về thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 4 năm 2023
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Phúc
Trang 4BFAR The Philippines Department of
Fisheries and Agricultural Resources
Bộ Thủy sản và Tài nguyên Nông nghiệp Philippines
COFI The FAO Committee of Fisheries Ủy ban Nghề cá
FAO Food and Agriculture Organization
of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
IPOA - IUU
International Plan of Action to Prevent, Deter and Eliminate Illegal, Unreported and Unregulated Fishing
Kế hoạch hành động quốc tế để phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định
IUU Illegal, Unreported and Unregulated Bất hợp pháp, Không báo cáo và Không
theo quy định Luật Thủy sản
2017 trên cơ sở hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản 2017
Nghị định 42
Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ban hành ngày 16/5/2019 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thủy sản
PMSA Port States Measures Agreement Hiệp định về Biện pháp quốc gia có cảng Quyết định
Trang 5unreported and unregulated fishing, amending Regulations
ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định
Quyết định
78/QĐ-TTg
Quyết định 78/QĐ-TTg ban hành ngày
16/01/2018 về phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đến năm 2025”
RFMO Regional Fisheries Management
Organization Tổ chức quản lý nghề cá trong khu vựcTAC Total Allowable Catch Khối lượng đánh bắt cá có thể chấp nhận
được
UNCLOS United Nations Convention on the
Law of the Sea 1982
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982
UNFSA United Nations Fish Stocks
Vasep Vietnam Association of Seafood
Exporters and Producers
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Vinafis Vietnam Fisheries Society Hội nghề cá Việt Nam
VMS Vessel Monitoring System Hệ thống giám sát hành trình tàu thuyền WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế 2
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa nghiên cứu 6
7 Bố cục của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH VỀ HÀNH VI ĐÁNH BẮT CÁ BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG CÓ BÁO CÁO VÀ KHÔNG THEO QUY ĐỊNH 7
1.1 Hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định 7
1.1.1 Đánh bắt cá bất hợp pháp 7
1.1.2 Đánh bắt cá không báo cáo 8
1.1.3 Đánh bắt cá không theo quy định 8
1.2 Văn kiện và quy định pháp lý quy định về các biện pháp phòng chống và loại bỏ hoạt động đánh bắt cá IUU: 9
1.2.1 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) 9
1.2.2 Kế hoạch hành động quốc tế để phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định (IPOA - IUU) 11
1.2.3 Quyết định số 1005/2008 của Ủy ban Châu Âu (EC) 13
1.2.4 Các biện pháp phòng chống và loại bỏ hoạt động đánh bắt cá IUU theo quy định của pháp luật Việt Nam 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA THẺ VÀNG IUU ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 24
2.1 Thẻ vàng của EC và các khuyến nghị đối với Việt Nam 24
2.1.1 Thẻ vàng của EC đối với thủy sản Việt Nam 24
2.1.2 Các khuyến nghị của EC dành cho Việt Nam 26
2.2 Tác động của thẻ vàng IUU của EC đối với Việt Nam 28
2.2.1 Tác động tiêu cực 28
2.2.2 Tác động tích cực 29
2.3 Biện pháp khắc phục thẻ vàng của Việt Nam 31
Trang 72.3.2 Xây dựng lắp đặt hệ thống giám sát tàu cá, quản lý đội tài khai thác33 2.3.3 Tiến hành công tác quản lý và giám sát các hoạt động khai thác trên
biển 36
2.4 Đánh giá quá trình của Việt Nam 38
2.4.1 Những điểm tiến bộ trong quá trình thực hiện các biện pháp của Việt Nam 38
2.4.2 Những điểm còn hạn chế 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA TRONG KHU VỰC VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM 44
3.1 Kinh nghiệm về gỡ bỏ thẻ vàng EC về vi phạm IUU của các quốc gia trong khu vực 44
3.1.1 Thái Lan 44
3.1.2 Philippines 48
3.2 Đề xuất cho Việt Nam 53
3.2.1 Bổ sung chế tài hình sự - hình sự hóa các hành vi khai thác IUU trong pháp luật Việt Nam 53
3.2.2 Quy định chế tài đối với các hành vi mua bán, trao đổi các sản phẩm có nguồn gốc từ hoạt động khai thác IUU 54
3.2.3 Ban hành các quy định hướng dẫn về việc truy xuất nguồn gốc thủy hải sản 55
3.2.4 Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế, mở ra cơ hội cho tàu thuyền khai thác của Việt Nam 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 59
KẾT LUẬN CHUNG 60
DANH MỤC THAM KHẢO 62
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy địnhđang là một xu hướng được cộng đồng quốc tế quan tâm và các quốc gia ven biểnchú trọng nhằm mục tiêu bảo tồn, xây dựng và phát triển nguồn lợi sinh vật biển,thủy hải sản Tuy nhiên, nhìn nhận thực tiễn thi hành các biện pháp phòng chốngvẫn đang đặt ra một thách thức lớn đối với các quốc gia ven biển, đặc biệt là cácquốc gia Đông Nam Á như Việt Nam với nguồn tài nguyên thủy hải sản dồi dào đến
từ khu vực Biển Đông
Kể từ thời điểm nhận được tấm thẻ vàng của EC vì vi phạm các quy định liênquan đến IUU, việc ban hành và thực thi các chính sách phòng chống hành vi nàytrở thành một nhiệm vụ quan trọng của Việt Nam trong quá trình “gỡ” thẻ vàng của
EU Việc này đối với ngành thủy sản không chỉ mang lại cơ hội khôi phục và pháttriển tại thị trường quốc tế mà còn giúp Việt Nam tạo được uy tín nhất định trên thịtrường quốc tế.1 Chính phủ Việt Nam cùng các cơ quan ban ngành đã ban hành cácquy định pháp luật và các chính sách thực thi kiểm soát, quản lý các hoạt động khaithác tại các khu vực ven biển Tuy nhiên, thực tiễn thi hành vẫn còn nhiều hạn chếkhiến hiệu quả không được như mong đợi, kéo dài thời gian dự kiến trong quá trìnhkhắc phục thẻ vàng của EU
Nhìn nhận được những hạn chế đó, đề tài Khóa luận với chủ đề:“Khắc phục thẻ vàng của EU vì hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định - Bài học kinh nghiệm và đề xuất cho Việt Nam” được thực hiện
với mục tiêu tham khảo các bài học kinh nghiệm từ các quốc gia đã “gỡ” thẻ vàng,thẻ đỏ thành công trước đó như Thái Lan, Philippines Từ đó, rút kinh nghiệm vàđưa ra những đề xuất dành cho Việt Nam trong hành trình gỡ bỏ thẻ vàng trongtương lai được diễn ra một cách nhanh chóng, hiệu quả và đảm bảo được mục tiêubảo tồn, xây dựng và phát triển một nguồn tài nguyên thủy hải sản
1Hồ Nhân Ái, Trường Đại học Luật - Đại học Huế, Phòng chống khai thác thủy hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo
và không theo quy định ở Việt Nam: Tìm hiểu vấn đề nhu cầu và đề xuất giải pháp, Tài liệu Hội thảo Khoa học quốc tế
“Khung pháp lý quốc tế và Việt Nam về khai thác thủy sản bền vững và có trách nhiệm”, 2022, Tr 175.
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế
Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, việc phòng chống và loại bỏ các hành vikhai thác IUU đã được chú trọng và quy định chặt chẽ và cụ thể hóa trong rất nhiềuvăn kiện pháp lý quốc tế như UNCLOS 1982, IPOA-IUU, Quyết định 1005/2008của EC và các Hiệp định khác giữa các quốc gia kí kết với nhau Hiện nay về vấn đềphòng chống và loại bỏ các hành vi khai thác IUU có một số bài viết nghiên cứuquốc tế nổi bật liên quan đến đề tài
(i) “Engaging Asian States on Combating IUU Fishing: The Curious Case of the
State of Nationality in EU Regulation and Practice” (Khuyến khích sự tham gia của các quốc gia Châu Á vào việc chống khai thác IUU: Trường hợp đáng chú ý của chủ thể có quốc tịch trong quy định và thực tiễn của EU) của tác giả Arron Nicholas
Honniball (2021) được đăng trên tạp chí Cambridge University Press với nội dung
đề cập đến các quy định pháp luật của quốc gia thứ ba không hợp tác với EU trongphòng chống hành vi khai thác IUU, phân tích thực tiễn thực hiện của các quốc giaChâu Á và cho thấy được ưu và nhược điểm của các quốc gia này trong quá trình ápdụng các quy định của EU Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa nêu ra được điểm còn thiếusót và hạn chế về công tác quản lý và thực thi chính sách của quốc gia Châu Á dựatrên các khuyến nghị của EU mà chỉ đề cập đến việc thay đổi pháp lý phù hợp vớiquy định của EU
(ii) “Fishy Business: Regulatory and Enforcement Challenges of Transnational
organised IUU Fishing crimes” (Kinh doanh thủy sản: Những thách thức về quy định và thực thi đối với tội phạm đánh bắt IUU có tổ chức xuyên quốc gia) của tác
giả Andrea A Stefanus & John A E Vervaele (2021) đăng trên tạp chí Springer.Bài viết đề cập đến vấn đề hình sự hóa các hành vi khai thác IUU xuyên quốc giađối với pháp luật quốc gia và quốc tế là điều cần thiết trong sự bùng phát của nạnkhai thác IUU hiện nay thông qua thực tiễn nghiên cứu tình trạng khai thác IUU tạicác quốc gia ven biển, tiêu biểu là Việt Nam và Indonesia, đề xuất sự phối hợp giữacác quốc gia, các RFMO và cả tổ chức quốc tế khác về vấn đề xử lý các hành vi
Trang 10phạm tội xuyên quốc gia của IUU, từ đó tìm ra giải pháp khắc phục, đẩy lùi và loại
bỏ được các hành vi khai thác IUU Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng ở mức chỉ ra thựctrạng và sự cần thiết của một chế tài hình sự đối với các hành vi vi phạm này màchưa đề cập đến sự phù hợp trong việc áp dụng chế tài này của các quốc gia, đặcbiệt là các quốc gia đang phát triển
(iii) “Combating Illegal, Unreported, and Unregulated Fishing: A Vietnamese
Perspective” (Chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định: Góc nhìn của Việt Nam) của tác giả Ngô Hữu Phước và Hồ Nhân Ái (2023)
được đăng tải trên tạp chí Brill - The International Journal of Marine and CoastalLaw Bài viết đề cập đến những nỗ lực của Việt Nam trong việc chống lại các hành
vi khai thác IUU và các nguyên nhân dẫn đến việc khai thác IUU ở quốc gia này,tiến hành đề xuất các giải pháp về tăng cường khung pháp lý quốc gia để nâng caohiệu quả chống khai thác IUU ở Việt Nam Bài viết là một nguồn tham luận quý giáđối với Khóa luận của tác giả khi nghiên cứu về các đề xuất pháp lý đối với việchình sự hóa các hành vi vi phạm IUU trong pháp luật Việt Nam hiện nay
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Đối với tình hình nghiên cứu tại Việt Nam, có một số bài nghiên cứu và bài viết tiêubiểu như sau:
(i) “Đánh bắt cá bất hợp pháp: Một số phân tích từ góc độ luật nhân đạo quốc tế và
thực tiễn của các quốc gia tại Biển Đông” của hai tác giả Nguyễn Thị Hồng Yến và
Nguyễn Phương Dung (2018) tại Hội thảo quốc tế “Những phát triển của luật biển
quốc tế - góc nhìn quốc tế và Việt Nam” Bài viết đã được ra được những lý luận cơ
bản của hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp dưới góc nhìn của luật nhân đạo quốc tế,những điều được phép và không được phép thực hiện trong quá trình xử lý các hành
vi đánh bắt cá IUU thông qua xem xét thực tiễn của các quốc gia trong khu vực biểnĐông Điểm còn thiếu của bài viết là chỉ phân tích dưới góc nhìn nhân đạo liên quanđến hành vi khai thác IUU mà chưa đi vào các giải pháp nhằm giải quyết hành vinày trên thực tiễn áp dụng
Trang 11(ii) “Đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được kiểm soát và
những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (2018),
Khoa Pháp luật Quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội được đăng tải trên Tạp chíNghiên cứu lập pháp số 6 (358), tháng 3/2018 Bài viết đã đề cập một cách kháiquát về tình trạng khai thác IUU tại vùng biển Việt Nam và các vùng biển quốc tế,đồng thời bài viết đề cập đến các quy định pháp luật quốc tế điều chỉnh các hành vikhai thác IUU Bên cạnh đó, bài viết đưa ra các vấn đề trọng tâm mà Việt Nam cầncân nhắc và quan tâm đối với hành động đánh bắt IUU này, từ đó đưa ra các đề xuất
về việc thực hiện các biện pháp phòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU củaViệt Nam hiện nay cần phải tiếp tục và nỗ lực hơn nữa
(iii) “Những lợi ích từ thẻ vàng của Ủy ban Châu Âu áp đặt đối với ngành thủy sản
Việt Nam” của tác giả PGS.TS Ngô Hữu Phước được đăng tại Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp số 23 (471), tháng 12/2022 Bài viết đã thể hiện được một góc nhìn tíchcực đối với thẻ vàng của EC mà Việt Nam nhận được trong quá trình áp dụng biệnpháp và chính sách khắc phục thẻ vàng này Bài viết đã thể hiện được những pháttriển của Việt Nam về mặt pháp luật lẫn chính sách thi hành nhằm mục đích phòngchống hành vi khai thác IUU hiện nay, từ đó đưa ra những đề xuất cho Việt Namphát huy những điểm tích cực, giảm bớt hạn chế hướng đến một kết quả thành côngtrong việc gỡ bỏ thẻ vàng
Mục tiêu cụ thể:
(i) Nghiên cứu các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về các hành viđánh bắt IUU Từ đó, chỉ ra được những yêu cầu về mặt pháp lý trong các biện phápphòng chống hành vi đánh bắt IUU hiện nay
Trang 12(ii) Nghiên cứu tác động của thẻ vàng IUU đối với ngành thủy hải sản Việt Nam.Ngoài ra, đánh giá thực tiễn ban hành và thực thi các biện pháp của Việt Nam trongquá trình khắc phục và gỡ bỏ thẻ vàng IUU Thông qua đó, tìm được ưu và khuyếtđiểm còn tồn tại trong việc ban hành và thực thi các biện pháp của Việt Nam.
(iii) Thông qua việc nghiên cứu và đánh giá quá trình gỡ bỏ thẻ vàng từ các quốcgia trong khu vực, cụ thể là Thái Lan và Philippines Từ đó, rút ra được những bàihọc kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách và biện pháp khắc phục, tiến hànhviệc đưa ra các đề xuất cho Việt Nam dựa trên bài học kinh nghiệm từ các nước và
từ thực tiễn thi hành tại địa phương một cách có hiệu quả và nhanh chóng đạt đượcmục tiêu khắc phục thẻ vàng của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về phòng chốnghoạt động đánh bắt IUU; các biện pháp khắc phục của Việt Nam khi bị ban hành thẻvàng EU về vi phạm IUU và những ưu khuyết điểm còn tồn tại trong quá trình thihành biện pháp
Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận tiến hành nghiên cứu trong phạm vi là cácbiện pháp khắc phục của Việt Nam trong quá trình thực thi khắc phục và gỡ bỏ thẻvàng EU về vi phạm IUU
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện với phương pháp luận nghiên cứu làchủ nghĩa Mác - Lenin, trong đó phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, tác giả hoàn thiện khóa luận tốtnghiệp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích: sử dụng phân tích các quy định pháp luật, thực trạng
áp dụng các quy định trên để đảm bảo được việc phòng, chống các hành vi đánh bắt
cá IUU của các văn kiện quốc tế và pháp luật Việt Nam
Phương pháp thống kê và vụ việc điển hình: sử dụng để thống kê các số liệuthể hiện sự tác động của án phạt thẻ vàng của EU đến ngành thủy hải Việt Nam để
đề cao tính cấp thiết thực hiện các biện pháp khắc phục phù hợp đối với Việt Nam
Trang 13Phương pháp phân tích - so sánh: so sánh bối cảnh và các biện pháp thựchiện giữa các quốc gia trong khu vực khi tiến hành các biện pháp khắc phục nhằm
gỡ bỏ thẻ vàng của EU Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu được sử dụng để sosánh và tìm điểm tương đồng giữa các quốc gia này với Việt Nam, từ đó đút kết cácbài học kinh nghiệm phù hợp đối với hành trình gỡ bỏ thẻ vàng của Việt Nam trongtương lai
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, khóa luận sẽ đưa ra đượcnhững ưu và khuyết điểm còn tồn tại trong việc ban hành và thi hành chính sáchnhằm khắc phục thẻ vàng EU về vi phạm IUU của Việt Nam, đồng thời tham khảocác bài học kinh nghiệm đến từ các quốc gia trong khu vực đã gỡ thẻ vàng thànhcông
Ngoài ra, khóa luận sẽ tiến hành nghiên cứu thực trạng thi hành chính sáchcủa Việt Nam hiện nay để từ đó tìm kiếm điểm tương đồng của Việt Nam với cácquốc gia trong khu vực trong hành trình gỡ bỏ thẻ vàng EU về vi phạm IUU Từ đó,đưa ra được những đề xuất hiệu quả, phù hợp để đẩy mạnh việc gỡ bỏ thẻ vàngtrong tương lai của Việt Nam
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận tốtnghiệp được kết cấu bao gồm ba chương:
Chương 1: Khung pháp lý điều chỉnh hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp,không báo cáo và không theo quy định
Chương 2: Tác động của thẻ vàng IUU đối với Việt Nam và thực trạng thihành các biện pháp khắc phục
Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trong khu vực và đề xuấtcho Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH VỀ HÀNH VI ĐÁNH BẮT
CÁ BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG CÓ BÁO CÁO VÀ KHÔNG THEO QUY ĐỊNH
1.1 Hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định.
Năm 1999, tại Hội nghị Bộ trưởng Thủy sản của FAO, các quốc gia và các tổchức quản lý nghề cá khu vực cùng với các tổ chức quốc tế liên quan khác đã tiến
hành thảo luận và thống nhất đề xuất kế hoạch với tên gọi “Kế hoạch hành động
quốc tế để phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định”- (tên tiếng anh “International Plan of Action to Prevent, Deter and Eliminate Illegal, Unreported and Unregulated Fishing”) Đến ngày 02/3/2001, kế hoạch trên chính thức được thông qua qua bởi
COFI Đây được cho văn kiện pháp lý đầu tiên ghi nhận và thể hiện khái niệm củahành vi IUU một cách toàn diện nhất, đồng thời cũng cung cấp cho các quốc gianhững biện pháp minh bạch, hành động hiệu quả nhằm chống lại IUU
1.1.1 Đánh bắt cá bất hợp pháp
Trong văn kiện của IPOA - IUU, cụ thể tại đoạn 3.1 đã định nghĩa hành vi
“đánh bắt cá bất hợp pháp” được xác định như sau:
“3.1 Khai thác bất hợp pháp là hoạt động đánh bắt cá:
3.1.1 Được tiến hành bởi công dân hay tàu thuyền nước ngoài thực hiện trong vùng biển thuộc quyền tài phán của một quốc gia nhưng lại không có giấy phép hoặc thực hiện trái với các quy định và pháp luật của quốc gia đó;
3.1.2 Do tàu thuyền mang cờ của các quốc gia là thành viên của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực (Regional Fisheries Management Orrganization - RFMO) nhưng lại thực hiện trái với các biện pháp quản lý và bảo tồn của tổ chức
đó và các biện pháp mà tàu mang cờ của quốc gia đó có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc thực hiện trái với các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế;
3.1.3 Vi phạm pháp luật quốc gia hay các nghĩa vụ quốc tế, bao gồm các nghĩa vụ mà các quốc gia liên quan đã tiến hành cam kết với RFMO.”.
Trang 15Vì vậy, để xác định hành vi có được xem là hành vi vi phạm đánh bắt cá bấthợp pháp hay không thì được căn cứ vào các nguồn pháp luật sau, bao gồm: phápluật quốc tế; pháp luật của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ và pháp luật củaRFMOs.2
1.1.2 Đánh bắt cá không báo cáo
Đối với hành vi đánh bắt cá không báo cáo theo quy định của IPOA - IUUđược quy định tại Đoạn 3.2 như sau:
“3.2 Khai thác không báo cáo là hoạt động đánh bắt cá:
3.2.1 Không báo cáo cho các cơ quan có thẩm quyền hoặc có báo cáo nhưng lại thực hiện trái với quy định của pháp quốc gia liên quan;
3.2.2 thực hiện trong khu vực thuộc phạm vi quản lý của RFMO nhưng không thực hiện việc báo cáo với tổ chức này hoặc thực hiện việc báo cáo sai với quy định của tổ chức đó.”.
Như vậy, đối với hành vi đánh bắt cá không báo cáo, quy định áp dụng chocác hành vi trên sẽ bao gồm các quy định về việc báo cáo hành vi đánh bắt cá theopháp luật quốc gia hoặc khu vực quản lý của RFMO - nơi diễn ra hoạt động đánhbắt cá đó
1.1.3 Đánh bắt cá không theo quy định
Hành vi cuối cùng được đề cập đến trong văn kiện IPOA - IUU liên quan đếnIUU là hành vi đánh bắt cá không theo quy định tại Đoạn 3.3 như sau;
“ 3.3 Khai thác không theo quy định là hoạt động đánh bắt cá:
3.3.1 Trong khu vực thuộc phạm vi của RFMO, do một tàu không quốc tịch, hoặc tàu mang cờ của một quốc gia không là thành viên của tổ chức đó, hoặc do một tổ chức đánh bắt cá theo cách thức trái với biện pháp bảo tồn và quản lý của RFMO đó, hoặc;
3.3.2 Trong khu vực hoặc đối với nguồn cá không được quản lý bởi bất kì
2Regional Fishery Management Organization (viết tắt là RFMO) là“ các tổ chức quốc tế điều chỉnh các hoạt động đánh bắt cá trong vùng cao điểm Các quốc gia có điều kiện thuận lợi trong việc đánh bắt thủy sản trong một khu vực địa
lý nhất định tạo thành các RFMO cụ thể Tổ chức có thể được hình thành bởi các quốc gia trong khu vực (‘các quốc gia ven biển’) hoặc các quốc gia có lợi ích trong các hoạt động khai thác trong nghề cá (‘các quốc gia đánh bắt cá xa bờ’) ”
Xem thêm tại
https://oceans-and-fisheries.ec.europa.eu/fisheries/international-agreements/regional-fisheries-management-organisations-rfmos_en
Trang 16biện pháp bảo tồn hay quản lý nào và trong khu vực mà hoạt động khai thác được tiến hành theo cách thức trái với trách nhiệm của một quốc gia trong việc bảo tồn tài nguyên sinh vật theo luật quốc tế.”.
1.2 Văn kiện và quy định pháp lý quy định về các biện pháp phòng chống và loại bỏ hoạt động đánh bắt cá IUU:
1.2.1 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)
UNCLOS 1982 là văn kiện quốc tế đầu tiên cung cấp một khung pháp lýtoàn diện đối với các hoạt động khai thác, bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên sinhvật biển trong vùng biển quốc tế cũng như các“vùng biển thuộc quyền tài phán củacác quốc gia ven biển”trên thế giới UNCLOS quy định quyền và nghĩa vụ của cácquốc gia đối với các hoạt động khai thác nguồn lợi sinh vật biển trong khu vực chủquyền và đặc quyền kinh tế của họ với điều kiện phải thực hiện các biện pháp đểđảm bảo được việc quản lý nhằm phòng chống các hành vi đánh bắt IUU, hướngđến mục tiêu cao nhất là phát triển bền vững và bảo tồn hệ sinh thái biển và nguồnlợi sinh vật biển Tổng quan các quy định trong UNCLOS nhằm mục tiêu nêu trên
có ba nội dụng chính như sau:
Quy định về việc quản lý và ấn định sản lượng khai thác của các quốc giaven biển nhằm tránh việc khai thác quá mức, ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy hải sản.Việc ấn định khối lượng đánh bắt cá có thể chấp nhận được (TAC - Total AllowableCatch) là một trong những biện pháp quan trọng và cần được sử dụng rộng rãi đểquản lý nghề cá lẫn hoạt động đánh bắt cá trong phạm vi quốc gia lẫn trong phạm viquản lý của RFMO tại Khoản 1 Điều 61 trong Công ước với yêu cầu các quốc giaphải ấn định một khối lượng đánh bắt cụ thể đối với từng nguồn tài nguyên sinh vậtthuộc khu vực đặc quyền kinh tế của quốc gia đó.3 Các quốc gia tiến hành đưa racác mức sản lượng được phép khai thác thông qua quá trình xem xét và cân nhắcgiữa yếu tố sinh thái lẫn yếu tố kinh tế để đảm bảo được các hoạt động khai thác
3Khoản 1 Điều 61 UNCLOS 1982 quy định như sau: “Quốc gia ven biển ấn định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận
được đối với các tài nguyên sinh vật ở trong vùng đặc quyền về kinh tế của mình.”.
Trang 17được diễn ra với tần suất phù hợp đem lại các lợi nhuận về kinh tế và cân bằng đượcyếu tố sinh thái, tránh ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên sinh vật biển.4
Thứ hai, quy định về quản lý nguồn tài nguyên hải sản dựa vào dữ liệu Việc
đặt ra các TAC đối với từng quốc gia cần được thực hiện dựa trên các phân tích kĩthuật phù hợp, đáng tin cậy bằng các nghiên cứu khoa học Việc đánh giá này đóngvai trò quan trọng trong việc cân nhắc áp dụng hoặc thi hành các biện pháp bảo vệthích hợp nhằm mục đích quản lý, kiểm soát và duy trì các nguồn lợi sinh vật biểntrong vùng đặc quyền kinh tế Để tận dụng tối đa hiệu quả trong việc ấn định TAC,từng quốc gia cần thiết lập một quy trình thực thi và giám sát TAC phù hợp với các
số liệu khoa học và các thiết bị kĩ thuật đo lường hiện đại để tính toán ra một con sốphù hợp.5 Tuy nhiên, việc này đã gặp những hạn chế nhất định đối với các quốc giađang phát triển, có những khó khăn về kinh tế trong việc sử dụng các trang thiết bị
kĩ thuật và công nghệ thống kê, quản lý số liệu nhằm phục vụ cho việc ấn định sảnlượng TAC phù hợp.6
Thứ ba, trách nhiệm của các quốc gia ven biển về quản lý nhằm mục đích
duy trì nguồn lợi sinh vật Bên cạnh các quyền liên quan đến ấn định và kểm soát sốlượng TAC, theo quy định của UNCLOS, các quốc gia ven biển còn có các quyềnsau: thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật;7xácđịnh khả năng đánh bắt của mình để ấn định số dư của khối lượng cho phép đánhbắt;8chấp nhận cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý được khai tháckhối lượng cá dư trong vùng đặc quyền kinh tế của mình;9 quy định các biện phápnhằm bảo tồn nguồn lợi thủy sản Ngoài ra, các quốc gia ven biển có nghĩa vụ phảiphối hợp các quốc gia khác trong việc bảo tồn, duy trì các nguồn lợi sinh vật biển
Nhìn chung, các quy định của UNCLOS không trực tiếp điều chỉnh các hành
vi IUU nhưng điều này được thực hiện gián tiếp thông qua việc quy định các biện
4 Điều 61.4 UNCLOS 1982.
5 Điều 61.2 UNCLOS 1982.
6Nguyễn Thị Hà, Đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật
Việt Nam, Khoa Luật - Trường đại học Luật, Đại học Huế, Tài liệu Hội thảo khoa học quốc tế “Khung pháp lý quốc tế và
Việt Nam về khai thác thủy sản bền vùng và có trách nhiệm”, 2022, Tr 32.
7 Điều 61 UNCLOS 1982.
8 Điều 62 UNCLOS 1982.
9 Khoản 2 Điều 62 UNCLOS 1982.
Trang 18pháp phòng ngừa và loại bỏ các hoạt động khai thác tài nguyên sinh vật biển đe dọađến môi trường biển và đa dạng sinh học nhằm mục đích phòng ngừa và loại bỏIUU.10 Đây được đánh giá là những bước đầu tiên cho việc ban hành các quy định
cụ thể và rõ ràng hơn trong việc điều chỉnh các hành vi đánh bắt IUU trong các vănbản pháp luật sau này
1.2.2 Kế hoạch hành động quốc tế để phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định (IPOA - IUU)
IPOA - IUU là một văn kiện pháp lý mang tính tự nguyện áp dụng của cácquốc gia, các thực thể và các ngư dân nhưng đây được xem là“công cụ quốc tế đầutiên được thông qua”trong khuôn khổ của “Quy tắc ứng xử về Đánh bắt cá có trách
nhiệm” của tổ chức FAO năm 1995 để phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ hoạt
động đánh bắt IUU.11 Đây là một văn kiện có tính chất khuyến nghị nên việc thựchiện các quy định trong văn kiện này phần lớn là phụ thuộc vào ý chí của các quốcgia Tuy chỉ mang tính chất khuyến nghị nhưng vì mức độ phổ biến rộng rãi của nó,những khuyến nghị trong văn kiện này được cho là đem lại những ảnh hưởng nhấtđịnh trong qúa trình xem xét, đánh giá các biện pháp thực thi pháp luật của quốc giaven biển đối với hành vi IUU
Thông qua văn kiện này, ngoài việc đưa ra các định nghĩa thể hiện các hành
vi IUU, IPOA - IUU cũng cung cấp cho các quốc gia những biện pháp thiết thực,hiệu quả và minh bạch để xử lý các hành vi đánh bắt cá IUU trong khu vực chủquyền của họ Để hiệu quả tối đa các biện pháp này, nội dung văn kiện này có quyđịnh nguyên tắc hoạt động, vận hành bao gồm việc tham gia phối hợp, xử lý minhbạch và thực thi theo từng các đoạn được quy định tại Đoạn 9 - 9.6 trong văn kiện
Cụ thể nội dung chuỗi sáu nguyên tắc hành động như sau:
(i) tham gia và phối hợp giữa các quốc gia và RFMOs trong khu vực Cácquốc gia cần phối hợp thực hiện trực tiếp thông qua việc hợp tác giữa các quốc giavới nhau hoặc gián tiếp thực hiện thông qua các RFMO và các tổ chức quốc tế khác
10Ngô Hữu Phước, “Đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo, không theo định: Nguyên nhân, tác động tiêu cực và
một số khuyến nghị cho Việt Nam và các quốc gia trong khu vực Biển Đông”, Tài liệu Hội thảo Khoa học quốc tế
“Khung pháp lý quốc tế và Việt Nam về khai thác thủy sản bền vững và có trách nhiệm”, 2022, Tr.64.
11 FAO - The Code of Conduct for Responsible Fisheries 1995
Trang 19Sự tham gia đầy đủ và tận tụy của các bên liên quan bao gồm các quốc gia, cácRFMO, cộng đồng ngư dân và các tổ chức phi chính phủ là yêu cầu quan trọng đểthi hành các biện pháp phòng chống IUU hiệu quả.12
(ii) các biện pháp cần được thực hiện theo từng giai đoạn Các quốc gia khitiến hành việc áp dụng, thực thi các biện pháp ngăn chặn, loại bỏ hành vi IUU phảiđược thực hiện theo từng giai đoạn và phù hợp với quy định của pháp luật và chínhsách của quốc gia, với pháp luật trong khu vực và quốc tế, cuối cùng là có sự tươngthích với các quy định trong IPOA.13 Bên cạnh đó, khuyến khích các quốc gia chủđộng ban hành các Kế hoạch quốc gia, các chính sách hoặc quy định pháp luậtnhằm phòng chống các hành vi IUU
(iii) tiếp cận các biện pháp theo cách toàn diện và tổng hợp Các quốc gia cần
đề cao trách nhiệm giải quyết các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, kể cảcác tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của hành vi khai thác IUU Với cáchtiếp cận như trên, các quốc gia tiến hành việc áp dụng dựa trên trách nhiệm chínhcủa quốc gia mà tàu thuyền vi phạm đang treo cờ và sử dụng tất cả quyền tài phán
có sẵn theo luật pháp quốc tế cho phép để thể hiện được thái độ phản đối đối với cáchành vi đánh bắt IUU này Các biện pháp cần được áp dụng một cách tổng hợpthông qua việc hợp tác giữa các quốc gia với nhau.14
(iv) các biện pháp phòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU phải đượcthực hiện với mục đích bảo tồn và sử dụng bền vững, lâu dài nguồn cá, nguồn lợisinh vật biển và bảo vệ môi trường biển.15
(v) việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và loại bỏ hành vi đánh bắt IUUcần được thực hiện một cách minh bạch theo quy định của FAO.16
(vi) không phân biệt đối xử giữa các quốc gia với nhau Trong quá trình ápdụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU, các
12 Đoạn 9.1 Mục III của IPOA - IUU.
13 Đoạn 9.2 Mục III của IPOA - IUU.
14 Đoạn 9.3 Mục III của IPOA - IUU.
15 Đoạn 9.4 Mục III của IPOA - IUU.
16 Đoạn 9.5 Mục III của IPOA - IUU.
Trang 20quốc gia không được phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào đối với bất kỳ quốcgia nào hoặc đối với tàu thuyền đánh bắt của quốc gia đó.17
Thông qua việc quy định trên, FAO đã cho thấy được một bước tiến quantrọng trong việc hỗ trợ và giúp đỡ các quốc gia trong việc đẩy lùi các hành vi đánhbắt IUU trên toàn thế giới Với vai trò là một văn bản hướng dẫn, văn kiện đã cungcấp cho các quốc gia rất nhiều các biện pháp khác nhau theo từng tình huống cụ thể.Nhìn chung, các biện pháp trong IPOA - IUU sẽ bao gồm các biện pháp chính sau:(i) Tăng cường kiểm soát của các quốc gia cảng biển; (ii) Mở rộng các biện phápthương mại của Tổ chức thương mại thế giới WTO; (iii) Tăng cường năng lực quản
lý của các RFMO trong khu vực; (iv) Nâng cao hỗ trợ cho các quốc gia đang pháttriển.18 Văn kiện IPOA - IUU đã xác định được các vấn đề quan trọng, cốt lõi vàthiết yếu trong quá trình thực hiện việc phòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắtIUU Đồng thời thể hiện được tinh thần kêu gọi các quốc gia cần nâng cao và chútrọng thực hiện các hành động kịp thời để ngăn chặn và đưa ra các biện pháp khắcphục những hậu quả của hành vi đánh bắt IUU
1.2.3 Quyết định số 1005/2008 của Ủy ban Châu Âu (EC).
Châu Âu được xem“là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớnnhất”thế giới, đặc biệt là nguồn tiêu thụ hải sản đối với các quốc gia ven biển.Chính vì nhận thức được vai trò của mình, nhằm hưởng ứng và thực hiện tốt nhữngthông điệp chống hành vi khai thác IUU của FAO, EC đã tiến hành ban hành Quyếtđịnh số 1005/2008 Đây là quy định của Hội đồng EC số 1005/2008 ban hành ngày
29 tháng 9 năm 2008 nhằm thiết lập một hệ thống trong cộng đồng nhằm phòngngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, khôngbáo cáo và không theo quy định Văn bản này đã thiết lập một hệ thống kiểm soátcác nguồn thủy hải sản khi tiến hành nhập khẩu vào EU nhằm“ngăn chặn và loại
bỏ”việc nhập khẩu những loại hải sản được đánh bắt và khai thác bằng hoạt độngIUU
17 Đoạn 9.6 Mục III của IPOA - IUU.
18Mercedes Rosello, Cooperation and unregulated fishing: Interactions between customary international law, and the
European Union IUU Fishing regulation, Marine Policy, Volum 84, October 2017, Page 306 - 312.
Trang 21Cụ thể, hệ thống kiểm soát được quy định bao gồm ba phần chính: (i)Chương trình chứng nhận khai thác (Catch Certificate Scheme); (ii) Qúa trình banhành thẻ cho Nước thứ ba; (iii) Hình phạt đối với các quốc gia thuộc khu vực EU.
1.2.3.1 Chương trình chứng nhận khai thác
Tất cả các tàu thuyền khai thác cập cảnh và trung chuyển của các nước thứ
ba và của các quốc gia trong khu vực EU đều phải chứng nhận được nguồn gốc vàtính hợp pháp của việc khai thác các loại thủy hải sản trước khi được nhập khẩu vào
EU EC đã triển khai chương trình chứng nhận khai thác, các tàu thuyền thực hiệncập cảng và nhập khẩu thủy hải sản vào EU phải được cấp và sử dụng giấy chứngnhận khai thác (Catch Certificate) tại Điều 12 của Quyết định 1005/2008
Điều kiện để cấp giấy phép chứng nhận khai thác này sẽ do pháp luật củatừng quốc gia quy định Theo ghi nhận thì cho đến nay đã có hơn 90 nước“trên thếgiới thông báo với EC về việc họ có các tiêu chuẩn giám định”và kiểm tra phù hợpvới yêu cầu về Chương trình chứng nhận khai thác do EC đặt ra Biện pháp nàyđược thực hiện nhằm đảm bảo các quốc gia khi tuân thủ các quy định về quản lý vàbảo tồn”tại quốc gia sở tại lẫn các quy định tại các văn kiện pháp lý quốc tế hoặckhu vực mà quốc gia họ là thành viên
1.2.3.2 Các quy định của EC về việc xem xét ban hành thẻ cho nước thứ ba
Quy định này được ban hành trên tinh thần thực hiện theo nguyên tắc củaFAO được nêu trong văn bản IPOA - IUU về việc tiến hành các biện pháp phòngchống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU một cách toàn diện và phối hợp giữa cácquốc gia với nhau EC yêu cầu các quốc gia có tàu thuyền hoặc các hoạt động khaithác“tham gia vào chuỗi cung ứng thủy hải sản”cho EU“phải hợp tác”trong việcban hành các quy định và biện pháp phòng chống và loại bỏ các hành vi đánh bắtIUU Quy trình và các cách thức xem xét ban hành hình phạt cảnh cáo bằng thẻhoặc đưa ra các khuyến nghị dành cho quốc gia thứ ba liên quan đến các hành viđánh bắt IUU này được quy định cụ thể tại Điều 31.4 Quyết định 1005/2008
EU sẽ tiến hành đánh giá bằng việc đặt ra các nghi vấn được đề cập tại Điều31.5 Quyết định 1005/2008:
Trang 22(i)Mức độ tuân thủ và hợp tác của quốc gia thứ ba thông qua việc phản hồi
và giải quyết các yêu cầu của EU về điều tra, kiểm tra và theo dõi các hoạt độngđánh bắt IUU và các hoạt động khác theo quy định chung của EU theo điểm a Điều31.5 như sau:
“(a) Liệu nước thứ ba liên quan có hợp tác hiệu quả với Cộng đồng bằng việc hồi âm lại các đề nghị của Ủy ban về việc điều tra, phúc đáp, tiếp tục theo dõi hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định và các hoạt động được thực hiện chung.”.19
(ii)Mức độ ban hành các quy định pháp luật và triển khai áp dụng các biệnpháp khắc phục lẫn chế tài xử phạt đối với các hành vi đánh bắt IUU tại quốc gianước thứ ba, đặc biệt chú trọng liên quan đến các chế tài xử phạt đủ nghiêm khắc đểthể hiện rõ tính răn đe đối với hoạt động vi phạm này theo điểm b Điều 31.6 nhưsau:
“(b) Liệu nước thứ ba liên quan có triển khai các biện pháp thực thi có hiệu quả với các bên vận hành chịu trách nhiệm về hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, đặc biệt là liệu các hình thức xử phạt có đủ sức nặng để thu hồi những lợi ích mà bên vi phạm kiếm được từ hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đã được áp dụng;”.20
(iii) Xem xét chi tiết về mặt bản chất và quá trình áp dụng cũng như mức độtác động của các biện pháp và tuyên bố của nước thứ ba về việc phòng chống, ngănchặn và xóa bỏ hành vi đánh bắt IUU theo điểm c Điều 31.5 như sau:
“(c) lịch sử, bản chất, hoàn cảnh, mức độ và sức nặng của các tuyên bố về hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định được xem xét;” 21
(iv)Đối với các quốc gia đang phát triển thì việc xem xét mức độ áp dụng vàban hành công cụ pháp lý sẽ linh hoạt, phụ thuộc vào năng lực hiện tại của các cơquan chức năng tại quốc gia thứ ba này theo điểm a Điều 31.5
“(d) với các nước đang phát triển, sẽ xem xét năng lực hiện tại của các cơ quan chức năng.” 22
19“(a) Whether the third country concerned effectively cooperates with the Community, by providing a response to
requests made by the Commission to investigate, provide feedback or follow-up to IUU fishing and associated activities;”.
20“(b) Whether the third country concerned has taken effective enforcement measures in respect of the operators
responsible for IUU fishing, and in particular whether sanctions of sufficient severity to deprive the offenders of the benefits accruing from IUU fishing have been applied;”.
21“(c) the history, nature, circumstances, extent and gravity of the manifestations of IUU fishing considered;”
22“(d) for developing countries, the existing capacity of their competent authorities.”.
Trang 23Cuối cùng, các yếu tố để EC xem xét và trả lời các nghi vấn nêu trên đượcđặt ra với các quốc gia thứ ba trong quá trình kiểm tra này được thể hiện tại Điều31.6 Quyết định 1005/2008 như sau:
(i)Mức độ tuân thủ và chấp hành của các quốc gia thứ ba trong việc quy địnhcác yêu cầu về quản lý, kiểm soát và bảo tồn nghề cá trong các hoạt động đăng kýcủa tàu thuyền, hệ thống giám sát, kiểm tra và thực thi việc quản lý hoạt động đánhbắt cá và các biện pháp trừng phạt phù hợp với pháp luật quốc tế và quy định củaEU
“(a) việc nước thứ ba liên quan phê chuẩn hay tham gia các điều ưóc thủy sản quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, Hiệp định các bầy cá di cư của LHQ và Hiệp ước Tuân thủ FAO.” 23
(ii)Thực hiện ban hành và sử dụng các công cụ quốc tế, tham gia vào các tổchức khu vực như RFMOs và tuân thù các quy định về việc bảo tồn và quản lý củacác tổ chức này;
“(b) Vị thế của nước thứ ba liên quan với tư cách là bên ký kết hiệp định với các tổ chức quản lý nghề cá khu vực, hoặc thỏa thuận áp dụng các biện pháp quản lý và bảo tồn do tổ chức đó thông qua;” 24
(iii)Thực thi các biện pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phân bổ các nguồn lựcđánh bắt đánh bắt đối với từng khu vực riêng biệt và xây dựng các hệ thống nhằmkiểm soát và giám sát trong khu vực chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế Bêncạnh đó, có các biện pháp phù hợp trong việc kiểm tra các hoạt động đánh bắt đốivới các tàu thuyền khai thác ngoài phạm vi vùng biển chủ quyền
“(c) Bất kỳ hành động hay thiếu sót nào của nước thứ ba liên quan làm giảm tính hiệu quả của luật, các quy định và các biện pháp bảo tồn và quản lý được áp dụng;”.25
Các yêu cầu và điều kiện này đã được EC xem xét bao gồm cả những trườnghợp của các quốc gia đang phát triển hoặc bị hạn chế trong năng lực xây dựng vàban hành các biện pháp phòng chống, ngăn chặn và loại bỏ các hành vi đánh bắt
23“(a) the ratification of, or accession of the third countries concerned to, international fisheries instruments, and in
particular the Unclos, the UN Fish Stocks Agreement and the FAO Compliance Agreement;”.
24“(b) the status of the third country concerned as a contracting party to regional fisheries management organizations,
or its agreement to apply the conservation and management measures adopted by them;”.
25“(c) any act or omission by the third country concerned that may have diminished the effectiveness of applicable laws,
regulations or international conservation and management measures.”.
Trang 24IUU.26Về hệ quả của việc bị đưa vào danh sách các quốc gia thứ ba không hợp táctheo quy định của EC tại Điều 38 Quyết định 1005/2008.
1.2.3.3 Quy trình ban hành thẻ của EC đối với các quốc gia thứ ba không hợp tác
Bước 1: Bắt đầu đối thoại.
EC sẽ tiến hành việc đối thoại với các cơ quan thẩm quyền của nước thứ ba
để kiểm tra các hệ thống có sẵn của quốc gia nhằm chống lại nạn đánh bắt IUU.Thời gian đối thoại có thể kéo dài vài tháng hoặc vài năm tùy thuộc vào mức độ vàyêu cầu kiểm tra của EC
Bước 2: Tiến hành hợp tác trong trường hợp đáp ứng các yêu cầu của
EC về hệ thống và các biện pháp phòng chống và loại bỏ hành vi IUU.
Nếu quốc gia thứ ba hợp tác với EC trong quá trình đối thoại nhằm giảiquyết các vấn đề cần tuân thủ theo quy định của EC Ở bước này, nếu các quốc giađều đã đáp ứng được việc có sẵn các hệ thống chống lại nạn đánh bắt IUU Đồngthời nếu hệ thống trên có những sai sót hoặc có điểm gì hạn chế thì các quốc gia nàyđều thể hiện được việc có đủ các điều kiện để cải thiện hệ thống quản lý và giám sátnghề cá của mình Từ đó, EC sẽ đưa ra quyết định cho rằng việc ban hành thẻ làkhông cần thiết đối với các quốc gia này
Bước 2A: Ban hành thẻ vàng đối với trường hợp các quốc gia không hợp tác hoặc còn thiếu sót trong việc xây dựng hệ thống và các biện pháp phòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU.
Nếu quốc gia thứ ba thiếu sự hợp tác trong quá trình đối thoại với EC hoặc
có những bằng chứng về thiếu sót trong hệ thống và các biện pháp phòng chống vàloại bỏ hành vi đánh bắt IUU thì EC đưa ra các thông báo về nguy cơ bị xác định làquốc gia bất hợp tác đối với quốc gia thứ ba được quy định tại Điều 32.1 của Quyếtđịnh 1005/2008 như sau:
“(a) lý do và những lý do xác định với mọi bằng chứng hỗ trợ sẵn có;
(b) cơ hội phúc đáp lại Ủy ban bằng văn bản liên quan tới quyết định xác định và các thông tin liên quan khác, ví dụ bằng chứng bác lại việc xác định hoặc, nếu phù hợp, một kế hoạch
26 Điều 31.7 Quyết định 1005/2008.
Trang 25hành động để cải thiện và các biện pháp điều chỉnh lại tình hình;
(c) quyền được xin hay cung cấp thông tin bổ sung;
(d) hậu quả của việc bị xác định là nước thứ ba bất hợp tác, theo quy định tại Điều 38.” 27
Cảnh báo này của EC được xem một tấm thẻ vàng dành cho các quốc gia thứ
ba trong trường hợp này Sau khi tiến hành việc công bố“thông qua các phương tiệntruyền thông,”thường sẽ là trên trang thông tin điện tử và tạp chí của EU,28 EC sẽcho các quốc gia thứ ba một khoảng thời gian thích hợp để trả lời thông báo nêutrên và tiến hành điều chỉnh theo Điều 32.4 Quyết định 1005/2008:
“Ủy ban sẽ cho nước thứ ba liên quan thời gian thích hợp để trả lời thông báo và một khoảng thời gian phù hợp để điều chỉnh tình hình.”.29
Bước 3: Thực hiện việc đánh giá những biện pháp khắc phục và thay đổi của quốc gia thứ ba
Các quốc gia sẽ có thời gian thích hợp tùy thuộc vào sự đánh giá và các biệnpháp khắc phục theo quy định tại Điều 32.4 Quyết định 1005/2008 Trong giai đoạnnày, EC sẽ đánh giá dựa trên sự nỗ lực và mức độ khắc phục của các quốc gia trongviệc“giải quyết những thiếu sót dựa trên các khuyến nghị mà EU thông báo Nếuđáp ứng các tiêu chí đánh giá, quốc gia sẽ được ban hành thẻ xanh và được đưa rakhỏi danh sách tàu đánh bắt IUU theo quy định tại Điều 34 Quyết định 1005/2008.Ngoài ra, EC sẽ tiến hành thông báo các quốc thành viên của họ về việc bãi bỏ cácbiện pháp hạn chế thương mại đối với các quốc gia thứ ba này
Bước 4: Xử phạt bằng hình thức ban hành thẻ đỏ trong trường hợp quốc gia thứ ba không có sự khắc phục hoặc không tiến hành cải cách.
Trong trường hợp, các quốc gia thứ ba tiếp tục có sự hợp tác và khắc phụcphù hợp với các khuyến nghị của EC thì sẽ bị xử phạt bằng hình thức ban hành thẻ
đỏ Điều này sẽ dẫn đến hệ quả về“việc cấm nhập khẩu các sản phẩm thủy hải sản
27“(a) the reason or reasons for the identification with all available supporting evidence;
(b) the opportunity to respond to the Commission in writing with regard to the identification decision and other relevant information, for example, evidence refuting the identification or, where appropriate, a plan of action to improve and the measures taken to rectify the situation;
(c) the right to ask for, or to provide, additional information;
(d) the consequences of its identification as non-cooperating third country, as provided in Article 38.”
28 Điều 32.3 Quyết định 1005/2008.
29“The Commission shall give to the third country concerned adequate time to answer the notification and a reasonable
time to remedy the situation.”
Trang 26được khai thác bởi các tàu mang quốc tịch của quốc gia bị nhận thẻ đỏ”và đưa vàodanh sách các nước thứ ba không hợp tác theo Điều 35 Quyết định 1005/2008.
Quyết định này phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tửcũng như các tạp chí của EU.30
1.2.3.4 Hình phạt đối với các nước thành viên EU
Những quy định về việc phòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU khôngchỉ áp dụng đối với các quốc gia thứ ba mà còn được áp dụng đối với cả nhữngquốc gia thành viên của EU Các đối tượng được xác định là quốc gia thành viêncủa EU hoặc liên quan đến EU bao gồm:
(i) Các tàu thuyền thực hiện hoạt động đánh bắt của quốc gia thành viên EUtham gia trực tiếp vào hoạt động đánh bắt IUU;
(ii) Các tàu thuyền không mang cờ của các quốc gia thành viên EU nhưngthuộc sở hữu của các quốc gia thành viên;
(iii) Các công dân của quốc gia thành viên EU được hưởng lợi về tài chính từlợi nhuận của các quốc gia này
Các biện pháp trừng phạt được áp dụng đối với bất kỳ đối tượng nào thuộcquốc tịch của quốc gia thành viên EU khi tham gia vào các hành vi đánh bắt IUU kể
cả là trực tiếp hay gián tiếp.“Các trường hợp vi phạm sẽ chịu mức phạt tối đa gấpnăm lần giá trị sản phẩm thủy sản thu”được từ hành vi đánh bắt IUU Trong trườnghợp tái phạm trong vòng năm năm thì mức phạt được áp dụng gấp tám lần giá trịsản phẩm thủy sản thu được”từ hành vi vi phạm.31
1.2.4 Các biện pháp phòng chống và loại bỏ hoạt động đánh bắt cá IUU theo quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, quy định về các hành vi đánh bắt IUU và nguyên tắc thực hiện các
hoạt động đánh bắt thủy sản tại Việt Nam Trước thời điểm xảy ra sự việc bị rút thẻvàng của EU dành cho Việt Nam, các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi đánhbắt IUU chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật Việt Nam cho đếnkhi Luật Thủy sản sửa đổi 2017 được ra đời Luật Thủy sản được Quốc hội ban
30 Điều 35 Quyết định 1005/2008.
31 Điều 44 Quyết định 1005/2008.
Trang 27hành ngày 21/11/2017 sau khi tiến hành những sửa đổi, bổ sung liên quan đến cácnội dung phòng chống các hành vi đánh bắt IUU dựa trên những khuyến nghị của
EU khi tiến hành rút thẻ vàng với ngành thủy sản Việt Nam vào tháng 10/2017 Đây
là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về các hành vi đánh bắt IUU và được hiểuchung là hành vi đánh bắt thủy sản bất hợp pháp theo Khoản 6 Điều 7
Các hoạt động thủy sản hoặc khai thác thủy sản được hoạt động trên nguyêntắc được quy định tại Điều 5 Luật Thủy sản 2017.32Đối với việc xác định các hành
vi khai thác IUU, tại Khoản 1 Điều 60 Luật Thủy sản xác định các hành vi khai thácbất hợp pháp theo dạng liệt kê như sau:
“Điều 60 Khai thác thủy sản bất hợp pháp
1 Hành vi được coi là khai thác thủy sản bất hợp pháp bao gồm:
a) Khai thác thủy sản không có giấy phép;
b) Khai thác thủy sản trong vùng cấm khai thác, trong thời gian cấm khai thác; khai thác, vận chuyển thủy sản cấm khai thác; khai thác loài thủy sản có kích thước nhỏ hơn quy định; sử dụng nghề, ngư cụ khai thác bị cấm;
c) Khai thác trái phép loài thủy sản thuộc Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm;
d) Khai thác thủy sản trái phép trong vùng biển thuộc quyền quản lý của tổ chức quản lý nghề cá khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ khác;
đ) Khai thác thủy sản vượt sản lượng theo loài, khai thác sai vùng, quá hạn ghi trong giấy phép; e) Che giấu, giả mạo hoặc hủy chứng cứ vi phạm quy định liên quan đến khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
g) Ngăn cản, chống đối người có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, giám sát sự tuân thủ các quy định
về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
h) Chuyển tải hoặc hỗ trợ cho tàu đã được xác định có hành vi khai thác thủy sản bất hợp pháp, trừ trường hợp bất khả kháng;
32 Điều 5 Luật thủy sản 2017 quy định như sau:
“1 Kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
2 Khai thác nguồn lợi thủy sản phải căn cứ vào trữ lượng nguồn lợi thủy sản, gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; tiếp cận thận trọng, dựa vào
hệ sinh thái và các chỉ số khoa học trong quản lý hoạt động thủy sản để bảo đảm phát triển bền vững.
3 Thích ứng với biến đổi khí hậu; chủ động phòng, chống thiên tai; bảo đảm an toàn cho người và phương tiện hoạt động thủy sản; phòng, chống dịch bệnh thủy sản, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường.
4 Bảo đảm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc hưởng lợi từ khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản hoặc hoạt động trong ngành, nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản.
5 Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”.
Trang 28i) Không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ hoặc không vận hành thiết bị thông tin liên lạc và thiết bị giám sát hành trình theo quy định;
k) Không có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định;
l) Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam thủy sản, sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác thủy sản bất hợp pháp;
m) Không ghi, ghi không đầy đủ, không đúng, không nộp nhật ký khai thác thủy sản, không báo cáo theo quy định;
n) Sử dụng tàu cá không quốc tịch hoặc mang quốc tịch của quốc gia không phải là thành viên
để khai thác thủy sản trái phép trong vùng biển quốc tế thuộc thẩm quyền quản lý của tổ chức quản
lý nghề cá khu vực;
o) Sử dụng tàu cá để khai thác thủy sản không theo quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng biển quốc tế không thuộc thẩm quyền quản lý của tổ chức quản lý nghề cá khu vực.”.
Ngoài ra, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ban hành ngày 08/03/2019 quy địnhchi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản 2017, cụ thể tại Điều 3
cũng có định nghĩa ba hành vi khai thác “bất hợp pháp”, “không báo cáo”, “không
theo quy định” để tạo ra sự tương thích với các định nghĩa trong IPOA - IUU.
Với nội dung nêu trên, quy định này cho thấy được sự tương thích giữa quyđịnh của pháp luật quốc gia với các văn kiện pháp lý quốc tế như IPOA - IUU,UNCLOS và Quyết định 1005/2008 của EC về cách nhận diện và xác định các hành
vi đánh bắt IUU
Thứ hai, các biện pháp phòng chống hành vi đánh bắt IUU tại Việt Nam
được quy định trong Luật Thủy sản 2017 và các văn bản pháp luật khác như Nghịđịnh của Chính phủ, các Thông tư của Bộ NNPTNT ban hành Đây là nội dungquan trọng để thực hiện các khuyến nghị của EU trong việc ban hành các biện phápphòng chống và loại bỏ hành vi đánh bắt IUU tại Việt Nam
Các biện pháp bao gồm năm nội dung chính sau: (i) thực hiện“việc quản lýtàu thuyền, người và các hoạt động khai thác thủy sản”được thực hiện trên cơ sở dữliệu quốc gia;33(ii) tiến hành kiểm soát đầu vào trong khai thác thủy sản thông qua
33 Điểm a Khoản 1 Điều 6, Điều 9 Luật Thủy sản 2017; Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ban hành ngày 08/03/2019 hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản có quy định về cách quản lý hoạt động tàu cá trên vùng biển Việt Nam.
Trang 29việc cấp giấy phép nhằm“hạn chế việc khai thác quá mức”và chống lại nạn đánh bắtIUU;34(iii) quản lý sản lượng thủy sản đầu ra thông quan việc kiểm soát sản lượngđánh bắt thủy sản TAC;35(iv) tiến hành quản lý hoạt động khai thác thủy sản thôngquan việc báo cáo và nhật ký khai thác tại từng khu vực địa phương;36(v) đẩy mạnh
và tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát đấu tranh phòng chống IUU và bảotồn nguồn lợi sinh vật;37(vi) ban hành các chế tài xử lý hành vi đánh bắt IUU.38
34 Điều 40 Luật Thủy sản 2017 và Thông tư 02/2018/TT-BNNPTNT ngày 31/01/2018.
35 Thông tư 24/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018.
36 Thông tư 21/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 và Thông tư 23/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018.
37 Thông tư 02/2018/TT-BNNPTNT ngày 31/01/2018 và Thông tư 19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018.
38 Nghị định 42/2019/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2019 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thủy sản, cụ thể nội dung Nghị định quy định các chế tài hành chính đối với 14 hành vi IUU được quy định trong Luật Thủy sản 2017.
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hành vi đánh bắt IUU là một hành vi cần được ngăn ngừa và loại bỏ để bảotồn, duy trì và phát triển nguồn lợi sinh vật biển đa dạng trong hoạt động khai tháchiện nay Các quy định pháp luật liên quan đến nhận diện các hoạt động khai thácIUU lẫn các biện pháp phòng chống và loại bỏ các hành vi này là một trong nhữngyếu tố quan trọng trong quá trình chống lại nạn đánh bắt IUU hiện nay Chương 1
đã tổng hợp được các khái niệm cơ bản đối với định nghĩa và nhận diện hành viđánh bắt IUU được quy định trong nội dung văn kiện quốc tế IPOA - IUU
Thông qua việc tìm hiểu các nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế, cụ thể làtrong các văn kiện quốc tế bao gồm: UNCLOS 1982; IPOA-IUU và Quyết định1005/2008 của EC Đây là các văn kiện quốc tế thể hiện được tinh thần và quy địnhphòng chống, ngăn ngừa và loại bỏ các hành vi đánh bắt IUU một cách toàn diện và
cụ thể nhất Bên cạnh đó, Chương này cũng đã đề cập đến các quy định pháp luậtViệt Nam đối với các hành vi đánh bắt cá IUU thông qua Luật Thủy sản 2017 - vănbản pháp lý đầu tiên của Việt Nam quy định về các hành vi đánh bắt thủy sản bấthợp pháp Các quy định đã cho thấy những sự tương thích cơ bản đối với các quyđịnh của UNCLOS, IPOA - IUU hay nội dung của EC liên quan việc ban hành cácquy định về hành vi đánh bắt IUU và các biện pháp nhằm mục đích phòng ngừa,ngăn chặn và loại bỏ chúng khỏi các hoạt động khai thác thủy sản hiện nay trênhành trình xóa bỏ “thẻ vàng” của Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA THẺ VÀNG IUU ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ
THỰC TRẠNG THI HÀNH CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
2.1 Thẻ vàng của EC và các khuyến nghị đối với Việt Nam
2.1.1 Thẻ vàng của EC đối với thủy sản Việt Nam
Với lợi thế về địa lý khi có đường bờ biển dài 3.260 km, diện tích mặt nướcbiển gấp ba lần so với đất liền, kèm theo đó là sự đa dạng sinh học trong nguồn lợi
về thủy sản, Việt Nam là một trong những quốc gia“sản xuất thủy sản lớn nhất thếgiới với tốc độ tăng trưởng cao.”Điều này đã giúp cho sản lượng xuất khẩu thủy sảnđạt vị trí thứ ba thế giới chỉ sau Trung Quốc và Na Uy với thị trường chính là EU,Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc.39
Trong số các thị trường chính mà Việt Nam tiến hành xuất khẩu thủy sản,
EU là một đối tác thương mại hàng đầu đối với Việt Nam khi đóng vai trò là thịtrường chủ lực và tiêu thụ nhiều sản lượng thủy sản của Việt Nam Điều này đượcthể hiện rõ trong việc tăng trưởng mạnh mẽ của sản lượng xuất khẩu thủy sản từViệt Nam sang EU trong hơn 20 năm qua khi bắt đầu từ mốc 99 triệu USD ở năm
1999 đã vượt lên mức 1,5 tỷ USD vào năm 2017.40 Tuy nhiên, kể từ thời điểm EUkhởi động chương trình phòng chống các hành vi đánh bắt IUU, những biện phápkiểm tra nghiêm ngặt nhằm tuyên truyền việc ngăn ngừa và loại bỏ các hành vi khaithác trái phép, bao gồm sử dụng các công cụ pháp lý như hệ thống thẻ cảnh báo đểthể hiện sự răn đe đối với các quốc gia vi phạm các nguyên tắc về chống đánh bắtIUU do EU đặt ra
Sau nhiều lần tiến hành quá trình điều tra, thu thập thông tin và đánh giá tìnhhình tổng quan của hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân Việt Nam, Đoàn thanhtra của EC đã quyết định báo cáo kiến nghị lên EC và yêu cầu đưa ra cảnh báo “thẻvàng” đối với các sản phẩm thủy sản Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường EU
39Hiệp hội Chế bến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, Đánh giá tác động của IUU đối với hoạt động xuất khẩu sản
phẩm hải sản của Việt Nam, Tài liệu Hội thảo khoa học quốc tế “Khung pháp lý quốc tế và Việt Nam về khai thác thủy
sản bền vùng và có trách nhiệm”, 2022, Tr 101.
40Ngân hàng Thế giới, Đánh giá tác động kinh tế từ phân tích thương mại của việc không tuân thủ quy định về chống
khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU): Trường hợp Việt Nam, Phòng xuất bản
Ngân Hàng Thế giới, 2021, https://wtocenter.vn/file/18515/a-trade-based-analysis-of-the-economic-impact-in-vnese.pdf.
Trang 32vào ngày 23/10/2017 Nguyên nhân mà EC quyết định rút thẻ phạt đối với ngànhkhai thác thủy sản Việt Nam được xác định như sau:41
Thứ nhất,“hệ thống pháp lý về khai thác thủy hải sản không được xây dựng
và ban hành các các quy định theo một cách có hệ thống, đầy đủ, hoàn thiện vàmang tính thống nhất để quản lý các hoạt động khai thác,”đánh bắt thủy hải sản
Thứ hai, hệ thống tàu cá khai thác của Việt Nam trên các vùng biển chưa
đảm bảo được các tiêu chuẩn, điều kiện tham gia khai thác, đặc biệt là tàu thuyền cócông suất khai thác với nguồn lợi thủy sản thực tế trên biển được khai thác
Thứ ba, hệ thống kiểm tra, giám sát tàu thuyền và các hoạt động khai thác tại
các địa phương Việt Nam còn thô sơ, không được trang bị các thiết bị hiện đại dẫnđến việc hoạt động chưa được hiệu quả, không phát huy được chức năng giám sátkhai thác thủy hải sản và các hoạt động đánh bắt khác
Thứ tư, hệ thống xác nhận nguồn gốc của thủy hải sản từ các hoạt động khai
thác trên biển còn thiếu sót, không xác định được rõ ràng nguồn gốc khai thác từcác sản lượng thủy hải sản được ngư dân đi khác thác là hợp pháp hay bất hợp pháp
Thứ năm, còn xuất hiện tình trạng ngư dân Việt Nam khai thác trái phép trên
vùng biển của các quốc gia khác Những hành vi vi phạm của ngư dân Việt Nam đãkhông ít lần nhận được sự cảnh báo và chế tài răn đe của các quốc gia láng giềngkhi tiến hành xâm phạm đến vùng biển khai thác của họ.42 Đây là điểm mấu chốtkhiến cho EC lo ngại về nguồn gốc của số lượng thủy hải sản mà Việt Nam tiếnhành xuất khẩu sang thị trường của khu vực này khi nghi ngờ có nguồn gốc từnhững hành vi khai thác trái phép nêu trên
Từ các nguyên nhân trên đã cho thấy được sự thiếu sót đối với việc phòngchống và loại bỏ các hành vi đánh bắt IUU mà EU đã quy định và đưa ra áp dụng
41Lê Khắc Đại, Trường Đại học Luật - Đại học Huế, Những tác động của thẻ vàng IUU đối với Việt Nam và một số kiến
nghị giải pháp để gỡ thể vàng IUU đối với ngành thủy sản Việt Nam, Tạp chí Công thương, ngày 30/05/2020,
de-go-the-vang-iuu-doi-voi-nganh-thuy-san-viet-nam-71949.htm
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nhung-tac-dong-cua-the-vang-iuu-doi-voi-viet-nam-va-mot-so-kien-nghi-giai-phap-42Phúc Quân, Ngăn chặn tàu cá Việt Nam khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài, Báo Điện tử Nhân Dân,
Chuyên mục Xã Hội, ngày 02/12/2021, vung-bien-nuoc-ngoai-post676475.html.
Trang 33https://nhandan.vn/ngan-chan-tau-ca-viet-nam-khai-thac-hai-san-trai-phep-o-đối với các quốc gia thứ ba khi muốn nhập khẩu các sản phẩm thủy hải sản vào thịtrường của các quốc gia thành viên trong khu vực này.
2.1.2 Các khuyến nghị của EC dành cho Việt Nam
EU đã đưa ra 9 khuyến nghị mà Việt Nam cần lưu ý và yêu cầu Chính phủcần phải có hành động, chính sách cụ thể để giải quyết các vấn đề này Từ đó, EU
sẽ dựa trên sự cố gắng và hiệu quả khắc phục của Việt Nam để đánh giá rút lại thẻvàng Các khuyến nghị mà EU đưa ra như sau:
“ (i) Sửa đổi khung pháp lý để đảm bảo tuân thủ các quy tắc quốc tế và khu vực áp dụng cho việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản;
(ii) Đảm bảo thực hiện và thực thi có hiệu quả của pháp luật quốc gia sửa đổi;
(iii) Tăng cường việc thực hiện có hiệu quả các quy tắc quốc tế và các biện pháp quản lý thông qua một chế độ xử phạt đầy đủ được thực thi và theo dõi;
(iv) Khắc phục những thiếu sót đã được xác định trong việc theo dõi, kiểm soát, giám sát tàu cá (MCS) liên quan đến các yêu cầu đặt ra từ các quy định quốc tế và khu vực cũng như trong khuôn khổ hệ thống chứng nhận khai thác;
(v) Tăng cường quản lý và cải tiến hệ thống đăng ký và cấp phép khai thác;
(vi) Cân đối năng lực khai thác và chính sách đội tàu cá;
(vii) Tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản và thực hiện tất cả các bước cần thiết, phù hợp với luật pháp quốc tế, để ngăn chặn việc buôn bán và nhập khẩu các sản phẩm thủy sản đánh bắt bất hợp pháp;
(viii)Tăng cường và cải tiến hợp tác với các quốc gia khác (đặc biệt là các quốc gia ven biển trong vùng biển mà tàu thuyền treo cờ Việt Nam có thể hoạt động) phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế;
(ix) Đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ báo cáo và lưu giữ trong RFMOs.”.43
Nhận được các khuyến nghị trên, Chính phủ đã nhanh chóng chỉ đạo các địaphương tiến hành triển khai các giải pháp cần thiết trên tinh thần khắc phục mộtcách hiệu quả tối đa để giải quyết của khuyến nghị này
Hơn 6 tháng, kể từ ngày quyết định thẻ vàng của EU được đưa ra cho ViệtNam,“vào tháng 5/2018, Đoàn kiểm tra của Tổng cục Hàng hải và Nghề cá EC (DG
- MARE)”đã tiến hành kiểm tra quá trình thực thi và triển khai các khuyến nghị của
43 Ngân hàng Thế giới (2021), tlđd.
Trang 34EC dành cho Việt Nam Sau quá trình kiểm tra và đánh giá, nhận thấy có những tiến
bộ nhất định nhưng vẫn có vài điểm chưa khắc phục được của Chính phủ Việt Namtrong việc xác định các lĩnh vực và vấn đề cần thực hiện Vì vậy, Đoàn kiểm traquyết định đưa ra thêm“4 nhóm khuyến nghị mà Việt Nam cần tiếp tục khắc phụcnhằm chống các hành vi khác thác IUU, bao gồm:“(i) Khung pháp lý; (ii) Hệ thốnggiám sát và kiểm soát tàu cá; (iii) Thực thi pháp luật; và (iv) Truy xuất nguồn gốcthủy sản khai thác.44”Đây được xem là điều cần thiết để Việt Nam có thể xác định
rõ ràng hơn hướng khắc phục và phát triển các biện pháp cần thiết trong hành trình
gỡ thẻ vàng của EU đối với ngành khai thác thủy sản và xuất khẩu thủy sản tại thịtrường chính này.45
Chính vì vậy, các khuyến nghị của EC“đóng một vai trò rất quan trọng trongviệc hướng dẫn,”mở đường cho các biện pháp, chính sách của Việt Nam trên hànhtrình gỡ bỏ thẻ vàng của EC đối với ngành xuất khẩu thủy sản của mình.46 Chínhsách và biện pháp của Chính phủ càng phù hợp với các khuyến nghị của EC sẽ mở
ra được nhiều cơ hội hơn nữa dành cho lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản của ViệtNam sớm có ngày được quay trở lại thị trường EU một cách nhanh chóng
Bên cạnh đó, việc ban hành và thi hành các chính sách của Việt Nam trênthực tiễn là rất cần thiết để phản ánh được tính hiệu quả và thiết thực để thể hiệnđược sự thiện chí và nỗ lực của Việt Nam trên hành trình phòng chống và loại bỏhành vi đánh bắt IUU này Vì trong trường hợp Việt Nam không khắc phục đượcthẻ vàng và bị đưa vào danh sách các quốc gia thứ ba không hợp tác - đồng nghĩavới việc nhận một thẻ đỏ của EU đối với các sản phẩm nhập khẩu thủy hải sản vàothị trường này thì tác động sẽ rất lớn Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện cácbiện pháp và chính sách theo các khuyến nghị của EU là mục tiêu hàng đầu của
44Đỗ Hương, Chống khai thác IUU: Cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, Báo Điện tử Chính phủ, ngày
24/06/2022,
https://baochinhphu.vn/chong-khai-thac-iuu-can-day-manh-ap-dung-cong-nghe-thong-tin-10222062318111367.htm.
45Diệu Hoa, EU “rút thẻ vàng” với thủy sản Việt Nam, Thời báo tài chính Việt Nam, ngày 25/10/2017,
https://thoibaotaichinhvietnam.vn/eu-quotrut-the-vangquot-voi-thuy-san-viet-nam-22140.html.
46Nguyen Hoai Thong Nam - Nguyen Tien Hang Le, A Trade - Based Analysis of the Economic Impact of
Non-Compliance with Ilegal, Unreported and Unregulated Fishing: The Case of Vietnam, FIU Security Research Hub, 2021,
https://digitalcommons.fiu.edu/srhreports/iuufishing/iuufishing/112/
Trang 35Chính phủ và các cơ quan ban ngành trong giai đoạn này Các chính sách và biệnpháp của Việt Nam sẽ được đề cập và phân tích cụ thể tại phần 2.3 của Chương này.
2.2 Tác động của thẻ vàng IUU của EC đối với Việt Nam
2.2.1 Tác động tiêu cực
Thứ nhất, tác động đầu tiên và được nhận thấy rõ ràng nhất là việc ảnh
hưởng đến các hoạt động xuất khẩu thủy sản vào thị trường khu vực EU Đây là lĩnhvực bị tác động một cách trực tiếp từ cảnh báo EU dành cho Việt Nam Các quốcgia thành viên của EU cũng đã có những chính sách nghiêm ngặt đối với các sảnphẩm thủy hải sản của Việt Nam, ảnh hưởng rất nhiều đến sản lượng thủy hải sảnxuất khẩu sang các thị trường này, đặc biệt là thị trường của Ý, Tây Ban Nha, Đức
và Pháp.47Sản lượng thủy hải sản Việt Nam vào thị trường EU bị giảm nhiều kể từthời điểm nhận thẻ vàng khiến cho kim ngạch xuất khẩu cũng bị giảm theo, cụ thểgiảm khoảng hơn 100 - 150 triệu USD về giá trị xuất khẩu của Việt Nam.48 Sảnlượng xuất nhập khẩu giảm bình quân từ 6% ở năm thứ nhất và 9% ở năm thứ haisau khi Việt Nam nhận cảnh báo thẻ vàng Tác động của thẻ vàng đối với xuất khẩuthủy sản vào EU thể hiện qua sản lượng các sản phẩm bị giảm mạnh sau tầm 2 năm
kể từ thời điểm Việt Nam nhận án phạt của EC với mức xuất khẩu thủy sản giảmgần 184 triệu USD.“Mức tổng kim ngạch xuất khẩu hải sản giảm hơn 43 triệuUSD”(tương đương với mức giảm 10%).49
Thứ hai, các quốc gia thành viên EU và các quốc gia khác thực hiện việc
kiểm định sản phẩm nhập khẩu vào thị trường mình một cách gắt gao hơn Điều này
đã khiến cho các thương nhân Việt Nam khi tiến hành xuất khẩu sản phẩm thủy hảisản qua các thị trường trên sẽ phải tốn kém về chi phí và thời gian để kiểm tranguồn gốc, thông tin của các lô hàng nhập khẩu vào EU và các quốc gia khác tại cáccửa hải quan Những chi phí liên quan đến việc truy xuất nguồn gốc, chi phí bảoquản đông lạnh đối với thủy hải sản và chi phí lưu kho nếu thời gian kiểm tra diễn
47Hiệp hội Chế bến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (2022), Tr 109.
48Hạ Vũ, Khuyến nghị của EC để gỡ “thẻ vàng” thủy sản sau 10 ngày kiểm tra tại Việt Nam, The Leader - Diễn đàn của
các nhà quản trị, ngày 14/11/2019, tra-tai-viet-nam-1573732906621.htm.
https://theleader.vn/khuyen-nghi-cua-ec-de-go-the-vang-thuy-san-sau-10-ngay-kiem-49Trần Mạnh, Xuất khẩu thủy sản sang EU giảm mạnh vì thẻ vàng IUU, Tuổi trẻ Online, ngày 11/08/2021,
https://tuoitre.vn/xuat-khau-thuy-san-sang-eu-giam-manh-vi-the-vang-iuu-20210810233138237.htm.
Trang 36ra quá dài sẽ được xem là một trong những thiệt hại không nhỏ đối với các thươngnhân này.
Thứ ba, ảnh hưởng đến các hoạt động đánh bắt cá của ngư dân tại các địa
phương ven biển Đây là hệ quả của việc sụt giảm sản lượng xuất khẩu sang thịtrường EU đã ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt cá của ngư dân.”Đối với hệ thốngtàu thuyền khai thác hiện nay tại Việt Nam, có hơn 110.000 tàu thuyền, trong đó sốlượng tàu khai thác chiếm gần 97% (tương đương số lượng gần 109.000 chiếc) và
có 30.500 tàu đánh bắt xa bờ với sản lượng đánh bắt gần 4 triệu tấn.50Tuy nhiên vìnhững biện pháp hạn chế về xuất khẩu đã khiến cho hoạt động đánh bắt cá của tàuthuyền cũng bị giảm đi khi sản lượng thủy hải sản đánh bắt được không thể tiếnhành xuất khẩu hoặc chỉ xuất khẩu được một phần nhỏ ra thị trường quốc tế Bêncạnh đó, mức sống và thu nhập của ngư dân phụ thuộc thu nhập từ các hoạt độngmua bán thủy hải sản để xuất khẩu cũng gặp nhiều khó khăn.51
Thứ tư, ảnh hưởng đến các hoạt động, chính sách liên quan đến đảm bảo
thực thi chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại vùng biển quốc gia Việc các ngư dânkhông tiến hành việc đánh bắt, khai thác thủy hải sản hoặc sự hạn chế hoạt động củacác tàu thuyền đánh bắt xa bờ sẽ khiến cho các hoạt động thực thi yêu sách và gópphần bảo vệ chủ quyền biển đảo bị ảnh hưởng không ít Việc hải sản không xuấtkhẩu được, ngư dân không ra khơi đánh bắt cá xa bờ sẽ dễ tạo ra một tác độngkhông tốt đối với vấn đề thực thi yêu sách hoặc chính sách về biển của Việt Nam
2.2.2 Tác động tích cực
Thứ nhất, trước khi bị thẻ vàng của EU, Việt Nam vẫn chưa có một văn bản
pháp luật hoàn chỉnh quy định cho các hoạt động khai thác thủy hải sản Tuy nhiên,
để thể hiện được tinh thần thiện chí khắc phục thẻ vàng của EU, sau khi nhận được
án phạt và các khuyến nghị của EU, nỗ lực ban hành văn bản pháp lý cho hoạt độngkhai thác thủy hải sản tại Việt Nam, đồng thời“nhanh chóng thúc đẩy việc thực hiện
50Minh Trang, Thực trạng hoạt động khai thác, nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Tạp chí Công Thương, ngày
12/11/2022, nam-101665.htm.
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thuc-trang-hoat-dong-khai-thac-nuoi-trong-va-xuat-khau-thuy-san-viet-51 Lê Khắc Đại (2020), tlđd.
Trang 37và áp dụng các quy định pháp luật một cách hiệu quả nhất có thể.52 Việc ban hànhLuật Thủy hải sản vào ngày ngày 21/11/2017, chỉ sau một tháng kể từ thời điểmnhận thẻ vàng của EC cho thấy được những quyết tâm muốn khắc phục nhanhchóng sự thiếu sót về mặt pháp lý mà khuyến nghị của EC đã đề cập đến.
Các cơ quan ban ngành và chính quyền quản lý tại các địa phương vùng venbiển đã đưa ra hàng loại các chính sách và thực thi các quy định pháp luật để nhanhchóng đưa các quy định trên lý thuyết được áp dụng tại thực tiễn Những hành độngnày đã cho thấy được sự quyết tâm của các cơ quan ban ngành và Chính phủ trongcông cuộc tháo gỡ thẻ vàng, hướng đến việc xây dựng ngành khai thác thủy hải sảnViệt Nam phát triển bền vững và phù hợp với pháp luật quốc tế Đây là một trongnhững tác động tích cực đầu tiên về phương diện pháp lý đối với Việt Nam, nhận rađược tầm quan trọng của pháp lý trong việc phòng chống các hành vi đánh bắt IUUnày
Thứ hai, việc bị thẻ vàng của EU đã đóng vai trò như một hồi chuông cảnh
báo cho các tổ chức quản lý các hoạt động khai thác thủy hải sản lẫn các ngư dântrực tiếp thực hiện các hoạt động này Nhờ đó, các tổ chức, cơ quan chức năng cóthẩm quyền quản lý đã thực hiện nhiều chương trình tuyên truyền, phố biển phápluật và chính sách cho các ngư dân thực hiện hoạt động khai thác trên biển
Các cơ quan như Bộ đội Biên phòng, Vinafis, Vasep đã tích cực thực hiệnviệc tổ chức rất nhiều chương trình tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về mặtpháp lý lẫn về mặt môi trường, tài nguyên biển đối với tác hại của nạn đánh bắt khaithác IUU này cho ngư dân tại các địa phương ven biển.53Với những nội dung phổbiến quy định pháp luật vừa mang tính răn đe, vừa mang tính nhắc nhở để chongười dân ngày càng tiếp cận được với các quy định pháp luật, hiểu rõ chúng để cáccông tác thực thi và hướng dẫn ngư dân làm theo pháp luật được diễn ra một cáchnhanh chóng và hiệu quả
52Ngô Hữu Phước, Những lợi ích từ thẻ vàng của Ủy ban Châu Âu áp đặt đối với ngành thủy sản Việt Nam, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số 23 (471), tháng 12/2022.
53Nguyễn Văn Sơn, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Đẩy mạnh các biện pháp chống khai thác thủy sản bất hợp pháp,
không báo cáo và không theo quy định, góp phần duy trì trật tự, an toàn, phát triển kinh tế biển, Tạp chí Quốc phòng
toàn dân, ngày 08/12/2022, bat-hop-phap-khong-bao-cao-va-khong-theo-q-17513.html.