1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó

56 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Bệnh Lý Sỏi Bàng Quang Và Bước Đầu Ứng Dụng Điều Trị Bệnh Lý Sỏi Urate Trên Chó
Tác giả Th.s Bùi Thị Diệu Mai
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Nông Học
Thể loại Báo Cáo Tổng Kết Nhiệm Vụ Khoa Học Công Nghệ Cấp Cơ Sở
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Yêu cầu chung .................................................... Error! Bookmark not defined. 1.2. Yêu cầu ............................................................... Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (0)
  • 1.1. Những nghiên cứu ngoài nước liên quan đến bệnh lý sỏi bàng quang (11)
    • 1.1.1. Bệnh lý sỏi bàng quang (11)
    • 1.1.2. Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu (12)
      • 1.1.2.1. Định nghĩa siêu âm (12)
      • 1.1.2.2. Đọc và phân tích hình ảnh siêu âm (12)
      • 1.1.2.3. Các hiện tƣợng hay gặp trong siêu âmBóng âm (0)
      • 1.1.2.4. Các bước tiến hành siêu âmChuẩn bị thú (14)
      • 1.1.2.5. Động tác lia đầu dò (15)
      • 1.1.2.6. Phương pháp siêu âm bàng quang (17)
    • 1.1.3. Hình ảnh siêu âm bình thường của thận (18)
    • 1.1.4. Hình ảnh siêu âm bình thường của bàng quang (18)
  • 1.2. Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu (18)
    • 1.2.1. Xét nghiệm nước tiểu (18)
    • 1.2.2. Phương pháp lấy mẫu nước tiểu (20)
      • 1.2.2.1. Thu thập tự nhiên (20)
      • 1.2.2.2. Chọc dò bàng quang (21)
      • 1.2.2.3. Thông niệu đạo (21)
    • 1.2.3. Các thông số kiểm tra nước tiểu (22)
      • 1.2.3.1. Tính chất lý hóa của nước tiểu (22)
      • 1.2.3.2. Tính chất sinh hóa của nước tiểu (23)
    • 1.2.4. Thay đổi về sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường tiết niệu (26)
  • 1.3. Sự hiểu biết về sỏi urate và các loại sỏi bàng quang phổ biến trên chó (27)
    • 1.3.1. Sỏi urate (27)
    • 1.3.2. Một số loại sỏi bàng quang phổ biến khác (29)
      • 1.3.2.1. Sỏi struvite (29)
      • 1.3.2.2. Sỏi calcium oxalate (31)
      • 1.3.2.3. Sỏi cystine (32)
  • 1.4. Những nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài (0)
  • CHƯƠNG II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN (36)
    • 2.1. Mục tiêu của đề tài (36)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (36)
      • 2.2.1. Ghi nhận các trường hợp bệnh lý sỏi bàng quang trên chó3.2.1.1 Yêu cầu (36)
      • 2.2.2. Mục đích (36)
    • 2.3. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.3.1. Thời gian và địa điểm (36)
      • 2.3.2. Điều trị, phòng ngừa tái phát trên một số ca bệnh sỏi urate bàng quang dựa (37)
        • 2.3.2.1. Yêu cầu (37)
        • 2.3.2.2. Mục đích (37)
    • 2.4. Phương pháp thực hiện (37)
      • 2.4.1. Qui trình thực hiện (37)
      • 2.4.2. Ghi nhận các trường hợp bệnh sỏi bàng quang trên chó (37)
      • 2.4.3. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh sỏi bàng quang (38)
      • 2.4.4. Phương pháp chẩn đoán bằng phương pháp siêu âm trên thú bị sỏi bàng (38)
      • 2.4.5. Phương pháp xét nghiệm nước tiểu thú bị sỏi bàng quang (39)
      • 2.4.6. Phương pháp phẫu thuật sỏi bàng quang (40)
      • 2.4.7. Thử nghiệm phác đồ điều trị sỏi urate bàng quang (42)
    • 2.5. Xử lý số liệu (44)
  • CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (45)
    • 3.1. Tỷ lệ các loại sỏi bàng quang trên chó khảo sát (45)
    • 3.2. Kết quả hiệu quả điều trị chó bị sỏi urate theo phác đồ (47)
      • 3.2.1. Kết quả điều trị chó bị sỏi urate không phẫu thuật (47)
      • 3.2.2. Kết quả điều trị chó bị sỏi urate điều trị phẫu thuật (49)
      • 3.2.3. Kết quả điều trị chó bị sỏi urate điều trị phẫu thuật (51)
  • CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN (53)
    • 4.1. Kết luận (53)
    • 4.2. Tồn tại (53)
    • 4.3. Kiến nghị ............................................................................................................ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO (54)

Nội dung

Trước tình hình đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước đầu ứng dụng điều trị sỏi urate theo phác đồ trên chó” tại Phòng khám thú y Haxi tại k1/84 Bùi

Những nghiên cứu ngoài nước liên quan đến bệnh lý sỏi bàng quang

Bệnh lý sỏi bàng quang

Sỏi bàng quang là những khối đá nhỏ hình thành từ khoáng chất, thường có hình tròn và kích thước đa dạng, từ bé như hạt ngô đến lớn như quả trứng gà Sỏi có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc nhiều viên, gây tổn thương niêm mạc bàng quang, dẫn đến viêm đỏ và phù nề Nếu không được điều trị, tình trạng này có thể tiến triển thành viêm loét niêm mạc bàng quang, ảnh hưởng đến lớp cơ và lớp mỡ xung quanh, làm giảm dung tích và khả năng bài tiết của hệ thống tiết niệu.

Sỏi bàng quang hình thành khi nước tiểu trong bàng quang bị cô đặc, dẫn đến kết tinh khoáng chất Nguyên nhân gây ra tình trạng này thường là do tuyến tiền liệt phì đại, tổn thương dây thần kinh hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát Mặc dù sỏi bàng quang không phải lúc nào cũng gây triệu chứng, nhưng khi có, chúng có thể biểu hiện từ đau bụng đến sự xuất hiện của máu trong nước tiểu.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Pho (1995), sỏi hình thành do sự bão hòa của các tinh thể khoáng trong nước tiểu khi nồng độ khoáng chất vượt quá giới hạn cho phép, dẫn đến sự tích tụ và hình thành viên sỏi Các khoáng chất phổ biến trong cơ thể gia súc bao gồm magnesium, phosphorus, calcium và ammonia.

Các tinh thể khoáng chất hình thành xung quanh một nhân protein và mucoprotein, chiếm dưới 5% thành phần của sỏi Phần còn lại bao gồm các vi lượng như urate, kim loại kiềm và flour.

Khẩu phần ăn và phương pháp cho ăn uống có thể ảnh hưởng đến độ pH của nước tiểu, cũng như lượng nước tiểu và khả năng cô đặc, dẫn đến tình trạng nước tiểu bị bão hòa.

Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu

Siêu âm là kỹ thuật khảo sát hình ảnh sử dụng sóng âm tần số cao để tạo ra hình ảnh bên trong cơ thể Phương pháp này an toàn vì không sử dụng phóng xạ ion hóa như X-quang.

Hình ảnh siêu âm được ghi nhận theo thời gian thực, cho phép hiển thị cấu trúc và chuyển động của các bộ phận bên trong cơ thể, bao gồm cả hình ảnh dòng máu lưu thông trong các mạch máu.

Sóng âm là hiện tượng vật lý mà năng lượng được truyền tải qua dao động của các phần tử vật chất, với đơn vị đo lường là Hz (Hertz) Trong lĩnh vực ghi hình siêu âm y học, tần số dao động dao động từ 1 MHz đến 12 MHz, tương ứng với 1 triệu chu kỳ chấn động trong một giây (1 MHz = 1 mêga Hertz).

1.1.2.2 Đọc và phân tích hình ảnh siêu âm

Là ranh giới giữa hai môi trường đặc có cấu trúc âm khác nhau, như gan, thận phải, lách thận trái và khối u đặc, cũng có thể là cấu trúc lỏng hoặc khối u bình thường và bệnh lý như thành bàng quang, thành túi mật, u nang.

Hình cấu trúc được phân loại thành nhiều loại khác nhau, bao gồm cấu trúc đặc với hồi âm đồng nhất (nhu mô phủ tạng đặc) hoặc không đồng nhất (nhu mô bệnh lý phủ tạng đặc) Ngoài ra, có thể gặp cấu trúc lỏng rỗng với hồi âm bình thường (bàng quang, túi mật) hoặc bệnh lý (u nang, ổ máu tụ, thận ứ nước) Siêu âm có khả năng phân biệt các cấu trúc choán chỗ và đánh giá độ hồi âm.

Độ hồi âm, hay còn gọi là echo, là đặc trưng phản ánh khả năng phản xạ sóng siêu âm của các cơ quan Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm được phân loại thành ba mức: hồi âm dày (hyperechoic) tạo ra hình ảnh sáng, hồi âm kém (hypoechoic) cho hình ảnh tối, và hồi âm trống (sonolucent) thể hiện hình ảnh đen Độ hồi âm trên máy siêu âm cho biết độ sáng hoặc tối của hình ảnh quan sát, và thông qua thang độ xám chuẩn trên máy, chúng ta có thể ước lượng sự thay đổi của độ hồi âm nếu có.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm có thể giúp ước lượng tổn thương dưới dạng đặc hoặc lỏng Tổn thương được phân loại thành ba loại: đặc (hồi âm bên trong đồng nhất hoặc không đồng nhất), dịch (nang) và hỗn hợp, bao gồm cả phần đặc và phần dịch.

Trong thực tế, nhiều mô có bản chất đặc nhưng độ hồi âm kém, giống như trống, ví dụ như hạch lymphoma Ngược lại, một số chất dịch như mủ lại có độ hồi âm dày, như abscess gan do vi trùng Vì vậy, cần xem xét thêm nhiều yếu tố khác để xác định đúng dạng tổn thương.

1.1.2.3 Các hiện tượng hay gặp trong siêu âmBóng âm

Hiện tượng bóng âm, hay còn gọi là bóng lưng, xảy ra khi chùm tia siêu âm bị chặn lại bởi một cấu trúc phản xạ mạnh Trên hình ảnh siêu âm, vách phản xạ thể hiện qua một sóng phản hồi đậm, theo sau là vệt hình nón của bóng âm, trong đó không còn hình ảnh nào rõ ràng.

Mô xương và vôi có khả năng cản âm mạnh, khiến hầu hết sóng siêu âm bị phản xạ lại Trên hình ảnh siêu âm, loại mô này xuất hiện với độ hồi âm dày và sáng, như trường hợp của sỏi (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998).

Tăng âm là hiện tượng xảy ra khi chùm tia siêu âm di chuyển qua môi trường có độ cản âm thấp, như nang, khiến cho phần sâu nhận được nhiều tín hiệu siêu âm hơn so với các khu vực xung quanh (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998).

Giảm âm xảy ra khi chùm tia siêu âm tiếp xúc với vùng mô có độ cản âm cao, dẫn đến năng lượng siêu âm bị suy giảm nhanh chóng Kết quả là vùng sâu hơn nhận được ít sóng âm hơn, hiện tượng này thường thấy trong trường hợp gan nhiễm mỡ (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998).

Hiện tƣợng dội lại (Đa âm phản hồi)

Hình ảnh trên màn hình siêu âm thể hiện một loạt hình ảnh giả của mặt phân cách, với các khoảng cách đồng đều phía sau mặt phân cách thật, kích thước và độ hồi âm giảm dần.

1.1.2.4 Các bước tiến hành siêu âmChuẩn bị thú Để dễ dàng cho việc siêu âm, cần cho thú nhịn ăn tối thiểu 6 giờ trước khi thực hiện thao tác Cho thú uống nước (khoảng dưới 0,5 lít) trước khi siêu âm khoảng 30 phút đến 1 giờ để tạo được lượng nước tiểu vừa đủ trong bàng quang Tiếp theo là cạo lông vùng bụng và bôi gel dẫn âm

Tư thế thú trong siêu âm đường tiết niệu

Tư thế nằm ngửa được coi là tiêu chuẩn cho việc khám nghiệm siêu âm bụng, phù hợp với sinh lý cơ thể, giúp cơ bắp được giãn ra và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiểm tra.

Hình ảnh siêu âm bình thường của thận

Bao thận tạo hình ảnh đường bờ phân tách chủ mô thận với các tổ chức xung quanh, có bản chất mô liên kết – xơ, tạo nên mặt hồi âm mảnh và đường viền sắc nét, trơn láng Vỏ thận nằm ngay sau bao thận, thể hiện hồi âm hỗn hợp, mang lại hình ảnh mịn và đồng nhất Tủy thận, đặc biệt là tháp thận, có độ hồi âm rất giảm, đôi khi gần như không có hồi âm Xoang thận xuất hiện như một vùng hồi âm trung tâm sáng, với độ tăng âm giảm hơn so với rìa của các tổ chức Độ hồi âm từ dày đến kém lần lượt là: Xoang thận, Vỏ thận, và Tủy thận.

Hình ảnh siêu âm bình thường của bàng quang

Bàng quang có ba lớp hồi âm riêng biệt: lớp trong cùng có hồi âm tăng và rất mỏng, tạo ra ranh giới giữa niêm mạc và nước tiểu; lớp giữa có hồi âm hơi giảm so với lớp trong; và lớp ngoài cùng lại có hồi âm tăng.

Khi bàng quang chứa đầy nước tiểu, không có phản hồi nào Ngược lại, khi bàng quang xẹp, các nếp gấp trên thành bàng quang xuất hiện, dẫn đến sự gia tăng độ dày của thành bàng quang (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002).

Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu

Xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm nước tiểu là phân tích nước tiểu Phương pháp này có thể cho thấy rõ bệnh lý, xét nghiệm nước tiểu là một phần trong xét nghiệm

Kiểm tra sức khỏe thường bao gồm ba loại xét nghiệm nước tiểu chính: (a) Xét nghiệm đại thể nước tiểu, trong đó quan sát trực tiếp màu sắc và số lượng nước tiểu để phát hiện các dấu hiệu bất thường như màu đỏ, đục hoặc lợn cợn (b) Xét nghiệm nước tiểu bằng que nhúng, giúp định lượng nhanh chóng các chỉ số như độ pH, độ đậm đặc, đạm, đường, cetone, nitrite, heroin, và xác định có thai, chỉ mất khoảng một phút để thực hiện (c) Xét nghiệm vi thể nước tiểu, thực hiện dưới kính hiển vi, yêu cầu mẫu nước tiểu được li tâm và quan sát để tìm các tinh thể, trụ niệu, tế bào vẩy, vi trùng và các tế bào khác.

Xét nghiệm nước tiểu là phương pháp quan trọng để phát hiện nhiều bệnh lý, giúp xác định nguyên nhân và vị trí của bệnh thông qua các chỉ số hóa lý Để đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, việc lấy mẫu nước tiểu đúng cách là điều cần thiết.

Mẫu nước tiểu cần phải sạch và tươi để thực hiện các xét nghiệm thường quy như test nhanh bằng que nhúng, kiểm tra đạm niệu và các thành phần khác như hồng cầu, bạch cầu, trụ niệu, cũng như các tinh thể phosphat và oxalate calcium Trong trường hợp nghi ngờ bệnh lý chuyên khoa, việc lấy mẫu nước tiểu sẽ phải tuân theo các quy trình riêng biệt để đáp ứng nhu cầu xét nghiệm cần thiết.

Phương pháp lấy mẫu nước tiểu

Khi nghi ngờ thú có nhiễm trùng đường tiểu, việc lấy mẫu nước tiểu là cần thiết, vì nước tiểu của thú bình thường là vô khuẩn Sự xuất hiện của vi khuẩn trong nước tiểu là dấu hiệu cho thấy thú có thể bị bệnh Để đảm bảo kết quả chính xác, mẫu nước tiểu nên được lấy từ thú chưa điều trị kháng sinh Sau khi lấy mẫu, cần bảo quản ngay trong điều kiện vô trùng và gửi đến phòng thí nghiệm càng sớm càng tốt Nếu không gửi ngay, mẫu nước tiểu cần được giữ ở nhiệt độ 4°C trong vòng 24 giờ Ngoài ra, nên cho thú uống ít nước để thu được mẫu nước tiểu cô đặc.

Quy trình thu thập mẫu nước tiểu có thể được thực hiện bởi chủ nuôi, nhưng phương pháp này có một số bất lợi, như mẫu nước tiểu có thể chứa tế bào, vi khuẩn và mảnh vỡ từ niệu đạo thay vì từ bàng quang Để xác định protein niệu hoặc mủ, phương pháp phân tích từ bàng quang hoặc thông niệu đạo là tốt nhất Nếu không lấy được hoặc không đủ lượng nước tiểu cần thiết, cần hướng dẫn chủ nuôi cách sử dụng lọ đựng nước tiểu một cách tỉ mỉ.

Để thu thập mẫu nước tiểu của chó, bạn cần một chén cạn sạch sẽ, rửa bằng xà phòng và để khô tự nhiên Khi dắt chó đi dạo, hãy chú ý đến hành động của chó: đối với chó đực, đặt chén dưới khi chó chuẩn bị giơ chân; đối với chó cái, đặt chén giữa hai chân khi chó ngồi xuống Đảm bảo lấy nước tiểu giữa dòng để có kết quả chính xác nhất Quá trình này có thể cần nhiều lần thử, vì vậy hãy kiên nhẫn Sau khi thu thập mẫu, gửi ngay đến phòng xét nghiệm; nếu không thể mang ngay, hãy đặt mẫu trong túi nilon.

13 trong tủ lạnh để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn và đem đến phòng chẩn đoán xét nghiệm trong vòng 24 giờ

Lấy mẫu nước tiểu từ thú cưng thường gặp khó khăn do sự thiếu kiên nhẫn của chủ nuôi và phương pháp lấy mẫu không đúng kỹ thuật, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả xét nghiệm.

1.2.2.2 Chọc dò bàng quang Đây là phương pháp tốt nhất để có thể lấy được mẫu nước tiểu có chất lượng, không bị tạp nhiễm Tuy nhiên, thao tác lấy nước tiểu bằng phương pháp này khó thực hiện hơn các phương pháp khác, gây đau đớn cho thú và có khả năng để lạ nhiễm trùng từ vết thương xuyên qua thành bụng tới bàng quang của thú Đầu tiên, xác định vị trí của bàng quang căng đầy nước tiểu Sát trùng vết đâm kim ở trên khớp xương mu 2cm Dùng kim với kích cỡ phù hợp đâm một vết nghiêng 45 o so với mặt phẳng bụng để vết thương có thể tự đóng kín lại khi rút kim ra Sau đó, lấy syringe để rút nước tiểu từ bàng quang ra Khi lấy mẫu nước tiểu, ta bỏ đi 20 ml nước tiểu đầu và tiếp tục rút 20 ml nước tiểu sau để làm mẫu

Kỹ thuật này có thể áp dụng cho thú cưng trong cả tư thế nằm ngửa và đứng Khi thực hiện, cần lưu ý sử dụng kim đâm xuyên qua thành bụng hoặc một bên để giảm thiểu nguy cơ đâm trúng mạch máu lớn và tổn thương đường niệu.

Thông niệu đạo là phương pháp phổ biến và cần thiết trong chẩn đoán, điều trị bệnh lý đường niệu ở chó Đặc biệt, những chú chó mắc sỏi bàng quang hoặc sỏi niệu đạo thường xuất hiện triệu chứng bí tiểu trong vài ngày trước khi chủ nuôi nhận thấy dấu hiệu bất thường Khi đó, thông niệu đạo được áp dụng để can thiệp, giúp giải phóng lượng nước tiểu lớn bị kẹt.

Phương pháp thông tiểu là cách hiệu quả để lấy mẫu nước tiểu cho xét nghiệm, đảm bảo chất lượng mẫu và ít gây tổn thương cho niệu đạo Đối với thú đực, sử dụng ống nhựa phù hợp với kích thước niệu đạo, trong khi thú cái cần dụng cụ mỏ vịt để xác định lỗ niệu và đưa ống thông vào Việc thực hiện cần nhẹ nhàng và khéo léo để giảm thiểu tổn thương cho niệu đạo của thú.

Các thông số kiểm tra nước tiểu

1.2.3.1 Tính chất lý hóa của nước tiểu

Nước tiểu của chó thường có lượng từ 0,2 đến 2,5 lít mỗi ngày, với màu vàng nhạt và có thể lắng cặn khi để lâu Lượng nước tiểu thải ra liên quan chặt chẽ đến chức năng của thận, tim, phổi và quá trình tiết mồ hôi Nếu chó đi tiểu ít, có thể là dấu hiệu của các bệnh như sốt cao, viêm thận cấp tính, ra nhiều mồ hôi, nôn mửa, tiêu chảy nặng hoặc mất máu Ngược lại, nếu chó đi tiểu nhiều, điều này có thể do các vấn đề như dịch viêm thẩm xuất hấp thu, viêm phổi thùy hoặc viêm thận mãn tính.

Nước tiểu bình thường của chó có màu vàng tươi, nhưng màu sắc có thể thay đổi tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của chúng Ngoài ra, một số loại thuốc cũng ảnh hưởng đến màu sắc nước tiểu; chẳng hạn, thuốc antipirin khiến nước tiểu có màu đỏ, satonin tạo màu vàng đỏ, và việc tiêm xanh methylen sẽ làm nước tiểu chuyển sang màu xanh.

pH nước tiểu của chó thường dao động từ 6 đến 7, có tính hơi acid Sự điều hòa nồng độ bicarbonate và ion H+ trong ống thận quyết định pH nước tiểu Thức ăn hàng ngày có ảnh hưởng lớn đến pH nước tiểu; nếu chó ăn nhiều protein, nước tiểu sẽ có pH acid, trong khi chế độ ăn nhiều ngũ cốc sẽ làm pH nước tiểu trở nên kiềm hơn.

Việc đo pH nước tiểu là rất hữu ích, vì nó có thể cho thấy những bất thường trong cơ thể Nước tiểu có thể có tính trung tính hoặc hơi kiềm, tùy thuộc vào chế độ ăn uống, chẳng hạn như tiêu thụ cốc hoặc cỏ (Trích dẫn từ Đào Thị Thuý Hà, 2010).

Nước tiểu có mùi khai do quá trình lên men ure thành ammoniac, thường xảy ra khi nước tiểu bị tắc nghẽn ở bàng quang, như trong trường hợp bệnh liệt bàng quang hoặc tắc niệu đạo Ngược lại, nước tiểu có mùi thối thường liên quan đến viêm bàng quang hoại thư Độ trong của nước tiểu cũng là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khỏe.

Quan sát nước tiểu của chó là cách quan trọng để đánh giá sức khỏe Nước tiểu khỏe mạnh thường trong và không có lắng cặn Nếu nước tiểu có dấu hiệu đục hoặc lắng cặn, đó có thể là triệu chứng của bệnh Trong trường hợp này, nước tiểu có thể chứa nhiều niêm dịch, tế bào hồng cầu, tế bào thượng bì và các mảnh tổ chức, cho thấy sự hiện diện của căn bệnh.

Tỷ trọng nước tiểu của chó thường dao động từ 1,020 đến 1,050 Khi tỷ trọng nước tiểu tăng, điều này cho thấy nước tiểu đặc do thiếu nước, có thể do gia súc ra nhiều mồ hôi, nôn mửa, viêm thận cấp, suy tim hoặc viêm thẩm xuất Ngược lại, nếu tỷ trọng nước tiểu giảm, điều này có thể do nước tiểu loãng, thường là do chế độ ăn uống nhiều nước hoặc viêm thận mãn tính Việc đánh giá tỷ trọng nước tiểu có giá trị lâm sàng quan trọng, vì những thay đổi về môi trường sống có thể ảnh hưởng đến tỷ trọng này.

1.2.3.2 Tính chất sinh hóa của nước tiểu

Các chất bình thường không có trong nước tiểu

Trong nước tiểu gia súc bình thường không có protein Các phương pháp tìm đều cho kết quả âm tính Nếu thấy xuất hiện thì cần chú ý:

Albumin niệu thật là albumin niệu từ thận do cơ năng siêu lọc của thận bị rối loạn, protein trong máu theo nước tiểu ra ngoài

Albumin niệu giả do viêm bể thận, viêm bàng quang, viêm niệu đạo

Để xác định chính xác albumin niệu thật, cần tiến hành xét nghiệm cặn nước tiểu và xem xét bệnh cảnh lâm sàng Albumin niệu hỗn hợp xảy ra khi bệnh từ thận lan rộng đến bể thận và bàng quang, dẫn đến sự xuất hiện của albumin niệu.

Nếu xét nghiệm nước tiểu phát hiện protein, tình trạng của thú mang thai có thể liên quan đến thiếu nước, nhiễm trùng đường tiểu, tăng huyết áp, vấn đề ở thận hoặc mẫu xét nghiệm chứa dịch nhầy.

Hồng cầu và huyết sắc tố (hemoglobin)

Trong nước tiểu có hồng cầu thì gọi là huyết niệu, có huyết sắc tố - huyết sắc tố niệu

Huyết niệu có thể xảy ra ở thận, bể thận, ống thận, bàng quang và niệu đạo do nhiều nguyên nhân khác nhau Huyết niệu do thận thường liên quan đến tình trạng vỡ thận hoặc viêm thận cấp tính Trong khi đó, huyết niệu do bể thận có thể xuất phát từ sỏi bể thận, giun thận hoặc viêm bể thận Đối với bàng quang, huyết niệu có thể do viêm bàng quang, sỏi bàng quang, loét niệu đạo hoặc viêm niệu đạo chảy máu Để chẩn đoán chính xác nguyên nhân, cần thực hiện xét nghiệm cặn nước tiểu.

Xét nghiệm glucose niệu dương tính là triệu chứng glucose niệu sinh lý hoặc bệnh lý

Glucose niệu sinh lý như là ăn quá nhiều đường, đường huyết cao vượt ngưỡng thận và các trường hợp: thú sợ hãi, hưng phấn, lạnh đột ngột…

Glucose niệu bệnh lý như là một số bệnh truyền nhiễm gây tổn thương thận và kích thích thần kinh trung ƣơng

Lƣợng cetone trong gia súc khỏe rất ít Cetone niệu là triệu chứng rối loạn trao đổi chất glucid va lipid

Thành phần này là dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở gan hay túi mật Bình thường không có bilirubin niệu trong nước tiểu Đây là sản phẩm được

Bilirubin là sản phẩm tạo thành từ sự thoái hóa của hồng cầu và được thải ra ngoài cơ thể qua phân Bình thường, bilirubin không có mặt trong nước tiểu; tuy nhiên, nếu bilirubin xuất hiện trong nước tiểu, điều này có thể chỉ ra rằng gan đang bị tổn thương hoặc có sự tắc nghẽn trong dòng chảy của mật từ túi mật.

Bình thường, bạch cầu trong nước tiểu là âm tính Sự hiện diện của bạch cầu có thể cho thấy thú cưng đang bị nhiễm khuẩn hoặc nấm, gợi ý khả năng nhiễm trùng tiểu nhưng không khẳng định chắc chắn Khi cơ thể chống lại vi khuẩn xâm nhập, một số bạch cầu sẽ chết và được thải ra qua đường tiểu Để xác định vi khuẩn gây viêm nhiễm, cần thực hiện xét nghiệm nitrite.

Vi khuẩn gây nhiễm trùng đường niệu sản xuất enzyme chuyển đổi nitrate niệu thành nitrite Sự hiện diện của nitrite trong nước tiểu chỉ ra rằng có nhiễm trùng đường niệu, đặc biệt là do vi khuẩn E coli.

Bình thường, nước tiểu không chứa urobilinogen, một sản phẩm được hình thành từ sự thoái hóa bilirubin và chủ yếu được thải ra ngoài qua phân Tuy nhiên, nếu có sự hiện diện của urobilinogen trong nước tiểu, điều này có thể là dấu hiệu của các bệnh lý gan như xơ gan hoặc viêm gan, khi mà dòng chảy của dịch mật từ túi mật bị nghẽn.

Cặn hữu cơ: tế bào thƣợng bì thận, bể thận, ống thận, tế bào thƣợng bì bàng quang, tế bào hồng cầu, tế bào bạch cầu, trụ niệu

Cặn vô cơ: calcium carbonate (CaCO3), muối phosphate (Mg3(PO4)2,

Ca 3 (PO 4 ) 2 ), amoni magnesium phosphate (NH 4 MgPO 4 H 2 O), amoni urate, calcium oxalate, calcium phosphate, acid uric, muối urate

Các chất bình thường có trong nước tiểu

Các chất này luôn nằm trong một giới hạn nhất định, và khi vượt qua giới hạn đó, có thể dẫn đến bệnh lý Cụ thể, lượng ure sẽ giảm trong trường hợp suy thận, trong khi đó, lượng ure lại tăng khi chế độ ăn nhiều thịt hoặc trong một số bệnh nhiễm khuẩn cấp tính Đối với bệnh gout, lượng acid uric sẽ tăng cao.

Thay đổi về sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường tiết niệu

Khi chó bị nhiễm trùng đường tiết niệu trên, xét nghiệm nước tiểu thường cho thấy sự hiện diện của máu, mủ, protein, vi khuẩn và bạch cầu.

Khi chó bị nhiễm trùng đường tiết niệu, xét nghiệm nước tiểu thường cho thấy sự hiện diện của hồng cầu, bạch cầu, tế bào mủ, protein và có thể có vi khuẩn Ngược lại, trong trường hợp chó bị sỏi tiết niệu, kết quả xét nghiệm nước tiểu phát hiện máu, tinh thể niệu, các loại khoáng chất cấu tạo nên tinh thể, mủ, protein và vi khuẩn.

Sự hiểu biết về sỏi urate và các loại sỏi bàng quang phổ biến trên chó

Sỏi urate

Sỏi urate ở chó không phổ biến, chỉ chiếm khoảng 2-8% trường hợp, với ammonium acid urate (hay ammonium urate) là loại thường gặp hơn Sỏi này được hình thành từ sodium acid urate và acid uric, nhưng vẫn không phổ biến trong số các loại sỏi thận ở chó.

Sỏi thận thường gặp ở nhiều giống chó, đặc biệt là ở giống Dalmation Chó đực có nguy cơ mắc sỏi cao hơn chó cái, với tỷ lệ lên tới 70%, và thường xảy ra ở độ tuổi từ 3 đến 6 năm Tỷ lệ tái phát sỏi thận ở chó là khá cao, dao động từ 33% đến 50% trên tất cả các giống.

Khi nồng độ acid trong nước tiểu cao hoặc acid được bài tiết quá nhiều, acid uric có thể không hòa tan hoàn toàn, dẫn đến sự hình thành sỏi Bên cạnh đó, hoạt động bất thường của gan cũng có thể gây ra sự hình thành sỏi urate, đặc biệt là ammonium urate, do chức năng gan kém làm giảm khả năng chuyển đổi acid uric thành allton và ammonia thành urea.

Sỏi urate có bề mặt trơn láng và thường có hình dạng tròn hoặc oval Đặc biệt, ở loài Dalmantian, sỏi này thường xuất hiện trong bàng quang Ammonium acid urate có khả năng cản quang kém, khiến việc phát hiện loại sỏi này qua phương pháp X-quang trở nên khó khăn.

Yếu tố chính dẫn đến sự hình thành sỏi ammonium bao gồm tăng cường bài tiết ở thận, nồng độ acid uric và ammonia cao trong nước tiểu, pH nước tiểu thấp, sự hiện diện của chất hoạt hóa tinh thể ammonium urate, cùng với sự thiếu hụt các chất ức chế hình thành tinh thể ammonium.

Các yếu tố nguy hiểm trong hình thành và phát triển sỏi urate bao gồm: chức năng thận tăng cường bài tiết acid uric và ammonia trong nước tiểu, pH nước tiểu acid, sự hiện diện của các chất kích thích hình thành tinh thể ammonium urate, cùng với việc thiếu các chất ức chế hình thành tinh thể sỏi.

Để điều trị và ngăn ngừa sỏi thận, cần thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, sử dụng thuốc ức chế xanthine oxidase, kiềm hóa nước tiểu và kiểm soát hoặc tiêu diệt mầm mống nhiễm trùng đường niệu nếu cần thiết.

Allopurinol là một chất ức chế xanthine oxidase, có khả năng ngăn chặn hoạt động của enzyme này Bằng cách hạn chế chuyển đổi hypoxanthine thành xanthine và xanthine thành acid uric, allopurinol giúp giảm sản xuất acid uric Chỉ sau vài ngày sử dụng, nồng độ acid uric trong huyết thanh và nước tiểu sẽ được giảm bớt đáng kể.

Kiềm hóa nước tiểu là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận Ion ammonium thường xuất hiện dưới dạng kết tủa trong nước tiểu của động vật, do đó cần sử dụng thuốc kiềm hóa như sodium bicarbonate hoặc potassium citrate Mục tiêu của việc kiềm hóa nước tiểu là điều chỉnh pH nước tiểu về mức khoảng 7,0, và liều dùng sẽ được điều chỉnh tùy theo từng trường hợp cụ thể.

Chế độ ăn hợp lý giúp giảm nguy cơ hình thành sỏi ammonium và urate Nghiên cứu chỉ ra rằng giảm lượng protein trong khẩu phần có thể làm giảm bài tiết acid uric, đồng thời bổ sung potassium citrate giúp kiềm hóa nước tiểu Điều này rất có lợi cho việc kiểm soát sự hình thành sỏi.

Một số loại sỏi bàng quang phổ biến khác

Sỏi struvite (MgNH4PO4.6H2O) là một loại cặn vô cơ thường gặp ở đường niệu của chó, chiếm khoảng 66% sỏi niệu theo báo cáo của Đại học California (1995) Tại Thụy Điển, từ năm 1990 đến 1997, phân tích 3366 mẫu sỏi cho thấy 43% trong số đó là sỏi struvite Mặc dù sỏi hoàn toàn cấu tạo từ struvite không phổ biến, nhưng hầu hết các mẫu đều chứa một lượng nhỏ calcium phosphate và đôi khi là ammonium urate.

Sự bão hòa magnesium ammonium phosphate là yếu tố quan trọng trong việc hình thành sỏi struvite, bên cạnh đó, nhiễm trùng đường niệu, nước tiểu kiềm, chế độ ăn và yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu cho thấy chế độ ăn và yếu tố trao đổi chất có thể dẫn đến sự hình thành sỏi struvite với số lượng lớn Tại Đại học Khoa học Nông Nghiệp Thụy Điển, các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng sỏi struvite có thể xuất hiện chỉ sau một tháng khi đường niệu bị nhiễm trùng do vi khuẩn Staphylococci Sỏi nhiễm khuẩn hình thành khi đường tiết niệu bị viêm (như viêm bàng quang) làm mất cân bằng các thành phần trong nước tiểu, trong khi vi khuẩn giải phóng các hóa chất trung hòa acid, dẫn đến nước tiểu kiềm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn và sự hình thành sỏi.

Sỏi struvite có khả năng tái hình thành sau khi phẫu thuật loại bỏ hoặc can thiệp y khoa, và tất cả các giống chó đều có nguy cơ mắc loại sỏi này Tuy nhiên, loại sỏi này thường gặp nhiều hơn ở chó cái so với chó đực.

22 con mặc dù người ta ghi nhận có trường hợp sỏi struvite do nhiễm trùng ở chó

Sỏi struvite, thường có màu trắng hoặc hơi vàng, chủ yếu hình thành ở bàng quang và đường niệu dưới, có thể xuất hiện dưới dạng viên lẻ hoặc số lượng lớn Một nghiên cứu tại Mỹ chỉ ra rằng sỏi struvite có bốn loại kết cấu chính và sự hiện diện của các thành phần lạ, rất nhỏ có liên quan chặt chẽ đến các thành phần cơ bản khác trong nước tiểu, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và tan rã sỏi Việc hiểu rõ cơ chế này sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc điều trị và phòng ngừa sỏi struvite.

Để cải thiện sức khỏe đường tiết niệu, cần thực hiện các biện pháp như giảm tắc nghẽn dòng chảy của nước tiểu khi cần thiết, loại bỏ sỏi hiện có, điều trị triệt để nhiễm trùng đường niệu và ngăn ngừa sự tái hình thành sỏi.

Giảm nồng độ tinh thể struvite trong nước tiểu là mục tiêu quan trọng nhằm ngăn chặn sự hình thành tinh thể và tăng khả năng tan rã của sỏi.

Để tăng khả năng hòa tan các tinh thể sỏi trong nước tiểu, cần kiềm hóa nước tiểu bằng cách sử dụng các chất acid Các chất như vitamin C, ammonium chloride và methionine với liều dùng thích hợp sẽ giúp đạt được hiệu quả này.

Để trị triệt để nhiễm trùng đường tiểu, việc sử dụng kháng sinh phù hợp là rất quan trọng, do vi khuẩn sinh ra nhiều men urease, làm nước tiểu chó bị acid và tạo điều kiện cho tinh thể struvite hình thành Nghiên cứu cho thấy cephalosporin có hiệu quả trong việc tiêu diệt vi khuẩn, từ đó giảm nguy cơ tái phát nhiễm trùng.

Sử dụng muối sodium để kích thích sự khát nước ở chó bị sỏi có thể giúp tăng cường lượng nước uống vào Khi chó uống nhiều nước hơn, lượng nước tiểu sẽ gia tăng, giúp pha loãng tinh thể sỏi và thải bớt một phần ra ngoài.

Theo dõi và kiểm tra sự tái hình thành sỏi sau mỗi 4 tuần bằng các xét nghiệm nước tiểu, siêu âm hay chụp X – quang

Để giảm sự hình thành urea, phosphorus và magnesium trong nước tiểu, cần xây dựng công thức chế độ ăn với lượng protein, phospho và magnesium thấp Bên cạnh đó, bổ sung NaCl vào thức ăn sẽ kích thích sự khát nước Phương pháp này không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe hoặc chức năng của các cơ quan khác ở chó mắc sỏi.

Sỏi calcium oxalate là loại sỏi phổ biến nhất ở người tại châu Âu, nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy chúng ít gặp hơn ở chó, chỉ chiếm khoảng 3-10% Trước những năm 1930, người ta tin rằng chế độ ăn thiếu magnesium là nguyên nhân chính gây gia tăng sỏi này.

Tinh thể calcium oxalate, bao gồm calcium oxalate monohydrate và calcium oxalate dihydrate, thường xuất hiện trong nước tiểu Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng không được phát hiện khi xét nghiệm nước tiểu Do đó, việc xác định nồng độ calcium trong huyết thanh và mức độ parathormone là cần thiết để làm rõ tình trạng bệnh.

Sỏi calcium oxalate thường gặp ở chó cái (70%) nhiều hơn chó đực, chủ yếu ở chó lớn tuổi Sỏi có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong đường niệu của chó, với kích thước đa dạng từ vài milimet đến vài centimet Tình trạng tái phát bệnh rất phổ biến, với một số khảo sát cho thấy hơn 50% trường hợp mắc lại.

Sau ba năm phẫu thuật loại bỏ sỏi, 24% bệnh nhân vẫn phát hiện sỏi calcium oxalate Khác với các loại sỏi struvite, urate hay cystine, sỏi calcium oxalate hình thành khi nước tiểu chưa bão hòa Phẫu thuật là phương pháp duy nhất hiệu quả để loại bỏ sỏi khỏi đường niệu.

Khoảng 85% thành phần của sỏi này là calcium, thường xuất phát từ tình trạng hypercalciumuria, tức là hàm lượng calcium trong nước tiểu cao Khi calcium vượt quá mức bình thường, nó sẽ bị thải qua nước tiểu và kết hợp với các chất thải khác để hình thành sỏi Ngoài ra, điều kiện thuận lợi cho sự hình thành sỏi bao gồm hàm lượng citrate thấp, hàm lượng oxalate và acid uric cao, cùng với lượng nước tiểu giảm.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Mục tiêu của đề tài

Đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị sỏi bàng quang theo phác đồ đã thiết lập, góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu phong phú trong ngành Thú Y, đặc biệt trong việc điều trị cho chó và mèo.

Đối tƣợng nghiên cứu

CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

2.1 Mục tiêu của đề tài Đề tài đƣợc thực hiện nhằm đánh giá kết quả điều trị sỏi bàng quang theo phác đồ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu xây dựng sâu rộng trong ngành Thú Y trong điều trị chó mèo

2.2.1 Ghi nhận các trường hợp bệnh lý sỏi bàng quang trên chó3.2.1.1 Yêu cầu

Chẩn đoán bệnh lý sỏi bàng quang thông qua siêu âm và xét nghiệm nước tiểu là rất quan trọng Việc điều trị và phòng ngừa tái phát sỏi bàng quang cần được thực hiện tại phòng khám Đánh giá kết quả sau điều trị cũng là một bước cần thiết để đảm bảo hiệu quả và sức khỏe của bệnh nhân.

Ghi nhận số lƣợng các ca bệnh sỏi bàng quang Đánh giá kết quả điều trị bệnh theo phương pháp cũ tại phòng khám

2.3.1 Thời gian và địa điểm

Thời gian khảo sát chó diễn ra từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022, tại Phòng khám thú y Haxi, địa chỉ k1/84 Bùi Hữu Nghĩa, phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Các xét nghiệm máu và nước tiểu của chó bệnh được thực hiện tại Phòng khám đa khoa Ái Nghĩa, nằm trên đường Đồng Khởi, Tân Hiệp, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Đối tượng khảo sát bao gồm những chú chó mắc bệnh được đưa đến hai cơ sở y tế này.

Tất cả chó đƣợc mang đến khám và điều trị có biểu hiện lâm sàng của bệnh sỏi bàng quang

2.3.2 Điều trị, phòng ngừa tái phát trên một số ca bệnh sỏi urate bàng quang dựa theo phác đồ tại phòng khám

Chẩn đoán bệnh lý sỏi urate bàng quang có thể thực hiện qua siêu âm và xét nghiệm nước tiểu, giúp xác định tình trạng và mức độ nghiêm trọng của bệnh Việc điều trị sỏi urate bàng quang bao gồm các phương pháp can thiệp và thuốc, đồng thời cần có biện pháp phòng ngừa để giảm nguy cơ tái phát Đánh giá kết quả sau điều trị là bước quan trọng để đảm bảo hiệu quả và cải thiện sức khỏe người bệnh.

Ghi nhận số lƣợng các ca bệnh sỏi urate bàng quang

So sánh và đánh giá kết quả điều trị sau 3 tháng và 6 tháng bệnh theo phác đồ và so với phương pháp cũ.

Phương pháp thực hiện

Hình 2.1 Sơ đồ qui trình thực hiện đề tài

2.4.2 Ghi nhận các trường hợp bệnh sỏi bàng quang trên chó

Ghi nhận và phân tích tổng số ca bệnh sỏi bàng quang ở chó được đưa đến khám tại phòng khám Bài viết sẽ cung cấp thông tin liên quan đến giới tính, độ tuổi và tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân Việc này nhằm giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm và xu hướng mắc bệnh sỏi bàng quang ở chó.

30 tính, các kết quả sau điều trị của phương pháp của phòng khám được ghi chép cẩn thận

2.4.3 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh sỏi bàng quang Áp dụng trình tự các thao tác nhƣ hỏi bệnh, quan sát, sờ nắn, gõ nghe Kiểm tra tình trạng chung của thú nhƣ lông da, màu sắc, niêm mạc, ghi nhận tuổi tác, giới tính, thân nhiệt trực tràng

Khi hỏi bệnh thú cưng, cần chú ý đến các yếu tố như chế độ ăn uống, loại thức ăn và lượng thức ăn mà thú cưng tiêu thụ Ngoài ra, cần xem xét hình thức nuôi dưỡng trong nhà, mức độ vận động, số lượng thú nuôi, tiền sử bệnh lý trước đây, cũng như phương pháp chăm sóc và loại thuốc đang sử dụng cho thú.

Thú cưng có thể gặp phải tình trạng sỏi bàng quang, biểu hiện qua các triệu chứng như khó tiểu, bí tiểu, gồng mình khi đi vệ sinh, tiểu gắt, tiểu ra máu, bỏ ăn và không vận động Cần lưu ý thời gian xuất hiện các triệu chứng này và xem xét liệu thú cưng đã từng trải qua phẫu thuật bàng quang hay chưa.

Khi quan sát lâm sàng vùng bụng, có thể nhận thấy bụng căng cứng do bàng quang chứa nhiều nước tiểu, đặc biệt ở chó đực Khi sờ nắn vùng này, thú có thể cảm thấy đau đớn và rùng mình Nếu viên sỏi lớn, có thể cảm nhận được sỏi trong bàng quang khi sờ nhẹ Đối với chó cái, có thể sử dụng dụng cụ mỏ vịt để thăm khám trực tràng và ấn nhẹ vào bàng quang để xác định sự hiện diện của sỏi nếu kích thước lớn.

Lập bệnh án để theo dõi bệnh

2.4.4 Phương pháp chẩn đoán bằng phương pháp siêu âm trên thú bị sỏi bàng quang

Sau khi thực hiện khám lâm sàng và nghi ngờ thú cưng mắc bệnh về đường tiết niệu và sỏi bàng quang, chúng tôi đã chỉ định siêu âm để chẩn đoán chính xác Để xác định bệnh, chúng tôi sử dụng máy siêu âm chuyên dụng cho gia súc AQUILA VET với đầu dò convex 3.5Mhz/5Mhz.

Trước khi siêu âm, thú cần nhịn ăn ít nhất 6 giờ và được cung cấp nước khoảng 30 phút đến 1 giờ trước đó Khi tiến hành siêu âm, đặt thú nằm ngửa và giữ chắc bốn chân để đảm bảo thú nằm im trên bàn Đối với thú lớn và thú dữ, cần có người phụ giúp giữ Sau đó, cạo lông vùng siêu âm và lau sạch bằng khăn Cuối cùng, bôi gel lên vùng siêu âm và tiến hành kiểm tra Kết luận bệnh sẽ được đưa ra dựa trên kết quả siêu âm.

2.4.5 Phương pháp xét nghiệm nước tiểu thú bị sỏi bàng quang

Khi xác định có sỏi bàng quang qua siêu âm, cần lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm Đối với thú có sỏi lớn hoặc thú đực bị bí tiểu, mẫu nước tiểu có thể được lấy ngay bằng phương pháp thông tiểu Đối với thú cái không phẫu thuật, mẫu nước tiểu phải được thu thập tự nhiên từ chủ nuôi, với yêu cầu lấy nước tiểu giữa dòng và mỗi mẫu cần khoảng 20 ml Chủ nuôi cần được hướng dẫn rõ ràng về cách lấy mẫu, bảo quản đúng kỹ thuật và gửi mẫu nhanh chóng tới phòng xét nghiệm.

Sự tích tụ của các chất trong nước tiểu có thể dẫn đến hình thành tinh thể Tinh thể cũng có thể xuất hiện khi nước tiểu để lâu trong môi trường không phù hợp hoặc do tác dụng của một số loại thuốc Mặc dù sự hiện diện của một vài tinh thể trong nước tiểu thường không có ý nghĩa lâm sàng, nhưng nếu có nhiều tinh thể, điều này có thể báo hiệu nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu.

Các loại tinh thể thường gặp trong nước tiểu là:

- Tinh thể oxalat canxi: xuất hiện khi pH acid và dễ tìm thấy trong nước tiểu

- Tinh thể acid uric: kết tủa ở pH acid và chủ yếu xuất hiện khi nồng độ acid uric máu cao hay hệ số thanh thải acid uric tăng cao

- Tinh thể phosphat amoniac - magie: xuất hiện khi pH kiềm

- Tinh thể Cystin: kết tủa ở pH acid

Hình dạng của các cặn lắng trong nước tiểu có thể tham khảo qua hình dưới đây:

Hình 2.1 Hình dạng một số tinh thể cặn nước tiểu

(Nguồn: https://hufa.edu.vn/)

2.4.6 Phương pháp phẫu thuật sỏi bàng quang

Trước khi gây mê, thú cần nhịn ăn từ 6 – 8 tiếng và nhịn uống từ 3 – 4 giờ Quy trình phẫu thuật được thực hiện bằng cách đặt thú nằm ngửa trên bàn, cố định 4 chân và tiến hành gây mê Vệ sinh vùng phẫu thuật bao gồm việc cạo lông sạch và sát trùng kỹ vùng mổ bằng cồn và povidine, sau đó đặt khăn trùm phẫu thuật cố định.

Hình 2.2 Chó phẫu thuật sỏi bàng quang

Cần thực hiện thông tiểu cho chó đực bằng ống thông khi bàng quang chứa nhiều nước tiểu Đối với chó cái, phương pháp thông tiểu sẽ sử dụng dụng cụ mỏ vịt Tuy nhiên, thường thì chó cái mắc sỏi bàng quang lại có lượng nước tiểu rất ít hoặc không có trong bàng quang.

Để thực hiện phẫu thuật lấy sỏi bàng quang, đầu tiên, rạch một đường dài khoảng 2 - 3cm trên bụng, cách rốn 2cm về phía sau Xác định vị trí bàng quang và nhẹ nhàng đẩy ra ngoài Tạo một vết mổ nhỏ trên bàng quang, chú ý tránh mạch máu lớn, sau đó dùng kẹp để gắp sỏi ra Nếu sỏi lớn, mở rộng vết mổ đủ để lấy sỏi ra Kiểm tra kỹ lưỡng xem còn sỏi nào không, rồi sử dụng ống thông tiểu đưa vào bàng quang Bơm nước muối sinh lý pha povidine vào ống thông; nếu còn sỏi trong niệu đạo, sỏi sẽ được đẩy vào bàng quang để dễ dàng lấy ra.

Kiểm tra kỹ lưỡng sỏi bàng quang và niệu đạo trước khi tiến hành các bước tiếp theo Rửa sạch bàng quang và vết mổ để chuẩn bị cho việc đóng bàng quang Giữ cố định bàng quang, khâu phủ bàng quang bằng đường may Cushing và khâu mép ngoài bằng đường may Lembert Đưa bàng quang về vị trí ban đầu, sau đó đóng vết thương bụng bằng 3 đường may và khâu da bằng đường may liên tục Cuối cùng, sát trùng vết thương bằng povidine và băng kín vết thương.

2.4.7 Thử nghiệm phác đồ điều trị sỏi urate bàng quang

Chó bị sỏi urate bàng quang được chẩn đoán qua siêu âm, kiểm tra máu và phân tích nước tiểu Những trường hợp sỏi lớn hoặc nhiều viên sỏi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe sẽ cần phẫu thuật và điều trị ngừa tái phát Trong khi đó, chó có triệu chứng ít nghiêm trọng hơn sẽ được điều trị bằng phác đồ làm tan sỏi Tất cả chó bị sỏi urate điều trị tại phòng khám sẽ được theo dõi chặt chẽ với chủ nuôi sau 3 và 6 tháng, với các mốc thời gian T0 (trước thí nghiệm) và T3 (sau).

3 tháng điều trị) và T6 ( sau 6 tháng điều trị)

Bảng 2.1 Phác đồ điều trị phòng ngừa sỏi urate

*Phác đồ điều trị - phòng ngừa

Nội dung Thực hiện Ghi chú

Giảm đạm động vật, bổ sung thực vật, uống khoảng 1500ml nước/ngày

Cấp đường uống 3 lần/ngày Liều lƣợng điều trị: 30mg/kg/ngày Liều lƣợng phòng ngừa: 10mg/kg/ngày

Cấp đường uống 2 lần/ngày, liều

200mg/lần; duy trì nước tiểu kiềm hóa pH= 6,5 – 7

Kiểm tra nước tiểu 1 tháng/lần

Cephalexim Cấp đường uống 1 lần/ ngày, liều 30 mg/kg/ngày, cấp từ 7-14 ngày

Sử dụng sau khi phẫu thuật gắp sỏi hoặc đánh giá nhiễm trùng đường niệu

Siêu âm, xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu tái khám định kỳ 1 tháng/1 lần

Nếu đã khỏi, tái khám định kỳ 6 tháng/lần (*): Theo Hope A., (1995) và Tion và cs, (2015)

Tỷ lệ các loại sỏi bàng quang

Tỷ lệ % nhiễm sỏi bàng quang theo nhóm tuổi

Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng và các thông số phân tích nước tiểu.

Xử lý số liệu

Các số liệu đƣợc ghi chép và xử lý bằng phần mềm Excel 2015, phần mềm minitab 17.0 và các trắc nghiệm so sánh phi tham số và Chi-square

Ngày đăng: 27/12/2024, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Quang Bá, 2004. Giáo trình Cơ thể học. Tủ sách Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cơ thể học
2. Trần Thị Dân, Dương Nguyên Khang, 2007. Bài giảng Sinh lý gia súc. Tủ sách Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Sinh lý gia súc
3. Đào Thị Thúy Hà, 2010. Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang trên chó và phân loại sỏi. LVTN, Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang trên chó và "phân loại sỏi
4. Phạm Lương Hiền, 2005. Khảo sát một số trường hợp bệnh trên hệ tiết niệu và đường sinh dục trên chó. LVTN, Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số trường hợp bệnh trên hệ tiết "niệu và đường sinh dục trên chó
5. Lâm Thị Thu Hương, 2005. Giáo trình Mô phôi gia súc. Tủ sách Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Mô phôi gia súc
6. Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998. Hướng dẫn thực hành siêu âm bụng tổng quát. Tủ sách bệnh viện Chợ Rẫy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành siêu âm bụng "tổng quát
7. Nguyễn Thị Tố Nga, 2008. Ứng dụng siêu âm và xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên chó. LVTN, Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng siêu âm và xét nghiệm nước tiểu "trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên chó
8. Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002. Siêu âm bụng tổng quát. Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Siêu âm bụng tổng quát
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
9. Nguyễn Nhƣ Pho, 1995. Bài giảng Nội khoa Thú y. Tủ sách Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nội khoa Thú y
10. Phạm Ngọc Thạch và Chu Đức Thắng, 2009. Chẩn đoán và nội khoa Thú y. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. Trang 67 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và nội khoa Thú "y. Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp". Trang 67 – 75
11. Nguyễn Đoan Trang, 2006. Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán các bệnh lý ở hệ tiết niệu và hệ sinh dục trên chó. LVTN. Đại học Nông Lâm TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán "các bệnh lý ở hệ tiết niệu và hệ sinh dục trên chó
12. Nguyễn Nhƣ Pho (1995). Bài giảng Nội khoa Thú y. Tủ sách Đại học Nông Lâm TP. HCM Khác
13. Trần Ngọc Bich, Lê Thị Phương Đông, Nguyễn Phúc Khánh, Nguyễn Thị Yến Mai, Trương Phúc Vình và Trần Thị Thảo (2014). Đặc điểm dịch tễ học Khác
14. Bijan S. and Marshall L.Stoller (2002). Uric Acid Nephrolithiasis: Current Concepts and Controversies. The Journal of Urology: 1307-1314 Khác
15. Doreen, M., Houston, Andrew E.P., Moore, Michael G. Favrin and Brent Hoff (2004). Canine urolithiasis: A look at over 16 000 urolith submissions to the Canadian Veterinary Urolith Centre from February1998 to April 2003. Can Vet. J. 45(3): 225-230 Khác
16. Hope, A. (1995). Urolithiasis in Dogs. The Lower Urinary Tract. Clinical Sciences, PO Box 7037, pp.62-71 Khác
18. Tion, M.T., J. Dvorska and S.A. Saganuwan (2015). A review on urolithiasis in dogs and cats. Bulg. J. Vet. Med. 18(1): 1-18 Khác
19. Harriet, M.S. (2012). Stones in cats and dogs: What can be learnt from them?. Arab Journal of Urology. 10(3): 230-239 Khác
20. Klohn, M., Bolle, J.F., Reverdin, N.P., Susini, A., Baud, C.A. and Graber P. (1986). Ammonium urate urinary stones. Urological Research. Volume 14, pages 315-318 Khác
21. Zamira, H. and Dhimiter, R. (2017). Uro- lithiasis in dogs. Albanian j. agric. sci.; Agri- cultural University of Tirana Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ qui trình thực hiện đề tài - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Hình 2.1. Sơ đồ qui trình thực hiện đề tài (Trang 37)
Hình dạng của các cặn lắng trong nước tiểu có thể tham khảo qua hình  dưới đây: - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Hình d ạng của các cặn lắng trong nước tiểu có thể tham khảo qua hình dưới đây: (Trang 40)
Hình 2.2. Chó phẫu thuật sỏi bàng quang - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Hình 2.2. Chó phẫu thuật sỏi bàng quang (Trang 41)
Bảng 2.1. Phác đồ điều trị phòng ngừa sỏi urate - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Bảng 2.1. Phác đồ điều trị phòng ngừa sỏi urate (Trang 43)
Bảng 3.2. Tỷ lệ % nhiễm sỏi bàng quang theo nhóm tuổi - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Bảng 3.2. Tỷ lệ % nhiễm sỏi bàng quang theo nhóm tuổi (Trang 47)
Bảng 3.3. Triệu chứng lâm sàng và các thông số phân tích nước tiểu trên chó - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Bảng 3.3. Triệu chứng lâm sàng và các thông số phân tích nước tiểu trên chó (Trang 48)
Hình 3.2. So sánh sự thay đổi của viên sỏi urate qua hình ảnh siêu âm trong - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Hình 3.2. So sánh sự thay đổi của viên sỏi urate qua hình ảnh siêu âm trong (Trang 49)
Hình 3.3 A  Hình ảnh siêu âm sỏi bàng quang chó - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Hình 3.3 A Hình ảnh siêu âm sỏi bàng quang chó (Trang 50)
Bảng 3.5. Hiệu quả điều trị sỏi urate trên bàng quang chó sau 6 tháng - Khảo sát bệnh lý sỏi bàng quang và bước Đầu Ứng dụng Điều trị bệnh sỏi urate trên chó
Bảng 3.5. Hiệu quả điều trị sỏi urate trên bàng quang chó sau 6 tháng (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w