Với mong muốn xác định tỷ lệ viêm tĩnh mạch trên nhóm đối tượng có đặt CTMNV chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ viêm tĩnh mạ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc của Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, những người có đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi.
- Người bệnh được đặt catheter ngoại vi tại khoa.
- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên.
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hồi sức tích cực- Chống độc, Bệnh viện Đa khoa Đống Đa.
Thời gian nghiên cứu: Từ 1/2/2024 đến 01/10/2024
Thời gian thu thập số liệu: Từ 01/03/2024 đến 30/08/2024
Phương pháp nghiên cứu
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu: n = Z 2 ( 1 − α / 2 ) p ( 1 − p )
Để xác định cỡ mẫu tối thiểu cần có, ta sử dụng tỷ lệ ước lượng p = 0,165, tương ứng với tỷ lệ viêm tĩnh mạch do đặt catheter ngoại biên được ghi nhận tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vào năm 2021.
Z1-α/2 : Hệ số tin cậy, Z1-α/2 = 1,96 với độ tin cậy là 95%. d: Sai số tuyệt đối chấp nhận, ấn định d = 0,05
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 212 đối tượng (thực tế nghiên cứu trên 219 đối tượng).
2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu
Bộ câu hỏi bao gồm 3 phần (Phụ lục):
Phần I: Thông tin cá nhân: Bao gồm các câu hỏi về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu như: Năm sinh, giới tính, nơi ở, nghề nghiệp, trình độ học vấn, chiều cao, cân nặng, BMI, ngày vào viện, chẩn đoán bệnh chính, bệnh kèm theo.
Phần II: Phiếu theo dõi đặt catheter trên người bệnh: Phần này thu thập thông tin về đặt catheter bao gồm: Ngày/giờ đặt, ngày giờ rút, số lần đặt, loại catherter, vị trí đặt catheter, lý do thay/loại bỏ catheter, các loại dịch truyền.
Phần III: Thang đo đánh giá mức độ viêm VIP
Viêm tĩnh mạch liên quan đến việc đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi được đánh giá thông qua thang điểm Visual Infusion Phlebitis Scale (VIP) Thang đo VIP đã được kiểm tra về giá trị và độ tin cậy qua nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước, và được Hiệp hội Điều dưỡng Truyền nhiễm Hoa Kỳ (INS) khuyến nghị sử dụng như một trong hai bộ công cụ chính.
Bộ thang đo đánh giá mức độ viêm VIP được sử dụng để xác định mức độ viêm tại vị trí đặt catheter Đánh giá này thực hiện theo 6 cấp độ từ 0 đến 5, giúp phân loại mức độ viêm một cách chính xác Nghiên cứu tiến hành đánh giá tại 4 mốc thời gian khác nhau, tương ứng với thời gian đặt catheter của bệnh nhân.
Các dấu hiệu lâm sàng tại vị trí lưu catheter Phân độ ≤ 24h 24h -
Có một trong các dấu hiệu sau: Đau nhẹ hoặc đỏ nhẹ 1
Có 2 trong số các dấu hiệu sau: Đỏ, đau, sưng ở vị trí đặt catheter 2
Có tất cả các dấu hiệu sau: Đau dọc theo đường đi của catheter, tấy đỏ, sưng cứng xung quanh vị trí đặt catheter
Có tất cả các dấu hiệu sau: Đau dọc theo đường đi của catheter, tấy đỏ, sưng cứng xung quanh vị trí đặt catheter tĩnh mạch nổi thành dây
Nếu bạn gặp phải các dấu hiệu như đau dọc theo đường đi của catheter, tấy đỏ, sưng cứng xung quanh vị trí đặt catheter, tĩnh mạch nổi thành dây và sốt, hãy chú ý đến tình trạng sức khỏe của mình Những triệu chứng này có thể chỉ ra sự nhiễm trùng hoặc biến chứng liên quan đến catheter.
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Người bệnh được lựa chọn tham gia nghiên cứu theo tiêu chuẩn nhất định, với sự tham gia của 5 nghiên cứu viên Họ sẽ chọn những bệnh nhân đã được đặt catheter trong vòng 24 giờ dựa trên thời gian ghi trên băng dính cố định catheter Việc theo dõi vị trí đặt catheter diễn ra vào buổi sáng, buổi chiều và bất kỳ lúc nào có dấu hiệu cần loại bỏ catheter, với các khoảng thời gian theo dõi là 48h - 72h, và >72h Nghiên cứu viên dừng đánh giá khi bệnh nhân không còn chỉ định đặt catheter Trong quá trình theo dõi, nghiên cứu viên sẽ hỏi bệnh nhân về cảm giác tại vị trí lưu catheter, quan sát màu sắc da và hiện tượng sưng phù nề, đồng thời kiểm tra tình trạng viêm tĩnh mạch Các triệu chứng sẽ được tổng hợp để xác định mức độ viêm, và mỗi bệnh nhân chỉ được ghi nhận mức độ viêm cao nhất Thông tin hành chính của bệnh nhân được lấy từ hồ sơ bệnh án và điền đầy đủ vào phiếu thu thập thông tin.
2.3.5 Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số trả lời xảy ra trong quá trình thu thập dữ liệu khi đối tượng nghiên cứu không phản hồi kịp thời với điều tra viên Điều này có thể dẫn đến việc ghi nhận dấu hiệu viêm bị sai lệch, đặc biệt khi có các dấu hiệu đau xuất hiện.
-Sai số ghi chép: Thông tin do điều tra viên ghi thiếu thông tin, sai hoặc không điền đủ thông tin.
-Sai số khi nhập liệu: Nghiên cứu viên nhập liệu bỏ sót phiếu, nhầm lẫn giữa các câu hỏi và các phiếu.
-Các định nghĩa các vấn đề nghiên cứu chưa rõ ràng, gây khó hiểu cho đối tượng.
Cách khắc phục sai số
Mục đích của nghiên cứu này là để giải thích rõ ràng về nội dung và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời khuyến khích đối tượng tham gia một cách tự nguyện và hợp tác Sự tương tác cao trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp nâng cao chất lượng dữ liệu và kết quả đạt được.
Để đảm bảo chất lượng điều tra, cần tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá trước khi tiến hành Điều này giúp điều tra viên thu thập thông tin đầy đủ và chính xác Ngoài ra, việc kiểm tra và rà soát kỹ lưỡng thông tin từ hồ sơ bệnh án và hồ sơ chăm sóc khi điền vào phiếu điều tra là vô cùng quan trọng.
-Xây dựng bộ nhập đầy đủ thông tin, các trường thông tin rõ ràng.
Quản lý và phân tích số liệu
Thực hiện kiểm tra, mã hóa phiếu điều tra trước khi nhập liệu.
Nhập tất cả số liệu các phiếu điều tra thu thập được trong nghiên cứu này được nhập liệu bằng excel và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0
2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0, trong đó thống kê mô tả được sử dụng để trình bày các biến định lượng như trung bình, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ phần trăm Kiểm định test và thống kê tương quan Pearson được áp dụng nhằm xác định mối liên hệ giữa tỷ lệ viêm tĩnh mạch và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân, với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu cho từng bệnh nhân Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý tự nguyện từ phía bệnh nhân, và họ có quyền rút lui bất cứ lúc nào mà không gặp khó khăn trong việc tiếp tục thăm khám và điều trị Tất cả thông tin cá nhân của bệnh nhân sẽ được mã hóa và bảo mật, chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Một số đặc điểm nhân khẩu học ở người bệnh có lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi
Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n= 219 ) Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Số lượng
Trong nghiên cứu với 173 người bệnh, 79% có độ tuổi từ 60 trở lên, trong khi 21% thuộc nhóm tuổi từ 18 đến 59 Đối tượng tham gia chủ yếu là nam giới (58%), nữ giới chiếm 42% Tỷ lệ người bệnh có chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình từ 18,5 đến 22,9 cao nhất với 63%, trong khi chỉ có 8,7% người bệnh có BMI từ 23 trở lên Hơn một nửa (51,1%) số người bệnh có từ 2 bệnh lý kèm theo, 27,9% mắc 1 bệnh lý, và 21% không có bệnh lý kèm theo.
Một số đặc điểm liên quan đến catheter tĩnh mạch ngoại vi ở người bệnh có lưu
Bảng 3 2 Đặc điểm theo dõi lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi (n= 219) Đặc điểm về lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi Số lượng
Catheter tĩnh mạch ngoại vi số
Lý do thay/loại bỏ catheter
Tắc 75 34,2 Đau vị trí đặt 56 25,6 Đỏ, phù nề/sưng vị trí đặt 21 9,6
Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đặt catheter thứ hai cao nhất đạt 58,9% Trong đó, catheter kích cỡ 22G chiếm 53% Vị trí đặt catheter chủ yếu là cẳng tay với 53,4%, và 96,4% bệnh nhân đặt catheter ở chi trên, trong khi chỉ 3,6% đặt ở chi dưới tại cẳng chân Nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến việc thay hoặc loại bỏ catheter là do tắc catheter tĩnh mạch ngoại vi, chiếm 34,2%.
Bảng 3 3 Tỷ lệ sử dụng các loại dịch truyền tĩnh mạch ngoại vi (n!9)
Các loại dịch truyền Số lượng
Dung dịch đạm, cao phân tử
Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân được truyền kháng sinh đạt 80,8%, cho thấy đây là phương pháp điều trị phổ biến nhất Ngoài ra, 38,4% bệnh nhân được truyền dung dịch đạm, cao phân tử, trong khi tỷ lệ bệnh nhân nhận truyền máu chỉ đạt 35,6%.
Xác định được tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở người bệnh có lưu catheter tĩnh mạch ngoại vi
Biểu 3 1 Tỷ lệ viêm tĩnh mạch của người bệnh đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi
Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ người bệnh viêm tĩnh mạch khi đặt CTMNV chiếm 27,4% (n`), tỷ lệ người bệnh đặt CTMNV chiếm 72,6%.
Dưới 24h Từ 24 đến 48h Từ trên 48 đến 72h Trên 72h
Biểu 3 2 Thời điểm phát hiện viêm tĩnh mạch theo giờ (n`)
Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân viêm tĩnh mạch được phát hiện trong khoảng thời gian từ 24 đến 48 giờ cao nhất, đạt 48,3% Ngược lại, tỷ lệ phát hiện sau 72 giờ thấp nhất, chỉ 5,1% Các thời gian phát hiện khác bao gồm 48 đến 72 giờ với 33,3% và dưới 24 giờ với 13,3%.
Biểu 3 3 Tỷ lệ viêm tĩnh mạch của người bệnh đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi theo thang đo VIP
Trong nhóm đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân viêm tĩnh mạch độ 2 theo thang đo VIP cao nhất, đạt 46,7% Ngược lại, tỷ lệ viêm tĩnh mạch độ 1 thấp nhất, chỉ chiếm 18,3% Tỷ lệ viêm tĩnh mạch độ 3 là 35% Nghiên cứu không ghi nhận tỷ lệ viêm tĩnh mạch độ 4 và độ 5.
Bảng 3 trình bày tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân được đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi theo thang đo VIP Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu bao gồm số lượng bệnh nhân (n) và tỷ lệ phần trăm (%) viêm tĩnh mạch.
Trong nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân viêm tĩnh mạch độ 1 theo thang đo VIP ghi nhận cao hơn với 54,5% trong vòng 24 giờ đầu Đối với viêm tĩnh mạch độ 2, tỷ lệ bệnh nhân cao nhất được ghi nhận từ 24 giờ trở đi.
Trong một nghiên cứu kéo dài 48 giờ, có 67,9% người bệnh tham gia Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân viêm tĩnh mạch độ 3 ghi nhận cao nhất từ 48 đến 72 giờ, chiếm 61,9% tổng số trường hợp viêm tĩnh mạch độ 3.
Một số yếu tố liên quan đến viêm tĩnh mạch sau khi đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi
Bảng 3 5 Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và tỷ lệ viêm tĩnh mạch do đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi (n= 219) Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.5 cho thấy người bệnh từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ viêm tĩnh mạch cao gấp 5 lần so với người dưới 60 tuổi (p 0,05 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đặng Duy Quang và cộng sự vào năm 2020 tại bệnh viện Trung ương Huế, với 510 bệnh nhân trên 16 tuổi sử dụng catheter tĩnh mạch ngoại vi.
Vị trí đặt catheter có ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm tĩnh mạch, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p=0,1 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đặng Duy Quang và cộng sự trên 510 bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Huế, trong đó cũng ghi nhận rằng vị trí đặt catheter và viêm tĩnh mạch ngoại vi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,359 [8].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ viêm tĩnh mạch giữa bệnh nhân được truyền dung dịch kháng sinh, máu và dung dịch đạm, cao phân tử so với bệnh nhân không được truyền (p>0,05) Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Đặng Duy Quang, trong đó ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân có và không truyền dung dịch đạm, cao phân tử Tương tự, nghiên cứu của Vũ Bá Quỳnh tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ viêm tĩnh mạch ở bệnh nhân có và không truyền dung dịch kháng sinh, máu và dung dịch đạm, cao phân tử.
Một số hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Hồi sức tích cực- Chống độc, do đó chưa phản ánh toàn diện tình hình bệnh nhân tại bệnh viện Cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu tương tự ở các khoa khác để có cái nhìn đầy đủ hơn về tình trạng sức khỏe của người bệnh.
Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố nhân khẩu học và đặc điểm của CTMNV, nhưng chưa khám phá mối liên hệ giữa tỷ lệ viêm tĩnh mạch và thực hành điều dưỡng.