Lý do chọn đề tài Lý luận và thực tiễn chứng minh rằng, nếu không xây dựng và phát triển nền dân chủ, thì hệ thống chính trị bao gồm Nhà nước xã hội chủ nghĩa không thể thực hiện toàn v
PHÀN NỘI DUNG
CHƯƠNG II: DÂN CHỦ & DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong những năm qua, hệ thống chính trị Việt Nam đã có những đổi mới đáng kể, với sự củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội ngày càng được nâng cao, trong khi Nhà nước tiếp tục xây dựng theo hướng pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, mang lại hiệu quả thiết thực, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa và tư tưởng.
Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay đang gặp nhiều vấn đề yếu kém, bao gồm công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện chưa hiệu quả Tình trạng tham nhũng, quan liêu và mất đoàn kết nội bộ vi phạm quyền làm chủ của dân và không tuân thủ kỷ cương, phép nước đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến trách nhiệm mờ nhạt Nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, vẫn còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu và bao cấp Đội ngũ cán bộ cơ sở thiếu đào tạo và bồi dưỡng, trong khi chính sách đối với họ còn nhiều bất cập.
2 CHƯƠNG II: DÂN CHỦ & DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1 Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân vẫn tồn tại gay gắt Giai cấp tư sản, với quyền sở hữu tư liệu sản xuất, thường kiếm lợi nhuận từ việc bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, giai cấp bị áp bức nặng nề Sự bất công này tạo ra điều kiện cho cách mạng của giai cấp vô sản nổ ra, và nhờ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, các cuộc cách mạng đã đạt được thành công.
Đảng Cộng sản đã đóng vai trò quyết định trong thắng lợi của cách mạng và sau chiến thắng, trở thành một phần quan trọng trong việc xây dựng nhà nước với ảnh hưởng to lớn.
Cuộc cách mạng do giai cấp vô sản và nhân dân lao động lãnh đạo, dưới sự dẫn dắt của Đảng Cộng sản, đã tạo ra nhà nước xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng và dân chủ, thực hiện quyền lực của nhân dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa là hình thức nhà nước mà giai cấp công nhân nắm quyền thống trị chính trị, có nhiệm vụ phát triển chủ nghĩa xã hội và nâng cao vị thế của nhân dân lao động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
2.2 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một thể chế chính trị mang bản chất của giai cấp công nhân, với sự lãnh đạo chính từ giai cấp này, khác biệt hoàn toàn so với các nhà nước bóc lột trong lịch sử Về mặt kinh tế, nhà nước này không chỉ là một bộ máy chính trị - hành chính mà còn là tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của nhân dân lao động, được xây dựng trên nền tảng sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa tập trung vào việc bảo vệ lợi ích và sức lao động của nhân dân, xóa bỏ mối quan hệ sản xuất bóc lột đặc trưng của thời kỳ tư bản chủ nghĩa.
Trong lịch sử nhà nước tư bản chủ nghĩa, quyền lực thuộc về các giai cấp bóc lột, thể hiện sự thống trị của thiểu số đối với toàn bộ tầng lớp lao động bị áp bức Ngược lại, trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản giữ vai trò chủ đạo trong chính trị, tạo ra sự thống trị của đa số nhằm giải phóng chính mình và các tầng lớp lao động khác Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê nin và những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại.
Vì đề cao sự công bằng của giai cấp công nhân nên sự phân hóa giữa các
13 giai cấp, tầng lớp ngày càng được thu hẹp, nhân dân ngày càng bình đẳng trong việc tiếp nhận nguồn lực và cơ hội để phát triển
2.3 Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các góc độ tiếp cận khác nhau Các chức năng này bao gồm chức năng đối nội và đối ngoại, chức năng chính trị, chức năng tiếp cận, chức năng văn hóa - xã hội, chức năng giai cấp (trấn áp) và chức năng xã hội (tổ chức và xây dựng) Mỗi chức năng được xác định dựa trên phạm vi tác động của quyền lực nhà nước, lĩnh vực ảnh hưởng của quyền lực và bản chất của quyền lực đó.
Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy giai cấp được hình thành từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm trấn áp giai cấp bóc lột và các phần tử phản động, bảo vệ thành quả cách mạng và đảm bảo an ninh chính trị V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng mọi nhà nước đều sử dụng bạo lực, nhưng sự khác biệt nằm ở đối tượng bị trấn áp, ở đây là sự áp bức của đa số nhân dân lao động đối với thiểu số bóc lột Sự trấn áp này là cần thiết để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một nhà nước chế độ xã hội mới không chỉ trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột mà còn cần có năng suất sản xuất cao hơn so với chế độ cũ Năng suất cao giúp phát triển kinh tế nhà nước, cải thiện đời sống cho đại đa số nhân dân lao động Quản lý và xây dựng kinh tế là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển của nhà nước Tuy nhiên, tổ chức quản lý kinh tế là một thách thức phức tạp Cơ sở kinh tế mới dựa vào nhà nước mới và giai cấp vô sản, vì vậy giai cấp vô sản đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược nhằm tăng cường lao động và năng suất, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn cho chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải vững mạnh và có đủ sức mạnh không chỉ để đối phó với kẻ thù mà còn để xây dựng và phát triển đất nước.
2.4 Thách thức và giải pháp của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh xã hội ngày càng hiện đại hóa, sự phát triển của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mang lại nhiều triển vọng nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức Do đó, việc làm rõ các vấn đề này là cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Toàn cầu hóa mang lại cả thách thức và cơ hội cho các nước xã hội chủ nghĩa trong việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới Nó không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nội địa mà còn giúp thu hút nguồn vốn đầu tư, công nghệ và quản lý từ các nước phát triển thông qua hợp tác quốc tế Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh từ các nền kinh tế thị trường yêu cầu Nhà nước CNXH nâng cao năng lực cạnh tranh và điều chỉnh mô hình tăng trưởng cho phù hợp với bối cảnh hiện tại.
Những thách thức khác của Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa:
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức lớn đối với việc bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời cần giữ vững hòa bình và ổn định để phát triển bền vững.
Nạn tham nhũng và tệ quan liêu đang gia tăng, gây suy giảm niềm tin của nhân dân và cản trở sự phát triển của đất nước Đồng thời, nguy cơ "diễn biến hòa bình" từ các thế lực thù địch cũng ngày càng trở nên tinh vi hơn.
CHƯƠNG III: DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA &NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Sau hơn 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội kể từ năm 1991, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực kinh tế Hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng ngày càng được hoàn thiện, tạo ra môi trường kinh tế và pháp lý thuận lợi, góp phần phát huy dân chủ và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Bộ luật lao động 2019 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức, đồng thời khẳng định quyền tự do sản xuất kinh doanh Điều 4 của bộ luật này cam kết bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động, khuyến khích các thỏa thuận mang lại điều kiện làm việc tốt hơn so với quy định pháp luật, và thiết lập chính sách hỗ trợ người lao động trong việc mua cổ phần và góp vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.
Chống độc quyền và dỡ bỏ rào cản giữa các thành phần kinh tế là cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật Điều 51 của Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh rằng mọi thành phần kinh tế đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, và các chủ thể thuộc các thành phần này có quyền bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo quy định của pháp luật.
Từ năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến việc công bố các đánh giá và báo cáo xếp hạng GCI, dẫn đến việc thông tin không được chi tiết như trước Do đó, kết quả trực quan hiện tại chủ yếu dựa trên báo cáo GCI giai đoạn 2017-2019 của Việt Nam (Hình 1) và sự so sánh giữa Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực ASEAN (Hình 2).
Kết quả cụ thể được trình bày như sau [17] :
Hình 1 Tổng giá trị GCI 4.0 của Việt Nam giai đoạn 2017 - 2019
Hình 2 Bảng xếp hạng top 5 trị giá GCI khu vực ĐNÁ tính đến năm 2019 (giai đoạn 2017 - 2019
Sự dân chủ và bình đẳng đã tạo động lực cho các chủ thể kinh tế khai thác tiềm năng của mình Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam vào tháng 12/2019 đạt 61.543 điểm, tăng khoảng 3.492 điểm so với năm 2018.
Việc thừa nhận và tôn trọng sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế chính thể hiện sự tôn trọng đối với tính đa dạng lợi ích của các giai cấp, tập đoàn và cá nhân trong xã hội, trong đó kinh tế tư nhân đóng vai trò đại diện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định vai trò của nó trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước.
18 triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [18]
Nghị quyết số 12 tại Hội nghị Trung ương 5 khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước và vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Tiến trình đổi mới đã tạo ra nền tảng vững chắc cho quyền tự do và tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, góp phần mang lại các dấu hiệu tăng trưởng tích cực cho nền kinh tế.
Tính đến năm 2019, Việt Nam có 758.610 doanh nghiệp hoạt động, trong đó hơn 670.000 là doanh nghiệp tư nhân và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh Kinh tế tư nhân đóng góp trên 43% vào GDP, vượt xa khu vực nhà nước với 28,9% và khu vực FDI chỉ đạt 18% Đặc biệt, khối tư nhân thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, nghĩa là trong 100 lao động thì có 85 người làm việc trong lĩnh vực này.
Kinh tế tư nhân và quá trình dân chủ hóa đã giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng trì trệ và khủng hoảng, đưa đất nước vươn lên nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình Đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt, sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng cường, tạo ra thế và lực mới cho sự phát triển bền vững Sự tăng trưởng GDP ổn định của Việt Nam minh chứng cho những thành tựu này.
Hình 3 Đồ thị biểu diễn GDP theo từng năm và phần trăm tăng trưởng trị số GDP của Việt Nam so với cùng kỳ năm trước giai đoạn
Trực quan hóa từ Hình 3, ta thấy vào cuối thập niên vừa qua
Năm 2021, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng GDP đã giảm đáng kể, nhưng vẫn ghi nhận sự tăng trưởng dương nhờ vào những ảnh hưởng rộng rãi từ đại dịch.
Covid-19 đã chứng minh rằng định hướng và chính sách kinh tế - tài chính của Việt Nam đủ mạnh mẽ để duy trì sự ổn định trong bối cảnh tạm thời khó khăn này.
Việt Nam đã vượt qua khó khăn về tăng trưởng kinh tế, đạt mức tăng trưởng 8,12% trong năm 2022, cao hơn so với năm 2019, mặc dù vẫn đối mặt với những hạn chế về tiềm lực và ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu sau đại dịch Covid-19.
3.1.2 Trên lĩnh vực chính trị
Từ góc độ chính trị, tiến trình thực hiện dân chủ của Đảng và các tổ chức nhà nước đã được mở rộng và phát huy hiệu quả tích cực Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cùng với xử lý các hành vi vi phạm quyền dân chủ được chú trọng, đặc biệt là trong bối cảnh an sinh xã hội.
Hệ thống chính trị đang trải qua những đổi mới nhằm tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả hơn, đồng thời tăng cường tính dân chủ và công khai trong hoạt động Từ 2019 đến 2021, cả nước đã cắt giảm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, 561 đơn vị cấp xã, cùng với 3.437 cơ quan ở cấp xã và 429 cơ quan khác, góp phần nâng cao hiệu quả của dân chủ xã hội.
Hình 4 Bảng biểu diễn trực quan giá trị và tỉ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2013 - 2023
Trong 20 cấp huyện, khối hành chính đã giảm 752 cơ quan, khối đoàn thể giảm 2.856 cơ quan, khối cơ quan thuộc hệ thống ngành dọc của Trung ương tại địa phương giảm 73 cơ quan, và khối đơn vị sự nghiệp giảm 185 đơn vị Đồng thời, người dân ngày càng tích cực tham gia vào các hoạt động bầu cử và trưng cầu ý dân, góp phần hoàn thiện bộ máy nhà nước Nhiều văn bản pháp lý đã được Quốc hội thông qua, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, và Luật Trưng cầu ý dân, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền làm chủ.