1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự hình thành, tổ chức bộ máy, Đặc Điểm nhà nước văn lang – Âu lạc

15 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Hình Thành, Tổ Chức Bộ Máy, Đặc Điểm Nhà Nước Văn Lang – Âu Lạc
Tác giả Hoàng Ngọc Hương Ly, Phan Hoàng Mai, Đỗ Thị Trà My, Nguyễn Trà My, Trần Thị Mỹ
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Phương Nga
Trường học Trường Đại Học Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại graduation project
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 172,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các định nghĩa, khái niệm liên quan− Định nghĩa về nhà nước: “Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị, quyền lực công của xã hội, của nhân dân, có chủ quyền, thực hiện việc quản lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT ***

NHÓM 10

SỰ HÌNH THÀNH, TỔ CHỨC BỘ MÁY, ĐẶC ĐIỂM NHÀ

NƯỚC VĂN LANG – ÂU LẠC

1 Hoàng Ngọc Hương Ly : 23061307

2 Phan Hoàng Mai : 23061321

3 Đỗ Thị Trà My : 23061337

4 Nguyễn Trà My : 23061341

5 Trần Thị Mỹ : 23061343

Hà Nội năm 2024

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục

II Sự hình thành, tổ chức bộ máy, đặc điểm nhà nước Văn Lang – Âu Lạc 1

1 Sự hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc: 1

a) Nhà nước Văn Lang 1

b) Nhà nước Âu Lạc 4

2 Tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang – Âu Lạc: 5

a) Bộ máy nhà nước Văn Lang 5

b) Bộ máy Nhà nước Âu Lạc 6

3 Đặc điểm nhà nước Văn Lang – Âu Lạc 7

a) Quá trình hình thành nhà nước diễn ra lâu dài 7

b) Quan hệ giữa làng và nước trong nhà nước Văn Lang là quan hệ hoà đồng – mang tính lưỡng hợp: 8

c) Nhà nước có tính liên kết mạnh, tính đại diện cao và tính giai cấp yếu 9

d) Chức năng chủ yếu của Nhà nước 12

Trang 3

I Các định nghĩa, khái niệm liên quan

− Định nghĩa về nhà nước:

“Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị, quyền lực công của xã hội, của nhân dân, có chủ quyền, thực hiện việc quản lý các công việc chung của toàn xã hội trên cơ sở pháp luật và lợi ích chung với bộ máy nhà nước chuyên trách, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người, vì sự phát triển bền vững của xã hội”

(Tr 76, 77 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB ĐHQG

Hà Nội, 2023)

− Khái niệm về bộ máy nhà nước:

“Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung nhất định, tạo thành một cơ chế thống nhất để thực hiện quyền lực nhà nước, các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”

(Tr 154 Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB ĐHQG

Hà Nội, 2023)

II Sự hình thành, tổ chức bộ máy, đặc điểm nhà nước Văn Lang –

Âu Lạc

1 Sự hình thành nhà nước Văn Lang – Âu Lạc:

a) Nhà nước Văn Lang

● Điều kiện cần cho sự ra đời của nhà nước

Có thể nói, yêu cầu tự vệ và trị thuỷ tác động mạnh mẽ vào quá trình hình thành nhà nước ở Việt Nam Từ xa xưa, trong nhân dân ta đã lưu truyền những huyền thoại, những truyền thuyết về buổi khai thiên lập địa và buổi đầu dựng nước đời Hùng Vương Trong thời kỳ này có hai truyền thuyết rất quan trọng được lưu truyền trong dân gian cho đến ngày nay, đó là truyền thuyết Thánh Gióng (phản ánh nhu cầu tập hợp lực lượng chống ngoại xâm) và truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (phản ánh nhu cầu tập hợp lực lượng để trị thuỷ và khai khẩn đất hoang) Hình ảnh “nước dâng đến đâu núi đồi cao đến đó” (Sự tích Sơn Tinh – Thuỷ Tinh) và hình ảnh “một chú bé mới ba tuổi đã đứng dậy nhổ tre đánh giặc” (Sự tích Thánh Gióng) là những hình ảnh dễ nhớ, dễ thuộc, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc của người Việt về sức mạnh của

sự đoàn kết, nhưng cũng là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi người Việt rằng dân tộc này, đất nước này ngay từ khi ra đời đã phải đương đầu với những khó khăn, thường trực như thế

Trang 4

− Yêu cầu trị thuỷ, chống thiên tai:

+ Yêu cầu trị thủy được coi là nhu cầu quan trọng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở phương Đông Lúc đầu việc trị thủy là chức năng xã hội, xuất phát từ lợi ích chung rồi trong tay người giao phó dần trở thành chức năng nhà nước đối với xã hội Thời Hùng Vương cũng là lúc con người mở rộng công cuộc chinh phục thiên nhiên, chiếm lĩnh vùng đồng bằng châu thổ, phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, khai thác những thuận lợi của tự nhiên Đó cũng là cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên

để khai phá đất hoang, rừng rậm, chống mưa nguồn nước lũ, chống hạn hán ngập lụt đặt ra một cách bức thiết Cơ sở của nền kinh tế lúc đó là nông nghiệp trồng lúa nước, đòi hỏi phải có những công trình tưới nước và tiêu nước, đảm bảo nguồn nước cho cây trồng

− Yêu cầu tự vệ, chống giặc ngoại xâm

+ Nước ta ở vào một vị trí địa lý mang tính chất tiếp xúc của bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á Đó là một vị trí giao lưu kinh tế, văn hóa thuận lợi, nhưng cũng lắm đụng độ và dễ bị tiến công từ nhiều phía Yêu cầu tự vệ, chống các mối đe dọa từ ngoài vì thế, cũng sớm được đặt ra và ngày càng trở nên bức xúc Chiến tranh thời đó bao gồm cả những cuộc xung đột bên trong và những cuộc xung đột bên ngoài

+ Xung đột bên trong là sản phẩm tất nhiên của một xã hội đã phân hóa và cũng là hiện tượng không tránh khỏi trong quá trình hình thành Nhà nước cũng như quá trình hợp nhất các địa phương, các tập đoàn cư dân khác nhau thành cộng đồng quốc gia Trong các cuộc xung đột này, cuộc chiến tranh giữa Hùng và Thục là kéo dài nhất và kết thúc bằng sự hợp nhất giữa hai tộc người Lạc Việt và

Âu Việt để mở rộng và củng cố khối cộng đồng

+ Xung đột bên ngoài biểu hiện cuộc đấu tranh chống mối đe dọa từ bên ngoài đến nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng, cuộc chiến tranh này ngày càng khốc liệt, đòi hỏi phải huy động sức mạnh của cả cộng đồng Câu chuyện Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) là một bản hùng ca về cuộc chiến chống giặc ngoại xâm của cư dân Văn Lang trong buổi đầu dựng nước

● Điều kiện đủ cho sự ra đời nhà nước

Bất cứ một nhà nước nào khi ra đời cũng đòi hỏi phải có những điều kiện chín muồi hay những tiền đề cần thiết để đảm bảo cho sự ra đời của nhà nước đó Chế độ công xã nguyên thủy tan rã, nhà nước xuất hiện là kết quả của sự vận động, phát triển nội tại của xã hội loài

người.Một chuyển biến quan trọng của thời Hùng Vương là sự tan rã

Trang 5

của quan hệ cộng đồng nguyên thủy và sự phân hóa xã hội Tiền đề vật

chất (kinh tế) có ý nghĩa quyết định của sự phân hóa xã hội là sự phát

triển sức sản xuất đến mức độ tạo ra sản phẩm dư thừa của xã hội.

− Về mặt con người, sự phát triển của con người về thể lực, trí lực,

thông qua việc nắm bắt được các quy luật phát triển của tự nhiên và

xã hội, cùng với việc phát triển ra các kim loại đã khiến cho lực lượng sản xuất trong xã hội tăng lên một cách rõ rệt

− Về mặt xã hội, đã xuất hiện ba lần phân công lao động

+ Lần phân công lao động thứ nhất - chăn nuôi tách khỏi trồng

trọt: Mặc dù nghề trồng trọt và chăn nuôi xuất hiện khá sớm, nhưng để chứng tỏ rằng chăn nuôi tách hẳn và trở thành một ngành kinh tế độc lập với trồng trọt thì cho đến nay chưa có một tài liệu khảo cổ hay dân tộc học nào xác nhận về điều này

+ Lần phân công lao động thứ hai - thủ công nghiệp tách khỏi

nông nghiệp: Căn cứ vào đặc điểm rất quan trọng của nghề trồng lúa nước là phải tôn trọng thời tiết, theo đúng lịch nông nghiệp nên cư dân nông nghiệp có điều kiện thời gian để kết hợp làm nhiều nghề thủ công như những ngành phụ của nông nghiệp Những nghề thủ công như làm gốm, dệt, chế tác đồ trang sức bằng đá có thể đã chuyên môn hóa trong chừng mực nào đó, nhưng vẫn chưa tách rời khỏi nông nghiệp Có lẽ chỉ có nghề luyện kim, bao gồm cả nghề đúc đồng và nghề luyện sắt, nhất là vào giai đoạn Đông Sơn, do yêu cầu kỹ thuật phức tạp và

do vị trí kinh tế trọng yếu của nó, đã tách rời khỏi nông nghiệp

+ Lần phân công lao động thứ ba - thương nghiệp tách khỏi hoạt

động sản xuất vật chất trực tiếp của xã hội: trên cơ sở phân công lao động xã hội, sự trao đổi sản phẩm và nguyên liệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng và có thể nói vào cuối thời Hùng Vương đã manh nha có sự sản xuất và trao đổi hàng hóa Hình thức trao đổi lúc bấy giờ chủ yếu là vật đổi vật hoặc thông qua một vật ngang giá chung nào đó

→ Như vậy có thể thấy, mức độ phân hóa xã hội ở thời kỳ Hùng Vương mặc dù chưa cao nhưng cũng đã tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành nhà nước phôi thai, trước khi

xã hội diễn ra sự phân hóa giai cấp rõ rệt

● Thời điểm ra đời Nhà nước Văn Lang

− Theo Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, “Nước Văn Lang, hiểu theo nghĩa là nhà nước sơ khai, chỉ có thể ra đời trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn” Việt Sử lược là tác phẩm sử học xưa nhất còn lại đến nay chép rằng nước Văn Lang do Hùng Vương thành lập vào khoảng đời Trang Vương nhà Chu (696- 682)

Trang 6

Trong tác phẩm này có nêu rằng: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696- 682 TCN), ở Bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật

áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”

→ Niên đại ra đời của nước Văn Lang vào thế kỷ 7 TCN được chép trong Việt Sử lược là phù hợp với kết quả nghiên cứu khoa học hiện nay

− Trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam, nhóm tác giả đưa ra nhận định rằng “nhà nước đầu tiên ở Việt Nam ra đời ở thời kỳ văn hóa Đông Sơn trong thiên niên kỷ I TCN” Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã từng hùng hồn khẳng định rằng nước ta có bốn nghìn năm lịch sử, nhưng không lâu sau Quốc hội đã phải sửa lại thành trải qua mấy nghìn năm lịch sử ở Lời nói đầu Hiến pháp năm 1992 để đảm bảo tính khách quan khoa học về sự ra đời nhà nước

b) Nhà nước Âu Lạc

− Cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xảy ra xung đột kéo dài Trước mối đe dọa của đế chế Tần, cuộc xung đột này kết thúc bằng việc nhường ngôi Hùng Vương cho Thục phán và thành lập nhà nước Âu Lạc

− Tên nước Âu Lạc gồm 2 thành tố Âu (Âu Việt) và Lạc (Lạc Việt) Nhà nước Âu Lạc tồn tại khoảng 30 năm TK 3 - 2 TCN Đây không phải là một thời kỳ lịch sử nhưng là một giai đoạn phát triển tiếp tục của nước Văn Lang nằm trong thời đại dựng nước Hùng Vương của An Dương Vương

− Nhìn chung có thể thấy thời Âu Lạc của An Dương Vương về cơ bản vẫn nằm trong giai đoạn mà giới sử học vẫn gọi chung là thời

kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, ý muốn nói giai đoạn này chỉ là một sự tiếp nối, sự phát triển thêm so với thời kỳ Hùng Vương

→ Sự ra đời của nhà nước này cũng đánh dấu sự phát triển

về chất, chuyển từ thời kỳ mông muội, dã man sang thời kỳ văn minh

Trang 7

2 Tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang – Âu Lạc:

a) Bộ máy nhà nước Văn Lang

− Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” thì “Nước ta mở đầu từ Hùng Vương, dựng kinh đô, đặt quan trưởng, bấy giờ là Lạc Hầu, Lạc Tướng, không rõ chức ty”

− Nhà nước Văn Lang là mô hình nước sơ khai, mới ra đời nên không thể xếp vào dạng nào trong 5 hình thái nhà nước Tuy vẫn còn trong tình trạng sơ khai nhưng đã có những sự phân chia quyền lực nhất định:

+ Với người đứng đầu bộ máy chính quyền trong thời kỳ này là: là

18 đời Hùng Vương, được chuyển giao theo nguyên tắc cha truyền con nối Thế nhưng về mặt bản chất thì vua Hùng chỉ mang hình ảnh tộc trưởng, người thủ lĩnh liên minh bộ lạc, nhưng

đã có quyền thế tập nhiều đời và tập trung trong tay, nếu không phải quyền lực nhà nước đầy đủ thì ít ra đã “tiêu biểu cho mầm mống quyền lực nhà nước” Tuy đã sự phân chia quyền lực nhất định nhưng sức mạnh của giai cấp thống trị vẫn chưa thể hiện rõ

vì theo như “Lịch triều hiến chương loại chí” có ghi “vua tôi cùng đi cày, cha con tắm chung sông không chia giới hạn, không phân biệt uy quyền, thứ bậc” thể hiện rằng cho dù là vua nhưng

Trang 8

không có sự khác biệt so với thường dân Nhà vua là người có vai trò chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo

+ Nhà nước Văn Lang chia thành 15 bộ (thực chất là bộ lạc), đứng đầu mỗi bộ chính là các Lạc tướng (cũng được thế tập theo hình thức cha truyền con nối, là người đứng đầu 1 “vùng-bộ”), giúp việc cho vua là các Lạc hầu

+ Dưới bộ là các công xã nông thôn (kẻ, chạ, chiềng) Đứng đầu các công xã là Bồ chính, thực chất là các già làng Mỗi công xã gồm một số gia đình quây quần trong khu vực địa lý nhất định Thời bấy giờ, ruộng tư hữu chưa xuất hiện toàn bộ thuộc sở hữu công xã

− Nhà nước vừa đại diện cho công xã vừa bóc lột các công xã Khi có chiến tranh, lực lượng vũ trang công xã giữ vai trò chủ yếu

− Nhà nước Văn Lang còn sơ khai trong quá trình hình thành còn mang đậm dấu ấn công xã – bộ lạc Chế độ già làng là chế độ trọng lão, được bảo tồn lâu dài và còn tàn dư đến ngày nay Bên cạnh già làng còn chế độ Hội đồng công xã giải quyết mọi hoạt động công

− Sự nảy sinh hình thái Nhà nước như thế, tuy còn sơ khai, vào thời Hùng Vương đã đánh dấu một bước tiến quan trọng lịch sử Nó xác nhận quá trình dựng nước thời Hùng Vương và đặt cơ sở cho một loại hình cộng đồng mới: Cộng đồng quốc gia

b) Bộ máy Nhà nước Âu Lạc

− Tổ chức bộ máy nhà nước và các đơn vị hành chính dưới thời Âu Lạc

vẫn chưa có gì thay đổi so với thời Văn Lang của các Vua Hùng Đây

là sự phát triển mới, kế tục của nhà nước Âu Lạc so với nhà nước Văn Lang:

+ Về mặt tổ chức nhà nước với người đứng đầu ở đây là Vua – An

Dương Vương, dưới vua là các Lạc hầu và Lạc tướng Và tại các địa phương đứng đầu các bộ vẫn là các Lạc tướng Dưới các bộ vẫn là các công xã nông thôn với người cai quan vẫn là các bồ chính

+ Trong xã hội, ngoài bộ phận thống trị thì phần đồng vẫn là công

dân các công xã tự do và những nô lệ mang tính chất gia đình

− Ngoài ra, còn có một số bộ phận làm công việc tôn giáo, thu cống phẩm, giữ kho tàng, truyền lệnh vua… Lạc tướng đứng đầu bộ, cai quản một đơn vị hành chính địa phương Lạc tướng phải thu nộp cống phẩm cho nhà vua, thường xuyên truyền mệnh lệnh từ trên xuống Khi có chiến tranh, lạc tướng là thủ lĩnh quân sự địa phương

và chịu sự điều động của nhà vua

Trang 9

− Lãnh thổ nước Âu Lạc cũng được mở rộng trên cơ sở sáp nhập hai

vùng lãnh thổ và 2 nhóm người có quan hệ đồng chủng, láng giềng

Âu Lạc và Lạc Việt Sự thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của một cuộc chiến tranh thôn tính, tiêu diệt lẫn nhau mà là một sự hợp nhất cư dân và đất đai của Lạc Việt và Âu Lạc, của vua Hùng và vua Thục Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục và cao hơn nước Văn Lang Sự ra đời nhà nước này cũng đánh dấu sự phát triển về chất, chuyển từ thời kỳ mông muội sang thời kỳ văn minh

3 Đặc điểm nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

a) Quá trình hình thành nhà nước diễn ra lâu dài

Việc hình thành nhà nước Văn Lang là một quá trình rất lâu dài, nhà nước chỉ ra đời khi có cả điều kiện cần và đủ, cả những yếu tố khách quan và chủ quan

Về vấn đề thời điểm ra đời nhà nước, hiện nay chúng ta chưa có căn cứ

rõ ràng và đầy đủ để khẳng định thực sự có 4000 năm lịch sử, giới sử học cho đến nay qua khảo sát rất nhiều ngôi mộ cổ mới có thể tìm

thấy ngôi mộ cổ Việt Khê (Hải Phòng) với niên đại vào khoảng ±700

năm TCN (cuối thời kỳ văn hóa Đông Sơn), tức là cách ngày nay khoảng ±2700 năm, và đưa ra quan điểm lúc này tư hữu mới xuất hiện

(Diệp Đình Hoa, Nghiên cứu đồ đồng thau Việt Khê (Hải Phòng) qua

phương pháp phân tích quang phổ (viết chung), trong cuốn Những phát hiện mới về khảo cổ học, năm 1981, H., 1982, tr.124.)

− Về vấn đề này, việc hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam là

một quá trình, thậm chí một quá trình rất lâu dài, do vậy sẽ là

không khách quan nếu khẳng định có một cái mốc cụ thể rằng nhà nước Văn Lang ra đời vào năm này, hay năm kia, điều này là không

có cơ sở khoa học đáng tin cậy

Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã từng khẳng định rằng nước ta

có "bốn nghìn năm lịch sử", nhưng không lâu sau Quốc hội đã phải sửa lại thành "trải qua mấy nghìn năm lịch sử" ở lời nói đầu Hiến

pháp 1992 Nhưng càng suy nghĩ càng thấy, nhiều vấn đề tưởng như không cần phải bàn cãi nữa, nhưng ẩn sau những câu chữ ấy, từ

"mấy" vẫn vẹn nguyên là một từ để hỏi, là một món nợ chưa trả được của hậu thế đối với lịch sử dân tộc

− Vì là một quá trình nên đương nhiên khi sử dụng khái niệm Nhà nước Văn Lang thì cũng cần phải hiểu rằng không phải ngay từ đầu những đặc trưng cơ bản của nhà nước đã hiện diện đầy đủ Bởi lẽ nhà nước nếu theo như đúng lý thuyết của lý luận chung nhà nước

và pháp luật phải thể hiện đầy đủ cả 5 đặc trưng cơ bản đó là: có bộ

Trang 10

máy; có dân cư, lãnh thổ; có chủ quyền quốc gia; có pháp luật; và

có thu thuế Nhưng qua phân tích ở trên cho thấy cả 5 đặc trưng trên của nhà nước thời kì này còn rất mờ nhạt và chưa thực sự rõ ràng Nhưng nhìn rộng ra thế giới, không riêng gì ở Việt Nam, nhiều nhà nước Phương Đông thời cổ đại khác ra đời sớm hơn như

Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ cũng không phải ngay từ đầu đã đầy đủ cả 5 đặc trưng trên, và cũng phải sau một thời gian rất dài kể từ khi nhà nước ra đời, nhiều nhà nước mới trình diện trước thế giới các bộ luật, hay đạo luật thành văn

b) Quan hệ giữa làng và nước trong nhà nước Văn Lang là quan hệ hòa đồng – mang tính lưỡng hợp:

− Theo Việt Sử Lược, bộ sách lịch sử lâu đời nhất do người Việt viết còn lưu truyền được đến ngày nay đã nêu rõ: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696 - 682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng

ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô

ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương” Như vậy, về mặt trình độ tổ chức, nhà nước Văn Lang đã thể hiện rõ nét tính chất cao hơn cách tổ chức trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ

− Kinh tế của làng vẫn mang tính độc lập tương đối so với kinh tế nhà

nước, chưa có sự phân định rạch ròi giữa chính quyền trung ương

và chính quyền địa phương

Thực chất đây là quan hệ có tính chất hòa đồng, lưỡng hợp Trong mối quan hệ với chính quyền trung ương, thời kì này “làng” đang còn rất mạnh, và chưa chịu phụ thuộc nhiều với chính quyền trung ương Hay nói cách khác, đây là thời kỳ làng “mạnh” nước “yếu”, khác cơ bản với nhà nước quân chủ trung ương tập quyền sau này

− Hơn nữa, làng và nước thời kì này có quan hệ rất gần gũi, mặc dù nhà nước thời kì này được tổ chức theo hình thức quân chủ nhưng tính tập quyền vẫn chưa cao, làng vẫn giữ vị trí quan trọng cả về kinh tế lẫn chính trị Chức năng cơ bản của nhà nước lúc này là tổ chức các công trình trị thuỷ và chống ngoại xâm, do vậy bộ máy nhà nước lúc này cũng chưa cần phải lớn, sự chuyên môn hoá chưa cao nên cũng chưa cần nhiều những cơ quan chuyên trách Nhưng

để thực hiện tốt hai công việc đó khả năng liên kết giữa các làng của nhà nước lúc này cần phải mạnh, quan trọng nhất trong việc quản lý đất nước lúc này đó là uy tín, khả năng thu phục nhân tâm, khả năng tạo ra sự đoàn kết giữa các làng của người thủ lĩnh Lúc này công việc của làng cũng là công việc của nước và công việc của nước cũng là công việc của làng, chưa thực sự có sự phân định rạch ròi

Ngày đăng: 24/12/2024, 22:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w