1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng

80 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Xã Hội Hóa Tại Trường Đại Học Hải Phòng
Tác giả Bùi Đình Y
Người hướng dẫn TS. Đỗ Minh Thụy
Trường học Trường Đại học Hải Phòng
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

BÙI ĐÌNH Y

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60.34.01.02

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Minh Thụy

HẢI PHÒNG - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ về đề tài “Một số biện pháp đẩy

mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng ” là công trình

do tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở vận dụng các kiến thức đã học và thực tiễn công tác, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Minh Thụy

Những số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng trung thực, được trích dẫn có nguồn gốc từ báo cáo của Trường Đại học Hải Phòng

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam kết nêu trên

Hải Phòng, ngày 31 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Bùi Đình Y

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Minh Thụy đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôi xin chân thành cảm

ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã góp ý cho tôi hoàn thiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Hải Phòng đã cung cấp tài liệu thống kê và đóng góp ý kiến

và động viên giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn này

Hải Phòng ngày 31 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Bùi Đình Y

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA 6

1.1 Công tác xã hội hóa 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.2 Một số vấn đề về quản lý công tác XHHGD 11

1.2.1 Mục tiêu quản lý công tác XHHGD 11

1.2.2 Nội dung quản lý công tác XHHGD 12

1.2.3 Điều kiện thực hiện quản lý công tác XHHGD 16

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý công tác XHHGD 17

1.2.5 Ý nghĩa của việc tiến hành quản lý công tác XHHGD 19

1.3 Các nội dung cơ bản về xã hội hóa giáo dục 20

1.3.1 Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội hoá giáo dục 20

1.3.2 Mục tiêu của công tác xã hội hoá giáo dục 25

1.3.3 Nội dung của công tác xã hội hoá giáo dục 26

1.3.4 Phương pháp, hình thức của công tác xã hội hoá giáo dục 29

1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia về công tác xã hội hóa giáo dục 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 35

2.1 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 35

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 37

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý 37

2.2 Thực trạng về hoạt động giáo dục tại trường Đại học Hải Phòng 38

2.2.1 Một số nét khái quát về tình hình giáo dục và đào tạo tại trường Đại học Hải Phòng 38

2.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên 40

2.2.3 Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học 40

2.3 Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tại trường đại học Hải Phòng 42

2.2.1 Thực trạng kết quả công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng 42

2.3.2 Thực trạng về kết quả của việc thực hiện công tác XHHGD 45

2.4 Những kết quả đạt được và hạn chế trong công tác xã hội hóa tại trường Đại học Hải Phòng 51

Trang 5

2.4.1 Những kết quả đạt được 51

2.4.2 Hạn chế, khuyết điểm: 51

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 51

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 53

3.1 Định hướng phát triển giáo dục của Nhà nước đến năm 2020 53

3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 53

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 53

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo lợi ích 53

3.2.3 Nguyên tắc hiệu quả 54

3.2.4 Nguyên tắc khả thi 54

3.2.5 Nguyên tắc kế thừa truyền thống 54

3.3 Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục về phía cơ quan quản lý giáo dục 54

3.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương xã hội hoá giáo dục 54

3.3.2 Nâng cao trách nhiệm cộng đồng đối với sự nghiệp giáo dục 56

3.3.3 Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào khuyến học 58

3.3.4 Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục 59

3.4 Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại trường Đại học Hải Phòng 60

3.4.1 Truyền thông tinh thần xã hội hóa giáo dục trong nhà trường 60

3.4.4 Đổi mới tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động giáo dục – đào tạo 62

3.4.4 Thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư cho hoạt động giáo dục của nhà trường 62

3.4.5 Củng cố Hội đồng Giáo dục, Hội Khuyến học 63

3.4.6.Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội 63

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 69

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 69

Trang 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CB-GV-CNV Cán bộ - giáo viên - công nhân viên CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CSVC Cơ sở vật chất

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

ĐH, CĐ Đại học, cao đẳng

KT-XH Kinh tế - xã hội XHCN Xã hội chủ nghĩa XHHGD Xã hội hoá giáo dục

Trang 7

2.5 Doanh thu hoạt động xã hội hóa của Trường Đại học Hải

Phòng giai đoạn năm 2010 - 2014

44

2.6 Chi tiết nguồn thu từ dịch vụ của Trường Đại học Hải Phòng

giai đoạn năm 2010- 2014

45

Trang 8

Doanh thu từ nghiên cứu khoa học của trường Đại học Hải

Phòng giai đoạn năm 2010- 2014

46

Sơ đồ Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường Đại học Hải Phòng 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đồng thời xác định định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y

tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn Trong đó, nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; được tham gia cung cấp các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật; được đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa, Để phát triển giáo dục mầm non khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, ngày 20-3-2014, về phê

Trang 10

duyệt Đề án hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020

Xã hội hóa công tác giáo dục (XHHGD) là tư tưởng chiến lược lớn của Đảng

và Nhà nước ta Tư tưởng đó được đúc kết từ bài học kinh nghiệm xây dựng nền giáo dục cách mạng và truyền thống hiếu học của dân tộc Đề cao sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt hàng ngàn năm lịch sử phát triển của dân tộc Tư tưởng đó còn là sự tiếp thu sáng tạo kinh nghiệm xây dựng và phát triển giáo dục đào tạo của các nước trên thế giới Tư tưởng chiến lược của Đảng về XHHGD đã được thể hiện trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 BCHTW Đảng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX: Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước

Quán triệt tư tưởng chiến lược trên, nhằm đẩy mạnh công tác XHHGD, ngày 21/8/1997, Chính phủ đã có Nghị quyết số 90/CP về “Phương hướng và chủ trương

xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá” Nội dung của Nghị quyết số 90/CP đã được cụ thể hóa bằng Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 do Chính phủ ban hành về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao

Điều 11 Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: “Mọi tổ chức gia đình và công dân có trách nhiệm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển sự nghiệp giáo dục thực hiện

đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các loại hình giáo dục, khuyến khích huy động tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”.Với quan điểm: giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ của toàn Đảng, của Nhà nước

và của nhân dân Đảng ta đã coi: giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là quốc sách hàng đầu Từ đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách XHHGD Phát huy những kết quả đã đạt được trong đổi mới sự nghiệp giáo dục, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại

Trang 11

hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt

XHHGD là huy động toàn động toàn dân chăm lo cho GD, nâng cao mức hưởng thụ do GD đem lại Là một cấp quản lý, Phòng GD&ĐT chịu trách nhiệm trước lãnh đạo chính quyền địa phương quản lý nhà nước về GD, trong đó có quản

lý XHHGD Do đó phải có những giải pháp phù hợp để huy động, tổ chức các lực lượng xã hội tham gia quá trình GD Mặt khác, Phòng GD&ĐT cũng phải có những giải pháp làm cho nhà trường với tư cách là thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức năng GD thế hệ trẻ, phải đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện XHHGD nhằm thực hiện mục tiêu GD

Nhu cầu của xã hội về giáo dục - đào tạo, ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước có hạn, chỉ có thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, vì vậy tiếp tục đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia vào cung cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, là yêu cầu khách quan từ thực tiễn Thực tế đó, đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục - đào tạo,

để quá trình xã hội hóa bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thành phố, vừa khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia, đồng thời đẩy mạnh mở rộng các loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu của nhân dân Trường Đại học Hải Phòng cũng không ngoại lệ, là một trường đại học trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố, hoạt động dưới

sự bao cấp của ngân sách Nhà nước Tuy nhiên công tác xã hội hóa tại trường có thực

sự hiệu quả, việc huy động toàn xã hội tham gia vào cung cấp chất lượng dịch vụ trong hoạt động giáo dục – đào tạo đã được phát huy triệt để hay chưa?

Những tồn tại trên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo và giảng dạy của nhà trường Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại trường đại học Hải Phòng” với mong muốn tìm hiểu thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục tại trường Đại học Hải Phòng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý xã hôi hóa giáo dục Từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục cho trường Đại học Hải Phòng trong thời gian tới Đồng thời đóng

Trang 12

góp một phần vào việc hoàn thiện công tác xã hội hóa giáo dục cho các trường công lập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung vào nghiên cứu công tác xã hội hóa (xã hội hóa giáo dục tại trường đại học Hải Phòng)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung vào nghiên cứu công tác xã hội hóa tại trường Đại học Hải Phòng

- Về không gian: Tại trường Đại học Hải Phòng

- Về thời gian: thời kỳ nghiên cứu từ 2010 – 2015 hướng nghiên cứu đến 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

Ngoài những phương pháp nghiên cứu truyền thống như so sánh, lịch sử, logíc , tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại khác như:

Phương pháp tổng hợp và phân tích: Dựa trên cơ sở các dữ liệu có sẵn, tác giả sẽ

tổng hợp để có được một cái nhìn tổng quan về công tác xã hội hóa giáo dục các trường ĐHCL Bên cạnh đó, đề tài sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khác có liên quan, biên dịch các tài liệu cần thiết cho nội dung lý luận của đề tài

Nguồn dữ liệu: sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ:

- Giáo trình chuyên khảo trong và ngoài nước; tạp chí chuyên ngành; các website chuyên ngành về kinh tế, xã hội hóa giáo dục, quản trị kinh doanh và các nghiên cứu có liên quan;

Trang 13

- Số liệu nội bộ tại trường đại học Hải Phòng;

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác XHHGD

- Làm sáng tỏ thực trạng quản lý công tác XHHGD tại trường Đại học Hải Phòng

- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác XHHGD; thực hiện tốt các biện pháp sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường Nâng cao nhận thức và hành động của chính quyền các cấp quản lý đối với công tác giáo dục và XHHGD

- Có thể áp dụng đề tài có hiệu quả cho các trường đại học công lập trên địa bàn thành phố Hải Phòng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương, cụ thể:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGD

Chương 2 Thực trạng quản lý công tác XHHGD tại trường Đại học Hải Phòng Chương 3 Một số biện pháp quản lý công tác XHHGD tại trường Đại học Hải Phòng

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA

1.1 Công tác xã hội hóa

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Xã hội hóa

Có nhiều cách hiểu, định nghĩa XHH khác nhau:

- XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội

- XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội

- Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm XHH được hiểu là "Làm cho một việc

gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”

Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa, thì thuật ngữ "XHH" được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội nghị,

hội thảo…

Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về XHH có các cách lý giải khác nhau, song, tựu trung lại có thể khẳng định: Bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường tuyên truyền, huy động

và tổ chức sự tham gia của cộng đồng, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích

cho nhân dân, thực sự "của dân, do dân và vì dân"

Quan điểm khác lại cho rằng: Xã hội hóa là một trong những vấn đề cơ bản của xã hội học, xã hội hóa được hiểu theo hai góc độ: xã hội hóa cá nhân và xã hội hóa một hoạt động

Xã hội hóa cá nhân: là quá trình con người tiếp thu nền văn hóa của xã hội

trong đó con người được sinh ra, quá trình mà nhờ nó con người đạt được những đặc trưng xã hội của bản thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp trong xã hội

Xã hội hóa cá nhân là quá trình tiếp thu và tái tạo những kinh nghiệm xã hội của cá nhân thông qua hoạt động và giao lưu Xã hội hóa cá nhân cho phép con người nhận thức toàn diện hiện thực xã hội xung quanh, chiếm lĩnh những kỹ năng

Trang 15

hoạt động của cá nhân và tập thể trong môi trường xã hội mà mình sinh sống Xã hội hóa cá nhân là quá trình liên tục, quá trình đó còn gọi là quá trình học hỏi xã hội, tiếp thu xã hội, thích ứng xã hội [39, tr.18]

Xã hội hóa một hoạt động: là sự tham gia rộng rãi của xã hội (các cá nhân,

nhóm, tổ chức, cộng đồng ) vào một hoạt động hoặc một số hoạt động mà trước đó

chỉ một đơn vị, một bộ phận hay một ngành chức năng nhất định thực hiện [34, tr.112]

Dưới góc độ này, XHH thường được dùng một cách thông dụng trong xã hội Đây chính là quá trình phối hợp hoạt động một cách có kế hoạch của các lực lượng trong xã hội theo một định hướng, một chiến lược quốc gia để giải quyết một vấn đề nào đó của xã hội XHH hoạt động cần được coi là một tư tưởng chiến lược có tính lâu dài và toàn diện, là một giải pháp xã hội có tính liên ngành cao nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia một cách tích cực để giải quyết một vấn đề xã hội nào đó

XHH hoạt động dưới góc nhìn của các nhà lãnh đạo, quản lý là một quá trình

tổ chức, quản lý và huy động nhiều lực lượng xã hội cùng tham gia để giải quyết một vấn đề của xã hội theo một chiến lược xác định và có kế hoạch Đối với từng lực lượng xã hội, XHH được hiểu là một quá trình phối hợp, lồng ghép các hoạt động của mình với hoạt động của các lực lượng khác trong xã hội có liên quan để tạo ra hoạt động có tính liên ngành cao, trong đó có sự phân công rõ trách nhiệm của từng lực lượng Đối với mỗi cộng đồng, mỗi gia đình, mỗi người dân, XHH hoạt động được hiểu là một quá trình trong đó cần huy động sự tham gia hưởng ứng của nhiều người, của cộng đồng vào các cuộc vận động nhằm động viên, thúc đẩy

họ hành động một cách chủ động, tích cực vì mục đích mở rộng và nâng cao chất lượng một hoạt động xã hội nào đó

XHH hoạt động còn được hiểu như là việc biến một nhiệm vụ, một công việc thuộc trách nhiệm của một chủ thể thành nhiệm vụ, công việc của một số chủ thể, của nhiều chủ thể hay của toàn bộ xã hội XHH với nghĩa này tương đồng với việc huy động sức lực, trí tuệ (nguồn lực) của cả cộng đồng cho việc hoàn thành một nhiệm vụ xã hội nào đó Ở đây, huy động sức người, sức của, tài chính, phương tiện, vật chất, là những cái cần huy động, tổng hợp, phân bổ và

sử dụng cho việc hoàn thành nhiệm vụ XHH theo nghĩa này như một phương thức huy động xã hội, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục,

Trang 16

vận động xã hội là chính Mà trong nhiều trường hợp, XHH theo cách này đã huy động được không nhỏ sức lực, trí tuệ của cả xã hội cho việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ xã hội

XHH các hoạt động không chỉ là tăng cường huy động cộng đồng mà coi nhẹ trách nhiệm Nhà nước hoặc trách nhiệm các chủ thể chính, mà ngược lại, đây chính

là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan chủ quản với cộng đồng, làm cho các nguồn lực được huy động đến mức tối đa và sử dụng có hiệu quả nhất Đây mới là mục tiêu thực chất của XHH hoạt động

Như vậy, XHH hoạt động được đề cập ở đây là quá trình biến nhiệm vụ

của một ngành, một chủ thể thành nhiệm vụ của nhiều ngành, nhiều chủ thể xã hội hay của toàn xã hội bằng cách thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của từng đối tượng, sự quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo, các cơ quan chức năng góp phần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xã hội để thực hiện nhiệm vụ xã hội đang đặt ra

1.1.1.2 Xã hội hóa giáo dục

Xã hội hóa giáo dục là: “Huy động xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước để xây dựng một xã hội học tập” [21, tr.237]

Thực chất đây là bước cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong

xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề

xã hội” [26, tr.114] Đồng thời thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn thể xã hội vào việc thực hiện nhiệm vụ, Đại hội VII (1991) của Đảng đã xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu Điều đó cho thấy XHHGD là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn giữa thực tiễn của giáo dục và những yêu cầu

mà xã hội đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng, là trả lại bản chất xã hội cho giáo dục

Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục cũng từng bước được cải cách và phát triển Nhưng qua các thời kì lịch sử, giáo dục ngày càng tiến xa bản chất xã hội vốn có ban đầu Trải qua các quá trình thay đổi về quan hệ sản xuất, tiến bộ về khoa

Trang 17

học kỹ thuật, chuyên môn hóa, giai cấp hóa, nhà nước hoá, giáo dục đi đến độc quyền và đơn độc Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của

xã hội, cơ sở vật chất cho giáo dục còn nhiều bất cập, có nguyên nhân từ những vấn

đề này Những vấn đề còn tồn tại của giáo dục chỉ được giải quyết khi trả lại bản chất xã hội nó Đảng ta đã khẳng định quan điểm: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa IX đã chỉ rõ: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn ngành giáo dục cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những định hướng chiến lược về giáo dục trong Nghị quyết TW2 (khóa 8)… Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nhằm tạo nguồn nhân lực có số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước” [19, tr.10]

Có thể hiểu XHHGD là một cách làm giáo dục, được xác định bởi những đặc điểm sau: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia làm công tác giáo dục; Huy động sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, ban, ngành có liên quan; Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các hình thức học tập, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng

Trước đây, Đảng và Nhà nước ta cũng đề ra các chủ trương: Nhà nước và nhân dân cùng làm, hoặc: Nhà nước và nhân dân cùng xây dựng và phát triển giáo dục đã huy động một nguồn lực đáng kể trong nhân dân Tuy nhiên, chủ trương trên cũng chỉ để giải quyết vấn đề “nguồn ngân sách còn hạn chế” chứ không sâu, rộng như “Xã hội hóa giáo dục” XHHGD là một tư tưởng chiến lược lâu dài, xuất phát từ bản chất xã hội của giáo dục Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng (khóa VIII)

đã xác định: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, người lớn làm gương cho trẻ con noi theo Phát động phong trào rộng khắp toàn dân học tập, người người di học, học ở trường, lớp và tự học suốt đời, người biết dạy cho người chưa biết, người biết nhiều dạy cho người biết ít, mỗi người phải không ngừng tự nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình trường lớp phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và toàn xã hội ” [17, tr.9]

Trang 18

Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP của Chính phủ xác định khái niệm XHHGD

là: "Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự

phát triển sự nghiệp GD"

Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, y tế, văn hoá, thể thao

ghi rõ: "XHH hoạt động GD là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân

dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp GD nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về GD trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân"

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc, XHHGD là: "Làm cho xã hội nhận rõ trách

nhiệm đối với GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT - XH, thực hiện việc kết hợp GD trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá GD"

PGS.TS Trần Quang Nhiếp đưa ra một hệ thống các khái niệm về XHHGD:

"XHHGD là làm cho các hoạt động mang tính GD của xã hội được huy động

vào quá trình GD một cách tích cực, có hiệu quả; là xã hội tham gia giải quyết một cách phù hợp những vấn đề GD đang đặt ra; là đa dạng hoá các loại hình GD; là

mở rộng quy mô đáp ứng yêu cầu GD của xã hội; là xây dựng cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý; là kiểm soát được chất lượng đào tạo toàn diện và ngày càng nâng lên; là hướng tới đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội; là quá trình tiếp thu có chọn lọc những tri thức, những thành tựu văn minh, tiến bộ của thời đại, của thế giới làm cho

GD cập nhật với xã hội hiện đại XHHGD là phát huy vai trò của các chủ thể trọng yếu mà nền GD nước nhà đã tổng kết thành phương châm: GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội"

Như vậy, có thể nói, XHHGD là vận động và tổ chức để toàn xã hội đóng

góp các nguồn lực cho GD&ĐT, được hưởng thụ về quyền lợi GD&ĐT, làm cho GD&ĐT trở thành sự nghiệp chung trong cộng đồng xã hội, làm cho học tập trở thành hoạt động thường xuyên của mỗi người, vì sự phồn vinh của của đất nước

và chất lượng cuộc sống của nhân dân

1.1.1.3 Quản lý công tác XHHGD

Điều 12, Luật Giáo dục (2005), ghi rõ: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và

Trang 19

môi trường giáo dục lành mạnh Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [7, tr.10]

Quản lý công tác XHHGD là việc thể hiện trách nhiệm của mỗi cấp về các vấn đề: hình thành thể chế XHHGD (văn bản, chế định pháp luật); tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHGD; giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai và thực hiện XHHGD

Ba nhóm vấn đề trên có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau; nếu tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHGD là mấu chốt, thì việc tạo thể chế là tiền đề pháp lý,

là chỗ dựa cho việc triển khai quản lý nhà nước, còn việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra là xác định trình độ và mức độ thực hiện XHHGD của toàn xã hội dưới sự quản

lý của Nhà nước

1.2 Một số vấn đề về quản lý công tác XHHGD

1.2.1 Mục tiêu quản lý công tác XHHGD

XHHGD là một tư tưởng lớn của Đảng và Nhà nước ta Tư tưởng đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta qua hàng ngàn năm lịch sử, là bài học kinh nghiệm lớn của lịch sử hơn 65 năm xây dựng nền giáo dục mới của nước nhà, nền giáo dục XHCN, đặc biệt là kinh nghiệm hơn 26 năm đổi mới đất nước Hiếu học và tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu của dân tộc ta Phát huy truyền thống của dân tộc, tiếp cận những xu hướng phát triển giáo dục hiện đại là một trong những quan điểm lớn chỉ đạo của Đảng ta trong phát triển giáo dục Tư tưởng đó vừa mang tính thời đại, hợp với quy luật khách quan, đồng thời nó vừa thể hiện cách làm giáo dục mới, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế tri thức

Cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, là cơ sở pháp lý để thực hiện quản lý công tác XHHGD, Luật giáo dục, điều

11 về XHHGD ghi rõ: “Mọi tổ chức gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục

Trang 20

Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện

đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các loại hình giáo dục: khuyến khích huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo

dục” [7, tr.12]

Kế thừa những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện cải cách giáo dục, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng tình hình kinh tế - xã hội đất nước trong những năm qua và dự báo xu thế phát triển trong những năm tiếp theo Đại hội Toàn quốc lần thứ XI của Đảng (4/2011) tiếp tục xác định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ đi lên xây dựng CNXH: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản

lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và

xã hội” [20, tr.130-131]

Như vậy, qua từng thời kì cách mạng, XHHGD luôn được khẳng định là tư tưởng chiến lược, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp GD&ĐT, một bộ phận quan trọng trong đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Đổi mới toàn diện và phát triển nhanh GD&ĐT được coi là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển bền vững

1.2.2 Nội dung quản lý công tác XHHGD

XHHGD là vận động và tổ chức để toàn xã hội đóng góp các nguồn lực cho giáo dục - đào tạo, được hưởng thụ về quyền lợi giáo dục - đào tạo, làm cho giáo dục - đào tạo trở thành sự nghiệp chung trong cộng đồng xã hội, làm cho học tập trở thành hoạt động thường xuyên của mỗi người, vì sự phồn vinh của của đất nước và chất lượng cuộc sống của mỗi người Đây chính là việc tăng cường tính xã hội của

GD, làm cho mối quan hệ giữa GD và cộng đồng xã hội phát huy tối đa vai trò của mình XHHGD đồng thời là quá trình nhằm nâng cao trách nhiệm của cả hai phía

GD và cộng đồng với nhau; tạo điều kiện khẳng định vai trò của giáo dục, thúc đẩy

sự phát triển của cộng đồng xã hội và khơi dậy mọi năng lực tiềm ẩn trong cộng

Trang 21

đồng xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục Nội dung quản lý công tác XHHGD được xác định bao gồm những mặt sau đây:

Quản lý hoạt động giáo dục hóa xã hội: tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn cho xã hội, có thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho toàn xã hội trở thành một XHHT

Cần phải đổi mới cơ bản tư duy và cơ chế quản lý giáo dục phải bắt nguồn từ nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân Nhu cầu học của nhân dân cũng là nhu cầu hàng đầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, lấy sức dân mà đáp ứng nhu cầu học của dân, phát huy đạo học làm người của cha ông, thực hiện sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và Nghị quyết Đại hội Đảng về xây dựng xã hội học tập: Ai cũng được học hành Hoạt động và học tập cho đến phút cuối cùng “Công nông trí thức hóa, dân tộc thông thái” “Thực hiện giáo dục cho mọi người Cả nước trở thành một xã hội học tập, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, hoàn thiện học vấn và tay nghề, thực hiện trí thức hóa công nhân Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước Phát huy khả năng “năm tự”: tự học, tự nghiên cứu, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, tự tìm và tạo việc làm, tự hoàn thiện nhân cách” [18, tr.123]

Chất lượng GD là chất lượng học của từng người học, từng người dân, trong một xã hội mà ai cũng thi đua yêu nước, ai cũng tự học tốt, làm tốt, sống tốt Đây là mấu chốt của XHHGD để xây dựng một xã hội học tập Muốn đạt mục tiêu trên phải lấy XHHGD toàn diện và phong trào cách mạng quần chúng Toàn dân đoàn kết thi đua học tập tốt, làm tốt, sống tốt, xây dựng cả nước thành một xã hội học tập ngang tầm thời đại, làm nguồn lực tổng thể

Xã hội học tập (XHHT) là mọi người học suốt đời, học cả trong nhà trường

và ngoài nhà trường, học để tồn tại

Như vậy, XHHT là một xã hội mà mọi người đều lấy học tập là một công việc thường xuyên, suốt đời, học trong nhà trường và ngoài nhà trường, chính quy

và không chính quy, như là một phần không thể thiếu được của đời mình, lấy học

Trang 22

tập làm phương pháp tiếp cận cuộc sống, nhằm phát triển con người bền vững tạo động lực cho sự tiến bộ xã hội

Về mặt tổ chức, các nhà lý luận về XHHT đều chú ý tới một tư tưởng, hay phải

có một tổ chức tốt để đưa ý tưởng đó vào cuộc sống, họ đã đề xuất “đơn vị tổ chức học tập” là “Trung tâm giáo dục cộng đồng” UNESCO coi “Trung tâm giáo dục cộng đồng” là một hình thức tổ chức mới thích hợp với thôn, xóm, xã, phường và đã khuyến cáo tổ chức các trung tâm này Đến nay, cả nước đã có hàng nghìn trung tâm, các trung tâm này hoạt động rất tốt, phát huy tác dụng rõ rệt, đang mở ra một giai đoạn phát triển mới, tích cực thực hiện Nghị quyết Đại hội XI: đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế

Quản lý huy động nguồn lực: Huy động các lực lượng tham gia đóng góp nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho GD

Mặc dù đầu tư của Nhà nước cho giáo dục tăng nhưng vẫn chưa đủ do yêu cầu ngày càng tăng về quy mô và chất lượng Phần lớn ngân sách chi cho giáo dục dùng để trả lương cho giáo viên (chiếm khoảng hơn 80%) Do đó cơ sở trường lớp, thiết bị dạy học thiếu trầm trọng Việc huy động các lực lượng xã hội đầu tư cho giáo dục là một yêu cầu bức xúc hiện nay Đây là biểu hiện dễ thấy nhất của XHHGD và là nội dung phổ biến nhất của cuộc vận động này Tổng kết 25 năm đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, cùng với những thành tựu to lớn đạt được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, ngoại giao, giáo dục cũng được quan tâm đầu tư đúng mức và có những tiến bộ vượt bậc Đại hội XI của Đảng đánh giá:

“Đổi mới giáo dục đạt một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt trên 20% tổng chi ngân sách; việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc” [20, tr.153] Đánh giá đúng thực trạng đổi mới giáo dục trong những năm qua, Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí quốc sách hàng đầu của giáo dục và chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo

Trang 23

trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng

xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo” [20, tr.218] Đây là định hướng quan trọng

để các cấp, các ngành và toàn thể xã hội tiếp tục quan tâm, đầu tư phát triển sự nghiệp GD&ĐT, đầu tư phát triển nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Quản lý các loại hình GD: Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình trường lớp

Cộng đồng trách nhiệm: huy động xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục, tham gia vào quá trình giáo dục

Môi trường đề cập ở đây chính là gia đình - nhà trường - xã hội Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội, không thể tách giáo dục ra khỏi đời sống cộng đồng, vì vậy giáo dục phải dựa vào lực lượng toàn xã hội để đảm bảo môi trường trên được lành mạnh, thống nhất, tác động tích cực đến việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Xây dựng môi trường nhà trường bằng cách huy động lực lượng toàn xã hội để xây dựng cảnh quan, cơ sở hạ tầng, nền nếp kỷ cương, quan hệ giữa thầy và trò, giữa thầy trò với nhân dân địa phương Đây chính là việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người Nhà trường phải biết tập hợp các lực lượng xã hội, phát huy khai thác tiềm năng giáo dục của họ để tạo ra nhiều tác động mang tính tích cực

Gia đình là môi trường chính yếu trong việc hình thành và phát triển nhân cách, là nhân tố quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ Bác Hồ đã đề cập đến

“gia đình học hiệu” Đảng ta đã xác định: gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Có thể xem gia đình là “một thiết chế xã hội”, là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy và truyền thụ những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Gia đình là tổ

ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân Gia đình là tế bào của xã hội, mỗi gia đình đều tốt thì xã hội mới tốt đẹp Do đó, huy động các lực lượng xã hội chăm lo giáo dục môi trường gia đình chính là huy động lực lượng xã hội chăm lo giáo dục

Trang 24

Ở nước ta nền kinh tế chưa phát triển mạnh, sự đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, vì vậy huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển nhà trường là việc làm cần thiết Huy động cộng đồng tham gia theo hướng: tăng cường sự đầu tư của Nhà nước cho giáo dục và huy động sự giúp đỡ của cộng đồng về nhân lực, vật lực, tài lực

để tăng thêm các điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo cho giáo dục phát triển Huy động nhân lực nhằm tạo điều kiện để phát triển trí tuệ học sinh, giúp đỡ con em các gia đình nghèo có điều kiện để đi học Vận động dân chủ hóa trường học, nhằm thu hút cộng đồng tham gia tích cực vào việc quản lý trường học, gắn bó xã hội với nhà trường, cộng đồng

1.2.3 Điều kiện thực hiện quản lý công tác XHHGD

Một là, tạo được môi trường chính trị thuận lợi Cấp ủy Đảng các cấp phải

thống nhất quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, lãnh đạo, xây dựng cơ chế, chính sách để quản lý công tác XHHGD toàn diện trong toàn xã hội Tạo sự thống nhất, đồng thuận trong lãnh đạo quản lý các hoạt động XHHGD của cấp ủy Đảng các cấp

Hai là, chính quyền các cấp theo chức năng, nhiệm vụ cần xây dựng kế

hoạch quản lý công tác XHHGD một cách cụ thể Xác định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch thời gian, phương pháp hành động, lực lượng huy động để tiến hành quản lý công tác XHHGD trong từng địa phương, từng giai đoạn

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân, làm cho các

tầng lớp nhân dân được quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, nội dung và biện pháp quản lý công tác XHHGD; giúp mỗi người dân coi đó vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ, tạo được môi trường cho nhân dân làm chủ thực sự sự nghiệp GD&ĐT Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể phải tích cực tham gia quản lý công tác XHHGD

Bốn là, phát huy dân chủ, tăng cường dân chủ hóa giáo dục, dân chủ hóa nhà

trường, tạo điều kiện để nhân dân tích cực tham gia giải quyết những vấn đề cụ thể của giáo dục như: Nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng thói quen hành vi đạo đức cho thế hệ trẻ, xây dựng cảnh quan môi trường giáo dục, XHHGD phải được dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra thông qua tổ chức của mình là Hội đồng giáo dục Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục, tạo môi trường dân chủ để thu hút sự chú ý, quan tâm và tự giác tham gia việc

Trang 25

quản lý giáo dục Tăng cường tính pháp chế trong quản lý giáo dục, dân chủ hóa nhà trường dựa trên cơ sở pháp luật, các văn bản có tính pháp quy về nhà trường

Năm là, ngành giáo dục phải chú trọng tìm mọi giải pháp nâng cao chất

lượng GD&ĐT phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, nhu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ đổi mới Năng động, sáng tạo thể hiện vai trò nòng cốt của mình trong việc tham mưu với lãnh đạo địa phương, các tổ chức xã hội, để mở rộng quy

mô và chất lượng đào tạo

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý công tác XHHGD

Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quản lý công tác XHHGD

Nhất quán quan điểm Đảng lãnh đạo về quản lý công tác XHHGD Đó là vai trò lãnh đạo trong việc xây dựng các chủ trương, đường lối triển khai công tác XHHGD, tập hợp và phát huy sức mạnh trí tuệ tập thể của đội ngũ trí thức làm công tác QLGD Quan tâm lãnh đạo huy động đầu tư toàn diện cho giáo dục, quy hoạch mạng lưới trường lớp, hỗ trợ và tăng cường CSVC trường học, đào tạo nguồn CBQL và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng PCGD Thực hiện công bằng và dân chủ trong GD

Đảng lãnh đạo quản lý công tác XHHGD tức là tạo điều kiện cho cán bộ và nhân dân tham gia các hoạt động GD, coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm, chú ý bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong việc thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực GD&ĐT

Hai là, vai trò của chính quyền đối với quản lý công tác XHHGD

UBND các cấp phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, tạo điều kiện để ngành giáo dục thực hiện nghiêm túc, có chất lượng, đúng tiến độ chương trình giáo dục phổ thông, quan tâm đến chương trình thay sách giáo khoa Trên cơ sở nguồn ngân sách được giao, UBND huyện phân bổ cho Ngành D, cho các cơ sở GD; chỉ đạo khai thác và huy động thêm các nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước, đảm bảo kinh phí cho việc nâng cấp và xây dựng trường lớp đáp ứng nhu cầu phát triển GD&ĐT theo phương châm hiện đại hóa

Tăng cường vai trò, trách nhiệm của HĐND và UBND các cấp trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về XHHGD; hoàn thiện mô hình các loại

Trang 26

trường lớp, phát triển và nâng cao chất lượng loại hình giáo dục - đào tạo ngoài công lập một cách hợp lý

Ba là, vai trò làm chủ của nhân dân trong quản lý công tác XHHGD

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong việc quản lý công tác XHHGD là một điều kiện quan trọng để đạt thành công Phải luôn tạo bầu không khí dân chủ, cởi

mở, củng cố niềm tin trong quần chúng, tạo động lực thúc đẩy các tầng lớp nhân dân khi tham gia các hoạt động giáo dục của địa phương Làm chuyển biến về ý thức và phong cách làm việc của cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể theo hướng gần dân, tôn trọng dân, có trách nhiệm cao với dân trong việc vận động nhân dân tham gia vào các hoạt động GD, đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực cho GD Khắc phục các hiện tượng quan liêu, mệnh lệnh, xa rời dân, chuyên quyền độc đoán và lãng phí trong việc thực hiện các nhiệm vụ GD

Gắn việc thực hiện quy chế dân chủ với việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức, từng cá nhân trong việc chăm lo phát triển sự nghiệp GD của từng đơn

vị Các tổ chức đảng, đoàn thể, cán bộ đảng viên phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện dân chủ, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực GD&ĐT Thực hiện tốt chế độ lấy ý kiến tham mưu, hiến kế của nhân dân hoặc thông qua HĐND trước khi ban hành các chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển GD&ĐT của địa phương Đảm bảo cơ chế: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra các hoạt động GD của địa phương Đấu tranh, khắc phục vi phạm quyền dân chủ đối với GD&ĐT Tạo điều kiện để nhân dân được tham gia và có quyền hạn nhất định đối với sự nghiệp GD&ĐT của địa phương và của cả nước

Bốn là, vai trò trung tâm của Phòng Giáo dục, các cơ sở giáo dục về chủ

động và làm nòng cốt trong việc quản lý công tác XHHGD

Phòng Giáo dục phải thực sự chủ động tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách, các kế hoạch phát triển sự nghiệp GD&ĐT trên địa bàn huyện, đề xuất các giải pháp thực hiện Làm tốt công tác tư vấn và tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với các cơ sở giáo dục, trường học đóng trên địa bàn Tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan hữu quan, liên ngành để cộng đồng trách nhiệm, thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ năm học

Trang 27

Đội ngũ các nhà quản lý các trường học, các cơ sở giáo dục phải thực sự năng động, tích cực hoạt động và làm trung tâm hoạt động, chi phối các lực lượng

xã hội trong việc cộng tác, hợp tác, phối hợp, cam kết, thỏa thuận, hợp đồng, liên kết để cùng làm tốt công tác giáo dục

Nhà trường và các thầy cô giáo giữ vai trò chủ động, trung tâm và nòng cốt trong các hoạt động GD, như: tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy, giáo dục học sinh; không ngừng nâng cao chất lượng GD&ĐT, hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần cùng đơn vị hình thành các mục tiêu GD&ĐT ở địa phương, đáp ứng mục tiêu KT-XH; đồng thời, phải giải quyết kịp thời các nhu cầu của cộng đồng và đón đầu, đáp ứng từng bước phát triển của địa phương

Năm là, việc tổ chức phối hợp đồng bộ các lực lượng xã hội ở địa phương

trong thực hiện quản lý công tác XHHGD

Xác định rõ các đối tượng của lực lượng xã hội để tổ chức phối hợp đồng bộ, gồm các nhóm sau: Nhóm lãnh đạo, chỉ đạo đề ra chủ trương, chính sách: cấp ủy Đảng, HĐND, UBND, HĐGD Nhóm chủ động thực hiện: gồm các ngành chức năng, trong đó GD&ĐT là nòng cốt Nhóm liên kết, phối hợp vận động: MTTQ, ban Dân vận, Đoàn thanh niên, hội Phụ nữ, Công đoàn, hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, Nhóm cộng tác và hỗ trợ: các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, các hội từ thiện, các câu lạc bộ, hội Cha mẹ học sinh

Sự tham gia của các nhóm này cần phải có tổ chức, phối hợp chặt chẽ, thường xuyên thì mới có hiệu quả cao và đồng bộ; nếu ngược lại sẽ rời rạc, thiếu chủ động sáng tạo, các nhóm xã hội sẽ thiếu sự nhiệt tình trong hỗ trợ cho giáo dục phát triển Do đó, việc quản lý công tác XHHGD là phải làm cho có sự liên kết hợp

lý giữa các đoàn thể, tổ chức hay cá nhân với nhà trường là vấn đề quan trọng và cần thiết

1.2.5 Ý nghĩa của việc tiến hành quản lý công tác XHHGD

Quản lý công tác XHHGD là việc làm cần thiết, có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn Quản lý công tác XHHGD tạo điều kiện cho việc thực hiện mục đích của giáo dục phù hợp với mục đích của từng cá nhân tham gia giáo dục Tạo điều kiện làm phong phú hơn cho nội dung và phương pháp giáo dục

Trang 28

Quản lý công tác XHHGD góp phần làm cho giáo dục thực sự phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phục vụ trực tiếp lợi ích cho từng cá nhân và cộng đồng Thực hiện tốt quản lý công tác XHHGD sẽ thực hiện được công bằng xã hội và dân chủ hóa giáo dục

Quản lý công tác XHHGD góp phần làm cho mọi người hiểu được giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình, từng cá nhân người đi học Quản lý công tác XHHGD thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động đa dạng của giáo dục, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển GD

1.3 Các nội dung cơ bản về xã hội hóa giáo dục

1.3.1 Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về

xã hội hoá giáo dục

1.3.1.1 Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá giáo dục

Tư tưởng chỉ đạo và các hoạt động XHH giáo dục ở nước ta đã có từ khá sớm Nhận định về XHHGD, Bác Hồ và Đảng ta đã đúc kết và phổ biến phương

châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm GD” Nguyên lý kết hợp “Nhà trường - gia

đình - xã hội” đã phổ biến sâu rộng đến các cấp uỷ, tổ chức đảng, các đoàn thể,

chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện

Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua Đề án cải cách GD lần

thứ I, xác định: “Tính chất của nền GD của ta là nền GD của dân, do dân và vì dân,

được xây dựng trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng”

Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 19 tháng 01 năm 1979 của Bộ Chính trị khoá

IV về cải cách GD khẳng định: “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với sự

đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường…”

Ngày 19 tháng 3 năm 1982, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 124/CP về việc thành lập Hội đồng GD ở các cấp chính quyền địa phương

Ngày 09 tháng 12 năm 1982, Bộ trưởng GD ra Quyết định số 1765/QĐ về ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng GD của các cấp chính quyền địa phương

Trang 29

Báo cáo chính trị trình Đại hội VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) xác định:

"Ngoài ngân sách của nhà nước, cần quy định rõ sự đóng góp của các ngành và các

địa phương, các tổ chức kinh tế, xã hội và các gia đình cho sự nghiệp GD"

Tháng 01 năm 1989, Bộ GD tổ chức Hội nghị mô hình phát triển GD gắn với kinh tế - xã hội ở các tỉnh phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 7 năm 1989, Bộ GD và Công đoàn GD Việt Nam mở Cuộc vận động dân chủ hoá quản lý nhà trường theo hướng tự quản xã hội chủ nghĩa tại Nha Trang

Ngày 10 tháng 10 năm 1990, Bộ GD và Công đoàn GD Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 35/TT/LĐ về việc tham mưu mở Đại hội GD cấp cơ sở

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 01 năm 1991) của Đảng

nêu: "Bằng vốn ngân sách và các nguồn khác, tăng kinh phí cho GD & ĐT"… "Khai

thác mọi tiềm năng của toàn xã hội tham gia phát triển GD & ĐT"

Tháng 01 năm 1992, Bộ GD và Công đoàn GD Việt Nam tổ chức Hội thảo Đại hội GD cấp cơ sở tại Hà Nội; tháng 3 năm 1992 tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh (dành cho khu vực phía Nam)

Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14 tháng 01 năm 1993 của Hội nghị Trung

ương 4 khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD & ĐT khẳng định: "Huy động

toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước"

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 7 năm

1996) nêu rõ: “Các vấn đề về chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH

Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia và giải quyết những vấn đề xã hội”

Văn kiện Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII (tháng 12 năm 1996) tiếp tục

khẳng định: “GD - ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân

Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người chăm lo cho GD Các cấp uỷ và tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD - ĐT, đóng góp trí tuệ, nhân lực,

Trang 30

vật lực, tài lực cho GD - ĐT Kết hợp GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội, tạo nên môi trường GD lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể”

Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khoá IX khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD, coi

GD là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển GD"

Văn kiện Đại hội X của Đảng (tháng 4 năm 2006) khẳng định: "Thực hiện

XHHGD, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp GD Phối hợp chặt chẽ giữa ngành GD với các ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp … để mở mang GD, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội"

Văn kiện Đại hội XI của Đảng tiếp tục xác định mục tiêu XHHGD trong thời

gian tới là: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHHGD, đào tạo trên cả ba phương

diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời" … Đổi mới căn bản, toàn diện nền

GD Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, XHH, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý GD, phát triển đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý là khâu then chốt" "… Xây dựng môi trường GD lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội" "… Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các TTHTCĐ, TTGDTX Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong GD”

Quan điểm của Đảng được thể hiện bằng pháp luật của Nhà nước, cơ sở pháp

lý thực hiện XHHGD chính là Luật Giáo dục Điều 12 của Luật Giáo dục (năm

2005) quy định: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD; thực

hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức GD; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh và an toàn”

Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về XHHGD nhằm khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển

GD & ĐT, mang tính chất lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển GD, làm

Trang 31

cho GD đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng

1.3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xã hội hoá giáo dục

Vị trí, vai trò của GD được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là "quốc sách

hàng đầu", được thể hiện xuyên suốt và nhất quán trong tất cả các tư tưởng, quan

điểm, phát biểu của Người kể từ những ngày đầu đất nước ta mới giành được độc lập cho đến lúc Người đi xa

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Hồ Chủ tịch vẫn luôn dành sự quan tâm sâu sắc cho sự nghiệp GD Một ngày sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập (ngày 03/9/1945), Người đã chủ trì phiên họp của Chính phủ và nêu ra Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần giải quyết, trong đó, có

nhiệm vụ thứ hai là "Mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ" - chống giặc dốt Người coi GD là "quốc sách", là vấn đề trọng tâm phải thường xuyên chăm lo

Trong Thư gửi anh, chị em giáo viên bình dân học vụ (tháng 5/1946), Người viết:

“… Chương trình của Chính phủ là làm thế nào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có

ăn, có mặc, có học hành Vậy, khẩu hiệu của chúng ta là: Tăng gia sản xuất, chống nạn mù chữ”

Ngày 10 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh

146/SL, trong đó, khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người xác định mù chữ và sự dốt nát là một thứ giặc, một quốc nạn: “Giặc đói, giặc dốt là bạn

đồng minh của giặc ngoại xâm” Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết… Ai cũng phải học” Người

xác định 03 nguyên tắc căn bản của nền GD nước nhà là: “Đại chúng hoá, dân tộc

hoá, khoa học hoá” Nhận thấy rõ tầm quan trọng của GD, Chủ tịch Hồ Chí Minh

luôn chú trọng một nền GD mới - một nền GD mà mục tiêu, nội dung và phương pháp phải hướng đến việc phát triển con người toàn diện, cũng như động viên mọi lực lượng, tầng lớp tham gia tích cực vào sự nghiệp GD Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hiếm có vị lãnh tụ nào quan tâm đến sự nghiệp GD một cách toàn diện

và sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh Người nêu rõ: "Mọi người Việt Nam đều

phải được GD, phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà"

Trang 32

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng xây dựng nền GD mở và chỉ

ra phương cách thực hiện chính sách mở trong GD, thông qua con đường XHHGD Phát biểu tại Đại hội sơ kết công tác bình dân học vụ 6 tháng đầu năm 1956 (ngày

16/7/1956), Người đề nghị: “Những người biết chữ hãy dạy cho những người không

biết chữ, người biết chữ nhiều dạy người biết chữ ít, mỗi xóm cử một người đi học, học mấy hôm về dạy mấy hôm, hết chữ rồi trở lại học, thầy vừa dạy vừa học” Hoặc

như trong Bài “Chống nạn thất học” (đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày

04/10/1945), Người chỉ dẫn: “Các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho

người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm

mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình”

Trong bài viết đăng trên báo Nhân dân (Số 183, ngày 09 - 11/5/1954), Người

dặn dò: “… Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi

người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công việc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ” và “… có đồng chí nói: Nông thôn bận việc nhiều, khó học tập Chính vì công việc nhiều mà càng cần phải học tập để làm cho đảng viên

và cốt cán tư tưởng thông, lập trường vững, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng Học càng khá thì giải quyết các vấn đề càng dễ dàng, công việc trôi chảy…” Nói chuyện với lớp Nghiên cứu Chính trị

khoá I, trường Đại học Nhân dân (ngày 21 /7/1956), Người khẳng định: “… Học là

một việc phải tiếp tục suốt đời, suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế”

Trên báo Nhân dân số ra ngày 16 tháng 10 năm 1968, bàn về mục tiêu của

GD, Người cho rằng GD là để “đào tạo những con người kế tục sự nghiệp cách

mạng to lớn của Đảng và Nhân dân ta” Người cũng chỉ rõ rằng, GD phải được

thực hiện theo nguyên lý “Lý luận gắn chặt với thực hành, học tập ở nhà trường

gắn liền với xã hội với gia đình…”

Người đánh giá rất cao hiệu quả của việc phát huy mối liên hệ mật thiết giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong GD, chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ Trong Bài nói chuyện của Người tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành GD (từ 03 - 08/6/1957, tại

Hà Nội): “GD trong nhà trường dù có tốt mấy nhưng thiếu GD trong gia đình và

ngoài xã hội thì kết quả cũng không thu được hoàn toàn” Sự nghiệp GD - theo tư

Trang 33

tưởng Hồ Chí Minh - là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nước và của nhân dân

Do vậy, chỉ có kết hợp chặt chẽ các yếu tố này mới tạo thành sức mạnh tổng hợp để

đưa sự nghiệp trồng người đi đến thắng lợi Trong “Thư gửi cán bộ, thầy giáo, cô

giáo, học sinh nhân dịp khai giảng năm học mới”, Người khẳng định: “GD là sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó GD nhằm đào tạo con người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta Do đó các ngành, các cấp đảng và chính quyền địa phương phải thật sự quan tâm hơn nữa đến

sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy mạnh sự nghiệp GD của

ta lên những bước phát triển mới ” [47]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về GD và XHHGD đã soi sáng, định hướng hoạt động

GD nước ta suốt hơn 65 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, đào tạo được

"những con người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân" -

những lớp người yêu nước, có ý chí độc lập, tự chủ, có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, vững vàng trong mọi hoàn cảnh, có tinh thần vượt khó vươn lên làm chủ tri thức khoa học - công nghệ - kỹ thuật, phục vụ xứng đáng sự nghiệp xây dựng, bảo

vệ và phát triển đất nước Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế hiện nay, XHHGD nước ta vẫn dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về triết lý GD

1.3.2 Mục tiêu của công tác xã hội hoá giáo dục

Mục tiêu của XHHGD được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương

2 khoá VIII: "XHHGD là huy động xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân

dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước" Mục tiêu

XHHGD được thể hiện qua những vấn đề cơ bản sau:

- Phải làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vai trò của GD & ĐT trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, cũng như trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi địa phương và toàn cộng đồng Qua đó, hình thành hệ tư tưởng xã hội về GD &

ĐT theo quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là "GD là quốc

sách hàng đầu….; đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội"

[29], "GD - ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân"

Trang 34

- XHHGD là tạo nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng, huy động các lực lượng của cộng đồng xã hội làm GD, tạo môi trường cho bản chất xã hội của GD phát huy tối đa vai trò của mình, làm cho GD đáp ứng có hiệu quả nhu cầu thực tế của xã hội, gắn với xã hội, không thoát ly ra khỏi cuộc sống Tất cả mọi việc làm của các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các cơ quan đoàn thể, các tầng lớp nhân

dân có tác động thiết thực đến mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài” đều được xem là góp phần thực hiện XHHGD

- XHHGD chính là chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cuộc

vận động dân chủ hoá GD là “Thực hiện nền GD của dân, do dân và vì dân” Mối quan hệ giữa dân chủ hoá GD và XHHGD có thể diễn đạt là “XHHGD là con đường

để thực hiện dân chủ hoá GD và nội dung dân chủ hoá GD chỉ ra con đường XHHGD” Hai phạm trù này có mối quan hệ rất biện chứng Nhờ dân chủ hoá mà mở

rộng lực lượng xã hội tham gia GD và ngược lại, XHH chính là con đường, là hình thức để thực hiện dân chủ hoá GD, là mục tiêu phấn đấu của GD hiện đại và của GD cách mạng nước ta Con đường, cách thức, hình thức đó là: Huy động, động viên sự tham gia của đông đảo các lực lượng xã hội làm GD, bảo đảm quyền lợi cho mọi

thành viên tham gia

1.3.3 Nội dung của công tác xã hội hoá giáo dục

Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP của Chính phủ xác định 03 nội dung trọng tâm của cuộc vận động XHHGD là:

(a) Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức, vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một XHHT; (b) Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo môi trường

GD tốt lành, phối hợp chặt chẽ giữa GD trong nhà trường với GD ở gia đình và ngoài

xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ đảng, Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND), các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp… đối với sự nghiệp GD; (c) Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân, của mỗi người đối với GD nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống GD để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân

Nội dung của công tác XHHGD còn được thể hiện ở các mặt sau:

Trang 35

- Giáo dục cho mọi người:

Đây là nội dung cơ bản của XHHGD nhằm huy động toàn xã hội tham gia vào quá trình GD và tự GD; tiến hành GD cho mọi người, thực hiện quyền cơ bản của con người để mọi người được học tập thường xuyên, suốt đời, tiến tới xây dựng XHHT Kết luận số 14-KL/TW ngày 26 tháng 7 năm 2002 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển GD - ĐT, khoa học và công nghệ từ nay đến năm

2005 và đến năm 2010 nhấn mạnh: "Phát triển GD không chính quy, các hình thức

học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới XHHT"

- Mọi người cho giáo dục:

Mục tiêu GD trong Luật GD năm 2005 xác định: "Đào tạo con người Việt

Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [52, tr 1] Muốn đạt được mục tiêu này, phải

thực hiện tốt việc huy động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp GD, tạo thành sức mạnh tổng thể Chiến lược Phát triển GD Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 nêu rõ:

"Quy định trách nhiệm của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và

gia đình trong việc đóng góp nguồn lực và tham gia các hoạt động GD, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng XHHT"

XHHGD phải phát huy tối đa vai trò của các chủ thể then chốt mà nền GD nước ta đã tổng kết thành phương châm GD: GD nhà trường kết hợp với GD gia

đình và GD xã hội

- Đa dạng hoá các loại hình học tập, đào tạo:

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII xác định: “Giữ vững vai trò

nòng cốt của trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD & ĐT… Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như: Mầm non (MN), phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hoá hình thức GD”

Trang 36

Điều 48, Luật Giáo dục (năm 2005) quy định nhà trường trong hệ thống GD quốc dân được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục GD hoạt động theo phương thức chính quy và GDTX; các hình thức học tập gồm: tập trung, tại chức

và học từ xa, tự học có hướng dẫn, trong đó, Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống GD quốc dân, GD chính quy giữ vai trò chi

phối toàn bộ hệ thống GD

- Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục:

Đảng và Nhà nước ta chủ trương: "GD phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong

điều kiện chi phí còn hạn hẹp" Để phát triển quy mô, chất lượng, hiệu quả GD đáp

ứng nhu cầu phát triển GD ngày càng cao, không thể chi dựa dẫm vào ngân sách Nhà nước, nhất là trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay Trong bất kỳ hoàn cảnh nào,

cũng cần phải thực hiện XHHGD, phải huy động tối đa các nguồn lực cho GD: "Nhà

nước ưu tiên đầu tư cho GD; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho GD" "Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho GD"

Trong những năm gần đây, đóng góp vào kinh phí hoạt động GD & ĐT của người dân luôn chiếm tỷ lệ từ 25 - 30%, chỉ tính riêng Quỹ Khuyến học cả nước nhận được hàng năm trên 700 tỷ đồng, phong trào nhân dân hiến đất, tài sản để xây dựng trường học phát triển rộng khắp cả nước Các tổ chức quốc tế thông qua chương trình hợp tác song phương, đa phương, người Việt Nam ở nước ngoài viện trợ, tài trợ cho GD nước ta hàng trăm triệu USD/năm Huy động được nhiều nguồn lực của xã hội đầu tư cho GD cùng với việc tăng chi ngân sách Nhà nước hàng năm cho GD (năm 1998: 13%, 2001: 15,1%, năm 2010 trên 20%) Nhờ huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư, quy mô và chất lượng GD đã có sự phát triển

vượt bậc trong những năm gần đây

- Tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội hoá giáo dục:

XHHGD phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước, đây là một nguyên tắc bất di bất dịch XHHGD không có nghĩa là nhà nước chuyển giao hay phó thác nhiệm vụ hiến định của mình cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, mà là tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia vào GD, sao cho nó đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội

Trang 37

XHHGD không có nghĩa là buông lỏng sự quản lý thống nhất của Nhà nước về GD Nhà nước quản lý các hoạt động GD thông qua hệ thống pháp luật, thông qua các

cơ chế, chính sách, tạo mọi điều kiện để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể tham gia đóng góp vào phát triển GD Nêu cao trách nhiệm quản lý của chính quyền

và của ngành GD từ Trung ương đến địa phương chính là tạo ra động lực tốt nhất cho XHHGD Chính quyền và ngành GD các cấp cần thường xuyên hợp tác chặt chẽ và khuyến khích các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cộng đồng dân

cư, các dòng họ hiếu học có nhiều sáng kiến và việc làm cụ thể đóng góp cho sự nghiệp phát triển GD

Nhà nước phải tạo ra môi trường thích hợp cho việc hình thành một khu vực

GD mà ở nơi đó ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp GD, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng GD, tức là GD phải thuộc về xã hội Nhà nước phải xây dựng

và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm trách nhiệm, quyền lợi, tính công bằng, dân chủ và công khai trong hoạt động GD

Mọi tổ chức, cá nhân được tự do tham gia XHHGD theo quy định của pháp luật Nhà nước chỉ can thiệp khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nhằm tránh những cách làm tuỳ tiện, lợi dụng, dẫn đến những vi phạm, đặc biệt là trong việc huy động

các nguồn lực tài chính phục vụ cho sự nghiệp GD & ĐT

1.3.4 Phương pháp, hình thức của công tác xã hội hoá giáo dục

a) Phương pháp công tác xã hội hoá giáo dục:

XHHGD là thực hiện phương châm, phương thức GD mang tính xã hội rộng lớn Các hoạt động GD được tiến hành trong xã hội và toàn xã hội thực hiện Bởi vì mọi biến đổi về kiến thức, sự hội nhập về kinh tế, văn hoá, văn minh, tiến bộ đều diễn

ra trong xã hội ở những phạm vi mức độ khác nhau Xã hội sẽ "dạy" cho con người những kiến thức ấy, những tiến bộ, tri thức mới mẻ ấy một cách trực tiếp, tự nhiên và cập nhật Để XHHGD, cần có cơ chế, chính sách, định hướng cho mọi người tự nguyện học tập trong cuộc sống hàng ngày Xã hội cùng với nhà trường và gia đình kết hợp chặt chẽ trong các hoạt động GD, nhất là GD đối với thế hệ trẻ

XHHGD là xây dựng XHHT, mọi người trong xã hội ở mọi lứa tuổi, mọi cương vị đều tự giác học tập, có nhu cầu học tập Ở nước ta, cần có chính sách và

cơ chế, khuyến khích hoặc chế tài thích hợp để động viên mọi người tự học, học

Trang 38

bằng nhiều hình thức, học những tri thức mới và những tri thức với mình còn thiếu hụt ở bất cứ điều kiện nào, dưới bất kỳ hình thức nào

Để thực hiện có hiệu quả công tác XHHGD, trước hết cần mở rộng cơ hội học tập cho mọi người thông qua việc phát triển hình thức GDTX Mở rộng và hoàn thiện các hình thức huy động cộng đồng tham gia quản lý nhà trường và giải quyết những vấn đề quan trọng của GD tạo điều kiện để các nhà giáo, nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội đóng góp công sức, trí tuệ vào quá trình ban hành quyết sách và xây dựng chính sách, xây dựng chương trình sách giáo khoa, đánh giá chất lượng

GD, giảng dạy, nghiên cứu tại các nhà trường và cơ sở GD Tiếp tục mở rộng các trường ngoài công lập, thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, tạo điều kiện cho loại hình các trường này phát triển Cùng với việc huy động sự đóng góp của nhân dân chủ yếu là đối với các gia đình có điều kiện và ở các khu vực thuận lợi, cần bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách hỗ trợ đối với học sinh nghèo và con em gia đình chính sách, gia đình nghèo hiếu học, học giỏi Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư ngân sách cho GD & ĐT, điều chỉnh cơ cấu phân bổ theo hướng không dàn trải và dành ưu tiên cho đầu tư phát triển GD, đào tạo ở những vùng khó khăn

b) Hình thức công tác xã hội hoá giáo dục:

- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo: Mở trường ngoài công lập ở mọi cấp học, bậc học Trường công lập hiện nay có dạng công lập truyền thống và công lập

tự hạch toán kinh tế Tuỳ bậc học và điều kiện kinh tế của địa phương mà học phí trường công lập là thấp hay cao Ngoài trường công lập, còn có trường tư thục (do một cá nhân đứng ra mở trường, đầu tư cho trường hoạt động) hay dân lập (do một nhóm công dân hay do tổ chức trong hoặc ngoài nước hoặc cùng kết hợp với nhau đứng ra mở trường và đầu tư cho trường hoạt động)

- Các cơ sở đào tạo theo hình thức không chính quy như: TTGDTX, TTHTCĐ, trung tâm ngoại ngữ, tin học, dạy nghề, các câu lạc bộ và nhà văn hoá - thể dục - thể thao… Tất cả hợp thành một mạng lưới các cơ sở GD đào tạo chuyên và không chuyên rất đa dạng về hình thức và nội dung học tập để người học ở các lứa tuổi có thể lựa chọn cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

- Du học tự túc do gia đình tài trợ hoặc vừa làm vừa học ở nước ngoài để tự trang trải học phí và các sinh hoạt khác

Trang 39

- Lập các học bổng, giải thưởng khuyến học do cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tài trợ cho những người học có thành tích nổi trội, người học có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

- Tổ chức, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức tham gia góp ý vào các quyết sách liên quan đến GD như: Chiến lược phát triển GD đào tạo, chương trình, sách giáo khoa, cải tiến chế độ thi cử…; khuyến khích người có trình độ tham gia viết sách giáo khoa, tài liệu tập huấn, tham gia giảng dạy theo các hình thức chính quy và không chính quy…

- Liên kết với các trường nước ngoài trong công tác đào tạo, mời chuyên gia

GD nước ngoài đến giảng dạy hay tham gia quản lý cơ sở giáo dục, tham gia thiết kế chương trình, sách giáo khoa Mời người ngoài ngành GD đến tham gia giảng dạy

- Củng cố tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục, Hội Khuyến học các cấp, Hội Cha mẹ học sinh đi vào nền nếp, hiệu quả

- Nhà nước khuyến khích bằng chính sách tài chính đối với các cá nhân và tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực GD như giao đất làm trường, không thu tiền sử dụng đất, miễn đóng thuế giá trị gia tăng, ưu đãi thuế suất, ưu đãi tín dụng Thực hiện có hiệu quả việc cho người đi học được vay tiền trong thời gian đi học Thường xuyên khen thưởng, động viên các cơ sở GD ngoài công lập, người có công với GD dưới nhiều hình thức khác nhau

- Nhà nước điều tiết ngân sách và điểm chuẩn thi tuyển theo hướng ưu tiên cho các vùng khó khăn, vùng GD kém phát triển, người nghèo hiếu học, học giỏi; nâng cao tính bình đẳng trong cơ hội tiếp cận GD và dạy nghề ở các cấp học, bậc học

1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia về công tác xã hội hóa giáo dục

Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và của từng quốc gia - dân tộc nói riêng, giáo dục luôn là nhu cầu cơ bản và có tính phổ quát Trước yêu cầu đòi hỏi bức thiết của thực tiễn, các nước trên thế giới đều chú trọng đến XHHGD Bản chất hoạt động XHHGD được khai thác bằng các thuật ngữ khác nhau ở nhiều quốc gia, như: phi tập trung hoá, giáo dục đại chúng, giáo dục suốt đời, xã hội học tập, giáo dục cộng đồng, công bằng giáo dục trong xã hội Quan niệm về XHHGD được hiểu rất đa dạng ở nhiều quốc gia khác nhau Ngoài vấn đề huy động sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục có sự quản lý của nhà nước còn

Trang 40

liên quan đến nhiều yếu tố khác, như: công bằng xã hội trong giáo dục, bình đẳng trong đánh giá và tiếp nhận giáo dục, có cơ hội được học tập suốt đời, được lựa chọn cơ hội học tập Sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục ở đây được hiểu là tạo cơ hội cho mọi người có quyền được học tập, được tiếp cận với giáo dục để phát triển tri thức cá nhân nhưng mặt khác họ cũng phải có nghĩa vụ và trách nhiệm với

sự phát triển giáo dục của đất nước XHHGD là một xu thế chung của quá trình phát triển, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội mà mỗi nước có một phương thức huy động nguồn lực ở những cấp độ khác nhau Nhưng tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là thông qua phát triển giáo dục để tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc

Từ năm 1972, UNESCO đã đưa ra quan điểm: giáo dục suốt đời, giáo dục phải hướng mục tiêu đào tạo những người có đủ tri thức và kỹ năng, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao

động Có thể thấy phương hướng phát triển giáo dục của các nước trên thế giới trong

thế kỷ XXI là: Tích cực chuyển nền giáo dục sang hệ thống học tập suốt đời Phát triển các chương trình giáo dục hướng mạnh vào tính cá nhân làm cho hệ thống giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại (ứng dụng, mềm dẻo, liên thông) Vì vậy,

sự phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo không chỉ của riêng Nhà nước và của ngành giáo dục mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Mỗi quốc gia tùy vào đặc điểm của mình mà có những hình thức làm giáo dục theo một cách riêng

Hàn Quốc đặt quá trình phát triển giáo dục chuyên nghiệp gắn chặt với giai

đoạn tăng trưởng kinh tế và nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật của các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân Với chiến lược vay nợ để đầu tư và đề cao vai trò mạnh của Chính phủ trong việc lập kế hoạch phát triển Hiện nay giáo dục Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ đứng vào những nước có tỷ lệ người mù chữ thấp nhất thế giới Ngân sách Nhà nước về giáo dục thay đổi theo từng năm tài chính, nhưng trên nguyên tắc chiếm 22,7% tổng nguồn chi của Chính phủ và chiếm 3 - 4% Hàn Quốc

có 152 trường dạy nghề với gần một triệu học sinh theo học, 80% trường dạy nghề thuộc sự quản lý của tư nhân, tuy nhiên dưới sự kiểm soát của Bộ giáo dục và đào tạo Hàn Quốc Giáo dục phi chính quy được phổ biến ở 2 loại hình: các chương trình giáo dục tiếp tục cho thanh niên và người trưởng thành chưa hoàn thành giáo

Ngày đăng: 24/12/2024, 08:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Harold Koontz, (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koontz
Nhà XB: Nxb KH&KT
Năm: 1992
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm phát triển sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2000), Hệ thống Hóa văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Hóa văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[5] Bộ GD&ĐT, (2005), Tài liệu Hội nghị triển khai Nghị quyết số 05/2005/NQ- CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động Giáo dục, Y tế, Văn hóa và Thể dục, thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị triển khai Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động Giáo dục, Y tế, Văn hóa và Thể dục, thể thao
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2005
[6] Bộ GD&ĐT, (2005), Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Giáo dục 2005
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
[7] Bộ GD&ĐT, Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/6/2005, v/v phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005- 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: v/v phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010
[8] C.Mác-Ăngghen, (1963), Toàn tập, tập 23, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 23
Tác giả: C.Mác-Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1963
[9] Công đoàn Giáo dục Việt Nam, (2000), Tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục
Tác giả: Công đoàn Giáo dục Việt Nam
Năm: 2000
[12] Chu Trọng Tuấn, Hoàng Trung Chiến, (2000), Giáo dục học III, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học III
Tác giả: Chu Trọng Tuấn, Hoàng Trung Chiến
Năm: 2000
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCH TW khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCH TW khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[18] Đặng Quốc Bảo, (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, trường cán bộ quản lý Giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục, trường cán bộ quản lý Giáo dục và đào tạo
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[19] Đặng Quốc Bảo, (2002), Quản lý - Quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Nhà nước, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý - Quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Nhà nước
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[20] Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam, (2004), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học "“Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam”
Tác giả: Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam
Năm: 2004
[21] Hội khuyến học Việt Nam, (2002), Vì sự nghiệp xây dựng xã hội học tập (tập 1-2), Văn phòng Bộ giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sự nghiệp xây dựng xã hội học tập (tập 1-2)
Tác giả: Hội khuyến học Việt Nam
Năm: 2002
[23] Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, (1998), Tập bài giảng Những vấn đề lý luận Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường, Trường CBQLGD-ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Những vấn đề lý luận Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1998
[24] Phạm Minh Hạc, (1997), Xã hội hóa giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[25] Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ, (2002), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[26] Phạm Minh Hùng, Hoàng Văn Chiến, (2000), Giáo dục học I, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học I
Tác giả: Phạm Minh Hùng, Hoàng Văn Chiến
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ   Sơ đồ cơ cấu tổ chức  trường Đại học Hải Phòng   67 - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức trường Đại học Hải Phòng 67 (Trang 8)
Bảng 2.1: Số lượng đội ngũ cán bộ đại học Hải Phòng giai đoạn 2010-2014 - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ cán bộ đại học Hải Phòng giai đoạn 2010-2014 (Trang 48)
Bảng 2.3: Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học giai đoạn 2010-2014  Chỉ tiêu  ĐVT  2012 – 2013  2013 – 2014  2014 - 2015 - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.3 Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học giai đoạn 2010-2014 Chỉ tiêu ĐVT 2012 – 2013 2013 – 2014 2014 - 2015 (Trang 49)
Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn thu của Trường Đại học Hải Phòng - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn thu của Trường Đại học Hải Phòng (Trang 50)
Bảng 2.5: Doanh thu hoạt động xã hội hóa của Trường Đại học Hải Phòng giai đoạn năm 2010- 2014 - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.5 Doanh thu hoạt động xã hội hóa của Trường Đại học Hải Phòng giai đoạn năm 2010- 2014 (Trang 52)
Bảng 2.6: Chi tiết nguồn thu từ dịch vụ của Trường Đại học Hải Phòng giai đoạn năm 2010- 2014 - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.6 Chi tiết nguồn thu từ dịch vụ của Trường Đại học Hải Phòng giai đoạn năm 2010- 2014 (Trang 55)
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG - Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa tại Trường Đại học Hải Phòng
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG (Trang 80)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm