Nếu điều ước quốc tế vẫn luôn thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong hệ thống nguồn của luật quốc tế thì tập quán quốc tế cũng thể hiện rõ sức ảnh hưởng của mình trong sự điều chỉ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
Đề bài
Phân tích mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Minh
họa qua 1 số phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
Nhóm : 01
Lớp : N01.TL2
Trang 2HÀ NỘI – 2023
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA
LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày: 16/11/2023 Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội Nhóm: 01 Lớp: N01.TL2
Tổng số sinh viên của nhóm:
+ Có mặt: 6
+ Vắng mặt: 0 Có lý do: Không lý do:
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm.
Kết quả như sau:
ĐÁNH GIÁ CỦA SV
SV KÝ TÊN
ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN
(số)
ĐIỂM (chữ)
GV (ký tên)
6 461004 Dương Lưu Nam Anh X
Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày tháng 11 năm
2023
Trang 3- Giáo viên chấm thứ nhất: NHÓM TRƯỞNG
- Giáo viên chấm thứ hai:
Kết quả điểm thuyết trình:
- Giáo viên cho thuyết trình:
Điểm kết luận cuối cùng:
- Giáo viên đánh giá cuối cùng:
Trang 4MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1 Khái quát chung một số vấn đề về Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế
1.1 Điều ước quốc tế
1.1.1 Định nghĩa
1.1.2 Ý nghĩa của điều ước quốc tế
1.2 Tập quán quốc tế
1.2.1 Định nghĩa
1.2.2 Ý nghĩa của tập quán quốc tế
2.Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế Ví dụ minh họa
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai loại nguồn cơ bản của luật
quốc tế Nếu điều ước quốc tế vẫn luôn thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong hệ thống nguồn của luật quốc tế thì tập quán quốc tế cũng thể hiện
rõ sức ảnh hưởng của mình trong sự điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế tuy là hai loại nguồn riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau Điều này đã
và đang góp phần tác động đến mối quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế, góp phần giúp đỡ cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các xung đột giữa các quốc gia
Để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai loại nguồn này, Nhóm 1 xin được
đi sâu phân tích về “Phân tích mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán
quốc tế? Minh họa qua 1 số phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế?”
NỘI DUNG
1 Khái quát chung một số vấn đề về Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế.
1.1 Điều ước quốc tế
1.1.1. Định nghĩa
Theo cách tiếp cận của Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế
ký kết giữa các quốc gia và các quy định của luật quốc tế hiện hành thì điều ước quốc tế được xác định là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó.1
1 Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, TS Lê Mai Anh (chủ biên), Nxb Công an Nhân dân
Hà Nội – 2019, tr.27.
Trang 6Như vậy, một văn kiện được coi là một điều ước quốc tế phải có 4
thành tố (đặc điểm) sau: (i) là một thỏa thuận quốc tế; (ii) được ký kết giữa các quốc gia; (iii) bằng văn bản; (iv) được pháp luật quốc tế điều chỉnh
1.1.2. Ý nghĩa của điều ước quốc tế
Xuất phát từ bản chất của điều ước quốc tế là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa :
Thứ nhất, là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm luật
quốc tế để xây dựng và ổn định cơ sở pháp lý cho mối quan hệ pháp luật quốc
tế hình thành và phát triển Khi điều chỉnh các mối quan hệ trong quốc tế trong thực tế thì điều ước quốc tế chỉ cần thỏa thuận sau đó được ký kết từ các chủ thể tham gia là được hình thành và được áp dụng nhanh chóng và có thể
từ đó kịp thời áp dụng điều chỉnh các mối quan hệ trong quốc tế Do đó, hiện nay hệ thống pháp luật hành văn được sử dụng phổ biến, chi tiết, rõ ràng nên được áp dụng trực tiếp
Thứ hai, là công cụ quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ
hợp tác quốc tế giữa các chủ thể Sự tận tâm, thiện chí của các chủ thể tham gia điều ước là cơ sở, là bảo đảm quan trọng để chủ thể ký kết tự ràng buộc vào nghĩa vụ thực hiện các quy định luật quốc tế.
Thứ ba, bảo đảm pháp lý quan trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp
của chủ thể luật quốc tế Trong trình tự ký kết một điều ước, ở giai đoạn thứ nhất tất cả các quốc gia khi đàm phán thảo luận đều được nêu ra ý kiến của mình để đưa đến một nội dung đúng đắn nhất mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia Ở giai đoạn hai, các quốc gia cũng có toàn quyền quyết định việc vì lợi ích của dân tộc có tham gia điều ước hay không Bên cạnh đó mọi điều ước quốc tế khi được thực thi sẽ áp dụng công bằng cho tất cả và có hiệu lực pháp lý như nhau, không có ngoại lệ cho bất cứ quốc gia nào
2
Trang 7Thứ tư, là công cụ để xây dựng khung pháp lý hiện đại, cũng như tiến
hành hiệu quả hóa việc pháp điển hóa luật quốc tế Xuất phát từ sự thỏa thuận, điều ước quốc tế phản ánh rõ nét nguyện vọng và ý chí của các chủ thể luật quốc tế, do đó việc thực thi, tuân thủ pháp luật quốc tế trở nên tự nguyện và tích cực
1.2. Tập quán quốc tế
1.2.1. Định nghĩa
Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc tế thừa nhận là luật So với điều ước quốc tế, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn Đó là những quy tắc xử sự chung ban đầu do một hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong quan hệ với nhau, sau một quá trình áp dụng lâu dài và rộng rãi và được nhiều quốc gia thừa nhận như những quy phạm pháp
lý có tính chất bắt buộc.2
1.2.2. Ý nghĩa của tập quán quốc tế
Thứ nhất, tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước
quốc tế thông qua quá trình pháp điển hóa Ví dụ: Nguyên tắc tự do biển cả,
dù được pháp điển hóa trở thành nguyên tắc cơ bản của Công ước Luật Biển năm 1982 song nó vẫn tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế
Thứ hai, tập quán quốc tế điều chỉnh hiệu quả các quan hệ luật quốc tế
phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế.Các mối quan hệ pháp luật quốc tế rất
đa dạng và phức tạp, do đó để điều chỉnh các quan hệ này một cách có hiệu quả, thống nhất, việc áp dụng các tập quản pháp lý quốc tế có ý nghĩa quan trọng Trong quá trình giải quyết các tranh chấp luật áp dụng bao gồm luật nội dung và luật hình thức, là các nguyên tắc quy phạm của Luật quốc tế (các
2 Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, TS Lê Mai Anh (chủ biên), Nxb Công an Nhân dân
Hà Nội – 2019, tr.28.
Trang 8điều ước quốc tế song phương và đa phương).Trong một số trường hợp giải quyết tranh chấp quốc tế, không thể áp dụng Luật quốc tế, điều ước quốc tế để giải quyết nhưng tập quán quốc tế có thể áp dụng để giải quyết, giúp cho cơ quan tài phán quốc tế dễ dàng xử lý tranh chấp mà được sự hài lòng của đương sự
2.Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế Ví dụ minh họa
Với tư cách là hai nguồn cơ bản của Luật Quốc tế, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Cụ thể, mối quan
hệ này được biểu hiện trên các phương diện như sau:
Thứ nhất, tập quán quốc tế và điều ước quốc tế có vị trí độc lập với
nhau trong hệ thống nguồn của Luật quốc tế
Điều này xuất phát từ quá trình hình thành của điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế Bởi lẽ, thỏa thuận chính là bản chất của luật quốc tế Nếu sự thỏa thuận để ký kết các điều ước quốc tế luôn là sự thỏa thuận trực tiếp, thông qua quá trình đàm phán, ký kết giữa các chủ thể Luật quốc tế thì thỏa thuận thừa nhận các quy tắc tập quán quốc tế là
sự thỏa thuận “ngầm” và được “mặc nhiên” thừa nhận trong thực tiễn quan hệ quốc tế Và khi đã được các chủ thể của Luật quốc tế ký kết hoặc thừa nhận thì điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều có hiệu lực pháp lý bắt buộc thực hiện Do đó chúng có giá trị pháp lý ngang nhau và cùng song song tồn tại.
Vì có giá trị pháp lý ngang nhau nên khi phát sinh xung đột giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế trong quá trình điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể Luật quốc tế thì việc áp dụng loại nguồn nào hoàn toàn do các bên chủ thể thỏa thuận lựa chọn Việc áp dụng loại quy phạm nào của luật quốc tế
là tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực và từng mối quan hệ cụ thể, từng sự ràng buộc
4
Trang 9cụ thể có tính chất pháp lý của mỗi quốc gia với loại quy phạm nào đó, chứ không tùy thuộc vào sự phân chia thứ bậc về giá trị pháp lý của hai loại nguồn này. Trong đó, việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế như hiện nay là hoàn toàn phù hợp So với tập quán quốc tế, điều ước quốc tế có nhiều ưu điểm vượt trội Ưu thế của điều ước quốc tế so với tập quán quốc tế thể hiện ở phương thức đạt được thỏa thuận, hình thức vật chất hữu hiệu ghi nhận rõ ràng ý chí mức độ của sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ được thỏa thuận giữa các quốc gia Đồng thời hình thức văn bản có giá trị lưu giữ lâu dài và là căn cứ để viện dẫn một cách thuyết phục các quy phạm pháp luật.3 Ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế đã phản ánh sự thay đổi về cơ cấu thành phần quy phạm của luật quốc tế hiện đại nhưng không làm suy giảm đi vai trò của tập quán quốc tế
Ví dụ: Trong vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua (Nicaragua với Hoa Kỳ) 4 Tòa án Công lý quốc tế đã lựa chọn sử dụng luật áp
dụng là tập quán quốc tế thay vì sử dụng điều ước quốc tế
Cụ thể, ngày 9 tháng 4 năm 1984 Nicaragua gửi đơn đến Tòa khởi kiện
Mỹ về vụ tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của Mỹ trong việc tiến hành các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua và chống lại Nicaragua Đồng thời Nicaragua cũng yêu cầu chỉ ra các biện pháp bảo đảm cần thiết Ngày 10/5/1984, Tòa đã nêu ra các quyết định chỉ định các biện pháp bảo đảm Ngày 26/11/1984, Tòa đã ra phán quyết khẳng định Tòa có thẩm quyền xem xét vụ kiện và chấp nhận đơn khởi kiện của Nicaragua Ngày 18/1/1985
Mỹ đưa ra tuyên bố tỏ rõ “không có ý định tiếp tục tham dự bất cứ thủ tục nào liên quan đến vụ kiện” Ngày 27/6/1986, Tòa ra phán quyết về nội dung: bác
bỏ lý do sử dụng quyền tự vệ tập thể chính đáng do Mỹ đưa ra, kết luận Mỹ
đã vi phạm các nghĩa vụ của luật tập quán quốc tế là không được can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và không được sử dụng vũ lực chống
3 Vũ Thị Thanh Lan 2019, Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam về ký kết
thực hiện điều ước quốc tế, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
4 Phụ lục 1
Trang 10lại một quốc gia khác xâm phạm đến chủ quyền của quốc gia khác và không không được cắt đứt các hoạt động hàng hải thương mại hòa bình.
Như vậy, phán quyết của Tòa đã góp phần quan trọng trong việc giải
quyết câu hỏi về quan hệ giữa các nguồn của luật quốc tế
Thứ hai, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có thể bổ sung phát triển
lẫn nhau
Tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua quá trình pháp điển hóa Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của Luật quốc tế cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế Cùng với sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán được thay thế hoặc phát triển thành quy phạm điều ước Hiện nay, những tập quán quốc tế liên quan đến thủ tục, nghi lễ ký kết điều ước quốc tế vẫn được các chủ thể áp dụng trong quá trình thiết lập các quan hệ điều ước quốc tế với nhau Trong quá trình soạn thảo điều ước quốc tế, hàng loạt quy phạm tập quán được các nhà làm luật tập hợp và pháp điển hóa trong điều ước quốc tế.
Ví dụ: Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế về Vụ ngư trường Anh –
Na Uy năm 1951 liên quan đến đường cơ sở thẳng 5 năm 1951, trong đó Tòa
đã thừa nhận cách thức Na Uy hoạch định đường cơ sở thẳng Sau đó, nhiều quốc gia hoạch định đường cơ sở thẳng theo cái cách mà phán quyết đề cập Khi hoạch định đường cơ sở thẳng, các quốc gia đã có ý thức rằng việc làm như vậy là được luật quốc tế cho phép Như vậy thì tập quán quốc tế về xác định đường cơ sở thẳng được hình thành thông qua phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế Từ đó phương pháp đường cơ sở thẳng đã trở thành các tiêu chuẩn chung được Luật pháp quốc tế thừa nhận và được điển chế hóa trong các Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển – Công ước Giơ-ne-vơ năm
5 Phụ lục 2
6
Trang 111958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982
Sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn của luật quốc tế thể hiện tiếp theo ở chỗ điều ước quốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tập quán pháp lý quốc tế Sự tác động này thường xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế có tính phổ cập Bên cạnh đó, quá trình tác động đến sự hình thành của điều ước quốc tế đến tập quán quốc tế còn xuất hiện trong 3
trường hợp sau:
Thứ nhất, các quốc gia không phải thành viên của điều ước viện dẫn và
áp dụng nó trong mối quan hệ giữa họ Thực tiễn này cấu thành yếu tố vật chất có thể dẫn đến sự phát triển của một tập quán quốc tế mới.6 Theo quan điểm của Tòa án Công lý Quốc tế, luận điển điểm này đã xuất hiện trong Điều
6 Công ước năm 1958 về thềm lục địa.7 Thứ hai, điều ước quốc tế đã hết hiệu
lực, các bên không tiến hành gia hạn mà vẫn tiếp tục thực hiện điều ước quốc
tế đó với tính chất là 1 tập quán quốc tế Thứ 3, điều ước quốc tế chưa phát
sinh hiệu lực mà các bên vẫn tiến hành thực hiện điều ước quốc tế Những điều ước này rất lâu mới có hiệu lực, nhưng trong khoảng thời gian chưa có hiệu lực, chưa ràng buộc quyền, nghĩa vụ đối với quốc gia, các bên vẫn tiến hành thực hiện điều ước quốc tế Trong trường hợp này, các quốc gia có thể thừa nhận các quy tắc xử sự được nêu ra trong điều ước quốc tế đó là tập quán quốc tế.
Thứ ba, tập quán quốc tế có thể tạo điều kiện mở rộng hiệu lực của
điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là những thỏa thuận được ký kết với nhau bởi các quốc gia thành viên Vậy nên, hiệu lực của điều ước quốc tế chỉ có giá trị ràng
6 TS Lê Thị Anh Đào 2018, Những vấn đề mới về nguồn của luật quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học luật Hà Nội.
7 Northsea, sđd, tr.41, đoạn 71
Trang 12buộc đối với những chủ thể tham gia ký kết điều ước quốc tế mà thôi Tuy nhiên, trên thực tế các chủ thể của Luật quốc tế không phải là thành viên của điều ước vẫn có quyền viện dẫn đến quy phạm điều ước với tính chất là một tập quán quốc tế áp dụng cho bên thứ ba hoặc phán quyết của cơ quan tài phán thừa nhận một điều ước quốc tế đã trở thành một tập quán quốc tế mang tính bao quát, điều chỉnh mọi chủ thể của luật quốc tế như các quy phạm Jus cogens Điều này đã giúp cho hiệu lực của điều ước quốc tế được mở rộng hơn
Ví dụ: Trong vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua (Nicaragua với Hoa Kỳ) 8 Nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực được xem là nguyên tắc có tầm quan trọng bậc nhất trong tất cả các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc này đã được tòa sử dụng trong việc xét xử vụ kiện của Nicaragua Ngoài được quy định tại Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc thì qua phán quyết kinh điển của mình trong Vụ Nicaragua và Mỹ năm 1986, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã lần đầu tiên công nhận nguyên tắc này là một quy phạm tập quán quốc tế, ràng buộc tất cả các quốc gia trên thế giới Hơn nữa, có thể do tầm quan trọng không thể chối cãi của nguyên tắc mà nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực còn được công nhận là một quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (quy phạm Jus cogens) – một trong những quy phạm hiếm hoi được xem có giá trị pháp lý cao nhất, vượt trên và không chấp nhận bất kỳ sự vi phạm nào Ta có thể thấy rằng nguyên tắc cấm
đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực đã tồn tại từ trước dưới dạng một điều ước quốc tế và tại thời điểm đó thì hiến chương Liên Hợp Quốc chưa có rộng rãi thành viên tham gia như bây giờ Qua phán quyết của Tòa thì hiệu lực của điều ước này đã được mở rộng hơn rất nhiều và có sự ràng buộc trên toàn thế giới
8 Phụ lục 1
8