1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay

99 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Đồn điền, Đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai và phát triển nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 787,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đổi mới và phát triển thì việc giao đất cho hộ nông dân theo tinh thần Nghị định 64/NĐ- CP của Chính phủ trên cả nước cũng như địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 2

MO ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia Trong sản xuất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được Trong đời sống xã hội đất đai

là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng

Đất đai vô cùng quý giá nhưng không phải là vô tận, bởi trái đất của chúng ta rất lớn nhưng cũng chỉ là hữu hạn Lãnh thổ - đất đai của mọi quốc gia cũng chỉ là hữu hạn

Vì đất đai chỉ là hữu hạn cho nên điều quan trọng nhất là con người sử dụng tài sản nguồn lực này sao cho khoa học, hợp lý mang lại hiệu quả tốt nhất phục vụ cho chính con người, nhưng vẫn phải bảo vệ được môi trường tự nhiên, sinh thái, điều đó vừa là mục đích vừa là yêu cầu cần quan tâm của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới này

Đối với Việt Nam, là quốc gia đất chật, người đông, đời sống của đại bộ phận nhân dân dựa vào SXNN, thì đất đai lại càng quý giá hơn Việc sử dụng, khai thác có hiệu quả các loại quỹ đất hiện có là việc làm hết sức có ý nghĩa, bởi Việt Nam đi lên xây dựng CNXH từ một nước NN, lạc hậu nghèo nàn, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, tiềm năng chính của Việt Nam chủ yếu dựa vào lao động và đất đai

Hiện nay, nền kinh tế của nước ta đang trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, Đảng

ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, trong đó CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được ưu tiên hàng đầu Để thực hiện CNH, HĐH chúng ta phải giành đất SXNN cho công nghiệp- thương mại - dịch vụ phát triển Do đó quỹ đất SXNN sẽ ngày càng bị thu hẹp, điều này trên thực tế đã và đang diễn ra trên phạm vi cả nước Mặt khác, để phát triển

SXNN thì phải tập trung ruộng đất (dồn điền, đổi thửa) để sản xuất lớn nhằm phát huy

hiệu quả quỹ đất NN trong điều kiện hiện nay Hơn nữa, bản thân NN cũng phải hoà nhập cùng sự nghiệp CNH, HĐH Do đó nhiệm vụ quan trọng của cả nước cần phải có chiến lược và những giải pháp thiết thực nhằm khai thác, sử dụng quỹ đất NN còn lại sao cho có hiệu quả nhất là điều đang được cả nước quan tâm chú ý Trong những giải pháp đó có giải pháp cần đẩy nhanh việc dồn điền, đổi thửa (DĐĐT) ruộng đất để phát triển SXNN theo hướng hàng hoá, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân là hết sức cần thiết

Trang 3

Vĩnh Phúc là tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, sau 16 năm thực hiện việc giao đất

NN cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài theo tinh thần Nghị định 64/NĐ-CP, ngày 27.9.1993 của Chính phủ và Quyết định số 450 - QĐ/UB, ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú (cũ) bước đầu đã tạo tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung

và trong SXNN nói riêng Thông qua việc giao đất đến hộ gia đình đã làm cho đất đai gắn kết với lao động, năng lực và sức sản xuất được giải phóng, SXNN phát triển một cách nhanh chóng Vì vậy, trong một thời gian ngắn, sau khi đất sản xuất được giao đến hộ gia đình, năng suất và sản lượng các loại cây trồng hàng năm của tỉnh Vĩnh Phúc tăng liên tục Theo số liệu của Cục Thống kê Vĩnh Phúc cho thấy: “Sản lượng lương thực của tỉnh năm

1992 khi chưa thực hiện Nghị định 64/CP đạt 288.942 tấn, nhưng chỉ sau một năm giao ruộng đến hộ thì sản lượng lương thực của tỉnh năm 1994 đã đạt 294.472 tấn, năm 1995 đạt 329.782 tấn, tăng 40.840 tấn so với năm 1992” [9, tr.99] Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng, kinh tế khu vực nông thôn dần được hoàn thiện, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi mới, đời sống của nhân dân ngày càng ổn định và được cải thiện Có được những thành tựu đó là nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc giao đất sản xuất đến

hộ gia đình cá nhân ổn định lâu dài và chủ trương này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và đi vào cuộc sống một cách thiết thực

Vì vậy có thể khẳng định đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước trong việc giao đất SXNN đến hộ gia đình, cá nhân là hết sức phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam từ năm 1993 nói chung, cũng như tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đổi mới và phát triển thì việc giao đất cho hộ nông dân theo tinh thần Nghị định 64/NĐ- CP của Chính phủ trên cả nước cũng như địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình CNH, HĐH đất nước nói chung và NN, nông thôn nói riêng

Thực tế hiện nay ruộng đất còn quá manh mún, nhỏ lẻ, phân tán tồn tại đã khá lâu Nguyên nhân chính là do trước đây nhận thức của việc chia ruộng mang hình thức cào bằng Hộ nông dân có ruộng được chia ở nhiều xứ đồng, hộ nào cũng có ruộng theo kiểu

có tốt - có xấu, có gần - có xa, có cao - có thấp, dẫn đến việc canh tác trong mỗi hộ và từng địa bàn bị phân tán, khó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó thực hiện cơ giới hoá vào

Trang 4

sản xuất Hơn nữa do ruộng đất manh mún, nông dân vẫn còn tư tưởng tiểu nông, sản xuất mang tính tự do, thiếu sự gắn kết với nhau trong quá trình sản xuất nên sản phẩm sản xuất

ra không trở thành hàng hoá, chất lượng kém, số lượng không đủ lớn, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường Những yếu kém, tồn tại trên đã làm cho hiệu quả sử dụng đất không cao, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất, cản trở sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điều đó cần phải được xem xét một cách nghiêm túc, khách quan, kịp thời cả về phương diện lý luận và trong thực tiễn

Là một trong 8 tỉnh được Trung ương xác định nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, kể từ khi tái lập (01-01-1997) đến nay Vĩnh Phúc chủ trương đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp làm động lực thúc đẩy và lôi kéo các lĩnh vực kinh tế xã hội khác phát triển theo Qua hơn 10 năm thực hiện chủ trương đúng đắn đó, đến nay Vĩnh Phúc được Trung ương đánh giá là tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh nhất ở phía Bắc

Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ 14 nhiệm kỳ 2005-2010 Đảng bộ Vĩnh Phúc tiếp tục đặt ra nhiệm vụ cho tỉnh phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015

và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm hai mươi của thế kỷ XXI Để thực hiện chủ trương và mục tiêu đó thì quỹ đất SXNN sẽ ngày càng giảm và trên thực tế đất SXNN

đã liên tục giảm trong những năm vừa qua Trong quá trình phấn đấu để trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2015 thì lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng phải hoà đồng với

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trước những bất cập nảy sinh trong quá trình quản lý, sử dụng đất NN như hiện nay trên cả nước đã và đang kìm hãm sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp Để tháo gỡ

Trang 5

những tồn tại trên, đến nay đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như:

- Nguyễn Xuân Nguyên (1995), Khuynh hướng phân hoá hộ nông dân trong phát triển hàng hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của

nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

- Phương Thị Tiến (1999), Đổi mới Quản lý kinh tế Nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- PGS,TS Nguyễn Đình Kháng - TS Nguyễn Văn Phúc (2000), Một số vấn đề lý luận của Các Mác và Lênin về địa tô ruộng đất, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Trần Tú Cường (2006), Tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà nước trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học KTQD

Hà Nội

- PGS, TS Nguyễn Đình Kháng (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội

- GS, TS Phùng Hữu Phú - Tiến sỹ Nguyễn Viết Thông - Tiến sỹ Bùi Văn Hưng

(2008), Vấn đề nông nghiệp - nông dân- nông thôn- kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Các công trình nêu trên nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đất đai, quản lý đất đai, xu hướng biến động của các quan hệ ruộng đất trong kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, các chính sách về ruộng đất và quyền lợi của người dân…Đồng thời các công trình nêu trên cũng đề xuất phương hướng và giải pháp để giải quyết các quan hệ

Trang 6

ruộng đất trong SXNN nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên bàn về vấn đề DĐ, ĐT đất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc chưa có đề tài, công trình nào Việc nghiên cứu vấn đề DĐ, ĐT được nghiên cứu dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị là cách tiếp cận mới

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở luận giải các vấn đề lý luận, thực tiễn về vị trí, vai trò của đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và SXNN nói riêng, kết hợp với tình hình phân bố sử dụng, các quỹ đất trong SXNN ở Vĩnh Phúc Đề tài sẽ đánh giá khách quan, khoa học xu hướng vận động quan hệ ruộng đất ở Vĩnh Phúc từ khi thực hiện giao đất cho hộ nông dân đến nay Căn cứ vào tiềm năng, thế mạnh của kinh tế nông nghiệp Vĩnh Phúc, luận văn có mục đích đưa ra phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh việc DĐ, ĐT ruộng đất phục vụ cho phát triển SXNN hàng hoá theo hướng CNH, HĐH ở Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ

- Khái quát và hệ thống những quan điểm lý luận cơ bản về dồn điền, đổi thửa ruộng đất; khẳng định tính tất yếu khách quan và xu thế không thể khác của việc tích tụ ruộng đất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Hay nói cách khác đó chính là việc DĐ, ĐT Đồng thời đề tài sẽ đánh giá vai trò, vị trí, các nhân tố ảnh hưởng của DĐ,

ĐT trong SXNN hàng hoá

- Đánh giá, phân tích thực trạng về quản lý sử dụng ruộng đất hiện nay ở Vĩnh Phúc, chỉ ra những tiềm năng lợi thế cũng như những tồn tại hạn chế và sự cần thiết phải đẩy nhanh việc DĐ, ĐT ruộng đất ở Vĩnh Phúc nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai

- Thông qua các vấn đề đã được luận giải, đề tài sẽ xác định phương hướng, giải pháp, bước đi của việc DĐ, ĐT ruộng đất Đồng thời DĐ, ĐT phải gắn giữa việc đầu tư với phân vùng sản xuất, lựa chọn mô hình sản xuất hàng hoá phù hợp với tập quán, truyền thống canh tác, đất đai và lợi thế của từng địa bàn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1.Đối tượng

Trang 7

Đề tài hướng vào việc nghiên cứu việc giao đất, sử dụng các loại quỹ đất SXNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ cấu phân bố đất đai, xu thế vận động biến đổi của quỹ đất SXNN sau khi đã giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ từ 15.10.1993 đến nay và sự cần thiết phải DĐ, ĐT ruộng đất

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản pháp luật đất đai, các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các chính sách giải pháp của HĐND - UBND tỉnh, ngành Tài nguyên & Môi trường, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc

Đồng thời luận văn có sự tham khảo, lựa chọn, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, các bài viết trên tạp chí, báo, tài liệu có liên quan của các tác giả, các nhà khoa học

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cơ bản của kinh tế chính trị Đồng thời

sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, một số số liệu và bảng tổng hợp số liệu

để minh hoạ

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Hệ thống hoá và luận giải sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết của việc DĐ, ĐT đất nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

- Đánh giá thực trạng quá trình dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc những năm qua dưới góc độ kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân

Trang 8

- Trình bày quan điểm và những giải pháp cơ bản để thực hiện DĐ, ĐT đất NN ở Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Giúp cho cán bộ quản lý phương pháp, cách nhìn toàn diện và hệ thống các vấn đề

lý luận và thực tiễn về quản lý và sử dụng đất SXNN

- Giúp cho các địa phương trong tỉnh có những giải pháp tác động, thúc đẩy nhanh việc DĐ, ĐT ruộng đất theo hướng phát triển SXNN hàng hoá, nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân

- Đưa ra kế hoạch tổ chức, thực hiện việc DĐ, ĐT ruộng đất trong SXNN hàng hoá theo hướng CNH- HĐH ở Vĩnh Phúc

- Thực hiện hoàn thiện việc DĐ, ĐT là tiền đề cho việc lựa chọn đầu tư có trọng điểm SXNN hàng hoá, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỒN ĐIỀN,

ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1 ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT

1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp

Đất đai nói chung là tài sản vô cùng quý giá, là nguồn lực cực kỳ quan trọng của mỗi quốc gia Đối với mỗi quốc gia đất đai là lãnh thổ chủ quyền được xác định bằng đường biên giới Đối với sản xuất, đất đai không chỉ là mặt bằng để xây dựng nhà xưởng, máy móc, là địa bàn tổ chức sản xuất kinh doanh Trong SXNN thì đất đai còn là môi trường sống của cây trồng, vật nuôi, đặc biệt hơn trong SXNN đất đai còn là TLSX không

gì thay thế được, đồng thời đất đai còn là đối tượng của lao động Và ngày nay trong nền kinh tế thị trường thì đất đai được xem như một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất Còn đối với con người, thì đất đai không chỉ là nơi sinh tồn mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt động của các cộng đồng dân cư

Theo Luật Đất đai 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 14.7.1993 đã ghi rõ:

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,

là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay [28, tr.7]

Theo Điều 11 Luật đất đai năm 1993 quy định: Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất đai được phân thành các loại như sau:

- Đất nông nghiệp;

- Đất lâm nghiệp;

- Đất khu dân cư nông thôn;

- Đất đô thị;

Trang 11

- Đất chuyên dùng;

- Đất chưa sử dụng [28, tr.11-12]

Và theo Điều 42 của Luật Đất đai năm 1993 quy định:

“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [28, tr.30]

Như vậy theo Luật Đất đai thì đất NN là đất chủ yếu dùng để SXNN như trồng trọt

và chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản Trên thực tế, lịch sử phát sinh và phát triển của xã hội loài người thì từ buổi sơ khai loài người sinh tồn được chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm Sau này dần dần con người trên trái đất mới biết trồng, cấy, biết thuần phục các con vật nuôi từ đó hình thành nên nghề trồng trọt, chăn nuôi để phục vụ chính cho sự sinh tồn của con người

Đất đai ban đầu chủ yếu là đất NN, về sau này khi các ngành khoa học ra đời và phát triển đã thúc đẩy SXNN phát triển theo từ đó trong xã hội hình thành các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau Khi trình độ kinh tế, xã hội phát triển cùng với áp lực dân số ngày càng gia tăng thì các nhu cầu chung của xã hội về đất đai phi nông nghiệp ngày càng lớn,

do đó đất NN ngày càng bị thu hẹp Mặc dù con người bằng nhiều cách đã khai phá, chinh phục thiên nhiên, khai thác có hiệu quả hơn đất đai như thâm canh, tăng vụ, áp dụng các biện pháp canh tác tiến bộ, sử dụng các giống, cây, con có chất lượng tốt và năng suất cao Nhưng càng về sau đất đai giành cho SXNN ngày một ít đi Và ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu đất sản xuất, nguy cơ thiếu lương thực,v.v…

1.1.2 Đặc điểm của đất nông nghiệp

Cũng như các loại đất khác nói chung và đất NN nói riêng chúng đều là sản phẩm của tự nhiên Ban đầu chúng chỉ là sản phẩm sơ khai, trải qua quá trình chinh phục con người đã tác động vào đất đai thông qua lao động nhằm mục đích phục vụ lợi ích của con người Theo thời gian sức lao động của con người đã được kết tinh vào đất đai trong quá trình cải tạo, khai thác, sử dụng do đó đất đai có giá trị và giá trị sử dụng Bởi vậy đất NN có những đặc điểm sau:

Trang 12

Thứ nhất: Đất NN là sản phẩm của tự nhiên có sự kết tinh giá trị sức lao động của

con người vào trong đó

Đất NN nói riêng, đất đai nói chung được hình thành qua quá trình phong hoá các loại đất đá, dưới tác động của các quy luật tự nhiên như: nhiệt độ, không khí, độ ẩm, ánh sáng, động đất, hoạt động núi lửa, mưa bão, các phản ứng lý học, hoá học v.v… Trải qua quá trình phong hoá và các vòng tuần hoàn biến đổi khác nhau dần được “ổn định” đất đai được hình thành dưới nhiều dạng đồi, núi, đầm lầy, suối, sông, hồ, biển, đất đồng bằng, cao nguyên…Trên cơ sở đó mà sự sống phát triển ngày càng đa dạng và phong phú

Chỉ từ khi loài người xuất hiện, trải qua quá trình lịch sử lâu dài, gian khổ con người đã cải tạo, chinh phục tự nhiên như quai đê, lấn biển, xây dựng các công trình thuỷ lợi tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn, bồi bổ đất đai…Đất đai ngày càng trở lên màu mỡ và trở thành môi trường sống ngày càng phù hợp đối với con người và các loài sinh vật Không những thế ở nhiều quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam con người đã từng phải hy sinh rất nhiều xương, máu, trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc Vì vậy có thể nói đây là đặc điểm chung nhất, bao trùm nhất của đất đai nói chung và đất NN nói riêng

Thứ hai: Đất NN không đồng nhất về mặt chất lượng

Đất NN được phân bổ ở nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau về vị trí địa lý, về khí hậu,

và các điều kiện tự nhiên khác như chất đất, độ dày tầng canh tác, độ dốc, tính chất lý, hoá… Vì vậy người ta phân ra các vùng đất ôn đới, nhiệt đới, cao nguyên, đồng bằng, đất trũng, đất bạc màu, đất bazan, đất khô cằn, đất chua phèn, nhiễm mặn, đất ngập nước, đất phù sa, đất bãi bồi, đất ruộng, đất ruộng bậc thang, v.v…Việc không đồng nhất về mặt chất lượng, vị trí khác nhau, điều kiện tự nhiên khác nhau, hạ tầng khác nhau là một trong những nguyên nhân chính hình thành địa tô chênh lệch I Xuất phát từ đặc điểm này các quốc gia đã lấy đó làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, đưa ra các chủ trương giải pháp, chính sách khai thác và sử dụng đất đai sao cho phù hợp với mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng khác nhau Điều đó cũng giúp cho con người khai thác có hiệu quả hơn đất sản xuất NN và đó cũng chính là biện pháp tác động để rút ngắn khoảng cách địa tô chênh lệch I giữa các dạng đất SXNN khác nhau

Trang 13

Thứ ba: Đất NN chỉ là hữu hạn, có vị trí cố định và phụ thuộc vào điều kiện tự

nhiên của từng vùng

Như chúng ta đã biết trái đất của chúng ta vô cùng to lớn nhưng cũng chỉ là hữu hạn

so với vũ trụ Vì vậy đất NN trên thế giới hiện nay của mỗi quốc gia cũng chỉ là hữu hạn, bởi lãnh thổ của mỗi quốc gia chỉ là hữu hạn

Ở đặc điểm thứ nhất đã nêu trên đây, đất NN là sản phẩm của tự nhiên Do đó nó tồn tại khách quan, con người chỉ có thể cải tạo khai thác nó phục vụ cho mục đích của con người chứ không thể tạo ra được Căn cứ vào tính chất hữu hạn, chất lượng và mục đích sử dụng mà người ta phân thành các loại đất khác nhau trong đó có đất SXNN Do đặc điểm chỉ là hữu hạn, nên đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những phương thức, chính sách, biện pháp, sử dụng đất đai sao cho có hiệu quả bền vững, đảm bảo các mối quan hệ xã hội nhất

là quan hệ lợi ích được đem lại từ đất đai

Vì có vị trí, mặt bằng cố định và hữu hạn, cho nên mặt bằng đất NN không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác được Đất NN được phân bố ở nơi nào thì nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên cụ thể ở nơi đó Nơi nào có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, chất đất khô cằn, nghèo nàn thì nơi đó diện tích đất NN chiếm phần rất nhỏ trong tổng diện tích đất

tự nhiên và ngược lại Bên cạnh đó tính hữu hạn của nó còn bị chi phối, bị phụ thuộc vào mật độ dân số, cơ cấu kinh tế, mức độ đô thị hoá ở nơi đó

Thứ tư: Đất NN là TLSX đặc biệt, đồng thời cũng là đối tượng của lao động

+ Đất NN là TLSX đặc biệt

Khác biệt với các ngành sản xuất khác, sản phẩm của NN là các loại cây, con, củ, quả, lá v.v…Các loại sản phẩm ấy muốn trở thành sản phẩm hữu dụng thì nó phải trải qua một quá trình sinh trưởng và phát triển Sự sinh trưởng đó điều trước tiên phải nhờ vào đất đai, đồng thời phải có sự tác động của con người thông qua lao động Quá trình SXNN hay nói cách khác là thời gian sinh trưởng của cây trồng vật nuôi phải trải qua nhiều khâu và một khoảng thời gian nhất định Nếu các khâu như chuẩn bị giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lao động, công cụ lao động…rất đầy đủ và sẵn sàng nhưng không có đất NN để gieo trồng thì mọi thứ đó đều trở lên vô nghĩa Vì vậy tham gia vào quá trình SXNN yếu tố đầu tiên là phải có mặt bằng đất NN, khi đó đất NN tham gia với tư cách là tư liệu sản xuất

Trang 14

Cây trồng có thể thay thế từ cây này sang cây khác nếu nó phù hợp hoặc phân bón, thuốc trừ sâu Công cụ lao động có thể thay thế nhưng đất đai thì không thể thay thế được Đối với SXNN đất đai là TLSX đặc biệt ở chỗ đó

Đất NN là TLSX đặc biệt còn được thể hiện ở chỗ: TLSX của các ngành khác được tạo ra ngày càng nhiều, và còn có thể thay thế được trong quá trình sản xuất Nhưng đất SXNN là sản phẩm của tự nhiên không tự tạo ra được và không thay thế được trong quá trình sản xuất Khi sử dụng, đất sản xuất có thể còn được cải tạo, bồi bổ để đất đai được tốt hơn, ở những chu kỳ sản xuất sau làm tăng thêm hiệu quả Bên cạnh đó cũng có thể xẩy ra tình trạng chủ sử dụng đất chỉ biết khai thác vắt kiệt đất đai làm cho đất đai ngày càng bị cằn cỗi và nghèo đi Do đó ứng xử với đất đai trong quá trình sản xuất chúng ta cần phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, biết tiết kiệm, giữ gìn, bồi bổ đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất, khai thác tốt và nâng cao hiệu quả tiềm năng đất đai

Điểm đặc biệt nữa của đất NN không giống các TLSX khác là sau thời gian sử dụng

sẽ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Còn đất NN sau một thời gian hay một chu

kỳ sản xuất nếu được sử dụng khoa học hợp lý, được tiếp tục bồi bổ thì đất đai không những còn nguyên mà độ phì nhiêu mầu mỡ của nó được tăng lên, theo đó sức sản xuất của nó cũng được nhân lên

Đất NN là TLSX không thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác như các TLSX khác, mà nó chỉ được sử dụng, khai thác ở vị trí cố định và quá trình sử dụng còn có

sự gắn kết với môi trường tự nhiên khác như nước, không khí, ánh nắng…

Chính những đặc điểm nêu trên của đất NN đòi hỏi người sử dụng đất phải có những chính sách, chiến lược khai thác, sử dụng đất NN “Tư liệu sản xuất đặc biệt” làm sao cho sức sản xuất của nó không ngừng được tăng cao

Nhờ nắm bắt được quy luật khách quan và nhận thức được sự đặc biệt của TLSX đất NN mà Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương đúng đắn tiêu biểu như: Chỉ thị

100 của Ban Bí thư ngày 13.01.1981 về cải tiến công tác khoán sản phẩm đến nhóm và

người lao động trong HTX NN (gọi tắt là Khoán 100); Nghị quyết 10 - NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Khoán 10), Nghị định 64 -NĐ/CP ngày 27.9.1993 của

Chính phủ về việc giao đất SXNN ổn định, lâu dài đến hộ nông dân, cấp giấy chứng nhận

Trang 15

quyền sử dụng đất cho người sử dụng….Những chủ trương chính sách tiêu biểu trên đã đưa Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 trên thế giới

+ Đất NN là đối tượng lao động:

Trong quá trình SXNN, con người sử dụng đất NN không chỉ dừng ở chỗ chỉ gieo trồng thuần tuý mà còn thông qua kinh nghiệm, đặc điểm của cây trồng vật nuôi, đặc điểm khí hậu, chất đất, con người còn biết tìm cách thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

Khi SXNN còn chưa phát triển mạnh thì những tác động của con người vào đất đai với tư cách là đối tượng lao động với những việc làm giản đơn như cày sâu, bừa kỹ, tưới tiêu…Càng về sau, khi trình độ của con người ngày một nâng cao, nhiều kinh nghiệm được tích luỹ thông qua quá trình sản xuất, cộng với khoa học kỹ thuật phát triển thì tác động của con người vào đối tượng lao động là đất đai ngày càng phong phú và đa dạng hơn Các tác động như cải tạo mặt bằng, cải tạo chất đất nhằm tăng độ phì, xây dựng các công trình thuỷ lợi, tưới tiêu, thau chua, rửa mặn, chống sói mòn, sạt lở đất, đắp đê ngăn lũv.v luôn được con người chú ý Ở mức độ cao hơn thông con người còn thông qua tiến

bộ khoa học kỹ thuật, thông qua giống cây con mới, các biện pháp thâm canh tiên tiến, các biện pháp chế ngự thiên nhiên, khắc phục thời tiết khắc nghiệt, nhằm mục đích khai thác

có hiệu quả tiềm năng của đất đai Quá trình tác động đó chính là những tác động trực tiếp của con người vào đối tượng lao động là đất đai

1.1.3 Vai trò của đất nông nghiệp đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá

+Đất NN là TLSX đặc biệt duy nhất, là nơi sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người và xã hội

Từ xa xưa, ông, cha ta có câu “phi nông bất ổn”, còn ở Trung Quốc dưới thời Xuân

Thu - Chiến Quốc, Khổng Tử đã nói rằng “Dân dĩ thực vi thiên” (Dân lấy ăn làm trời)

Con người chúng ta muốn tồn tại phải có cái ăn, muốn có cái ăn không thể chỉ dựa vào những sản vật sẵn có trong tự nhiên do thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất ra

Trang 16

của cải vật chất là lương thực thực phẩm để nuôi sống con người và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Và nơi duy nhất để sản xuất ra của cải vật chất chính là đất NN

Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội đến nay đã trải qua các thời kỳ khác nhau

từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá, từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá có quy mô lớn và hiện đại, tất thảy trong sản xuất NN thì bao giờ đất đai cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng Xã hội càng phát triển thì vai trò của

đó của đất NN cũng phát triển theo

+ Đất NN là môi trường sống, môi trường không gian để SXNN

SXNN có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên Cây phải sống trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời, hút nước từ trong đất, cá phải sống dưới nước sông, hồ, biển; gia súc, gia cầm phải có chuồng trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn, mà thức ăn lại chính là các động thực vật được sản xuất từ trong NN Tất cả những yếu tố đó chính là môi trường sống, là không gian để sản xuất Muốn sản xuất phát triển thì chúng ta phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự nhiên, không chỉ biết khai thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ đất đai, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho cây trồng vật nuôi

+ Đất NN là TLSX chủ yếu để sản xuất hàng hoá

Như đã nêu trong phần đặc điểm của đất NN, khi tham gia vào quá trình sản xuất, đất NN vừa là TLSX đặc biệt vừa là đối tượng lao động Để SXNN theo hướng hàng hoá đối với bất kỳ nông sản nào trước hết phải có diện tích đất NN đủ lớn, kết hợp với các yếu

tố khác như lao động, công cụ lao động, KHKT, chất lượng giống, phân công lao động theo từng chuyên khâu v.v…thì mới có điều kiện tạo ra khối lượng nông phẩm hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu thị trường Ngoài những điều kiện như đã nêu, sản xuất hàng hoá trong NN còn có thể khai thác yếu tố lợi thế về đặc thù riêng có của những vùng đất như: Vải thiều có năng suất và chất lượng tốt thuộc vùng Lục Ngạn, Bắc Giang; Thanh Hà, Hải Dương, bưởi Năm Roi ở miền Tây Nam bộ; nhãn lồng Hưng Yên…

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay do khoa học công nghệ phát triển mạnh con người

có thế sản xuất ra những sản phẩm mà không cần sử dụng đất: như công nghệ đột biến gien, công nghệ nuôi cấy mô, nhân bản vô tính, sản xuất trong nhà kính bằng phương pháp

Trang 17

thuỷ canh v.v… Song trên thực tế điều đó chưa phải là phổ biến, sản xuất theo phương pháp đó chi phí giá thành sản phẩm quá cao, không hiệu quả, không thể tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn Cho đến nay hình thức sản xuất này chỉ mang tính nghiên cứu, ứng dụng không thể mở rộng một cách phổ biến được Và suy cho đến cùng, dù có ứng dụng khoa học công nghệ cao bao nhiêu đi chăng nữa SXNN vẫn cần phải có không gian đất NN nhất định Vì vậy đất NN vẫn đóng vai trò hàng đầu trong SXNN hàng hoá hiện nay

+Trong điều kiện thị trường bất động sản được hình thành thì đất NN có vai trò là phương tiện góp vốn, huy động vốn, liên doanh liên kết hoặc cho thuê để phát triển sản xuất

Trong công cuộc đổi mới đất nước đối với lĩnh vực phát triển kinh tế Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều giải pháp lớn để tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển trong đó có giải pháp hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường, đi đôi với việc tạo lập các khung khổ pháp lý bảo đảm sự quản lý và giám sát của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tiếp cận với thị trường trong đó có thị trường bất động sản

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Phát triển thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển quyền sử dụng đất; mở rộng cơ hội cho các công dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được dễ dàng có đất và sử dụng đất lâu dài cho sản xuất kinh doanh” “Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ và tập trung đất canh tác trong một số vùng có điều kiện” [30, tr.324]

Nghiên cứu Luật Đất đai năm 2003 cho thấy: Tại Điều 105 Mục 1 quy định:

“Quyền của người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; Điều 106 quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thuê lại, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”; Điều

113 Mục 7 quy định: “Thế chấp, bảo lãnh, bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất kinh doanh” [30, tr.120-121, 130]

Trang 18

Đối với Luật Đầu tư số 59/2005/QH tại Điều 3 Mục 1 có nêu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” và Mục 7 có nêu: “ Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”[31, tr.2].

Như vậy có thể nói đất SXNN có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để tham gia vào thị trường bất động sản, thị trường vốn trong quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh

Trên thực tế đã có rất nhiều mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong NN rất đa dạng và phong phú như:

- Người nông dân góp cổ phần trong doanh nghiệp NN bằng quỹ đất và tham gia lao động ngay tại doanh nghiệp NN đó;

- Cá nhân hoặc tổ chức có đất NN do thiếu vốn sản xuất có thể thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng nhân dân để vay vốn sản xuất;

- Hộ nông dân có đất SXNN nhưng do thiếu kinh nghiệm, thiếu lao động thì dùng quỹ đất liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác không có đất hoặc thiếu đất để sản xuất…

Như vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay thì vai trò của đất NN là phương tiện góp vốn, thế chấp, huy động vốn, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh được nhà nước khuyến khích và có đầy đủ

cơ sở pháp lý thuận lợi giúp các hộ nông dân khai thác và sử dụng quỹ đất sản xuất một cách linh hoạt nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân

1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.2.1 Thực trạng về công tác quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta trước khi có Nghị định 64/CP, ngày 27/9/1993 của Chính phủ

Như chúng ta đã biết đất NN là sản phẩm của tự nhiên, mặc dù có rộng lớn bao nhiêu cũng chỉ là hữu hạn Đất NN có đặc điểm phụ thuộc vào vị trí địa lý, phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên khác như khí hậu, bình độ, sông ngòi, chất đất Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau do tính chất nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn khác nhau mà Nhà nước có những chính sách quản lý sử dụng đất NN khác nhau Mặt khác trước yêu cầu

Trang 19

phát triển chung của xã hội, cùng với sự gia tăng nhanh dân số và các nhu cầu sử dụng đất phi NN ngày càng tăng làm cho đất NN ngày càng ít đi Do đó chính sách quản lý và sử dụng đất đai cũng thay đổi theo cho phù hợp với tình hình thực tiễn

Ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Việt Nam là quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến QHSX thời kỳ này là QHSX phong kiến, ruộng đất nằm trong tay địa chủ

và thực dân Pháp, người nông dân không có ruộng đất, chủ yếu đi làm thuê, đời sống vô cùng cực khổ Dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đứng lên làm cuộc Cách mạng

Tháng 8.1945 với khẩu hiệu “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng” đã giành thắng lợi

vẻ vang thành lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á

Về thực chất, tuy có Nhà nước nhưng ruộng đất vẫn do thực dân Pháp và địa chủ phong kiến cai trị nắm giữ Chính sách về quản lý đất đai giai đoạn này mới chỉ là sơ khai ban đầu, đan xen cả chính sách của chính quyền cách mạng và chính sách của chính quyền

Trong suốt 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp với điều kiện vô vàn khó khăn, nhưng chính quyền non trẻ của ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ ruộng đất nhằm thực hiện song song hai nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi thực dân Pháp và lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

Đến giai đoạn 1954-1975, đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt, cách mạng Việt Nam phải đồng thời làm 2 nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Theo đó, quản lý đất đai của Việt Nam chịu sự chi phối của hoàn cảnh này Ở miền Bắc, quản lý đất đai dựa trên quan điểm đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ở miền Nam quản lý đất đai lại nằm trong tay chế độ miền Nam cộng hoà

Bởi tính chất đặc thù của giai đoạn này như vậy nên luận văn chỉ đề cập một cách khái quát công tác quản lý đất đai ở miền Bắc

Những năm đầu sau 1954, chính sách đất đai của nước ta chủ yếu tập trung giải

quyết nhiệm vụ “người cày có ruộng” Các văn bản được ban hành nhằm mục đích nhanh

chóng động viên toàn xã hội hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển sản xuất nâng cao đời sống nông dân

Trang 20

Trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, giai đoạn này, quản lý đất đai tập trung vào thống kê ruộng đất, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai dần dần đi vào nề nếp Đặc biệt văn bản về Hợp tác hoá NN đã có tác động mạnh mẽ trong việc chuyển sở hữu đất NN từ tư nhân, nhỏ lẻ của người lao động, sang sở hữu tập thể thông qua các quan hệ trong mô hình HTX NN, từ HTX bậc thấp cho đến HTX

NN bậc cao Mô hình quản lý và sử dụng ruộng đất chủ yếu được thông qua HTX NN dưới hình thức sở hữu tập thể Hình thức quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn này như vậy là

phù hợp, điều đó đã góp phần rất quan trọng cho việc huy động “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” “Tất cả cho tiền tuyến” “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”

vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

Giai đoạn hợp tác hoá trước năm 1975 quản lý và quan hệ đất đai theo sở hữu tập thể là phù hợp với điều kiện đất nước còn chiến tranh Từ sau năm 1975 đất nước được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH, lẽ ra chúng ta không nên duy trì, áp dụng kiểu quản lý và sử dụng đất đai như thời kỳ đất nước còn chiến tranh Nhưng trong thời gian khá dài chúng ta vẫn duy trì hình thức sở hữu tập thể về ruộng đất là chính, bên cạnh đó về mặt nhận thức chúng ta nóng vội chủ quan, tiếp tục đẩy cao yêu cầu tập thể hoá NN thông qua HTX Với ý chí chủ quan mong muốn chúng ta có nhanh CNXH

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV nhiệm kỳ 1976-1980 đã đưa ra mục tiêu sản lượng lương thực bình quân đạt 21 triệu tấn trên một năm Theo đó, một loạt điều chỉnh lớn về quản lý đất đai, nhiều nông trường, lâm trường, trạm, trại được ra đời, nhưng trên thực tế sản lượng lương thực bình quân 5 năm 1976-1980 chỉ đạt 13 triệu tấn/năm Trong khi đó tâm lý của nông dân sau chiến tranh họ quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của chính mình thì ruộng đất lại có xu hướng tập thể hoá cao độ Về QHSX trong NN được cải biến một cách cưỡng bức với mong muốn xác lập thật nhanh QHSX XHCN đồng nhất trong cả nước Vì vậy nhiều bất cập xảy ra trong NN như: Tình trạng ruộng bỏ hoang, sản xuất bị

trì trệ, đình đốn; tổ chức SXNN trong các HTX theo kiểu “gõ kẻng tập trung đi làm, ghi công chấm điểm” năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi đạt thấp; Sản phẩm sản xuất ra

được tập trung về sân kho HTX NN, phân chia lương thực theo kế hoạch, phương án nhân

khẩu Tình trạng “cha chung không ai khóc” kéo dài nhiều năm, hiệu quả sản xuất thấp

Trang 21

kém, đời sống của nhân dân hết sức khó khăn, nạn đói lương thực xẩy ra liên tục Những bất cập trên đây không sớm được nhìn nhận và đánh giá đúng nên kinh tế của nước ta dẫn đến tình trạng trì trệ trong một thời gian khá dài

Đến năm 1981 với sự ra đời Chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13.1.1981 về khoán

sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX NN (gọi là Khoán 100) Phương châm

của Khoán 100 là phải đảm bảo nguyên tắc quản lý, sử dụng có hiệu quả ruộng đất, lao động NN phải gắn trách nhiệm đến kết quả cuối cùng Khoán 100 đã tạo tâm lý cho người lao động hồ hởi phấn khởi hơn, gắn bó mật thiết với đồng ruộng, ra sức phấn đấu đạt và vượt mức khoán sản phẩm để được hưởng phần kết quả vượt khoán Do đó SXNN được kích thích phát triển, bước đầu chúng ta đã giải quyết được vấn đề an ninh lương thực, đời sống của nhân dân ngày một được cải thiện Có thể nói Khoán 100 là sự khởi đầu cho việc dần dần thoát khỏi cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp trong SXNN

Năm 1986, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trương đổi mới đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp cánh mạng của Việt nam Với chủ trương đổi mới Đảng ta đã mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật những yếu kém khuyết điểm Văn kiện

Đại hội VI đã chỉ rõ: “Tài nguyên của đất nước chưa được khai thác tốt, lại bị sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trường sinh thái bị phá hoại”

[16, tr.16] Theo chủ trương đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng tới công tác quản

lý và sử dụng đất đai - nguồn lực quan trọng của đất nước Các văn bản luật pháp về đất đai trong những năm tiếp theo trước khi ban hành được xem xét một cách khách quan kỹ càng, sát với thực tiễn, phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn nhu cầu phát triển của đất nước

Trên tinh thần đổi mới, một loạt các văn bản quan trọng đã được ra đời Luật Đất đai năm 1987 được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày

5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế NN (gọi tắt là khoán 10) Nội dung

của Khoán 10 yêu cầu:

…Thực sự giải phóng sức sản xuất; gắn sắp xếp, tổ chức sản xuất với cải tạo xã hội chủ nghĩa, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật và đưa kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp Phát huy được mọi tiềm năng của các thành phần

Trang 22

kinh tế, các vùng, các ngành; chuyển nền nông nghiệp nước ta còn mang nặng tính chất tự cung, tự cấp ở nhiều vùng sang sản xuất hàng hoá… ;…Tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên, đến người lao động và đến tổ, đội sản xuất tuỳ theo điều kiện của ngành nghề cụ thể

ở từng nơi, gắn kế hoạch sản xuất với kế hoạch phân phối từ đầu Trong trồng trọt về cơ bản khoán đến hộ hoặc nhóm hộ xã viên…; …Trong trồng trọt, phải điều chỉnh diện tích giao khoán, khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh mún hiện nay, đảm bảo cho người nhận khoán canh tác trên diện tích có quy mô thích hợp và ổn định trong khoảng 25 năm…, Nhằm giải quyết nhu cầu cơ bản

về lương thực, thực phẩm, tăng thêm nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho tiêu dùng và xuất khẩu, phục vụ tốt ba chương trình kinh tế lớn; xây dựng

và bảo vệ môi trường sinh thái… [5]

Theo đó một loạt các văn bản dưới luật cụ thể hoá các chủ trương đã ra đời như:

- Chỉ thị số 67/HĐBT ngày 20/4/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế NN Tinh thần chính trong Chỉ thị 67/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng là:

Từng cấp địa phương căn cứ vào sự hướng dẫn của các ngành Trung ương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể Nghị quyết của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp cho phù hợp với tình hình đại phương mình Cụ thể hoá và thực hiện đầy đủ các điều quy định trong Nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý đối với từng loại đơn vị kinh tế cơ sở, chấn chỉnh, chỉ đạo việc mở rộng việc hoàn thiện

cơ chế khoán sản phẩm trong nông nghiệp… [20]

- Chỉ thị số 47/CT-TW, ngày 31/08/1988 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 154-HĐBT, ngày 11/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng; Quyết định số 13-HĐBT, ngày 1/2/1989 của Hội đồng trưởng về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất; tinh thần chính của Chỉ thị 47/CT-TW đó là:

Trên cơ sở quán triệt các chính sách của Đảng và Nhà nước về ruộng đất, điều tra, nắm chắc tình hình ruộng đất và các hộ sử dụng đất ở địa phương, cấp

Trang 23

uỷ đảng và các cấp chính quyền cơ sở phải dựa vào dân, bàn bạc dân chủ, công khai với nông dân, giải quyết có lý, có tình, không gò ép, mệnh lệnh, không được

ức hiếp hoặc có hành vi thô bạo đối với nông dân, đảm bảo tăng cường đoàn kết trong nội bộ nông dân lao động, ổn định trong sinh hoạt nông thôn [6]

1.2.2 Thực trạng và những bất cập cần tháo gỡ của việc giao ruộng đến hộ gia đình cá nhân theo tinh thần Nghị định 64/CP của Chính phủ

Năm 1993, một sự kiện quan trọng là ngày 14/7/1993 Quốc hội khoá IX kì họp thứ

3 đã thông qua Luật Đất đai (sửa đổi Luật Đất đai đầu tiên năm 1987) Tiếp theo đó ngày

24/7/1993 Chủ tịch nước công bố Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp Ngày 27/9/1993 Chính phủ có Nghị định 64/CP Ban hành Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào sản xuất nông nghiệp

Tại điều 1 bản quy định ghi rõ:

“Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp

Toàn bộ đất nông nghiệp đang được sử dụng thì giao hết cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của xã theo Quy định này”

Tại Điều 3, điểm 3 còn nêu rõ: “Đất giao cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định này là giao chính thức và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài”

Và điều 4 có ghi: “Thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm” [8]

Những nội dung tinh thần của Nghị định 64/CP của Chính phủ và các văn bản được

đề cập trên đây có thể nói là những bước tiến dài trong công tác quản lý sử dụng đất đai của nước ta, đặc biệt là đối với đất NN Đồng thời có thể khẳng định đến giai đoạn này, SXNN đã được “cởi trói”, sức sản xuất được giải phóng, kinh tế hộ không bị hoà tan trong kinh tế HTX như trước đây, lao động thật sự đã được gắn kết với đất đai Tiềm năng đất đai, lao động trong NN được khai thác có hiệu quả, nông dân tin tưởng vào đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, hăng hái lao động sản xuất Chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh

Trang 24

tế đã được phục hồi, NN đã có tiến bộ vượt bậc, đời sống của nhân dân được cải thiện, bước đầu SXNN đã có tích luỹ cho nội bộ nền kinh tế

Tiếp sau Luật Đất đai 1993, Nghị định 64/CP của Chính phủ, Nhà nước đã ban hành Luật Đất đai sửa đổi 1998, Luật Đất đai sửa đổi năm 2001, Luật Đất đai sửa đổi năm

2003, Luật Đất đai sửa đổi năm 2009 (sắp ban hành), cùng nhiều văn bản luật khác có liên

quan và các văn bản dưới luật cụ thể hoá các quy định một cách chặt chẽ nhằm điều chỉnh tốt những mối quan hệ nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai

Giao ruộng đến hộ đã tạo ra một giai đoạn phát triển mới mà cốt lõi của sự phát triển ấy chính là nguồn lực đất đai và lao động đã được phát huy, khai thác có hiệu quả Chỉ trong thời gian ngắn, SXNN của Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng đã có sự tăng trưởng mạnh, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất lương thực Từ một quốc gia thường xuyên

bị thiếu lương thực, nhưng nhờ chính sách giao ruộng ổn định, lâu dài đến hộ đã giúp cho Việt Nam không những cung cấp đủ lương thực cho khoảng trên 80 triệu dân mà còn trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 thế giới

Việc giao đất đến hộ gia đình, cá nhân từ năm 1993 đến nay trong lĩnh vực NN về

cơ bản vẫn ổn định không có gì thay đổi lớn Nhưng hiện nay với điều kiện khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển, cùng với sự nghiệp CNH, HĐH của Việt nam đã giành được những thành tựu rất quan trọng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta đã

có nhiều tiến bộ, Việt nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đến thời điểm này SXNN của nước ta đang đứng trước những thời cơ hết sức thuận lợi nhưng chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều những thách thức, khó khăn, bất cập khó giải quyết sau đây:

- Ruộng đất manh mún, diện tích ô, thửa nhỏ, phân tán mỗi hộ có tới hàng chục thửa ở nhiều xứ đồng khác nhau, các chi phí như chăm sóc, vận chuyển, thăm đồng cao và mất nhiều thời gian Sản xuất bị phân tán, mỗi thửa, mỗi xứ đồng canh tác các loại cây trồng khác nhau, không tạo ra hàng hoá, thiếu sự gắn kết chặt chẽ với thị trường, hiệu quả không cao;

- Các công trình như hệ thống mương tưới, tiêu, đường giao thông nội đồng không được đầu tư đồng bộ;

Trang 25

- Do ruộng đất manh mún, người dân tự do canh tác các loại cây trồng khác nhau, xen kẽ lẫn nhau nên khó phục vụ tưới tiêu, bảo vệ thực vật…làm cho SXNN phân tán, chưa khai thác và phát huy phát huy hết tiềm năng lợi thế của từng vùng, số lượng sản phẩm không đủ lớn, chất lượng không đủ sức cạnh tranh với thị trường;

- Tiêu chuẩn ruộng đất đã chia cho nhân khẩu NN sau khi chết không lấy ra được Trong khi đó rất nhiều người sinh sau thời điểm 15.10.1993 đến nay ở nông thôn không có đất để chia bổ sung Ở nhiều nơi trong tỉnh Vĩnh Phúc khi giao ruộng đến hộ gia đình, cá nhân còn có tình trạng nhân khẩu mới sinh trong năm 1993 là con thứ 3 được xác định là nhân khẩu vi phạm sinh đẻ kế hoạch nên địa phương chỉ chia cho một nửa xuất ruộng gây rất nhiều thắc mắc trong nhân dân Bên cạnh đó còn có rất nhiều trường hợp hộ gia đình cá nhân thời điểm giao ruộng nợ sản phẩm HTX NN bị tập thể giữ lại tiêu chuẩn ruộng giao cho HTX khoán thu sản phẩm để khấu trừ dần khi hết nợ đối với tập thể sẽ giao trả tiêu chuẩn ruộng đã giữ trước đây Tuy nhiên, do yếu kém trong công tác quản lý nên cho đến nay tồn tại này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, gây nhiều tiềm ẩn mất ổn định trong nông thôn;

- Do ruộng đất manh mún nên việc đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất rất khó khăn, bởi một cánh đồng có hàng trăm hộ nông dân có đất canh tác Các hộ lại khác nhau về trình độ nhận thức, khả năng tiềm lực đầu tư và họ lại tự do canh tác các cây trồng khác nhau nên rất khó thuyết phục nhằm tạo sự thống nhất để áp dụng các tiến bộ khoa học Vì vậy, tiến bộ khoa học đưa vào sản xuất còn chậm và lúng túng, không đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá,v.v

- Phương thức canh tác mang nặng thủ công, tỷ lệ cơ giới hoá thấp; Năng suất lao động và hiệu quả sản xuất thấp; công nghệ chế biến nông sản sau thu hoạch không đáp ứng được sự đòi hỏi của quá trình sản xuất;

- Cơ cấu sản xuất và lao động trong nội ngành NN còn nhiều bất cập, phát triển không ổn định bền vững;

- Việc chuyển nhượng đất đai giữa các nông hộ còn sơ cứng, thiếu linh hoạt dẫn đến tích tụ ruộng đất bị kìm hãm;

Trang 26

- Việc đầu tư ngân sách của các cấp cho sự phát triển NN còn quá ít, dàn trải, người nông dân thì thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, tỷ lệ lao động NN qua đào tạo thấp;

-Khoa học thông tin dự báo nhu cầu nông sản phục vụ cho tiêu dùng xã hội không được chú ý dẫn đến SXNN lúng túng làm cho đầu ra của sản phẩm không ổn định Tình trạng mất mùa thì được giá, được mùa thì rớt giá làm cho sản xuất thiếu tính ổn định và bền vững

Những khó khăn, bất cập như đã nêu có nguyên nhân bắt nguồn từ hệ quả của việc giao ruộng đến hộ theo Nghị định 64/CP và việc thực hiện Luật Thuế nông nghiệp theo biểu thuế gồm 6 hạng đất dẫn đến ruộng đất rất manh mún, điều này đã kìm hãm sự phát triển của LLSX trong NN hiện nay

Xuất phát từ những lí do trên đây dẫn đến trong các hộ nông dân tự phát nhu cầu

DĐ, ĐT Trên thực tế một số hộ nông dân do nhận thức sớm hơn được điều này nên đã tìm cách tự thoả thuận dồn đổi ruộng canh tác cho nhau và sau khi tự dồn đổi ruộng cho nhau thì họ thấy rằng sản xuất có hiệu quả hơn Về điều này cho thấy ở địa phương nào cũng tự phát việc này, nhưng do không có sự chỉ đạo nên tự phát DĐ, ĐT thường phá vỡ quy hoạch chung và ảnh hưởng đến sản xuất của các hộ xung quanh

Có thể khẳng định rằng, những bất cập nêu trên đến nay vẫn tồn tại phổ biến trong

cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng chưa được quan tâm giải quyết triệt để Tỉnh Vĩnh Phúc với lợi thế là địa bàn giáp Thủ đô Hà Nội và là tỉnh có công nghiệp phát triển rất mạnh, nhưng bên cạnh đó SXNN lại kém phát triển Vĩnh Phúc không phát huy được lợi thế SXNN hàng hoá cung cấp thực phẩm, rau an toàn, hoa tươi, và các nông phẩm khác cho thị trường rộng lớn của Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong khu vực lân cận, bởi vì ruộng đất quá manh mún Do đó muốn phát triển kinh tế hàng hoá trong NN ở Vĩnh Phúc thì vấn đề đặt ra là phải sớm khắc phục những hạn chế, bất cập tình trạng ruộng đất manh mún hiện nay

Xuất phát từ những lý do và yêu cầu trên đây thì sự cần thiết phải “Sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích việc dồn điền, đổi thửa” trong cả nước nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng là việc làm có ý nghĩa rất to lớn và hết sức cần thiết

Trang 27

Tóm lại: Thông qua việc khái quát chung nhất về tình hình quản lý và sử dụng đất

SXNN trong cả nước hiện nay cho thấy:

Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều đã có nhiều cố gắng nỗ lực trong việc hoàn thiện chính sách đất đai, xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật về đất đai khá hệ thống tạo điều kiện quan trọng thuận lợi bước đầu cho việc quản lý, khai thác nguồn lực đất đai Tuy nhiên, nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến đất đai cho thấy:

Kể từ khi ban hành Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị Đảng ta đã đề cập đến việc khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, song những năm sau đó vấn đề này ít được chú ý Biểu hiện rõ nhất là khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ năm

1993 giao ruộng đến hộ gia đình, cá nhân thì đây là thời điểm thuận lợi nhất để chúng ta có thể thực hiện được tinh thần đó Song rất tiếc là điều đó không được coi trọng và cho mãi đến năm 2002 Ban Chấp hành TW khoá IX mới có Nghị quyết TW 5 đề cập đến vấn đề này, theo đó ngày 17/7/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 94/2002/QĐ-TTg về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết TW 5 khoá IX giao cho các bộ ngành TW và UBND các tỉnh thành phố hướng dẫn việc DĐ, ĐT Song triển khai tinh thần này không được chú trọng, do đó những tồn tại bất cập trong giao đất đến hộ gia đình cá nhân tồn tại kéo dài cho đến hiện nay Hơn lúc nào hết, để đáp ứng được yêu cầu của CNH, HĐH thì công tác DĐ, ĐT đất nông nghiệp là hết sức cấp thiết

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA VÀ VAI TRÒ CỦA DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.3.1 Cơ sở lý luận để thực hiện dồn điền, đổi thửa

Như chúng ta đã biết, xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển thì con người ít nhất phải đảm bảo được nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… hay nói cách khác, đó chính là nhu cầu vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội Các yếu tố vật chất và tinh thần không có sẵn trong tự nhiên, muốn có nó, con người phải lao động sản xuất Và điều không thể khác được là mọi hoạt động, lao động, sản xuất của con người đều liên quan đến đất đai Vấn đề đất đai được nghiên cứu dưới góc độ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là việc nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu, sử dụng, khai thác đất đai tạo ra lợi ích nhằm phục vụ con người và mối quan hệ đó được gọi là quan hệ đất đai

Trang 28

Trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng, quan hệ đất đai là một trong những quan hệ cơ bản, quan trọng trong đời sống xã hội Quan hệ đất đai nói chung chịu sự tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hoá, phong tục, tập quán, sự phát triển của lực lượng sản xuất…

Đối với đất SXNN ở nước ta hiện nay xét trên góc độ quan hệ đất đai cho thấy: Về cơ bản, phổ biến là mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng

Đối với sở hữu, theo Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Điều 5 về sở hữu như sau:

“1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” [30, tr 13]

Như vậy ở Việt Nam đất đai nói chung và đất SXNN nói riêng thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước, đảm bảo cho đất đai được sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch, ổn định, lâu dài, có hiệu quả, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước cũng như của người sử dụng đất

Về quyền sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, theo Điều 10 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 4 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai quy định:

“1 Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất” [30,

tr.18]

Với các quy định trên đây thì mối quan hệ đất đai ở nước ta là rất cụ thể rõ ràng Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, còn quyền sử dụng đất thì được Nhà nước giao quyền cho các chủ thể sử dụng Quyền sử dụng đất của các chủ thể được đảm bảo bằng pháp luật và được nhà nước cấp quyền thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Điều đó đã giúp cho công tác quản lý đất đai nói chung và đất NN nói riêng ở mọi nơi, mọi chỗ đều có chủ sử dụng và mốc giới rõ ràng Còn việc sử dụng đất

NN sao cho có hiệu quả phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố phương pháp, cách thức sử dụng của người được giao quyền sử dụng đất; vị trí và độ phì nhiêu, màu mỡ của đất đai

Hiện nay đất NN được giao đến hộ gia đình, cá nhân theo tinh thần Nghị định 64/CP của Chính phủ trong cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng nằm trong tình trạng chung là: Ruộng của gia đình nào cũng được chia theo tính chất cào bằng: có tốt - có

Trang 29

xấu; có gần - có xa; có cao - có thấp Đây chính là yếu tố thể hiện sự khác nhau về vị trí,

độ phì nhiêu, màu mỡ của đất đai, sự thuận lợi hay khó khăn trong quá trình sản xuất Và điều này còn được thể hiện thông qua việc phân hạng đất được quy định trong Luật Thuế nông nghiệp, theo đó đất SXNN được phân thành 6 hạng đất khác nhau, mỗi loại tương ứng có một mức thuế khác nhau

Hiện nay, về cơ bản đối với quỹ đất I (là quỹ đất giao cho hộ nông dân) Nhà nước không thu thuế nông nghiệp (Được miễn theo Nghị quyết số 15/2003/QH11 ngày 17/6/2003) và quỹ đất II (quỹ đất do UBND xã, phường, thị trấn quản lý) Nhà nước cũng không thu thuế (Được miễn theo Quyết định số 58/2008/QĐ-BTC, ngày 21/7/2008 của Bộ Tài chính) Trong lý luận của C.Mác yếu tố thể hiện sự khác nhau về vị trí, độ phì nhiêu,

màu mỡ của đất đai, sự thuận lợi hay khó khăn trong quá trình sản xuất được xem là yếu tố

cơ bản sinh ra địa tô chênh lệch trong SXNN

Do chỉ nghiên cứu về DĐ, ĐT đất NN, bởi vậy dưới góc độ lý luận khi xem xét về quan hệ đất đai, luận văn chỉ xin đề cập một cách khái quát xoay quanh vấn đề lý luận địa

tô - địa tô chênh lệch dưới góc độ vị trí, độ phì nhiêu, màu mỡ của đất đai, để từ đó chỉ ra

cơ sở cho việc tại sao phải thực hiện DĐ, ĐT đất nông nghiệp

Theo C.Mác:

Địa tô là hình thái dưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập

Địa tô phản ánh quan hệ thống nhất, đối lập giữa ba giai cấp cấu thành cái

bộ xương sống của xã hội cận đại - người công nhân làm thuê, nhà tư bản công

nghiệp, và địa chủ [24, tr.246]

Cũng theo C.Mác có 2 loại địa tô:

+ Địa tô chênh lệch I (Rcl1) (Hình thái thứ nhất của địa tô chênh lệch): Là kết quả của năng suất khác nhau, của những tư bản bằng nhau, lao động bằng nhau, đầu tư cùng một lúc vào những khoảnh đất có diện tích bằng nhau nhưng

ở vị trí khác nhau, có độ phì khác nhau Đây là do sự chênh lệch về sản phẩm giữa những tư bản ngang nhau, lao động ngang nhau, đầu tư vào cùng một diện tích ở những mảnh đất khác nhau (Với giả định mảnh đất xấu nhất không có tô)

Trang 30

Địa tô chênh lệch II(Rcl2) (Hình thái thứ hai của địa tô chênh lệch): Là kết quả khác nhau của những lần đầu tư tư bản nối tiếp nhau trên cùng diện tích Nó là

sự chênh lệch sản phẩm giữa những lần đầu tư khác nhau trên cùng diện tích của một mảnh ruộng [22, tr.39]

SXNN hiện nay ở nước ta nhân dân không phải nộp thuế nông nghiệp có nghĩa là

không có “tô”, nhưng khi DĐ, ĐT đất nông nghiệp về mặt hình thức chính là sự thay đổi

vị trí diện tích, hạng đất Xét về thực chất, quan hệ đất đai bên trong đó ẩn chứa “địa tô chênh lệch” giữa những thửa ruộng có độ màu mỡ khác nhau, vị trí khác nhau, mức độ

canh tác thuận lợi, khó khăn khác nhau Nên việc DĐ, ĐT muốn thực hiện được thành công phải giải quyết tốt, hài hoà mối quan hệ bên trong sao cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của từng địa phương thông qua việc xây dựng hệ số quy đổi giữa các hạng đất, diện tích với nhau Và xét cho đến cùng đó chính là quan hệ lợi ích kinh tế giữa những người sử dụng đất với nhau Bên cạnh đó cần phải xem xét đến yếu tố vị trí xa - gần, thuận lợi hay khó khăn trong canh tác một cách cụ thể Chú ý làm tốt được những vấn

đề trên thì việc DĐ, ĐT mới thành công và mang lại hiệu quả trong phát triển nông nghiệp hàng hoá

1.3.2 Vai trò của dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp

+ Dồn điền, đổi thửa đất NN sẽ khắc phục được tình trạng ruộng đất manh mún

Vì hiện nay mỗi hộ gia đình, cá nhân có hàng chục thửa ruộng ở nhiều xứ đồng khác nhau, nên khi thực hiện DĐ, ĐT thì bình quân số thửa ruộng trên hộ sẽ giảm, thậm chí một hộ có thể chỉ có một thửa, diện tích trên thửa sẽ tăng Ruộng đất của các hộ được tập trung về một khu vực, một xứ đồng sẽ thuận lợi cho việc đầu tư, thâm canh, tiết kiệm được chi phí, đi lại, vận chuyển sản phẩm khi thu hoạch Mặt khác, khi dồn điền, đổi thửa,

số thửa giảm, ít bờ ruộng hơn, nên diện tích đất canh tác chắc chắn sẽ tăng hơn so với trước DĐ, ĐT;

+ DĐ, ĐT tạo tiền đề cho việc quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sở cho việc hoạch định chính sách đầu tư phát triển SXNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao thông nội đồng, cứng hoá hệ

Trang 31

thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên canh, khai thác được lợi thế của từng vùng đất khác nhau;

+ DĐ, ĐT thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành NN, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, làm tiền đề cho việc hình thành các doanh nghiệp trong NN và có điều kiện để hình thành nhiều trang trại, nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân công lại lao động xa hội Bởi vì hiện nay

do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh đồng các hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau, chế độ chăm sóc thu hoạch khác nhau Điều đó gây ảnh hưởng và hạn chế lẫn nhau, không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không

có khối lượng hàng hoá lớn Nếu thực hiện DĐ, ĐT sẽ khắc phục được tình trạng này;

+ DĐ, ĐT thành công sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất:

Hiện nay do thửa ruộng nhỏ, khâu làm đất người nông dân chủ yếu cày bừa thủ công theo lối truyền thống bằng trâu, bò, thậm chí nhiều nơi người dân vẫn cuốc đất bằng tay Mặt khác khâu gieo cấy, thu hoạch phổ biến hiện nay vẫn áp dụng phương pháp thủ công là chính, chi phí cao, mất nhiều thời gian, năng suất lao động thấp, nông dân vẫn phải lao động cực nhọc Nếu đẩy mạnh việc DĐ, ĐT sẽ dễ dàng cho việc áp dụng máy móc vào sản xuất như máy cày bừa, máy gặt đập liên hợp, máy gieo hạt, máy cấy, phương tiện vận chuyển cơ giới …khi đó hao phí thời gian lao động ít, lao động sống được giải phóng, giảm được lao động cực nhọc của người dân, năng suất lao động cao, hiệu quả sản xuất tốt hơn Mặt khác DĐ, ĐT sẽ giảm được chi phí lao động, tiết kiệm được các chi phí đầu tư khác như: giống, phân bón, nước tưới, thuốc trừ sâu, thời gian lao động, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, đời sống nhân dân và ổn định xã hội

+ DĐ, ĐT sẽ tạo điều kiện sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đủ lớn giúp cho công nghiệp chế biến phát triển, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản Bởi vì đến giai đoạn hiện nay nước ta không chỉ giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực mà còn là cường quốc xuất khẩu lương thực trên thế giới Do vậy vấn đề đặt ra là có nhất thiết phải sản xuất lương thực bằng mọi giá như hiện nay hay không? Nên chăng cần phải có sự nhìn nhận

Trang 32

thay đổi theo một cách mới là mạnh dạn chuyển một phần diện tích trồng cây lương thực sang nuôi, trồng các cây con khác có giá trị kinh tế cao hơn nhằm cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất hàng nông sản xuất khẩu, khai thác tốt thế mạnh của từng vùng Muốn làm được điều này thì vai trò của việc DĐ, ĐT đóng góp rất quan trọng

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP

+ Giao thông

Địa bàn Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá đồng bộ và phát triển, bao gồm cả

3 loại hình đường sắt, đường bộ và đường thuỷ:

Đường sắt là tuyến Hà Nội - Lào Cai qua địa phận Vĩnh Phúc khoảng 44 km, toàn tuyến có 4 ga tàu trong đó 3 ga có chức năng vận tải hàng hoá Đồng thời đây cũng là tuyến chạy nối thông sang tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đi Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn và các tỉnh phía Nam rất thuận lợi cho giao thương phát triển kinh tế;

Đường bộ: Vĩnh Phúc có 5 tuyến quốc lộ quan trọng chạy qua là Quốc lộ 2A; 2B; 2C; cùng 2 tuyến đường đang thi công là đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai và tuyến đường xuyên Á Các tuyến tỉnh lộ đi đến các trung tâm huyện, các khu công nghiệp, khu du lịch

đã được đầu tư hoàn chỉnh, mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã, giao thông nông thôn hầu hết đã được bê tông hoặc trải nhựa;

Đường thuỷ: Địa bàn tỉnh có hai sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Lô rất thuận lợi cho giao thông thuỷ, vận tải hàng hoá đi các tỉnh phía Bắc và các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đi thông ra biển Hàng hoá chính được vận chuyển bằng đường thuỷ qua tỉnh Vĩnh Phúc là vật liệu xây dựng, than, gỗ, tre, nứa, phân bón, sắt thép, xi măng…

+ Khí hậu thời tiết

Trang 34

Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có đầy đủ đặc điểm khí hậu thời tiết của vùng trung du miền núi Bắc bộ

-1600mm, lượng mưa phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau chiếm khoảng 20% lượng mưa trong năm

Số giờ nắng bình quân trong năm từ 1400 -1700 giờ, tháng có nhiều giờ nắng là tháng 7, tháng

ít giờ nắng là tháng 1; độ ẩm không khí bình quân cả năm 83%

Chế độ gió có 2 loại gió chính trong năm là: Gió Đông - Nam thổi từ tháng 4 đến tháng

9, gió Đông - Bắc thổi từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau

+ Thuỷ văn

Vĩnh Phúc có hệ thống sông, suối, hồ, đập khá phong phú, nhưng chế độ thuỷ văn phụ thuộc chủ yếu vào 2 con sông chính là:

Sông Hồng: Sông Hồng chảy qua địa phận Vĩnh Phúc với chiều dài khoảng 50km,

lưu lượng nước trung bình cả năm là 3.730m3/s (cao nhất là 13.200m3/s năm 1990, thấp nhất là 1.010m3/s năm 2006) hàng năm vào mùa mưa nước ở thượng nguồn dồn về, kết

hợp với mưa lớn trong khu vực, sông Hồng thường gây lũ lụt vùng bãi ngoài đê trung ương ở các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc Tuy nhiên mùa mưa sông Hồng có khả năng bồi đắp phù sa tạo nên sự màu mỡ cho đất sản xuất vùng bãi của tỉnh;

Sông Lô: Sông Lô chảy qua địa phận Vĩnh Phúc dài khoảng 35km, lưu lượng nước

trung bình cả năm khoảng 1.245m3/s (cao nhất 3940m3/s năm 1990, thấp nhất 282m3/s năm 2006)

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc còn có một số con sông nhỏ khác như sông Phan, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ… các sông này ảnh hưởng ít đến chế độ thuỷ văn nhưng lại có tác dụng rất lớn về mặt thuỷ lợi phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp

Các hồ chứa nước lớn của tỉnh như Hồ Đại Lải (Phúc Yên); hồ Đầm Vạc (Vĩnh Yên); hồ Xạ Hương, hồ Làng Hà (Tam Đảo); hồ Thanh Lanh- Mỏ Quạ (Bình Xuyên); hồ Vân Trục, hồ Bò Lạc, hồ Suối Sải (Lập Thạch), hồ Đầm Rưng (Vĩnh Tường), các hồ có

Trang 35

diện tích khá lớn phân bố tương đối đều, khả năng dự trữ nước phục vụ SXNN rất hiệu quả

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a Khái quát chung

Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập từ 1.1.1997, sau khi được chia tách từ tỉnh Vĩnh Phú

cũ thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc Toàn tỉnh có 9 huyện, thành phố, thị xã Bao

gồm: Thành phố Vĩnh Yên (trung tâm tỉnh lỵ), thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch,

Sông Lô, Tam đảo, Tam Dương, Vĩnh Tường, Bình Xuyên, Yên Lạc, với 137 xã , phường,

thị trấn (113 xã, 13 phường, 11 thị trấn)

Dân số toàn tỉnh thời điểm 31/12/2008 là 1.014.488 người

Trong đó: Nam 491.841 người chiếm 49,2% tổng dân số;

Nữ 522.647 người chiếm 50,8% tổng dân số;

chiếm 22,9%, số người sống ở khu vực nông thôn 781.288 người chiếm 77,1%;

Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm thể hiện qua các năm như sau:

Trang 36

Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 2002-2008

Nguồn: Sở Lao động - Thương binh - Xã hội

Nhìn chung, kinh tế của Vĩnh Phúc kể từ khi tái lập tỉnh đến nay được chuyển dịch

mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm được thể hiện trong bảng

dưới đây:

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc các năm kể từ

sau khi tái lập tỉnh 1997

Cơ cấu kinh tế

100

19.07 63,70 17.23

100

7,08 81,84 11,08

100

8,98 80,31 10,71

Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc các năm 1997, 2000, 2007, 2008

Với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực trên đây đã giúp cho kinh tế của Vĩnh Phúc có tốc độ tăng trưởng cao so với bình quân chung của cả nước liên tục trong nhiều năm qua Tổng thu, tổng chi ngân sách trên địa bàn, thu nhập bình quân đầu người theo đó cũng liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước Số liệu cụ thể được thể hiện

ở bảng dưới đây:

Trang 37

Bảng 2.3: Tổng hợp tốc độ tăng GDP; thu, chi ngân sách; thu nhập bình quân đầu

người một số năm sau tái lập tỉnh 1997

Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc các năm 1997,2000,2007,2008

b Công nghiệp và thu hút đầu tư

Từ 1/1/ 2008, huyện Mê Linh sáp nhập về Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc đã bàn giao 290

dự án trong và ngoài khu công nghiệp trên địa bàn Mê Linh về Hà Nội (Trong đó có 231

dự án DDI với tổng vốn đầu tư 24.970 tỷ đồng và 59 dự án FDI với số vốn đầu tư 446,55 triệu USD)

Đến hết năm 2008, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 357 dự án còn hiệu lực (với 100

dự án FDI có tổng vốn đầu tư 1.986,4 triệu USD và 257 dự án DDI có tổng vốn đầu tư 15.437 tỷ đồng)

Bảng 2.4: Giá trị công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế từ năm

Trang 38

21.319.123 534.625 317.408 217.217 2.965.518 12.107 2.386.884 566.527 17.818.980

28.093.219 772.428 479.765 292.663 3.290.061 17.918 2.600.727 671.416 24.030.730

39.825.228 802.221 522.112 280.109 4.583.857 22.440 3.718.146 843.271 34.439.150

53.229.524 553.303 296.431 256.872 7.753.936 35.561 6.101.286 1.617.089 44.922.285

Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc từ 2004-2008

Năm 2008 giá trị sản xuất công nghiệp của các dự án (theo giá cố định năm 1994) trong các khu công nghiệp đạt 30.554,7 tỷ đồng, chiếm 97,23% giá trị sản xuất toàn tỉnh

Đóng góp vào xuất khẩu của các dự án đạt 334,8 triệu USD tăng 8% so với năm 2007, chiếm 97,41% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Nộp ngân sách trên địa bàn (chưa tính thuế XNK và VAT hàng nhập khẩu) đạt 6.558,2 tỷ đồng, tăng 39,6% so với cùng kì 2007,

chiếm 89,35% tổng thu ngân sách toàn tỉnh

Tổng quan tính đến hết năm 2008,Vĩnh Phúc đã có 9 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích 2.284ha Theo đề án quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh định hướng đến năm 2020 đã được Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh thông qua trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phát triển thêm 14 khu công nghiệp nữa với tổng diện tích 5.576 ha, nâng tổng số diện tích quy hoạch dự kiến phát triển KCN đến năm 2020 là 7.860ha, trong tổng số diện tích ấy chủ yếu được thu hồi từ đất SXNN

c Thương mại - dịch vụ và du lịch

Ở Vĩnh Phúc, do công nghiệp phát triển rất mạnh, chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ

cấu kinh tế toàn tỉnh (80,31% năm 2008) Mặc dù thương mại, dịch vụ, du lịch chỉ chiếm

tỷ trọng nhỏ so với cơ cấu chung (10,17% năm 2008) nhưng thương mại, dịch vụ, du lịch ở

Vĩnh Phúc phát triển khá mạnh trong những năm vừa qua

Trang 39

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, du lịch theo giá thực tế liên tục tăng từ 3.103,6 tỷ đồng năm 2004 lên 8.722,3 tỷ đồng năm 2008, nhịp độ tăng bình quân hàng năm trong 5 năm qua là 18% Các loại hình dịch vụ, thương mại, du lịch có xu thế mạnh phát triển như: Các siêu thị, các chợ trung tâm, hệ thống đại lý cấp I,II phát triển

đa dạng, các khu du lịch nổi tiếng như Tam Đảo, Đại Lải, Đầm Vạc, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên; Hệ thống sân golf;

Dịch vụ giao thông vận tải phát triển khá mạnh và đa dạng Nhiều loại hình giao thông công cộng, giao thông do tư nhân đảm nhận đã ra đời và phát triển nhanh như vận tải hàng hoá, vận tải hành khách từ tỉnh Vĩnh Phúc đi hầu khắp các tỉnh trong cả nước

Về dịch vụ thị trường tài chính, tiền tệ phát triển rất đa dạng Trên địa bàn Vĩnh Phúc có mặt hầu hết hệ thống dịch vụ như Hải quan, Bưu chính viễn thông; các Ngân hàng thương mại; Ngân hàng Chính sách xã hội; Dịch vụ bảo hiểm; Công ty Sổ số kiến thiết; Quỹ tín dụng Nhân dân ở 108/ 137 xã, phường, thị trấn Các loại hình dịch vụ tài chính, tín dụng đã huy động vốn và cho vay vốn đầu tư, phát triển kinh tế khá linh hoạt và thuận lợi

d Kinh tế đối ngoại

Kể từ khi tái lập tỉnh (1997) đến hết tháng 6 năm 2009 tỉnh Vĩnh Phúc (trừ huyện

Mê Linh đã sáp nhập về Hà Nội) đã thu hút được 105 dự án FDI của 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư với số vốn là 2,065 tỷ USD (Tiêu biểu như: Đài Loan 44 dự án, Hàn Quốc

28 dự án; Nhật Bản 15 dự án, Trung Quốc 8 dự án….).Trong tổng số 105 dự án có: 94 Dự

án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp; 6 Dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ; 5 Dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm (2004-2009) đạt 1.151 triệu USD,(bình quân 230 triệu USD/năm), các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là ôtô, xe máy, hàng may mặc, giày dép,

Trang 40

Thu ngân sách từ thuế xuất, nhập khẩu trong 5 năm (2004-2009) liên tục tăng qua các năm Cụ thể:

Bảng 2.5: Tổng hợp số thu ngân sách 5 năm(2004-2009)

từ nguồn thu thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn Vĩnh Phúc

Hệ thống các trạm điện 110/35/22 KV và các phụ tải được phân bố tương đối đều trên địa bàn tỉnh gồm 6 trạm với tổng công suất 517 MVA

Theo quy hoạch đến năm 2010 ngành điện sẽ đầu tư, xây dựng thêm 02 trạm 110/35/22 KV tại các huyện Tam Dương và Yên Lạc với công suất 80 MVA

Như vậy, đến năm 2010, tổng công suất các trạm 110/35/22 KV của tỉnh đạt 597 MVA, dự kiến đến năm 2015 là 718 MVA

Với hệ thống chuyền tải điện trên 1.000 km (đường 22 kV, 35 KV) trải đều trên toàn tỉnh, 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã được phủ điện lưới quốc gia

f Giáo dục - Y tế:

Giáo dục:

Trong những năm qua giáo dục Vĩnh Phúc chú trọng phát triển mạnh cả qui mô trường, lớp, chất lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn ở tất cả các bậc học Tính đến hết năm học 2007-2008 toàn tỉnh có 583 trường phổ thông các cấp trong và ngoài công lập, 100% các xã, phường, thị trấn đã có trường học được kiên cố hoá đảm bảo đủ lớp học theo quy định Trong 583 trường có 233 trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia

Ngày đăng: 30/06/2014, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
7. Bộ Tư Pháp (2005), Những điều cần biết về Luật Đất đai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Luật Đất đai
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
14. Trần Tử Cường (2006), Tăng cường vai trò quản lý đất đai của nhà nước trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hà Nội, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học KTQD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường vai trò quản lý đất đai của nhà nước trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Tử Cường
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
21. Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam (1998), Phát triển nông thôn theo hướng CNH- HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn theo hướng CNH- HĐH
Tác giả: Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
22. Nguyễn Đình Kháng - Nguyễn Văn Phúc (2000), Một số vấn đề lý luận của Các Mác và Lênin về địa tô ruộng đất, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận của Các Mác và Lênin về địa tô ruộng đất
Tác giả: Nguyễn Đình Kháng - Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
23. Nguyễn Đình Kháng (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đình Kháng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2008
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 25, phần II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
25. Nguyễn Xuân Nguyên (1995), Khuynh hướng phân hoá hộ nông dân trong phát triển hàng hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng phân hoá hộ nông dân trong phát triển hàng hoá
Tác giả: Nguyễn Xuân Nguyên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
26. Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp, nông thôn trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá
Tác giả: Vũ Oanh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
27. Phùng Hữu Phú - Nguyễn Viết Thông - Bùi Văn Hưng (2008), Vấn đề nông nghiệp - nông dân- nông thôn- kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp - nông dân- nông thôn- kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc
Tác giả: Phùng Hữu Phú - Nguyễn Viết Thông - Bùi Văn Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
28. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Luật Đất đai 1993, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 1993
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
29. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Đất đai năm 2003, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
31. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư 2005
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
32. Trần Trọng Sâm (2008), Vấn đề tam nông ở Trung Quốc, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tam nông ở Trung Quốc
Tác giả: Trần Trọng Sâm
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2008
37. Tạp chí Địa chính và Thanh tra Tổng cục địa chính (1997), Các văn bản pháp quy về quản lý đất đai ban hành ở Việt Nam từ 1945 đến năm 1979, Tập I, Nxb Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp quy về quản lý đất đai ban hành ở Việt Nam từ 1945 đến năm 1979
Tác giả: Tạp chí Địa chính và Thanh tra Tổng cục địa chính
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 2002-2008 - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 2002-2008 (Trang 36)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc các năm kể từ - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc các năm kể từ (Trang 36)
Bảng 2.3: Tổng hợp tốc độ tăng GDP; thu, chi ngân sách; thu nhập bình quân đầu - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.3 Tổng hợp tốc độ tăng GDP; thu, chi ngân sách; thu nhập bình quân đầu (Trang 37)
Bảng 2.5: Tổng hợp số thu ngân sách 5 năm(2004-2009) - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.5 Tổng hợp số thu ngân sách 5 năm(2004-2009) (Trang 40)
Bảng 2.7: Thống kê biến động đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 1998- - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.7 Thống kê biến động đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 1998- (Trang 45)
Bảng 2.8: Tổng hợp phân bố đất sản xuất nông nghiệp - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.8 Tổng hợp phân bố đất sản xuất nông nghiệp (Trang 46)
Bảng 2.9: Giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp theo giá thực tế - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp theo giá thực tế (Trang 47)
Bảng 2.10: Cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.10 Cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp (Trang 47)
Bảng 2.13: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số năm - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.13 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của một số năm (Trang 49)
Bảng 2.16: Sản lượng sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho thị trường - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.16 Sản lượng sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho thị trường (Trang 51)
Bảng 2.15: Số lượng gia súc, gia cầm toàn tỉnh qua các năm - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.15 Số lượng gia súc, gia cầm toàn tỉnh qua các năm (Trang 51)
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn Vĩnh Phúc từ 2002-2008  38 - luận văn  đồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh vĩnh phúc hiện nay
Bảng 2.1 Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn Vĩnh Phúc từ 2002-2008 38 (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w