Nội dung bao gồm: - Xin giao đất hoặc thuê đất đối với dự án có sử dụng đất; - Xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên nếu có k
Trang 1trường kinh tế - xã hội hiện nay ở Việt Nam
mở đầu
Trang 2
1 Tính cấp thiết của luận văn
Công tác quản lý đầu tư và xây dựng (ĐT&XD) nói chung, trong đó đặc biệt là quản lý các dự án xây dựng cơ bản (XDCB) bằng nguồn vốn nhà nước còn nhiều yếu kém, thiếu sót Đáng kể nhất là trình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài và kém hiệu quả, nợ đọng trong đầu tư tăng cao, đã trở thành vấn đề bức xúc hiện nay; các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến trong XDCB làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí lớn đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc trong xã hội
Thất thoát ngân sách nhà nước (NSNN) trong XDCB không chỉ xảy ra ở một khâu nào đó, mà nó xảy ra ở tất cả các khâu: chủ trương đầu tư, kế hoạch vốn, khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, thẩm định dự án đầu tư, đấu thầu, giám sát thi công và thanh quyết toán công trình
Do vậy thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong XDCB đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Những tin tức đó có thể chưa đầy đủ, toàn diện, nhưng đó là những địa chỉ cụ thể diễn ra tình trạng thất thoát trong XDCB Nhiều người, nhiều cấp quan tâm theo dõi với những băn khoăn suy nghĩ rất khác nhau
Sự lý giải cũng có nhiều cách, một số đại biểu Quốc hội đã có ý kiến về vốn đầu tư xây dựng hiện nay đang thất thoát tới 30,35% tổng mức đầu tư
Để góp phần luận giải vấn đề này từ góc nhìn quản lý kinh tế, luận văn đề cập
đến "Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư
xây dựng các công trình dân dụng"
2 Mục đích của luận văn
- Làm sáng tỏ những cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý các dự án đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn ngân sách của nhà nước Góp phần hoàn thiện và phát triển các nhận thức, các quan điểm về quản lý, điều hành các dự án đầu tư XDCB
- Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
văn đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý nhằm nâng cao hiệu quả dự án
Trang 3
đầu tư xây dựng các công trình dân dụng trong điều kiện và môi trường kinh tế - xã hội
hiện nay ở Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Về mặt lý luận chủ yếu tập trung nghiên cứu quy trình quản lý dự án XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Về thực tiễn chủ yếu đánh giá tổng kết cơ chế quản lý XDCB của nước ta trong thời gian qua (chủ yếu là những mặt hạn chế và thiếu sót, như thất thoát, lãng phí, dẫn đến công trình không đảm bảo chất lượng, đầu tư kém hiệu quả, phân tích để xác định nguyên nhân của tình hình trên Đây là căn cứ để đề xuất những giải pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý kinh tế nói chung và kiểm tra, kiểm soát nói riêng
- Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: tổng hợp và đánh giá thực tiễn, phân tích và hệ thống hóa
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình quản lý dự án XDCB
Chương 2: Thực trạng quản lý dự án XDCB trong thời gian qua ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng các
công trình dân dụng
Chương 1
cơ sở lý luận về quy trình quản lý dự án xây dựng cơ bản
Trang 4
1.1 Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách
1.1.1 Quy định chung về chi ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Việc lập dự toán chi XDCB phải căn cứ vào quy hoạch, chương trình dự án đầu tư
đã có quyết định của cấp có thẩm quyền Ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương trình dự án
Quản lý chi XDCB được thực hiện theo Quy chế quản lý ĐT&XD ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999, Nghị định số 12/2000/NĐ ngày 05-5-2000
và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 31-01-2003 của Chính phủ
1.1.2 Quy trình quản lý dự án đầu tư và xây dựng
1.1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư xét dưới các góc độ khác nhau Chẳng hạn:
- Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Xét về góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển KT-XH, làm tiền đề cho
Trang 5- Theo quan niệm phổ biến hiện nay, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất
có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Như vậy, dù xét theo bất kỳ góc độ nào thì một dự án đầu tư đều bao gồm 4 vấn
đề chính, đó là: mục tiêu của dự án, các kết quả, các hoạt động và các nguồn lực Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo ra các kết quả được coi
là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm
1.1.2.2 Quy trình quản lý dự án XDCB
Quy chế Quản lý ĐT&XD ban hành kèm theo Nghị định số 52/CP ngày
8-7-1999, Nghị định số 12/2000/NĐ ngày 05-5-2000 và Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 01-2003 của Chính phủ Trình tự ĐT&XD được phân chia thành ba giai đoạn chính:
31-a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư Nội dung bao gồm:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;
Trang 6
- Lập dự án đầu tư;
- Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ
chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư
b) Giai đoạn thực hiện đầu tư Nội dung bao gồm:
- Xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất);
- Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép
khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên);
- Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và
phục hồi (đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng (nếu có);
- Mua sắm thiết bị và công nghệ;
- Thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng;
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình;
- Tiến hành thi công xây lắp;
- Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng;
- Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng;
- Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm
c) Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng Nội dung bao
gồm:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;
- Bảo hành công trình;
Trang 7
- Quyết toán vốn đầu tư;
- Phê duyệt quyết toán
1.1.2.3 Phân loại dự án ĐT&XD
Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án để phân loại Dự án đầu tư trong nước được phân thành 3 nhóm: A, B và C Mỗi nhóm dự án có các đặc trưng sau:
Bảng 1.1: Phân loại dự án đầu tư ( Theo Nghị định số 52/CP ngày 8-7-1999)
TT Loại dự án đầu tư Tổng mức
vốn đầu tư
Nhóm A
1 Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh, quốc phòng, có
tính bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị- xã hội quan
trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp
mới
Không kể mức vốn
2 Các dự án: Sản xuất chất độc hại, chất nổ không phụ thuộc
vào quy mô vốn đầu tư
Không kể mức vốn
3 Các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất,
phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp
ráp ô tô) xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng
sản; các dự án giao thông; cầu, cảng biển, cảng sông, sân
bay, đường sắt, đường quốc lộ
Trên
600 tỷ đồng
4 Các dự án: Thủy lợi, giao thông (khác ở điểm I-3) cấp
thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,
sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết
bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính
Trên
400 tỷ đồng
Trang 8
viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường
giao thông nội thị các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết
được duyệt
5 Các dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới; các dự án:
công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thủy tinh, in; vườn quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản
xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông,
lâm sản
Trên
300 tỷ đồng
6 Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền
hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể
thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác
Trên
200 tỷ đồng
Nhóm B
1 Các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất,
phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp
ráp ô tô) xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng
sản; các dự án giao thông; cầu, cảng biển, cảng sông, sân
bay, đường sắt, đường quốc lộ
Từ 30-600
tỷ đồng
2 Các dự án: Thủy lợi, giao thông (khác ở điểm II-1) cấp
thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,
sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết
bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính
viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường
giao thông nội thị các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết
được duyệt
Từ 20 - 400
tỷ đồng
3 Các dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới; các dự án:
công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thủy tinh, in; vườn quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản
Từ 15 - 300
tỷ đồng
Trang 9
xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông,
lâm sản
4 Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền
hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể
thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác
Từ 7 - 200
tỷ đồng
Dự án nhóm C
1 Các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất,
phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp
ráp ô tô) xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng
sản; các dự án giao thông; cầu, cảng biển, cảng sông, sân
bay, đường sắt, đường quốc lộ
Dưới
30 tỷ đồng
2 Các dự án: Thủy lợi, giao thông (khác ở điểm III-1) cấp
thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,
sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa dược, thiết
bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính
viễn thông, BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường
giao thông nội thị các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết
được duyệt
Dưới
20 tỷ đồng
3 Các dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới; các dự án:
công nghiệp nhẹ, sành, sứ, thủy tinh, in; vườn quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết bị xây dựng, sản
xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông,
lâm sản
Dưới
15 tỷ đồng
4 Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền
hình, xây dựng dân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể
thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác
Dưới
7 tỷ đồng
1.1.3 Quản lý vốn xây dựng cơ bản
Trang 10
1.1.3.1 Quản lý vốn đối với các dự án quy hoạch
- Vốn để lập các dự án quy hoạch bao gồm vốn điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập
dự án quy hoạch
- Vốn để lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết các đô thị trung tâm, quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai được sử dụng nguồn vốn NSNN và được cân đối trong kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước
- Vốn để lập các dự án quy hoạch xây dựng chi tiết các khu chức năng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết khu công nghiệp và quy hoạch xây dựng chi tiết các khu đô thị mới, quy hoạch chi tiết chuyên ngành (du lịch, thể dục thể thao, dịch vụ, ) được sử dụng vốn huy động từ các dự án đầu tư và được tính vào giá thành thực hiện các dự án đầu tư
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có trách nhiệm quản lý và cân đối vốn hàng năm cho công tác điều tra, khảo sát, lập quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn, hướng dẫn các Bộ
và các địa phương tổ chức thực hiện
- Kế hoạch vốn hàng năm cho công tác lập quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn do địa phương lập kế hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thống nhất với Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Việc
quản lý sử dụng nguồn vốn này được phân cấp quản lý theo pháp luật về NSNN
Trang 11
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép;
- Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển;
- Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp nhà nước để đầu tư
b) Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn NSNN
- Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc ủy quyền quyết định đầu tư các
dự án thuộc nhóm A;
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý tài chính của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, Chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quyết định đầu tư các
dự án thuộc nhóm B và C
- Đối với dự án nhóm B, C, cơ quan quyết định đầu tư phải căn cứ theo quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch phát triển KT-XH của địa phương và kế hoạch vốn ngân sách đã được duyệt để quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư Cơ quan quyết định đầu tư phải bảo đảm cân đối vốn đầu tư để thực hiện dự án nhóm B không quá 4 năm và dự án nhóm C không quá 2 năm
- Tổng cục trưởng các Tổng cục trực thuộc Bộ có thể được Bộ trưởng ủy quyền
quyết định đầu tư các dự án nhóm C;
- Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 2 tỷ đồng Các tỉnh và thành phố còn lại, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 500 triệu đồng;
- Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh phân cấp
Trang 12- Người có thẩm quyền quyết định đầu tư không được sử dụng nguồn vốn sự nghiệp để đầu tư xây dựng mới Đối với việc cải tạo mở rộng, nếu sử dụng nguồn vốn sự nghiệp có mức từ 1 tỷ đồng trở lên để đầu tư phải thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư
và thực hiện đầu tư theo quy định của Quy chế quản lý ĐT&XD
1.1.3.3 Điều kiện ghi kế hoạch XDCB
Các dự án được ghi kế hoạch chuẩn bị đầu tư phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt
Các dự án được ghi kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư hoặc thực hiện đầu tư phải có quyết định đầu tư phù hợp với những quy định của Quy chế quản lý ĐT&XD ở thời điểm tháng 10 trước năm kế hoạch
Những dự án thuộc nhóm A, B nếu chưa có thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán (TKKT-TDT) được duyệt, nhưng trong quyết định đầu tư đã quy định mức vốn của từng hạng mục và có thiết kế, dự toán hạng mục thi công trong năm thì được ghi kế hoạch đầu tư; các dự án nhóm C phải có TKKT-TDT được duyệt
1.2 quản lý dự án xây dựng cơ bản theo Định mức và đơn giá
Định mức và đơn giá XDCB là những cơ sở quan trọng để quản lý vốn dự án đầu
tư Chúng là căn cứ để xây dựng dự toán, cấp phát thu hồi tạm ứng, thanh quyết toán công
trình XDCB hoàn thành
1.2.1 Định mức dự toán xây dựng cơ bản
Định mức dự toán XDCB là mức hao phí lao động trung bình tiên tiến cần thiết cho một đơn vị khối lượng công tác, một bộ phận công trình hay một nhóm công việc để
Trang 13
tác, bộ phận công trình hay nhóm công việc theo thiết kế được duyệt Định mức dự toán
có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tương ứng với mỗi tiêu thức nhất định, như: theo công dụng, theo mức độ mở rộng, theo chuyên ngành
Nội dung của định mức dự toán xây dựng là thành phần công việc, điều kiện kỹ thuật, điều kiện thi công được xác định phù hợp để thực hiện công tác xây lắp đó Định mức dự toán cho mỗi loại công việc bao gồm ba nội dung:
- Mức hao phí vật liệu, là quy định về số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ và các vật liệu luân chuyển cần cho việc thực hiện hoàn thành khối lượng công tác xây lắp Mức hao phí vật liệu đã bao gồm cả hao hụt vật liệu trong khâu vận chuyển, bảo quản và thi công trong phạm vi công trình
- Mức hao phí lao động, là quy định về sử dụng ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp và công nhân phục vụ xây lắp (kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu, bán thành phẩm trong phạm vi quy định của mặt bằng xây lắp) Mức chi phí lao động chính và phụ được quy định bằng số ngày công theo cấp bậc bình quân của công nhân trực tiếp xây lắp Định mức bao gồm cả lao động chính, phụ (kể cả công tác chuẩn bị và kết thúc, thu dọn hiện trường thi công)
- Mức hao phí máy thi công, là quy định về số ca sử dụng trực tiếp phục vụ xây lắp của tất cả các loại máy tham gia thi công khối lượng công tác xây lắp tại hiện trường Mức hao phí máy thi công chính được quy định bằng số lượng ca máy sử dụng, mức hao phí máy thi công phụ được quy định bằng tỷ lệ phần trăm so với chi phí sử dụng máy thi công chính
1.2.2 Đơn giá xây dựng cơ bản
Đơn giá XDCB là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tổng hợp quy định chi phí cần thiết hợp lý trên cơ sở tính đúng, tính đủ các hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công và các chi phí cần thiết khác để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc một kết cấu xây lắp tạo nên công trình Đơn giá XDCB bao gồm các loại:
Trang 14
- Đơn giá XDCB tổng hợp, là đơn giá do cơ quan quản lý xây dựng ở Trung ương ban hành cho các loại công tác hoặc kết cấu xây lắp, bộ phận nhà và công trình được xây dựng trên cơ sở định mức dự toán XDCB tổng hợp và điều kiện sản xuất, cung ứng vật liệu trong từng vùng lớn
- Đơn giá XDCB khu vực thống nhất, là đơn giá các công tác hoặc kết cấu xây
lắp bình quân chung của các công trình xây dựng tại các khu vực nhất định có điều kiện sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng giống nhau hoặc tương tự như nhau mà giá vật liệu đến hiện trường xây lắp chênh lệch nhau không nhiều Đơn giá này được xây dựng trên cơ sở định mức dự toán các loại công tác hoặc kết cấu xây lắp do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành
- Đơn giá XDCB cho các công trình riêng biệt, là đơn giá riêng cho từng công
trình có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện biện pháp thi công đặc biệt, cũng như điều kiện xây dựng khác biệt với điều kiện xây dựng của khu vực đơn giá thống nhất Công trình đặc biệt của cấp nào quản lý thì cấp đó ban hành đơn giá
1.2.3 Nội dung của đơn giá xây dựng cơ bản
Nội dung của đơn giá XDCB chính, là các khoản mục hình thành nên đơn giá, bao gồm: chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy thi công cho một đơn vị công tác hay kết cấu xây lắp Nội dung cụ thể của đơn giá:
- Chi phí vật liệu, là chi phí đến hiện trường xây lắp của các vật liệu chính, vật
liệu phụ, vật liệu luân chuyển, phụ tùng, bán thành phẩm cần thiết để tạo nên một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp (không bao gồm các chi phí của vật liệu để tính trong chi phí chung và chi phí sử dụng máy thi công)
- Chi phí nhân công, bao gồm: Tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định và các khoản chi phí khác theo chế độ của công nhân trực tiếp xây lắp cần thiết để hoàn thành một khối lượng công tác hoặc kết cấu xây lắp quy định trong định mức dự toán Các khoản phụ cấp lương không ổn định hoặc không thống nhất trong các vùng hoặc trong từng tỉnh, thành phố thì không tính vào đơn giá XDCB,
Trang 15máy - bảng giá ca máy
1.2.4 Dự toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Để quản lý tốt vốn XDCB đòi hỏi phải có những phương pháp quản lý khoa học Trong đó việc xây dựng giá trị dự toán là cơ sở quan trọng Thông thường người ta xây dựng một số loại dự toán sau:
- Dự toán xây lắp công trình, là chi phí cho công tác xây dựng, lắp ráp các kết cấu kiến trúc, lắp đặt máy móc thiết bị công nghệ vào công trình Giá trị dự toán xây lắp công trình bao gồm: chi phí trực tiếp, các chi phí chung và lợi nhuận định mức
- Dự toán thiết bị công nghệ, bao gồm các chi phí: Chi phí mua thiết bị công nghệ theo giá bán buôn công nghiệp đối với thiết bị sản xuất trong nước hoặc theo giá ngoại tệ chuyển đổi ra tiền Việt Nam đối với thiết bị nhập theo thiết bị đồng bộ; chi phí vận chuyển thiết bị từ nơi mua hoặc từ cảng (đối với thiết bị nhập) về đến chân công
trình, chi phí bảo quản, kiểm tra, gia công tu sửa thiết bị trước khi lắp đặt vào công trình
- Dự toán kiến thiết cơ bản khác, bao gồm: chi phí chuẩn bị đầu tư; chi phí thăm
dò, khảo sát, thiết kế công trình (kể cả chi phí lập định mức, đơn giá cho những công trình được lập đơn giá riêng); chi phí cho ban quản lý công trình; chi phí tiền lương của chuyên gia và phục vụ chuyên gia (nếu có); chi phí đền bù hoa màu, tài sản, di chuyển nhà cửa, mồ mả trên đất xây dựng; chi phí dùng đất xây dựng; chi phí dự phòng (trượt giá, phát sinh khối lượng do thay đổi thiết kế ); chi phí phá dỡ vật kiến trúc cũ, san lấp
và thu dọn mặt bằng; chi phí lán trại phục vụ cho cán bộ và công nhân viên của đơn vị thi công; chi phí chạy thử máy có tải và không có tải; chi phí về tuyển dụng lớn và di chuyển
Trang 16
máy thi công; chi phí nghiệm thu, bàn giao, khánh thành công trình; chi phí trả lãi vay ngân hàng về các khoản kiến thiết cơ bản trong quá trình đầu tư (nếu có)
1.2.5 Quản lý chi phí và thanh toán xây dựng cơ bản hoàn thành
Quản lý vốn XDCB là một công việc hết sức phức tạp vì mỗi dự án đầu tư xây dựng bao gồm nhiều công việc, hoạt động khác nhau Do vậy, phải quản lý tốt chi phí, tạm ứng và thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành, theo các nội dung sau:
1.2.5.1 Quản lý chi phí
Mỗi dự án đầu tư bao gồm nhiều công việc hoạt động khác nhau, nội dung các hoạt động lại rất đa dạng, do vậy quản lý vốn dự án ĐT&XD phải được thực hiện đối với
từng hoạt động hay từng hạng mục của dự án Quản lý chi phí theo các nội dung sau:
- Quản lý chi phí xây lắp, là kiểm tra việc áp dụng các định mức, đơn giá đảm bảo đúng các quy định về thành phần công việc, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công Đối với các quy định, hướng dẫn điều chỉnh định mức, đơn giá dự toán, các chế độ quản lý XDCB của nhà nước và địa phương, cần chú ý tới thời hạn hiệu lực của văn bản Kiểm tra các khối lượng công tác chính như: đào móng, bê tông, cốt thép, xây dựng, vì những khối lượng này chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi phí xây lắp công trình Kiểm tra để phát hiện những công việc trùng lắp, những khối lượng công tác không nằm trong thành phần chi phí trực tiếp (vì những khối lượng này đã được đưa vào tính toán trong chi phí chung, chi phí kiến thiết cơ bản khác hoặc đã nằm trong thành phần công việc định mức để lập đơn giá)
- Quản lý chi phí thiết bị, số lượng, chủng loại, công suất, các chỉ tiêu kỹ thuật phải đảm bảo đúng nội dung đầu tư thiết bị trong dự án đã được duyệt Kiểm tra về giá mua, chi phí vận chuyển, bốc dỡ bảo quản, gia công, tu sửa đảm bảo các quy định chung của nhà nước (giá thiết bị, cước phí vận tải, bốc dỡ )
- Quản lý chi phí kiến thiết cơ bản khác đối với những chi phí được quy định tính theo tỷ lệ hoặc có bảng giá cụ thể (như chi phí ban quản lý công trình, chi phí khảo sát thiết kế ) việc áp dụng các tỷ lệ định mức và đơn giá, khối lượng công việc đưa vào tính
Trang 17
toán phải đảm bảo đúng quy định của nhà nước và phù hợp với nội dung dự án đã được duyệt Đối với những chi phí kiến thiết cơ bản khác, xác định bằng cách lập dự toán riêng, việc quản lý cũng tương tự như đối với chi phí xây lắp (căn cứ vào các quy định về giá cả, chế độ chính sách của nhà nước có liên quan đến XDCB để xác định việc đưa vào tính toán chi phí đúng, sai, đủ hay thừa thiếu) Những khối lượng tăng thêm so với thiết
kế được duyệt do mọi nguyên nhân đều phải được cơ quan chủ quản đầu tư xét duyệt lại,
có sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính
1.2.5.2 Thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Trình tự thanh quyết toán vốn đầu tư XDCB được thực hiện theo các nội dung sau:
- Tạm ứng vốn phải căn cứ vào quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu hoặc chỉ định hầu, hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị trúng thầu hoặc giao thầu, giấy bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu Mức vốn tạm ứng bằng
tỷ lệ tạm ứng nhân với giá trị gói thầu nhưng nhiều nhất không vượt quá số tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng của đơn vị trúng thầu Vốn tạm ứng được hoàn trả từng lần cấp phát cho khối lượng xây lắp hoàn thành và được hoàn trả hết trong năm kế hoạch Trường hợp vốn tạm ứng chưa trả hết được chuyển sang năm sau, dự án không được ghi kế hoạch thì chủ đầu tư phải giải thích với cơ quan cấp phát vốn đầu tư về tình hình vốn chưa trả hết để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý Các trường hợp khác được xử lý theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng
- Thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành phải căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp thực hiện đã được nghiệm thu hàng tháng và có đủ các điều kiện: khối lượng nghiệm thu phải theo bản vẽ thiết kế thi công hoặc thiết kế kỹ thuật thi công được duyệt
và có trong kế hoạch đầu tư năm được giao; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu (trúng thầu hoặc chỉ định thầu); chất lượng đảm bảo yêu cầu thiết kế; áp dụng đúng định mức, đơn giá của Nhà nước (số vốn thanh toán cho khối lượng này là giá trúng thầu được lập cho khối lượng đó) Những khối lượng xây lắp thực hiện ngoài kế hoạch và thiết kế dự toán được duyệt phải được hội đồng thẩm tra xét duyệt (theo phân cấp
Trang 18
quản lý) phê chuẩn Đối với những dự án thuộc vốn NSNN thì phải gửi đến cơ quan cấp phát những tài liệu, như: biên bản nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình, bản tính toán chi tiết vật liệu, nhân công, máy thi công kèm theo bảng tổng hợp kinh phí, phiếu
giá thanh toán
- Thanh toán khối lượng thiết bị là thiết bị đã nhập kho chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp), hoặc đã lắp đặt xong và được nghiệm thu (đối với thiết bị cần lắp đặt) và
có đủ các điều kiện: danh mục thiết bị phải phù hợp với quyết định đầu tư về số lượng, chất lượng, chủng loại, tính năng, công suất, tiêu chuẩn kỹ thuật và có trong kế hoạch đầu tư được giao; có trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị cung ứng thiết bị; có các chứng từ hoặc hợp đồng, vận chuyển, bốc dỡ, bảo hiểm, thuế nhập khẩu ; đã được chủ đầu
tư nghiệm thu hoặc nhập kho ở khâu này, cán bộ quản lý phải kiểm tra về mặt pháp lý của các hợp đồng, chứng từ và giá cả thanh toán (giá mua thiết bị, giá gia công thiết bị, cước phí vận chuyển, bốc dỡ ) đảm bảo các quy định của Nhà nước, phù hợp với thời điểm thực hiện khối lượng thanh toán Đối với những dự án thuộc vốn NSNN, chủ đầu tư gửi đến cơ quan cấp phát vốn hồ sơ, tài liệu gồm: hợp đồng kinh tế, hóa đơn kèm phiếu xuất kho (đối với thiết bị mua trong nước), bộ chứng từ nhập khẩu (đối với thiết bị nhập khẩu), hóa đơn vận chuyển, chứng từ bảo hiểm (trường hợp có bảo hiểm), phiếu nhập kho (đối với thiết bị không cần lắp) hoặc phiếu giá thanh toán khối lượng thiết bị đã hoàn thành lắp đặt (đối với thiết bị cần lắp), các chứng từ khác có liên quan (thuế, phí lưu kho ), phiếu giá thanh toán
thiết bị
- Thanh toán chi phí kiến thiết cơ bản khác khi có đủ các căn cứ chứng minh công việc đã được thực hiện hoàn thành theo hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu
- Quyết toán vốn đầu tư XDCB, khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư Chậm nhất là 6 tháng sau khi dự án hoàn thành đưa vào vận hành, chủ đầu tư phải báo cáo quyết toán vốn đầu tư gửi người có thẩm quyền quyết định đầu tư Dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong báo cáo quyết toán phải phân tích rõ từng nguồn vốn Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số
Trang 19
vốn đầu tư thực hiện hàng năm, tổng mức vốn đã đầu tư thực hiện dự án, giá trị tài sản bàn giao cho sản xuất sử dụng Đối với các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phải quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao, để xác định giá trị tài sản cố định mới tăng và giá trị tài sản bàn giao Tất cả các dự án đầu tư dùng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư theo quy định Trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, tất cả các báo cáo quyết toán phải được tổ chức thẩm tra quyết toán Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định hình thức tổ chức thẩm tra quyết toán theo quy định Tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán do cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thực hiện hoặc thuê tổ chức kiểm toán Trách nhiệm thẩm tra quyết toán: đối với các dự án do cơ quan chức năng trực thuộc cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán thẩm tra thì cơ quan thẩm tra phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra; đối với các dự án do tổ chức kiểm toán thẩm tra thì tổ chức kiểm toán chịu trách nhiệm toàn bộ
về kết quả thẩm tra; cơ quan chức năng thẩm tra chịu trách nhiệm nội dung kiểm tra lại Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A của Nhà nước theo
ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ; đối với các dự án còn lại thì người có thẩm quyền quyết
định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết toán vốn đầu tư
1.3 Trách nhiệm quản lý dự án đầu tư và xây dựng
1.3.1 Các cơ quan quản lý nhà nước
1.3.1.1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của người Việt Nam ra nước ngoài;
Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư bảo đảm sự cân đối giữa đầu tư trong nước và nước ngoài trình Chính phủ quyết định;
Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài
Trang 20có liên quan của Quy chế quản lý ĐT&XD;
Tổ chức thẩm định các dự án đầu tư thuộc nhóm A trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đầu tư hoặc đồng ý để Bộ cấp đăng ký kinh doanh cho các dự án đầu
tư thuộc nhóm A không dùng vốn Nhà nước, theo dõi quá trình đầu tư các dự án đầu tư trong kế hoạch Nhà nước;
Tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch đầu tư phát triển hàng năm và
5 năm Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư thuộc các nguồn vốn do Nhà nước quản lý;
Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế đấu thầu;
Quản lý nhà nước về việc lập, thẩm tra, xét duyệt, thực hiện các dự án quy hoạch phát triển KT-XH
1.3.1.2 Bộ Xây dựng
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu các cơ chế, chính sách về quản lý xây dựng, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền ban hành;
Ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, các quy định quản lý chất lượng công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật xây dựng, định mức chi phí tư vấn ĐT&XD; thỏa thuận để các Bộ có xây dựng chuyên ngành ban hành các tiêu chuẩn, định mức, quy phạm, các quy định quản lý chất lượng công trình xây dựng kỹ thuật chuyên ngành;
Chủ trì cùng Bộ chuyên ngành kỹ thuật tổ chức thẩm định TKKT-TDT các dự án ĐT&XD thuộc nhóm A để cấp có thẩm quyền phê duyệt Thống nhất quản lý nhà nước
Trang 21Chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các
Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế quản lý ĐT&XD
1.3.1.3 Bộ Tài chính
Nghiên cứu các chính sách, chế độ về huy động các nguồn vốn đầu tư, quản lý
vốn đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc phân bổ kế hoạch cấp phát vốn đầu tư cho các Bộ, địa phương và các dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn NSNN;
Thống nhất quản lý các khoản vốn vay và viện trợ của chính phủ dành cho đầu tư phát triển;
Cấp bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp (trừ các tổ chức tín dụng) vay vốn nước ngoài theo quy định của Chính phủ;
Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với dự án của các tổ chức, đơn vị sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước; hướng dẫn, kiểm tra việc quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu
tư sử dụng vốn nhà nước và thực hiện quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước;
Hướng dẫn việc cấp vốn NSNN cho đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất ĐT&XD đối với các dự án, chương trình theo kế hoạch đầu tư và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
1.3.1.4 Ngân hàng Nhà nước
Nghiên cứu cơ chế, chính sách QLNN về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong ĐT&XD trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền;
Trang 22- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện bảo lãnh các khoản vốn vay nước ngoài của các tổ chức tín dụng để ĐT&XD
1.3.1.5 Các Bộ, ngành khác có liên quan
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng QLNN theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Các Bộ có chức năng quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành các quy phạm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế
kỹ thuật có liên quan đến xây dựng sau khi có sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng;
Các Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan về đất đai, tài nguyên, sinh học, công nghệ, môi trường, thương mại, bảo tồn, bảo tàng di tích, di sản văn hóa, cảnh quan, quốc phòng, an ninh, phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề có liên quan của dự án đầu tư trong thời hạn quy định Sau thời hạn quy định, nếu không nhận được ý kiến trả lời của các Bộ quản lý ngành có liên quan thì được xem như các Bộ, ngành và cơ quan đó đã thống nhất với văn bản đề nghị
1.3.1.6 UBND cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)
UBND cấp tỉnh, trong phạm vi chức năng, quyền hạn, thực hiện trách nhiệm quản
lý nhà nước đối với tất cả các tổ chức và cá nhân thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Trang 23
1.3.1.7 Trách nhiệm và quyền hạn của chủ đầu tư
Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, có trách nhiệm: tổ chức lập dự án đầu tư, xác định rõ nguồn vốn đầu tư, thực hiện các thủ tục về đầu tư và trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt theo quy định Tổ chức thực hiện đầu tư bao gồm: tổ chức đấu thầu để lựa chọn
nhà thầu, ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng đã ký kết với các nhà thầu theo quy
định của pháp luật Các dự án đầu tư sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau thì
chủ đầu tư có trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư Khi thay đổi chủ đầu tư thì chủ đầu tư mới được thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ công việc đầu tư của chủ đầu tư trước Chủ đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của nhà nước công bố công khai các quy định có liên quan đến công việc đầu tư, như: quy hoạch xây dựng, đất đai, tài nguyên, nguồn nước, điện, giao thông vận tải, môi trường sinh thái, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ di tích văn hóa, lịch
sử, an ninh, quốc phòng để chủ đầu tư biết và thực hiện
1.3.2 Tổ chức tư vấn và doanh nghiệp xây dựng
1.3.2.1 Tổ chức tư vấn ĐT&XD
Tổ chức tư vấn ĐT&XD là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế, có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn ĐT&XD theo quy định của pháp luật
Nội dung hoạt động tư vấn ĐT&XD: Là cung cấp thông tin về văn bản quy phạm pháp luật, về cơ chế chính sách ĐT&XD, lập các dự án đầu tư, quản lý dự án đầu
tư, thiết kế, soạn thảo hồ sơ mời thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, quản lý chi phí xây dựng, nghiệm thu công trình; tổ chức tư vấn này có thể ký hợp đồng lại với các tổ chức tư vấn ĐT&XD khác để thực hiện một phần nhiệm vụ của công tác tư vấn
Các tổ chức tư vấn ĐT&XD trách nhiệm: Đăng ký hoạt động tư vấn ĐT&XD tại
cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và
Trang 24
chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện, tính chính xác của sản phẩm và chất lượng sản phẩm tư vấn của mình; thực hiện chế độ bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn ĐT&XD theo quy định của pháp luật Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn
1.3.2.2 Doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng
Các doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm: Đăng ký hoạt động xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm, thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng của mình theo quy định tại quy chế quản lý ĐT&XD; thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi liên quan đến an toàn của các công trình lân cận và công trình đang xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn
1.3.3 Thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm
1.3.3.1 Thanh tra, kiểm tra các hoạt động ĐT&XD
Tất cả các hoạt động ĐT&XD thuộc mọi tổ chức, cá nhân có liên quan kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhà nước theo từng lĩnh vực quản lý, có phân biệt các công trình sử dụng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, của doanh nghiệp liên doanh hoặc của nhân dân tự ĐT&XD
1.3.3.2 Xử lý vi phạm
Trang 25
Tổ chức, cá nhân kể cả người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoạt động ĐT&XD trên lãnh thổ Việt Nam nếu vi phạm các quy định của Quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Đối với các cơ quan chức năng nhà nước, cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản
lý nhà nước về ĐT&XD mà không làm đầy đủ nhiệm vụ được giao hoặc tự đặt ra các thủ tục, yêu cầu ngoài qui định, trì hoãn việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ĐT&XD khi đã đủ các điều kiện quy định thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
1.4 Một số phương pháp quản lý dự án đầu tư và xây dựng
1.4.1 Phương pháp quản lý dự án đầu tư và xây dựng ở Việt Nam
1.4.1.1 Các hình thức quản lý dự án
Quy chế quản lý ĐT&XD, quy định 4 hình thức quản lý dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án, chủ nhiệm điều hành dự án, chìa khóa trao tay, tự thực hiện
dự án Nhưng thực tế tại Việt Nam thường được sử dụng phổ biến theo các hình thức sau:
- Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án: Chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trực tiếp ký hợp đồng với các tổ chức tư vấn, như: tư vấn thực hiện công tác khảo sát, thiết kế công trình, thẩm định TKKT-TDT, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tổ chức đấu thầu, giám sát thi công và các tổ chức thi công, lắp đặt thiết bị… Trong quá trình thi công tư vấn giám sát chịu trách nhiệm, quản lý quá trình thi công, bảo đảm tiến độ và giám sát chất lượng công trình Hình thức này đang được áp dụng đối với các dự án có quy mô đầu tư không lớn, thời gian đầu tư không dài Đối với các dự án có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp và thời gian xây dựng dài, thì áp dụng hình thức chủ nhiệm điều hành dự án
- Chủ nhiệm điều hành dự án: chủ đầu tư tổ chức tuyển chọn và trình cấp có thẩm quyền quyết định tổ chức tư vấn thay mình làm chủ nhiệm điều hành dự án chịu trách nhiệm giao dịch, ký kết hợp đồng với các tổ chức khảo sát, thiết kế, cung ứng vật tư, trang
Trang 26
thiết bị, xây lắp để thực hiện các nhiệm vụ của quá trình thực hiện dự án Đồng thời chịu trách nhiệm giám sát quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án Hình thức này trong thực tế
có sử dụng, nhưng không phổ biến
- Chìa khóa trao tay: Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu dự án để lựa chọn một nhà thầu (tổng thầu xây dựng) thực hiện dự án (thiết kế, mua sắm vật tư trang thiết bị xây lắp) Chủ đầu tư chỉ trình duyệt TKKT-TDT nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng Tổng thầu xây dựng có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế,
mua sắm trang thiết bị hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ
1.4.1.2 Các hình thức lựa chọn nhà thầu
Quy chế đấu thầu ban hành theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01-9-1999
và Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05-5-2000 của Chính phủ quy định:
- Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu
- Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thức này chỉ được xem xét áp dụng khi có một trong các điều kiện: chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu; các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế; do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế
- Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu
để thương thảo hợp đồng Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt, như: trường hợp bất khả kháng do thiên tai địch họa, được phép chỉ định ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời Sau đó phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt; gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh, bí mật quốc phòng do Thủ tướng Chính phủ quyết định; gói
Trang 27
thầu đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trên cơ sở báo cáo thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợ vốn và cơ quan có liên quan Báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ: lý do chỉ định thầu; kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu; giá trị và khối lượng đã được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định
thầu
- Chào hàng cạnh tranh, hình thức này được áp dụng cho những gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị dưới 2 tỷ đồng Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3 chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của bên mời thầu Việc gửi chào hàng
có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằng fax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác
1.4.2 Khái quát hoá về phương pháp quản lý dự án đầu tư và xây dựng ở một
số nước trên thế giới
Quản lý dự án ĐT&XD trên thế giới thực hiện theo các phương pháp, sau:
- Phương pháp quy ước, chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm lập
dự án, thiết kế và soạn thảo các văn bản đấu thầu, giúp cho chủ đầu tư tổ chức việc đấu thầu
và giám sát công trình thi công xây lắp của nhà thầu
- Phương pháp quản lý theo dự án, chủ đầu tư thuê một đơn vị tư vấn thay mình đứng ra giao dịch với các đơn vị thiết kế, cung ứng vật tư và đơn vị nhận thầu thi công Đơn vị tư vấn chịu trách nhiệm giám sát mọi mặt, nhưng không phải là tổng thầu xây dựng
- Phương pháp chìa khóa trao tay, chủ đầu tư chỉ quan hệ với một đơn vị tổng thầu chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình lập dự án, thiết kế đến khi thi công xây lắp hoàn chỉnh để giao cho chủ đầu tư vận hành và sử dụng
- Phương pháp tự quản, sử dụng lực lượng nội bộ trong đơn vị của chủ đầu tư tiến hành mọi việc liên quan đến xây dựng công trình, từ việc lập dự án, thiết kế đến thi
Trang 28
công rồi đưa vào sử dụng Người ta thường sử dụng phương pháp này chủ yếu trong lĩnh
vực chuyên ngành đặc biệt: dầu khí, năng lượng, nguyên tử
Kết luận chương 1: Quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB phải tuân thủ những
quy định của Luật NSNN, Quy chế quản lý ĐT&XD, Quy chế đấu thầu, các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý đầu tư của nhà nước và các Bộ chuyên ngành; thực hiện đúng định mức, đơn giá XDCB của Nhà nước và các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Đồng thời phải chịu sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng, như: Thanh tra ngành, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước (KTNN)
Quy trình quản lý dự án đầu tư là căn cứ pháp lý cụ thể để quản lý đầu tư XDCB một cách có hiệu quả Tuy nhiên, trong thực tiễn vấn đề quản lý đầu tư XDCB theo quy trình đã nêu còn nhiều yếu kém, hạn chế đến hiệu quả, hiệu lực và tính kinh tế của một trong những hoạt động cơ bản tái tạo nên tiềm lực to lớn của nền kinh tế quốc dân, đó là xây dựng cơ sở hạ tầng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chúng ta hãy nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân của yếu kém, bất cập trong quản lý đầu tư XDCB
Trang 29
Chương 2
Thực trạng cơ chế quản lý dự án đầu tư và xây dựng trong thời gian qua ở việt nam
2.1 Nhận dạng về thất thoát lãng phí
Theo Pháp lệnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí ngày 26-02-1998: "Lãng phí là
sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác vượt quá định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn chế độ nhưng chất lượng đạt thấp hơn hoặc không đúng mục tiêu đã xác định", còn vấn đề thất thoát thì chưa có tài liệu văn bản quy phạm nào đưa ra định nghĩa hay một khái niệm cụ thể Nhưng thực tế cho thấy lãng phí, thất thoát phản ánh một hiện tượng giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi cơ hội để tạo thêm cơ sở vật chất, tăng thêm năng lực cho xã hội
2.1.1 Thất thoát trong xây dựng cơ bản
Thất thoát trong XDCB là những chi phí thực tế không sử dụng hết vào công trình do bị bớt xén, cắt giảm không đúng quy định, không hợp lý hoặc do khai man, khai khống, nhưng vẫn tính vào dự án để rút vốn Biểu hiện:
- Công trình bớt xén khối lượng vật tư hoặc sử dụng vật tư sai chủng loại, kém chất lượng, như bớt xén xi măng, sắt thép không đúng quy định, thay đổi vật liệu xây dựng, trang trí bằng vật liệu có phẩm cấp, chất lượng kém hơn so với thiết kế được duyệt;
- Sử dụng tiền đền bù giải phóng mặt bằng không đúng mục đích, kê khai khống khối lượng đền bù, làm giả hồ sơ để nhận tiền đền bù;
- áp dụng định mức, đơn giá sai, kê khai nghiệm thu khống khối lượng hoặc đánh giá sai chất lượng công trình khi thẩm tra, thẩm định dẫn đến thanh toán sai so với khối lượng chất lượng thực tế;
- Thanh quyết toán khống so với giá trị thực tế thực hiện, bớt xét hoặc sử dụng chi phí xây dựng công trình không đúng quy định;
Trang 30
- Thất thoát trong XDCB chủ yếu do cấp trên của chủ đầu tư, chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu tạo nên nhằm vụ lợi cá nhân Ngoài ra do trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm thực hiện công việc của những người tham gia hoạt động xây dựng;
- Trong thực tế, lãng phí và thất thoát không phải lúc nào cũng có thể tách bạch riêng rẽ mà chúng có thể đan xen lẫn nhau, trong thất thoát có lãng phí và trong lãng phí
có thất thoát hoặc có khi cái này lại là nguyên nhân của cái kia và ngược lại
2.1.2 Lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản
Lãng phí trong đầu tư XDCB có thể hiểu là việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng không đúng mục đích, không đúng với thiết kế, chất lượng xây dựng kém phải phá đi làm lại hoặc công trình hoàn thành không sử dụng được, bỏ phí không mang lại hiệu quả, hoặc đạt hiệu quả nhưng với chi phí cao hơn chi phí đầu tư cần thiết theo tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước Biểu hiện của lãng phí trong đầu tư XDCB, như:
- Thời gian xây dựng kéo dài so với quy định, dẫn đến công trình bị thiên nhiên phá hoại, chậm đưa công trình vào khai thác sử dụng làm mất cơ hội kinh doanh, ngân sách phải chi thêm một khoản tiền bù giá nhân công, chi phí máy thi công và chênh lệch vật tư khi giá thị trường tăng quá cao, còn doanh nghiệp thì phải trả thêm lãi vay ngân hàng trong thời gian chậm thanh toán vốn;
- Thay đổi lại kết cấu do kết quả khảo sát không đảm bảo chất lượng;
- Thiết kế áp dụng hệ số an toàn quá mức cho phép;
- Chất lượng xây dựng không đảm bảo phải phá đi làm lại;
- Nhà máy xây xong không có nguyên liệu để sản xuất;
- Chợ xây xong không có người đến họp;
- Hệ thống cấp nước chỉ chú trọng đầu tư nhà máy mà thiếu mạng lưới đường ống phân phối đến các hộ tiêu thụ, nên không cung cấp được đến hộ tiêu thụ
- Công trình thủy lợi chỉ chú trọng xây dựng kênh chính, còn kênh nội đồng chưa chú trọng, nên tưới tiêu không đạt theo công suất thiết kế
Trang 31
2.1.3 Tiêu chí xác định thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản
Thất thoát, lãng phí trong XDCB được biểu thị bằng giá trị tuyệt đối và biểu thị bằng giá trị tương đối phần trăm (%)
Giá trị lãng phí được hiểu là chi phí được đầu tư xây dựng công trình Nhưng không mang lại hiệu quả do công trình hoàn thành không sử dụng được, hoặc chi phí sử dụng vào công trình bị tăng lên, hoặc phát sinh do các nguyên nhân chủ quan, làm tăng chi phí đầu tư so với quy định của Nhà nước
Giá trị thất thoát là phần chi phí không sử dụng nhưng vẫn tính vào chi phí xây dựng công trình để rút vốn đầu tư
Mức thất thoát, lãng phí được biểu thị bằng tỷ lệ % giữa giá trị lãng phí, thất thoát so với chi phí cần thiết xây dựng công trình theo quy định của nhà nước và cấp có thẩm quyền phê duyệt tổng mức đầu tư, dự toán, tổng dự toán, giá trị gói thầu hoặc giá trị quyết toán
2.2 thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ bản trong thời gian qua ở việt nam
2.2.1 Về chuẩn bị đầu tư
2.2.1.1 Xây dựng dự án khi không có quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch không cao
Quy hoạch là sự sắp xếp, bố trí hợp lý, cân đối giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất xã hội, phân công lại lao động xã hội hợp lý trên các vùng lãnh thổ đất nước Do vậy, quy hoạch phải đi trước một bước
Trong những năm qua, công tác quy hoạch đã được chú ý đến quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch phát triển các vùng kinh tế Nhưng công tác quy hoạch còn tồn tại:
Trang 32
- Quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước để làm căn cứ xác định địa điểm xây dựng cho dự án đầu tư XDCB
- Quy hoạch còn thiếu đồng bộ giữa các loại quy hoạch tổng thể phát triển
KT-XH vùng lãnh thổ với quy hoạch phát triển ngành, giữa các quy hoạch lãnh thổ với nhau
và các quy hoạch ngành với nhau, giữa quy hoạch phát triển KT-XH với quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng và quy hoạch chi tiết khác, như: Nhà máy đường Linh Cảm (Hà Tĩnh), nhà máy đường (Quảng Bình) và nhà máy đường (Thừa Thiên - Huế) xây dựng xong không có nguyên liệu để hoạt động phải chuyển đi tỉnh khác gây lãng phí
- Quá trình đầu tư nhiều dự án xây dựng khi chưa có quy hoạch, hoặc quy hoạch với chất lượng thấp như: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thời gian đầu quy hoạch bố trí ở khu vực Vũng Tàu, sau Chính phủ quyết định xây dựng ở Dung Quất Quảng Ngãi; các công sở, công trình văn hóa, xã hội (ở địa phương) thường không có quy hoạch tổng thể,
mà dự án được xây dựng theo ý tưởng của người đứng đầu
- Chất lượng công tác quy hoạch còn thấp, thiếu phối hợp giữa các ngành, như làm đường giao thông thiếu kết hợp với hệ thống lưới điện, cấp nước, thoát nước cho nên công việc chồng chéo, phá đi làm lại gây lãng phí thất thoát hàng trăm tỷ đồng NSNN, song chậm được khắc phục
2.2.1.2 Chủ trương đầu tư hiệu quả không cao
Hầu hết các dự án được đầu tư đều xuất phát từ nhu cầu thực tế và trên cơ sở quy hoạch chung Nhưng thực tế chủ trương đầu tư còn tồn tại:
- Đầu tư khi một số dự án không có quy hoạch, như: năm 2003 Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đầu tư xây dựng 18 dự án không có quy hoạch và kế hoạch 5 năm (2001-2005), với số vốn Bộ đầu tư 904,5 tỷ đồng Nhưng đến thời điểm kiểm toán ( tháng 10-2004) Bộ chưa có bằng chứng để chứng minh sự cấp thiết phải đầu tư các dự án đó;
- Đầu tư khi chất lượng quy hoạch chưa hợp lý, như: khảo sát không kỹ, lựa chọn địa điểm chưa hợp lý, lựa chọn công nghệ chưa thích hợp, đầu tư không đồng bộ giữa các
Trang 33- Chủ trương đầu tư một số dự án không đồng bộ, dẫn đến nhiều tuyến đường vừa làm xong đã đào lên, lấp xuống, nhà máy xây xong không có nguyên liệu, chợ xây xong không có người họp, gây tâm lý không tốt trong nhân dân và lãng phí vốn đầu tư
- Quan điểm của người có thẩm quyền chưa đủ tầm, còn biểu hiện cục bộ, cá nhân Việc bàn bạc cân nhắc, tính toán các khía cạnh về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, môi trường đầu tư còn hời hợt, thiếu cụ thể;
- Có không ít trường hợp khi quyết định về chủ trương đầu tư còn nặng về phong trào chạy theo thành tích, theo hình thức
Những tồn tại trên dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao, gây lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong đầu tư XDCB, điển hình như: "đánh bắt cá xa bờ; trên 50 nhà máy xi măng
lò đứng, 43 nhà máy đường thiết bị Trung Quốc giá thành cao, chất lượng kém nên sản xuất thua lỗ Trước tình hình đó năm 2004 Chính phủ quyết định Kiểm toán Nhà nước kiểm toán 35 nhà máy đường Qua kiểm toán cho thấy các nhà máy đường nhập thiết bị
cũ, nhưng giá quá cao; có những nhà máy xây dựng không có nguyên liệu Kết quả các nhà máy càng hoạt động, thì số lỗ càng tăng, buộc NSNN phải tham gia xử lý như miễn thuế cho các doanh nghiệp Tính đến thời điểm kiểm toán ( tháng 11-2004) số liệu thống
kê chưa đầy đủ, thì mỗi nhà máy đường lỗ khoảng 100 đến 200 tỷ đồng
2.2.2 Thực hiện đầu tư còn yếu kém
2.2.2.1 Khâu phê duyệt TKKT-TDT
Phê duyệt thiết kế kỹ thuật là xem xét tính hợp lý của hồ sơ thiết kế công trình
về kết cấu và các khía cạnh khác liên quan đến công trình Còn phê duyệt tổng dự toán là
Trang 34- Các dự án ở xa trung tâm các đô thị, đi lại không thuận tiện thì rất phổ biến trình trạng người thiết kế chỉ ngồi ở xưởng thiết kế mà không biết công trình thiết kế nằm
ở điểm nào và người làm dự toán lại càng thiếu thực tế, mặc dù tất cả các khoản tiền quy định cho từng phần việc trên đều thanh toán đủ 100% nhưng khi có những phát sinh do sai lệch thiết kế và thực tế thì bên B lại phải đi tìm cách giải quyết Quy chế quản lý ĐT&XD hiện nay của ta chưa quy định cụ thể xử phạt, hay bồi thường vật chất cho chủ đầu tư khi kết quả tư vấn còn nhiều sai sót làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình và giá trị thanh quyết toán công trình;
- Tư vấn thiết kế tính khối lượng xây lắp không chính xác, cho nên phải bổ sung, điều chỉnh tổng dự toán, như: trạm bơm Hà Thanh (Thái Bình) tổng mức đầu tư được duyệt 18 tỷ đồng thực hiện 19,99 tỷ đồng vượt 11%; thủy lợi Tràng Vinh (Quảng Ninh) tổng mức đầu tư được duyệt 114,6 tỷ đồng thực hiện 196 tỷ đồng vượt 71%; trạm bơm La Tiến (Bắc Ninh) tổng mức đầu tư được duyệt 15,6 tỷ đồng thực hiện 19 tỷ đồng vượt 22% [5, tr 5] Thậm chí có những dự án vừa thiết kế vừa thi công, đến giai đoạn cuối hoặc khi xong công trình mới trình duyệt hoặc xin điều chỉnh tổng dự toán nhằm hợp thức hóa các chi phí đã phát sinh Điển hình như dự án tu bổ tôn tạo Nhà hát lớn thành phố Hà Nội đã hoàn thành từ năm 1997 nhưng tổng dự toán vẫn chưa được phê duyệt; Bộ Văn hóa Thông tin vẫn chưa giải trình được cơ sở xác định giá trị tổng dự toán và số liệu không sát với thực tế [6, tr 4]
- Chế độ nhà nước quy định về chi phí tư vấn (khảo sát, thiết kế) được tính theo
tỷ lệ thuận trên giá trị công trình Vì vậy, trong thực tế các nhà thiết kế có xu hướng tăng
Trang 35
quy mô và hệ số an toàn của công trình cao hơn mức bình thường để hưởng lợi tiền thiết
kế phí và nhà thầu bớt xén khối lượng trong quá trình thi công gây lãng phí và thất thoát vốn đầu tư
- Quy trình khảo sát lập dự án đầu tư còn nhiều hạng mục chỉ tạm tính, nhằm mục đích làm cho tổng mức đầu tư thấp để dễ trình duyệt Trong quá trình thi công sẽ
tìm cách điều chỉnh tổng mức đầu tư, như: "nhà số 5 Lê Duẩn từ 142 tỷ đồng lên 250
tỷ đồng vượt 76%; kho lưu trữ đội cấn Hà Nội từ 23,3 tỷ đồng lên 74,6 tỷ đồng vượt 220%; hạng mục điều hòa không khí của dự án cải tạo nhà trưng bày A1 triển lãm Giảng Võ Hà Nội có tổng dự toán được phê duyệt cao hơn tổng mức đầu tư
49 triệu đồng" [18, tr 143];
- Khi lập và phê duyệt tổng dự toán, dự toán không theo sát các định mức kinh tế
kỹ thuật của Nhà nước đã ban hành, không sát với thực tế từng khu vực, thoát ly giá cả thực tế trên thị trường trong từng thời kỳ dẫn đến phê duyệt tổng mức đầu tư quá chênh lệch so với thực tế Điển hình như:
Bảng 2.1: Tổng mức đầu tư không sát với thực tế
Nguồn: Tổng cục Đầu tư và Phát triển năm 1999
- Thiết kế của một số dự án không đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật, nên chất lượng công trình không đảm bảo như dự án Nhà hát chèo Kim Mã - Hà Nội, xây dựng từ tháng
3 năm 1985 đến tháng 9 năm 1992 mới hoàn thành Nhưng năm 1989 đã phát hiện công
Trang 36
trình có sự cố bị nứt, do thiết kế có sai sót Trung tâm Kiểm định Chất lượng Xây dựng
đã kết luận có một số sai sót trong thiết kế và ngày 9-7-1996 Bộ Văn hóa đã có Quyết định số 1519/QĐ-KH ngừng hoạt động tại nhà Hát chèo để lập phương án sửa chữa cải tạo Nhưng đến tháng 12/2004 công trình cải tạo vẫn chưa xong, giá trị cải tạo gấp nhiều lần so với giá trị đầu tư ban đầu, đó là thất thoát, lãng phí và hiệu quả đầu tư của dự án không cao
2.2.2.2 Khâu kế hoạch hóa
Cơ chế điều hành kế hoạch đầu tư trong thời gian qua, đã từng bước thay đổi cùng với công tác cải cách nền hành chính nhà nước Tuy nhiên, công tác kế hoạch còn tồn tại:
- Thời gian thi công kéo dài, do bố trí kế hoạch không sát với tiến độ thực hiện
dự án, như: "khối Bộ ngành Trung ương năm 2002 có 231 dự án, năm 2003 có 130 dự án; khối địa phương quản lý năm 2003 có 1.176 dự án, trong đó 142 dự án nhóm B và 1.034
dự án nhóm C" [32, tr 8]
- Nợ đọng XDCB ngày càng tăng do bố trí kế hoạch không hợp lý, như: "năm
2002 khối địa phương 7.444 tỷ đồng; năm 2003 khối địa phương 6,099 tỷ đồng, khối Trung ương 5.000 tỷ đồng" [7, tr 5]
- Bố trí kế hoạch đầu tư khi dự án thiếu thủ tục quy định của Nhà nước, như:
"khối Trung ương năm 2001 có 357 dự án; năm 2002 có 598 dự án; năm 2003 có 366 dự án; năm 2004 có 151 dự án, trong đó 19 dự án có quyết định đầu tư sau 31-10-2003, 126
dự án chưa có TKKT-TDT và 6 dự án bố trí vốn không đúng cơ cấu" [1, tr 24]
- Bố trí kế hoạch còn dàn trải, thiếu tập trung, ít chú ý đến hiệu quả kinh tế, như:
"năm 2003 có 10.600 dự án, năm 2004 có 12.355 dự án Số lượng dự án năm sau nhiều hơn năm trước, nhưng kế hoạch hàng năm bố trí cho các dự án lại thấp Ví dụ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT): kế hoạch năm 2004 Chính phủ giao là 1.579 tỷ đồng, nhưng Bộ chỉ bố trí cho các công trình đầu tư kéo dài là 178,11 tỷ đồng bằng 11,2% và chỉ bằng 10,43% so với nhu cầu vốn để hoàn thành công trình trong năm
Trang 37
2002 Bố trí vốn không đạt theo tỷ lệ quy định: dự án nhóm B vốn đầu tư hàng năm phải
bố trí tối thiểu là 25%, nhưng năm 2003 Bộ chỉ bố trí được 8,39% đối với công trình chuyển tiếp và 7,29% đối với công trình khởi công mới Theo cách bố trí như trên thì dự
án nhóm B phải 10 đến 12 năm mới hoàn thành Thực tế năm 2003 có 40 dự án nhóm B quá từ 4 đến 21 năm, trong đó 2 dự án giáo dục đào tạo quá từ 6 đến 21 năm, như bảng 2.2 và bảng 2.3
Bảng 2.2: Các dự án nhóm C thi công kéo dài đến 31/12/2003
Nhu cầu vốn năm
2004 trđ
Kế hoạch năm 2004 trđ
So sánh kế hoạch/nhu cầu
Nguồn: Kiểm toán tại Bộ NN&PTNT
Bảng 2.3: Các dự án nhóm B thi công kéo dài đến 31/12/2003
Nhu cầu vốn năm
2004 trđ
Kế hoạch năm 2004 trđ
So sanh kế hoạch/nhu cầu
4 năm 12 1.012.069 477.605 18.100 3,78%
Trang 38Nguồn: Kiểm toán tại Bộ NN&PTNT
Tồn tại trong công tác kế hoạch, dẫn đến chi phí quản lý và giá trị công trình tăng lên Sản xuất, kinh doanh của nhà thầu gặp nhiều khó khăn do bị Nhà nước chiếm dụng vốn, trong khi phải trả lãi vay ngân hàng Mặt khác công trình kém chất lượng, do thi công kéo dài bị thời tiết phá hoại nên tuổi thọ công trình giảm Đây là sự lãng phí khá lớn
cả về trực tiếp và gián tiếp của cả xã hội
2.2.2.3 Công tác chọn thầu còn nhiều tiêu cực
Đấu thầu xây dựng là hình thức lựa chọn nhà thầu theo nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh Đây là phương thức giao thầu tiến bộ thay thế cho phương thức giao thầu theo chỉ tiêu kế hoạch của cơ chế cũ Thực tế thời gian qua đấu thầu xây dựng còn bộc
lộ không ít những hiện tượng tiêu cực, như:
Trang 39
- Tình trạng không tuân thủ quy chế đấu thầu Nhiều công trình phải đấu thầu, nhưng chủ đầu tư lại thực hiện chỉ định thầu, hoặc chia dự án thành nhiều gói thầu nhỏ để đấu thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh, như bảng 2.4:
Bảng 2.4: Số liệu minh họa về công tác đấu thầu
Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu hạn chế
Chỉ định thầu và chào hàng cạnh tranh Tổng số
Năm 1998
- Số gói thầu
- Tỷ lệ (%)
1.222 26.7%
1.536 33.5%
1.819 39.8%
4.557 100%
Năm 1999
- Số gói thầu
- Tỷ lệ (%)
1.887 19.6%
2.947 30.6%
4.789 49.8%
9.623 100%
Năm 2000
- Số gói thầu
- Tỷ lệ (%)
1.302 12.9%
2.600 25.5%
6.227 61.7%
10.179 100%
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2001
Qua bảng trên cho ta thấy các cơ quan quản lý nhà nước cần phải xem xét lại các quy định của cơ chế đấu thầu, chỉ định thầu và chế tài để xử lý những hành vi chỉ định thầu không đúng quy định, nhằm đưa quy chế đấu thầu đi vào đời sống thực tế
- Tình trạng bỏ thầu giá thấp để được trúng thầu: thực tế những năm qua có không ít hiện tượng nhiều nhà thầu đã bằng mọi cách hạ thấp giá thầu để được trúng thầu, sau đó trong quá trình thi công đã tìm mọi cách để tính phát sinh khối lượng, cắt xén vật
tư, mua vật liệu không đúng tiêu chuẩn và quy phạm quy định để giảm giá, làm cho chất lượng công trình không đảm bảo Giá trúng thầu thấp, nhiều công trình phải kéo dài thời
Trang 40
gian thi công như: nhà lớp học Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Bộ Công nghiệp) tính đến tháng 6/2004 đã quá 24 tháng, nhưng công trình chỉ dừng lại ở phần xây thô; trụ sở nhà làm việc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đến tháng 9/2004 quá 48 tháng công trình chưa hoàn thành… Chúng tôi xin minh họa giá trị trúng thầu thấp tại bảng 2.5:
Bảng 2.5: Giá trị trúng thầu thấp hơn so với giá gói thầu
ĐVT: tỷ đồng
Tên gói thầu
Giá gói thầu
Giá trúng thầu
Nhà thầu trúng thầu
Giá trị giảm so với giá trúng thầu
Tỷ lệ % giá trúng thầu/
giá gói thầu