1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

131 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Và Phát Thải Ròng Bằng "0" Ở Một Số Nước Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thùy Linh
Người hướng dẫn TS. Phạm Hương Giang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 24,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn: “Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bàiPhân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIÊN KINH TẾ

TUẦN HOÀN VÀ PHÁT THÁI RÒNG BẰNG "0" Ở

MỌT SÓ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

NGANH: KINH TE QUOC TE

NGUYEN THUY LINH

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

seek,

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIÊN KINH TẾ

TUẦN HOÀN VÀ PHÁT THÁI RÒNG BẰNG "0" Ở

MỌT SÓ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn: “Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và

bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là trung thực và hoàn toàn không sao chép hoặc sử

dụng kết quả của đề tài nghiên cứu nào tương tự Tắt cả những sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho bài luận văn đều được trính dẫn đầy đủ và ghi nguồn gốc rõ rằng

và được phép công bố

Hạc viên

Nguyễn Thuỳ Linh

Trang 4

LOLCAM ON

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại Thương cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã tạo điều kiện, trang bị kiến thức cho tôi

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhát, tôi xin trân trọng cảm ơn TS

Pham Huong Giang đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn

thiện đề tài

Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không

thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thuỳ Linh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG VÀ BIÊU ĐÔ

TOM TAT KET QUÁ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

PHÀN MỞ ĐÀU

CHƯƠNG 1: CO SO LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHAT TRIEN KINH TE TUẦN HOÀN VÀ PHÁT THÁI CARBON

1.1 Lý thuyết chung về kinh tế tuần hoàn

Khái niệm kinh tế tuần hoàn

Các nguyên tắc cơ bản của kinh

1.1.3 Sự cần thiết của việc phát triển kinh tế tuần hoàn

Nam

1.2 Khái quát

1.2.1 Khái niệm về Phát thải ròng bằng “0” (Net-Zero)

1.2.2 Ý nghĩa của lượng phát thải ròng bằng “0” (Net - Zero)

mục tiêu phát thải ròng bằng “0”

1.3.1 Khái niệm, đặc điễm, các nội dung chính trong chiến lượt

1.3.2 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”

2.1.2 Triển khai mục tiêu phát thải ròng bằng “0” ở Nhật Bản

2.2 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát th:

2.2.2 Triển khai mục tiêu phát thải ròng bằng “0” ở Hàn Quốc

2.3 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon ở Trung Quốc

49

Trang 6

2.4 Đánh giá chung về chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát th:

carbon của ba quốc gia

2.4.1 Các thành công đạt được sau khi triển khai kinh tế tuần hoàn hướng tới

mục tiêu phát thải ròng bằng “0” tại ba quốc gia 64

inh hướng phát triển kinh tế tuần hoàn và mục tiêu phát thải ròng bằng

3.2.1 Các giải pháp đề xuất đối với các cơ quan Nhà nước

3.2.2 Các kiến nghị đối với tổ chitc, doanh ng

3.2.3 Các khuyến nghị đối với người dân

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CAC HINH, BANG VA BIEU DO

Hình 2.1 Bảy trụ cột chính của SMCS -212.22 rrrrrree 31

Hình 2.2 Tầm nhìn Kinh tế tuần hoàn đến năm 2020 —

Hình 2.3 Khung pháp lý và các công cụ chính sách của Chiến lược tăng trưởng xanh

Hình 2.4 Các quy định về xây dựng xã hội tuần hoàn tài nguyên trong FARC 41

Hình 2.5 Mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản concn) Hình 2.6 Mô hình kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc see 80

Bảng 2.2 Thống kê lượng giảm phát thải ở của 7 ngành năm 2020 tại Hàn Quốc 48

Bảng 2.3 So sánh chung về kinh tế tuần hoàn giữa ba quốc gia „86

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TÁT

BVMT Bảo vệ môi trường

CDM Clean development mechanism_| Cơ chế phát triên sạch

EIP Eco-industrial Parks Khu công nghiệp sinh thái

EMF Ellen Macarthur Foundation _ | Quỹ Ellen Macarthur

ETS Emission Trading Scheme Hệ thống giao dịch phát thải

EU European Union Liên minh châu Âu

FARC Framework Act on Resource | Luật tuần hoàn tài nguyên

Circulation FIT Feed-in Tariff Biểu giá điện

GDP Gross Domestic Product Tông sản phâm quốc nội

GEF Global Environment Facility | Quỷ môi trường toàn câu

GHG Greenhouse gas Khí nhà kính

HDI Human Development Index [ Chỉ số Phát triên Con người

IEA International Energy Agency | Co quan ning long quéc té

IPCC Intergovernmental Panel on | Ủy ban Quốc tế về Biển đôi Khí

Climate Change hậu

KTTH Kinh tế tuần hoàn

LCS Low-carbon Strategy Trung tâm Chiến lược Xã hội

Carbon thấp

METI Ministry of Economy, Trade | Bộ Kinh tế, thương mại và Công

and Industry nghiệp MIT Ministry of Industry and Bộ Công nghiệp và Công nghệ

Information Technology thong tin MST Ministry of Science and Bộ Khoa học và Công nghệ

technology NDC Nationally determined Đồng góp do quốc gia tự quyết

contribution định NDEIPs National Demonstration Eco- | Khu công nghiệp sinh thái trình industrial Parks diễn quốc gia

Trang 9

NDRC National Development and

Reform Commission

Uy ban Cai cach va Phat trién

Quéc gia

OECD Organization for Economic Tô chức Hợp tác và Kinh tế phát

Cooperation and Development | trién RPPP Relative purchasing power Chương trình Công nhận Tài

parity nguyên Có thê Tái chế

RPS Renewable Portfolio Standard_ | Tiêu chuân tỉ lệ năng lượng tái tạo SMCS Sound Material-Cycle Society | Chu trình vật liệu

TMS Target Management System | Hé thống quản lý mục tiêu

TTX Tăng trưởng xanh

UNEP Unitd Nations Environment | Chương trình Môi trường Liên

Programme hợp quốc

UNIDO United Nations Industrial Tô chức Phát triên Công nghiệp

Development Organization Liên hợp quốc

WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thể giới

3R Reduction, Reuse, Recycle Giảm sử dụng, tái sử dụng, tái chế

Trang 10

TOM TAT KET QUA NGHIEN CUU LUAN VAN

Mô hình kinh tế tuần hoàn đã và đang là con đường đúng đắn cho các quốc gia trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng nhằm khắc phục các khó khăn từ việc khan hiếm tài nguyên ngày càng gia tăng cũng như việc xử lí các chất thải trong sản xuất

và sinh hoạt ra môi trường Bên cạnh đó, phát thải ròng bằng “0 cũng đang là một trong

những cam kết hàng đầu của các nước trong việc ứng phó với các tác động tiêu cực từ môi trường, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh - tăng trưởng bền vững Đề thực hiện được tắt cả những điều này, mỗi quốc gia cần xây dựng các chính sách, chiến lược phù hợp với trình độ phát triển của mình đề triển khai lộ trình chuyền đôi sang nên kinh tế

tuần hoàn và thực hiện các chương trình hành động giảm phát thai carbon

Luận văn “Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng

"0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã được thực hiện để nghiên

cứu các vấn đề trên Trong luận văn, tác giả đã dựa vào các cơ sở lý luận của các công trình nghiên cứu trước đó đề tông hợp các khái niệm, lịch sử phát triển, nguyên tắc và ý nghĩa của phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon Sau đó, tác giả lựa chọn ba quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc làm ba nước châu Á điền hình đã có những thành công nhất định để phân tích thực trạng các chiến lược mà các nước này đưa ra, nhằm chỉ ra được những điểm nổi bật trong các chính sách, cũng như các kết quả tích cực mà chính sách này mang lại Kết quả nghiên cứu đã cho thấy được mỗi quốc gia đều

có những chiến lược mang tính đặc trưng của mình, điển hình như Nhật Bản với các

chiến lược gắn liền với tái chế và năng lượng tái tạo, Hàn Quốc với các quy định xử lí chất thải và tuần hoàn tài nguyên, hay Trung Quốc với các dự án thí điểm khu công nghiệp sinh thái từ cấp địa phương tới cấp quốc gia Còn đối với các hành động giảm

phát thải khí nhà kính của các nước này tuy chưa thực sự đóng góp nhiều vào mục tiêu chung là giữ mức tăng nhiệt độ ở 1,5 độ C trên toàn cầu nhưng cũng đã thẻ hiện tham

vọng của họ trong thực hiện cam kết hướng tới mục tiêu net-zero

Thông qua phân tích thực trạng và dựa trên kinh nghiệm triển khai tại ba quốc gia, tác giả đã đề xuất các giải pháp, khuyến nghị đối với cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân nhằm góp phần phát triển kinh tế tuần hoàn và triển khai mục tiêu phát thải ròng bằng “0° tại Việt Nam

Trang 11

PHAN MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, mô hình kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu hướng tắt yếu

để các quốc gia quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, ứng phó với các tác nhân tiêu cực gây ảnh hưởng đến môi trường, qua đó hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) ước tính vào năm 2015 rằng, đến năm 2030 nếu tiếp tục phát triển với mô hình kinh tế tuyến tính thì nhu cầu sử dụng tài nguyên của thể giới sẽ ting gap 3 lan so với hiện nay, vượt ngoài khả năng cung ứng

của Trái đất, lượng chất thải sẽ vượt giới hạn chịu đựng của môi trường Vì thế, việc

chuyển đồi từ kinh tế tuyến tính truyền thống sang kính tế tuần hoàn trở thành xu thế tất yếu, mở ra cơ hội phát triển mới cho kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng,

mang lại lợi ích cho các quốc gia và doanh nghiệp trong và ngoài nước

Tại Việt Nam, Nghị quyết Đại hội lần thứ 13 của Đảng đã xác định việc nghiên

cứu xây dựng kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng phát triển đất nước giai

đoạn 2021 - 2030 để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững Ngày 7/6/2022, Thủ

tướng Chính phủ cũng đã ban hành quyết đinh phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế tuần

hoàn ở Việt Nam, trong đó nêu rõ quan điểm mục tiêu cũng như đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể Trong số các biện pháp được đưa ra, thì việc giảm phát thải khí nha

kính theo mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 đang là một trong những vấn

đề được quan tâm hàng đầu TS Trương An Hà, chuyên gia nghiên cứu Tổ chức Sáng,

kiến về Chuyển dịch Năng lượng Việt Nam (VIETSE) nhận định: “Với việc xây dựng

và vận hành thị trường carbon trong nước, Việt Nam sẽ nắm bắt được những cơ hội

trong việc giảm phát thải carbon một cách hiệu quả Hơn nữa, thị trường carbon cỏn là

một cơ chế tạo nguồn lực đề thúc đây phát triển và ứng dụng công nghệ phát thải thấp, hướng đến nền kinh tế trung hòa carbon.”

Tuy nhiên, việc triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn cũng như nghiên cứu giảm phát thải ròng trên thực tế hiện bước đầu đang gặp khó khăn do thiếu các cơ chế chính sách đồng bộ, thống nhất và công nghệ tái chế, tái sử dụng còn hạn chế Hơn nữa, nhiều

nhà sản xuất và người tiêu dùng vẫn chưa có tư duy hành động thân thiện với môi trường

Vì vậy, cần có sự cải thiện từ nhiều phía, trong đó việc học hỏi các mô hình đã phát triển

Trang 12

thành công ở nước ngoài là điều hoàn toàn cần thiết Trên thtưế giới đã có nhiều quốc

gia dat được thành công hất định với mô hình này như Hà Lan, Thuy Điền, Italia, Pháp,

Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trong số các nước này, Bài nghiên cứu đã quyết định chọn Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản là ba quốc gia châu Á làm đối tượng nghiên cứu về mô hình kinh tế tuần hoàn, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cũng như

giải pháp để kế thừa, triển khai, áp dụng tại Việt Nam

2 Tổng quan nghiên cứu

Khái niệm Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được sử dụng chính thức đầu tiên bởi Peace

và Turner trong cuốn sách “Kinh tế, tài nguyên và môi trường” xuất bản năm 1990 Nó

được dùng để chỉ mô hình kinh tế mới dựa trên nguyên lý cơ bản “mọi thứ đều là đầu

vào đối với thứ khác”, hoàn toàn không giống với cách nhìn của nền kinh tế tuyến tính truyền thống

Tính đến thời điểm hiện tại, trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về

mô hình kinh tế tuần hoàn cũng như các chiến lược phát thải ròng bằng “0”, trong đó có thể kể tới:

- Rào cản và động lực đối với nền Kinh tế tuần hoàn - Tổng quan tài liệu nghiên cứu,

bởi Freek van Eijk (2015)

~ Nghiên cứu về chính sách phát triển Kinh tế tuần hoàn trên thế giới, bởi Kris Hartley,

Ralf van Santen và Julian Kirchherr (2020)

- Dự án Kinh nghiệm thực hiện Kinh tế tuần hoàn bên ngoài Châu Au thuộc Chương

trình nghiên cứu và đổi mới tầm nhìn 2020 của Liên minh Châu Âu, bởi Renault và cộng

sự (2019)

- Chiến lược Kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon bằng “0°: nghiên cứu so sánh giữa

Nhật Bản và Hàn Quốc, bởi Manuel Herrador, Wil de Jong, Kiyokazu Nasu, Lorenz Granrath (2022)

Ở Việt Nam, khái

cách đây 20 năm với những định danh khác Đó là mô hình VAC (Vườn ~ Ao~ Chuông), một mô hình chúng ta áp dụng khá thành công Ngoài ra, các khái niệm "khu công

lệm liên quan đến mô hình Kinh tế tuần hoàn đã xuất hiện từ

Trang 13

nghiệp sinh thái — ecological industrial zone”, "sản xuất sạch hơn ~ Cleaner production”,

“Không phát thải - zero emission”, tái chế, tái sử dụng, tái sản xuất một phần của Kinh

tế tuần hoàn - cũng được đề cập nhiều trong thời gian qua

Thời gian gần đây, các khái niệm này bắt đầu được thể hiện qua các chính sách của Đảng và nhà nước liên quan đến công tác bảo vệ môi trường Đặc biệt, nội dung về

nghiên cứu xây dựng kinh tế tuần hoàn được Đại hội XIII của Đảng xác định là một

trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững Mô hình đang được các Trường/Viện nghiên cứu triển khai

nghiên cứu, áp dụng như Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ

Tài nguyên và Môi trường), Viện Môi trường và Tài nguyên (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Bên cạnh đó, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm

2050 tại Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 do Phó Thủ tướng Lê Văn Thành

ký cũng đã vừa được ban hành Mục tiêu tông quát của Chiến lược là chủ động thích ứng hiệu quả, giảm mức độ dễ bị tồn thương, tồn thất và thiệt hại do biến đồi khí hậu;

giảm phát thải khí nhà kính theo mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đóng

góp tích cực và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế trong bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất; tận dụng cơ hội từ ứng phó biến đổi khí hậu để chuyên dịch mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu và cạnh tranh của nền kinh tế

3 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung của đề tài: Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và

phát thải ròng bằng “0° tại 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc; tìm ra điểm nỗi

bật và phủ hợp với Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để áp dụng phát

triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Thứ nhát, hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế tuần hoàn và phát thải carbon

- Thứ hai, phân tích thực trạng chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và các hành động hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” ở ba quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc

và Trung Quốc

Trang 14

- Thứ ba, dựa trên kinh nghiệm của các nước đề đề xuất các giải pháp nhằm góp phan phat trién kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải carbon tại Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng “0° ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc

- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu ở 3 quốc gia: Nhật Bản, Han

Quốc, Trung Quốc

6 Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích

Trong quá trình thực hiện, đề tài sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ

yếu sau:

~ Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Phương pháp này được sử dụng nhằm rà soát

các tài liệu, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới kinh tế tuần hoàn Cụ thể, các tài liệu được đưa vào nghiên cứu tại bàn bao gồm các bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các báo cáo tông kết của các đề tài nghiên cứu, các báo

cáo quốc gia, khu vực về mô hình kinh tế tuần hoàn, các chiến lược về phát thải ròng; các mô hình đã thành công tại các quốc gia trên thế giới

~ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Phương pháp này được sử dùng nhằm

tổng hợp, mô tả và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn và chiến lược phát

thải ròng bằng “0° tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và tại Việt Nam

Trang 15

Cơ sở lý thuyết Chiến lược phát 3 Bài học Để xuất xây dựng

về chiến lược triển KTTH và om kinh chiến lược phát pháttriển | -x| hướngtới“net |—| đt be | nghiệm [| triển KTTHvà

KTH va phit ero” cia ba cia ti ba hướng tối “net

thải carbon nước fuse nước Zero” cho Việt Nam,

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phat thai carbon Chương 2: Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng “0”

ở một số quốc gia

Chương 3: Một số đề xuất xây dựng chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm đạt

mục tiêu phát thải ròng bằng *0” ở Việt Nam dựa trên bai học kinh nghiệm từ các nước.

Trang 16

CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VÈ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIÊN KINH TE TUẦN HOÀN VÀ PHÁT THAI CARBON

1.1 Lý thuyết chung về kinh tế tuần hoàn

1.1.1 Khái niệm kinh tế tuần hoàn

Khái niệm kinh tế tuần hoàn (Circular economy) lần đầu ra đời và được xây dung

bởi các tác giả Pearce và Turner từ những năm 1990, trong bối cảnh xã hội hiện đại phát

triển, tiêu dùng tăng cao gây ra nhiều nhân tố tác động tiêu cực đến sức khỏe con người

và hệ sinh thái, cũng như mang đến nhiều mối nguy hại cho môi trường và sự phát triển bền vững Cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về KTTH

Theo Liên minh châu Âu năm 2015 mô tả trong cuộc toạ đàm về Kế hoạch hành động của EU đối với KTTH, thì “Nền kinh tế tuần hoàn là một mô hình sản xuất và tiêu

dùng, trong đó bao gồm các hoạt động chia sẻ, cho thuê, tái sử dụng, sửa chữa, tân trang

và tái chế các vật liệu và sản phẩm hiện tại đề được càng lâu càng tốt Bằng phương thức

này, vòng đời của sản phẩm sẽ được kéo dài hơn so với trước đây”

Trong thực tế, mô hình này mang mục đích giảm chất thải đến mức tối thiểu Khi

một sản phẩm hết tuổi thọ, nguyên vật liệu tạo nên nó được giữ lại trong nền kinh tế bat

cứ khi nào có thê nhờ vào tái chế Những vật liệu này có thể được sử dụng nhiều lần

một cách hiệu quả, do đó sẽ tạo ra giá trị hơn nữa Đây là một sự khác biệt so với mô

hình kinh tế tuyến tính truyền thống, trong đó tài nguyên thiên nhiên thô được sử dụng,

chuyển đổi thành sản phẩm và được xử lý thải bỏ Mô hình này dựa trên số lượng lớn

vật liệu và năng lượng giá rẻ và dễ tiếp cận Ngoài ra, một phần của mô hình này là sự lỗi thời có kế hoạch, khi một sản phẩm được thiết kế đề có tuôi thọ giới hạn nhằm khuyến khích người tiêu dùng mua lại sản phâm đó Nghị viện châu Âu đã kêu gọi các biện pháp

để giải quyết thực tiễn này

Theo Quy Ellen Macarthur nam 2013, nền kinh tế tuần hoàn là một hệ thống được

hỗ trợ bởi quá trình chuyển đổi sang năng lượng và vị tái tạo từ đó mang lại khả

năng phục hồi tốt cho doanh nghiệp, con người và môi trường “Trong nền kinh tế hiện tại của chúng ta, chúng ta lấy vật liệu từ Trái đất, tạo ra các sản phẩm từ chúng và cuối

cùng vứt bỏ chúng như rác thải — đó là quy trình diễn ra theo mô hình tuyến tính Ngược

lại, trong một nền kinh tế tuần hoàn, chúng ta ngăn chặn chất thải được tạo ra ngay từ

Trang 17

đầu Chúng ta phải biến đổi mọi yếu tố trong hệ thống tận dụng - sử dụng - thải bỏ:

cách chúng ta quản lý tải nguyên, cách chúng ta tạo ra và sử dụng sản phẩm cũng như những gì chúng ta làm với nguyên vật liệu sau đó Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể tạo

ra một nền kinh tế tuần hoàn thịnh vượng có thê mang lại lợi ích cho tất cả mọi người

trong giới hạn của hành tỉnh chúng ta.”

Nguyên liệu thô

Nguyên liệu thô

Nguôn: Ellen MacArthur Foundation, 2013

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2014 cho rằng: “Nền kinh tế tuần hoàn là

một hệ thống công nghiệp được phục hồi hoặc tái tạo theo ý định và thiết kế Nó thay thế khái niệm kết thúc vòng đời bằng sự phục hồi, chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo, loại bỏ việc sử dụng các hóa chất độc hại làm mắt khả năng tái sử dụng quay trở lại

sinh quyền, đồng thời hướng đến việc loại bỏ chất thải thông qua thiết kế vật liệu ưu việt

của vật liệu, sản phẩm, hệ thống và mô hình kinh doanh”

Từ các khái niệm trên có thể rút ra rằng, Kinh tế tuần hoàn là một hệ thống, trong

đó các tài nguyên được tận dụng lại hoặc tái sử dụng, các dòng phế liệu được biến thành nguyên liệu đầu vào trở thành nguyên liệu để tiếp tục chu trình sản xuất mới, từ đó hạn chế bớt các tác động tiêu cực đến môi trường, gìn giữ hệ sinh thái và bảo vệ sức khỏe

con người

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế tuần hoàn

Theo quỹ Ellen McArthur năm 2013, mô hình kinh tế tuần hoàn được vận hành

dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 18

Nguyên tắc số I: Chất thải và ô nhiễm phải được loại bỏ

Hiện nay, nền kinh tế của chúng ta đang hoạt động theo cơ chế lấy nguyên liệu

nguyên trên hành tỉnh của chúng ta là hữu hạn Nền kinh tế tuần hoàn đã chỉ ra và khắc

phục những tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế gây thiệt hại cho sức khỏe con người

và hệ thống tự nhiên Điều này bao gồm việc giải phóng khí nhà kính và các chất độc hại, ô nhiễm không khí, đất và nước cũng như chất thải cơ cấu như tắc nghẽn giao thông Nguyên tắc số 2: Lưu thông sản phẩm và vật liệu

Nguyên tắc thứ hai của nền kinh tế tuần hoàn là lưu trữ sản phẩm, vật tư để chúng đạt được giá trị cao nhất Điều này có nghĩa là giữ cho vật liệu được sử dụng dưới dang thành phẩm, hoặc khi không thê sử dụng được nữa thì cũng sẽ là ở dạng thành phần hoặc

nguyên vật liệu Bằng cách này, không có gì trở nên lăng phí và giá trị của sản phẩm hay nguyên vật liệu đó vẫn sẽ được giữ nguyên Để làm được điều này, sản phẩm phải

được thiết kế để đảm bảo độ bèn, khả năng sử dụng tái sinh, sản phẩm tái sinh và tái chế

để chứa các sản phẩm, vật dụng và vật liệu được lưu trữ trong nền kinh tế

Nguyên tắc số 3: Tái tạo thiên nhiên

Khi chuyên từ nền kinh tế tuyến tính là lấy - sản xuất - thải bỏ sang nền kinh tế tuần hoàn, mô hình này này sẽ hỗ trợ các quá trình tái tạo tự nhiên và dành nhiều không, gian hơn cho thiên nhiên phát triển Nền kinh tế tuần hoàn tránh sử dụng các nguồn tài

1.1.3 Sự cần thiết của việc phát triển kinh tế tuần hoàn

Kể từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, con người đã đi theo mô hình sản xuất và tiêu dùng tuyến tính Đây là một mô hình kinh tế truyền thống phô biến trên thế giới,

trong đó nguyên liệu thô được chuyển biến thành hàng hóa sau đó được bán, sử dụng và

biến thành chất thải nhiều lần bị loại bỏ và quản lý một cách vô ý thức đã dẫn đến nhiều

sự lãng phí Mô hình này không tính đến khái niệm bảo vệ môi trường, do đó không cần

Trang 19

phải tối ưu hóa các phương thức sản xuất và tiêu dùng của chúng ta Nếu tiếp tục như: vậy, chúng ta có nguy cơ cạn kiệt tất cả các nguồn tài nguyên của hành tỉnh một cách nhanh chóng, đồng thời gây ô nhiễm không thê khắc phục được

Trên cơ sở đó, việc lựa chọn một nên kinh tế tuần hoàn là một hành động thiết yếu

đối với môi trường, điều này cũng sẽ bảo vệ mô hình kinh tế của chúng ta Thật vậy, nền kinh tế tuần hoàn là một mô hình công nghiệp có khả năng tái tạo theo ý định và thiết

nhằm cải thiện hiệu suất của các nguồn lực và chống lại sự biến động mà biến

đổi khí hậu Mô hình này có thể mang lại cho các doanh nghiệp cho phép chúng ta giải

quyết nhiều vấn đề về môi trường, xã hội và kinh tế (tạo việc làm, liên kết xã hội, tăng

tỷ lệ tái chế và tái sử dụng, tiêu thụ tài nguyên và nguyên liệu thô có đạo đức và tôn

Một trong những mục tiêu của nền kinh tế tuần hoàn là có tác động tích cực đến

các hệ sinh thái của hành tỉnh và chống lại việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá

mức Nền kinh tế tuần hoàn có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính và giảm sử dụng nguyên liệu thô, tối ưu hóa năng suất nông nghiệp và giảm các tác động tiêu cực bên ngoài do mô hình tuyến tính mang lại

(2) Đất đai lành mạnh và đàn hồi

Các nguyên tắc của nền kinh tế tuần hoàn trong hệ thống canh tác đảm bảo rằng các chất dinh dưỡng quan trọng được trả lại cho đắt thông qua các quá trình ky khí hoặc

ủ phân, giúp giảm nhẹ việc khai thác đất và các hệ sinh thái tự nhiên Bằng cách này,

khi chất thải được trả lại cho đất, bên cạnh việc xử lý ít chất thải hơn, đất sẽ trở nên khỏe

mạnh và đàn hồi hơn, cho phép cân bằng tốt hơn trong các hệ sinh thái xung quanh nó

Trên thực tế, một mô hình kinh tế tuần hoàn hoạt động trong các hệ thống thực

phẩm của Châu Âu có khả năng giảm 80% việc sử dụng phân bón nhân tạo và do đó,

Trang 20

góp phần vào sự cân bằng tự nhiên của đất, theo một nghiên cứu từ Quỹ Ellen MacArthur

năm 2013

(3) Ít ngoại ứng tiêu cực hơn

Tuân theo các nguyên tắc của nền kinh tế tuần hoản, các ngoại ứng tiêu cực như:

sử dụng đất, ô nhiễm đất, nước và không khí được quản lý tốt hơn, cũng như việc phát

thải các chất độc hại và biến đổi khí hậu

1.1.3.2 Lợi ích kinh tế của nên kinh tế tuần hoàn

(1) Tăng tiềm năng tăng trưởng kinh tế

Điều quan trọng là phải tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi tiêu thụ tài nguyên Theo

một báo cáo của MeKinsey, sự gia tăng doanh thu từ các hoạt động tuần hoàn mới, cùng

với việc sản xuất rẻ hơn bằng cách làm cho các sản phẩm và vật liệu có nhiều chức năng

hơn, có thể dễ dàng tháo rời và tái sử dụng, có khả năng tăng GDP và do đó sẽ góp phần

làm tăng trưởng kinh tế

(2) Tiết kiệm nhiều tài nguyên hơn

Khi so sánh với việc khai thác nguyên liệu thô phô biến theo cách tiếp cận tuyến tính, mô hình kinh tế tuần hoàn có khả năng dẫn đến tiết kiệm nguyên liệu lớn hơn (lên đến 70%) Nếu như tổng nhu cầu về vật liệu tăng lên do sự gia tăng dân số thế giới và

đô thị hoá, thì nền kinh tế tuần hoàn dẫn đến nhu cầu vật liệu thấp hơn, vì nó bỏ qua các bãi chôn lắp và tránh tái chế, tập trung vào việc làm cho chu kỳ vật liệu kéo dài hơn Về mặt môi trường, nó cũng tránh được ô nhiễm lớn hơn mà việc chiết xuất các vật liệu mới

sé gay ra,

(3) Tăng cơ hội việc làm

Theo Diễn đàn kinh tế thể

giới, “sự phát triển của mô hình kinh tế tuần hoàn, cùng với quy định mới (bao gồm cả thuế) và tổ chức thị trường lao động, có thể mang lại nhiều việc làm hơn cho người dân địa phương trong các công việc trình độ sơ cấp và bán kỹ năng” Đồng thời, báo cáo thuế ExTax do các chuyên gia từ một số công ty tư

vấn hàng đầu thực hiện cũng đưa ra kết luận về tiềm năng tạo việc làm mới của nền kinh

tế tuần hoàn Kết luận tương tự cũng được đưa ra sau một nghiên cứu vào tháng 8 năm

Trang 21

2018 về việc phát triển các phương pháp thực hiện nền kinh tế tuần hoàn cho biết 50.000

việc làm mới có thể được tạo ra ở Anh và 54.000 việc làm ở Hà Lan

(4) Tạo ra cơ hội sinh lời mới

Chỉ phí đầu vào thấp hơn nhờ vào việc tận dụng các nguyên liệu tái chế và trong

một số trường hợp hoàn toàn có thể tạo ra dòng lợi nhuận hoàn toàn mới là các lợi ích

mà các doanh nghiệp chuyền sang mô hình kinh tế tuần hoàn có thê đạt được Trong

lĩnh vực tuần hoàn này, cơ hội kiếm lợi nhuận có thê đến từ việc tham gia vào các thị

trường mới, cắt giảm chỉ phí bằng cách giảm lãng phí và năng lượng cũng như đảm bảo tính liên tục của nguồn cung,

1.1.3.3 Lợi ích của nên kinh tế tuân hoàn đối với doanh nghiệp

(1) Giảm thiêu phụ thuộc vào biến động nguồn cung

Hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn có nghĩa là giảm số lượng nguyên liệu thô

được sử dụng Thay vào đó, các đầu vào là nguyên liệu tái chế xuất hiện nhiều hơn (hoặc

thậm chí có thẻ tái sử dụng hoặc dễ dàng chuyển đổi) có tỷ lệ chi phi lao động cao hon

sẽ được sử dụng, giúp các công ty ít phụ thuộc vào sự biến động của giá nguyên liệu thô Điều này cũng sẽ bảo vệ các công ty khỏi các cuộc khủng hoảng địa chính trị và bảo vệ họ về chuỗi cung ứng của họ - những chuỗi cung ứng có khả năng bị phá hủy hoặc đứt gãy do các sự kiện biến đổi khí hậu hoặc thiên tai, dịch bệnh đang gia tăng

hàng ngày Cuối cùng, mô hình kinh tế tuần hoàn sẽ giúp các doanh nghiệp trở nên linh hoạt hơn, hay nói cách khác là giúp họ có khả năng chống chịu tốt hơn và sẵn sàng đối phó với những thay đôi bất ngờ

(2) Tăng nhu cầu đối với các dịch vụ mới

Theo báo cáo của Quỹ Ellen MeArthur năm 2014, mô hình kinh tế tuần hoàn có khả năng tạo ra nhu cầu về các dịch vụ mới và cơ hội việc làm mới như: dịch vụ thu

gom và đảo ngược hỗ trợ các sản phẩm hết hạn sử dụng được đưa trở lại hệ thống, các dịch vụ tiếp thị sản phẩm và phát triển nền tảng bán hàng tạo điều kiện cho thời gian sử dụng sản phẩm lâu hơn hoặc mức độ sử dụng cao hơn; cung cấp kiến thức chuyên ngành

cho công việc tái sản xuất bộ phận, linh kiện và tân trang sản phẩm.

Trang 22

1.1.4 Lich sử và xu hướng phát triển kinh tế tuần hoàn trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế tuần hoàn

Tính bền vững vẫn là một vấn đề được tranh luận sôi nỗi đối với cả các quốc gia hậu công nghiệp hóa và đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, nhiều quốc gia trong số

đó vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển bền vững,

Cho đến những năm 1960, hằu hết các ngành công nghiệp vẫn còn ít quan tâm đến các vấn đề môi trường Sau một đợt bùng phát mô hình vào những năm 1970, người ta tập trung nhiều hơn vào việc kiểm soát ô nhiễm thông qua xử lý cuối đường ống Đến lúc này, những ý tưởng về kinh tế tuần hoàn đã dần được biểu hiện rõ ràng hơn, như

được thể hiện trong một đoạn văn đáng chú ý tir bai phat biểu của Chủ tịch Hiệp hội vì

sự tiến bộ của khoa học Hoa Kỳ: “Mục tiêu của cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo

là đảm bảo rằng sẽ không có điều đó xảy ra như chất thải, trên cơ sở chất thải chỉ đơn giản là một số chất mà chúng ta chưa có trí tuệ đề sử dụng Trong cuộc cách mang công nghiệp tiếp theo, phải có một vòng quay ngược từ người dùng đến nhà máy, mà ngành

công nghiệp phải đóng cửa Nếu ngành công nghiệp Mỹ tự đảm nhận nhiệm vụ đóng

vòng lặp này, thì thiết kế ban đầu của bài báo sẽ bao gồm các tính năng tạo điều kiện

thuận lợi cho việc quay lại và làm lại của họ.” (Spilhaus, 1970: 1673) Trong thập kỷ

này, các cuộc họp lớn trên thế giới đã được tô chức về vấn đề ô nhiễm và Cơ quan Bảo

vệ Môi trường của Hoa Kỳ đã được thành lập (Hoffiman, 1999; Velloso, 2008) Cũng tại khu vực châu Mỹ vào thời điểm đó, Brazil đã thành lập Ban thư ký đặc biệt về môi trường (Secretaria Especial do Meio Ambiente - SEMA) với mục tiêu thúc đây việc sử

dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên để bảo tồn môi trường (Brasil, 1973) Trong suốt những năm 1980, các mô hình sản xuất đã chuyên đôi sang những mô hình ngăn ngừa ô nhiễm và giảm thiểu chất thải Vào những năm 1990, cách tiếp cận này đã kết hợp quản lý sản phẩm va phân tích vòng đời, cho phép giảm ô nhiễm nhiều hơn nữa, đồng thời đưa ra quyết định dựa trên sự góp phần gây ô nhiễm của các nguyên

liệu thô và sản phẩm khác nhau (Hoffman, 1999) Phải đến thời điểm này, nền kinh tế

tuần hoàn mới được định nghĩa và mô tả đầy đủ về mặt kinh tế Điều này có trong giáo

trình kinh tế tài nguyên và môi trường Pearce và Turner 1990 (trang 35-41) Pearce và

Turner (1990) đối chiếu các hệ thống tuần hoàn với các hệ thống kinh tế tuyến tinh, nhan

Trang 23

mạnh tính bắt khả thi về mặt vật lý của việc tái chế năng lượng (ví dụ, nhiệt từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch không bao giờ có thê trở lại dạng cô đặc ban đầu) Tuy

nhiên, Pearce và Turner (1990) còn chỉ ra rằng môi trường có 'khả năng đồng hóa' cho

phép một số chất thải được tái hấp thụ vô hại vào môi trường và thậm chí có thể trở

thành sản phẩm hữu ích Nhiều khí thải vào không khí và chất thải phân hủy sinh học

thuộc loại này Tuy nhiên, nếu vượt quá khả năng đồng hóa, thì chất thải sẽ trở thành ô nhiễm, có thể gây hại cho cả hệ thống tự nhiên cũng như sức khỏe và phúc lợi của con

người Họ nhấn mạnh: “Mọi thứ đều là đầu vào của mọi thứ khác” Sơ đồ nền kinh tế

tuần hoàn đơn giản của Pearce và Turner được thê hiện trong Hình 1.2, sơ đồ này có thể

là nguyên nhân khiến các tác giả sau này coi tái chế là quy trình chính hoặc chủ yếu nằm dưới tính tuần hoàn, mà một số tác giả đã cho rằng có vấn đề, như sẽ được trình bày trong phần tiếp theo

Enovonment as Environment as waste sink: Mdi

trường được coi như nơi chứa chất thải

waste sink

Hình 1.2 Mô hình kinh tế tuần hoàn sơ khai bởi Pearce và Turner

Nguôn: Pearce & Turner, 1990 Sau d6, MacArthur xuat hii

tu van McKinsey, EMF đã sản xuất ba ấn phẩm vào năm 2013 'Hướng tới nền kinh tế

Sau khi hợp tác với một số công ty lớn và công ty

tuần hoàn' Vào giữa năm 2015, Potocnik đã giới thiệu Gói Kinh tế Tuần hoàn của mình

từ Ủy ban Châu Âu, và khái niệm này đã trở thành xu hướng chủ đạo — trong kinh doanh

(thông qua EMF) và chính trị Theo EMF, các dòng vật chất trong nền kinh tế tuần hoàn tương tự như các ch kỳ sinh học vì các sản phẩm được thiết kế và lên kế hoạch đề có

sự trao đổi chất theo chu kỳ Mạng thông tin nhất thiết phải tồn tại giữa các tác nhân khác nhau, cho phép các sản phẩm hoặc sản phẩm phụ lưu thông trong toàn bộ nền kinh

tế và tiếp tục tạo ra giá trị (Braungart và cộng sự, 2007) Mô hình kinh tế này dường như

Trang 24

là một giải pháp để đạt được sự phát triển bền vững vì nó kết nói các khía cạnh môi

trường với các thách thức kinh tế Một cách để đạt được mục tiêu giảm lượng khí thải

carbon là giảm nhu cầu về nguyên liệu bằng cách tăng tuôi thọ của nguyên liệu thô, sau

đó thay thế và tái sử dụng chúng, từ đó dẫn đến những đổi mới quy trình triệt để

(Allwood và cộng sự, 2010; Quỹ Ellen MacArthur, 2015)

Thông qua việc triển khai nền kinh tế tuần hoàn, các chính phủ có thể thông qua một chính sách khả thi để đạt được các phương thức phát triển bền vững mới và thúc đây hiệu quả sinh thái Do đó, bên cạnh những tác động môi trường tích cực có thể xảy

ra do giảm sự phụ thuộc vào tải nguyên thiên nhiên, xã hội cũng có thể nhận được tác động tích cực thông qua việc giảm tỷ lệ nghèo đói cho những người được hưởng lợi từ

mô hình kinh tế này (Geng và Doberstein, 2008) Theo đó, nền kinh tế tuần hoàn có thể thúc đây một mô hình kinh doanh mới cho phép cả đổi mới và nhận thức về môi trường,

hoặc thực hiện phát triển kinh tế mà không làm suy thoái môi trường (Geng và cộng sự, 2016)

1.1.4.2 Xu hướng phát triển kinh tế tuần hoàn trên thế giới hiện nay

Không chỉ góp phần làm giảm lượng chất thải ra môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng mô hình kinh tế tuần hoàn là một nhân tổ tích cực tích cực góp phần vào việc chống biến đổi khí hậu hiện nay Ông Harald Friedl - Giám đốc điều hành của Circle Economy nhận định: “Việc

sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu từ các loại rác thải có thể hỗ trợ việc hiện thực hóa

mục tiêu then chốt trong Hiệp định Paris về chống biến đổi khí hậu - là giữ mức tăng nhiệt độ toàn cầu không vượt quá 2 độ C so với thời kì tiền công nghiệp” Kinh tế tuần hoàn cũng góp phần làm giảm lượng phát thải carbon, giúp nâng cao chất lượng môi trường và đời sống trên toàn thế giới theo như Hiệp định Paris và những mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc đã đặt ra trước đó

Theo báo cáo về nỗ lực chống biến đổi khí hậu của các quốc gia được công bó tại

Hội nghị của Liên hợp quốc về Biến đồi khí hậu (COP24) diễn ra ở Katowice (Ba Lan)

năm 2018, mặc dù các hành động từ các quốc gia trên thế giới đã đạt được một số thành cônng nhất định trong việc hạn chế tình trạng nóng lên của Trái đất, tuy nhiên mức tăng nhiệt độ vẫn còn khá cao Vì vậy, chính phủ các nước cần có những cam kết quyết liệt

Trang 25

và mạnh mẽ hơn nữa, cũng như nhanh chóng thực hiện những biện pháp đã đưa ra nhằm tăng cường khả năng thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu, song song với đó là

hướng tới một nền kinh tế xanh, sạch - nền kinh tế tuần hoàn Điều này được coi như

giải pháp then chốt nhằm mục tiêu phát triển bền vững đối với các quốc gia trên toàn cầu

Không chỉ khu vực châu Âu mà các quốc gia châu Á hiện nay cũng đang mạnh mẽ hướng tới triển khai KTTH Hội nghị phát triểnbền vữnglần 5 được diễnra tại Thái Lan năm 2018 đã khẳng định kinh tế tuần hoàn là xu hướng toàn cầu, là kim chỉ nam xuyên suốt cho chiến lược phát triển bền vững đối với các quốc gia, nhất là các nước thuộc khối ASEAN- hầu như đang trong giai đoạn hát triển nên còn gặp nhiều thách thức Với sự tham gia của hơn 1.000 đại biểu đến từ gần 200 quốc gia và hàng trăm tập đoàn hàng đầu thế giới, hội nghị đã góp phần kết nối các khu vực để đưa các nước thuộc ASEAN cùng bước vào hành trình triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn, hướng đến phát triển bền vững

Cũng trong năm 2018, trong khuôn khổ Kỳ họp Đại hội đồng Quỹ môi trường toàn

cầu lần thứ 6 (GEF6), Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (ƯNIDO) cùng

với các chính phủ và các tô chức liên quan đã thảo luận về việc làm thê nào đê các cách

tiếp cận của kinh tế tuần hoàn có thê tạo ra lợi ích môi trường toàn cầu, dựa trên sự phát

triển của nền công nghiệp xanh Tại Hội thảo, các chuyên gia đã đưa ra những nhận định

và đánh giá về lợi ích to lớn mà nền kinh tế tuần hoàn mang lại, mà một trong số đó là

việc các nguồn lực được sử dụng hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Hiện ƯNIDO đã triển khai thực hành mô hình này thông qua việc cung cấp các dịch vụ hướng đến chu trình khép kín trong sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ sản phẩm

đã qua sử dụng — bắt đầu từ khâu khai thác nguyên liệu thô, đến sản xuất, phân phối,

tiêu dùng cho đến khâu thải bỏ cuối cùng nhằm đảm bảo rằng các nguồn tài nguyên

được sử dụng liên tục tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn cũng đã trở thành một trong những nội dung được ưu tiên đề cập trong chương trình nghị sự toàn cầu đối với các khối liên minh khu vực như EU, khi đưa

ra Kế hoạch hành động cho Kinh tế tuần hoàn hay Nhóm Hành động đặc biệt của G20

Trang 26

về Kinh tế tuần hoàn Một số quốc gia châu Âu được coi như tiên phong trong việc áp dụng mô hình này có thê kề đến Thuy Điền, Hà Lan, Pháp, Ý,

Thụy Điển là một trong những quốc gia đi đầu trên thế giới xử lý và tái chế rác

Từ đầu những năm 2010, hầu như rác thải của quốc gia này đều được xử lý, chỉ còn chưa đến 1% rác thải từ hộ gia

thải thông qua các chính sách thống nhất trên toàn qị

đình mới được chuyển đến bãi đồ rác Chính phủ Hà Lan là một trong những quốc gia châu Âu có tham vọng nhất trong nỗ lực thiết lập nền kinh tế tuần hoàn, khi các dự án và

quy định mang tính cách mạng liên tục ra đời, nỗi bật là việc các tòa nhà chính phủ phải

được xây dựng bằng cách sử dụng càng nhiều vật liệu và tài nguyên tái chế càng tốt, ngoài

ra việc xây dựng chúng chỉ được phát ra lượng khí thải bằng *0 Tại Pháp, đây là nước đầu tiên cắm tiêu hủy các sản phẩm phi thực phẩm không bán được, mà phải tái sử dụng, tặng

hoặc tái chế các sản phâm không bán được, bao gồm cả thực phẩm Tại Ý, theo báo cáo ban hành năm 2020 của Quỹ Phát triển Bền vững Ý và COREPLA (Hiệp hội Quốc gia về thu

gom, tái chế và thu hồi bao bì nhựa), Ý là quốc gia dẫn đầu về việc đạt được nền kinh tế tuần

hoàn Ví dụ, luật ngân sách năm 2020 của Ý bao gồm các biện pháp giúp nước này tuân thủ Thỏa thuận xanh Luật ngân sách đã cho phép thành lập quỹ đầu tư công dé thúc đây các dự

án đôi mới về tính bền vững, nền kinh tế tuần hoàn, du lịch bền vững và khử cacbon và giảm nhẹ biến đôi khí hậu

Như vây, mô hình kinh tế tuần hoàn đã không chỉ dừng ở những lý thuyết ban đầu

mà đã được áp dụng vào kế hoạch và chính sách của mỗi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, đề có thê triển khai hiệu quả nền kinh tế tuần hoàn không chỉ đòi hỏi sự hoạch định của Chính phủ, mà còn yêu cầu sự đóng góp tích cực của các thành phần kinh

tế khác như doanh nghiệp và cộng đồng người dân

1.2 Khái quát về Carbon thấp va phat thai rong bang “0”

1.2.1 Khái niệm về Phát thải ròng bằng “0” (Net-Zero)

Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, “net-zero”, hay phát thải ròng bằng “0”, nghĩa

là cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính xuống cảng gần không cảng sớm càng tốt Lượng khí thải còn lại cũng phải được hấp thụ lại vào bầu khí quyền, như hấp thụ vào

đại dương và rừng.

Trang 27

Để rõ ràng hơn về mặt khoa học, theo Ủy ban Quốc tế về Biến đổi Khí hậu (IPCC)

năm 2018, lượng phát thải ròng bằng *0° đạt được khi việc loại bỏ do con người tạo ra

cân bằng lượng phát thải khí nhà kính do con người tạo ra vào khí quyền trong một khoảng thời gian nhất định Nó có thể đạt được thông qua sự kết hợp giữa giảm phát thải và loại bỏ phát thải Chúng ta có thể giải thích về nó giống như một cán cân: sản xuất khí thải nhà kính vượt qua mức cân bằng và chúng ta muốn cân bằng lại các điều

đó, có nghĩa là không có thêm khí nhà kính nao có thể được thêm vào bầu khí quyển

trong bat ky nim nao hơn là được lấy đi Khi có nhiều loại khí nhà kính, việc định lượng

lượng phát thai ròng bằng “0° phụ thuộc vào số liệu khí hậu được chọn để so sánh lượng

phát thải của các loại khí khác nhau (như tiềm năng nóng lên toàn cầu, tiềm năng thay

đổi nhiệt độ toàn cầu và các loại khác) và khoảng thời gian được chọn

Để tránh thảm họa khí hậu, lượng khí thải nhà kính phải càng thấp càng tốt Nói

cách khác, chúng ta cần tiền gần đến mức 0 thực nhất có thể và chỉ dựa vào việc bù đấp

carbon khi thực sự cần thiết Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng loại bỏ tất

cả các loại nhiên liệu hóa thạch - than đá, dầu mỏ và khí đốt - và chuyển đổi sang năng

lượng tái tạo trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế

*Sự khác biệt giữa “phát thải ròng bằng “0” và trung hoà carbon

Mặc dù 'net zero' và 'trung hoà carbon' (neutrality carbon) thường được gọi thay

thế cho nhau và cả hai đều dẫn đến việc loại bỏ CO2 khỏi môi trường, nhưng hai thuật ngữ này không hoàn toàn giống nhau

“Phát thải ròng bằng “0” ~ “Net zero” đề cập đến lượng khí nhà kính (GHG) ~

chẳng hạn như carbon dioxide (CO2), metan hoặc sulfur dioxide ~ được loại bỏ khỏi khí quyển tương đương với lượng phát thải do hoạt động của con người Giảm phát thải nói chung sẽ đi theo một quỷ đạo nhất định, ví dụ: 1,5°C (34,7°F) Mọi lượng phát thải còn lại nói chung sẽ tập trung vào việc cô lập GHG từ bầu khí quyển

“Trung hoa carbon” ~ *Neutrality carbon” tương tự ở chỗ lượng khí thải nhà kính

sẽ được bù đắp, tuy nhiên sẽ bao gồm một định nghĩa rộng hơn về việc bù dip long

khí thải còn lại, bao gồm các hoạt động tránh phát thải và sẽ không quy định quỷ đạo giảm cụ thể.

Trang 28

Thuật ngữ 'trung hoà carbon' thường được sử dụng khi đề cập đến các doanh nghiệp, khi nó thường đề cập đến tham vọng của họ nhằm hạn chế bắt kỳ sự gia tăng nào về lượng khí thải carbon trong tương lai, đồng thời sử dụng các biện pháp bù đấp

để trung hỏa lượng khí thải hiện có Mặt khác, *Net zero” tập trung nhiều hơn vào việc

giảm lượng khí thải carbon càng nhiều cảng tốt trước tiên và chỉ bù đắp lượng CO2 dư thừa không thê tránh khỏi như là phương sách cuối cùng “Net zero” về nguyên tắc

tương tự như tính trung hoà carbon, nhưng được mở rộng về quy mô Để đạt được mức phát thải ròng bằng “0” có nghĩa là vượt ra ngoài việc loại bỏ chỉ lượng khí thai carbon

Số 0 ròng đề cập đến tất cả các khí nhà kính được thải vào khí quyền, chăng hạn như

khí mê-tan (CH4), oxit nitơ (N2O) và các hydrofluorocarbon khác Còn đối với tính

trung hoà carbon, để đạt được mức 0 ròng, lượng khí nhà kính thải vào khí quyền phải

tương đương với lượng khí nhà kính được loại bỏ khỏi khí quyền

Hành động để đạt được mức 0 ròng đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, nhưng cần

có sự hợp tác của các chính phủ trên thế giới, cũng như khu vực tư nhân và khu vực thứ

ba Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính trung hoà carbon tốt cho doanh nghiệp về lâu dài Đạt

được nó không chỉ cho phép doanh nghiệp tiết kiệm chỉ phí thông qua hiệu quả hoạt

động tốt hơn và giảm thuế, mà còn giúp bảo vệ môi trường tự nhiên cho tất cả các bên liên quan cần thiết để doanh nghiệp thành công

* Sự khác biệt giữa Tổng phát thải bằng “0” và phát thải ròng bằng “0”

“Tổng phát thải bằng “0°”, hay còn được gọi là 'số 0 thực' đề cập đến các lĩnh vực

công nghiệp (chẳng hạn như lĩnh vực năng lượng) nhằm mục đích loại bỏ hoàn toàn

lượng khí thải carbon từ hoạt động của họ Tuy nhiên, điều này về cơ bản là không thể

bởi vì tất cả chúng ta đều thải ra carbon theo một cách nảo đó Ngay cả với những nỗ

lực tốt nhất đề giảm lượng khí thải, vẫn sẽ có một lượng carbon dioxide được thải ra Đây là lý do tại sao số không ròng đã được nhắn mạnh như một cách tiếp cận khả thỉ

hơn để đạt được mục tiêu giảm lượng khí thải trên hành tinh của chúng ta

Trong khi đó, “Net- zero” chú trọng vào lượng khí thải carbon Thay vì thải ra

nhiều hơn mức chúng ta có thé hap thu, Net - zero thê hiện rằng chúng ta có thể sản xuất

và thải ra lượng khí thải gần như nhau, để đưa số phát thải ròng về mức 0 Ví dụ, một quốc gia có thể có mục tiêu trở thành hoàn toàn không có carbon Tuy nhiên, quốc gia

Trang 29

này vẫn phải thừa nhận rằng nó vẫn sẽ thải ra lượng khí thải nhà kính tương đương 0,25

tấn bình quân đầu người Do đó, quốc gia này cần kế hoạch bù đắp số tiền này thông,

qua việc trồng cây và thực hiện các biện pháp khác để giảm tác động môi trường của chúng

1.2.2 Ý nghĩa của lượng phát thải ròng bằng “0” (Net - Zero)

Việc tài nguyên môi trường có hạn trong khi lượng khí thải do hành động của con người thải ra đang gây ra hậu quả thảm khốc trên hành tỉnh của chúng ta và đẩy chúng,

ừ các quốc

ta vào một cuộc khủng hoảng khí hậu không thể đảo ngược Chính vì thế,

gia, tổ chức cho đến các cá nhân, giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu Hành động được thực hiện đề hạn chế lượng khí thải trong thập kỷ tới

sẽ rất quan trọng đối với tương lai, đó là lý do tại sao mọi quốc gia, lĩnh vực, ngành công

nghiệp và mỗi người chúng ta phải hợp tác với nhau trong cuộc chạy đua toàn cầu để loại bỏ carbon dioxide và các loại khí nhà kính khác khỏi bầu khí quyền thông qua việc

tìm cách cắt giảm lượng carbon chúng ta tạo ra

Rai ro của các mục tiêu có vẻ còn xa, nhưng Ủy ban Quốc tế về Biến đổi Khí hậu

(IPCC) đã rất muốn nhắn mạnh tầm quan trọng của sự thay đổi ngay lập tức: “giảm phát

thải khí nhà kính vào năm 2030 dẫn đầu để có cơ hội cao hơn để giữ nhiệt độ cao nhất

ở mức 1,5°C” Nói cách khác, các doanh nghiệp và chính phủ cần phải hành động ngay

bây giờ để thực hiện vai trò của mình trong việc thực hiện các điều chỉnh cần thiết Sự

đồng thuận chung là thế giới phải hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu ở mức

1,5°C, bằng cách giảm gần một nửa lượng khí thải carbon dioxide (CO2) vào năm 2030

và đạt mức 0 ròng vào năm 2050 Phòng thương mại và Công nghiệp Anh Quốc cho

biết: “Có nhiều cách đề đo lường lượng khí thải carbon của bạn và theo dõi tác động của những nỗ lực của bạn đề giảm thiêu chúng Cho dù bạn là một phần của chuỗi cung ứng

lớn và phức tạp hay một doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tìm cách bắt đầu hành trình không có mạng lưới của mình, thì sự hợp tác sẽ là chia khóa và việc có một chiến lược cũng như lịch trình hướng tới tinh trung lập carbon ngay bay giờ là rất quan trọng.”

Trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, luôn tồn tại các công nghệ có thê mang lại lượng khí thải bằng “0° Về ngành điện, nó có thê được thực hiện bằng cách sử dụng

năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân Một hệ thống giao thông chạy bằng điện

Trang 30

hoặc hydro, những ngôi nhà được cách nhiệt tốt và các quy trình công nghiệp dựa trên

điện chứ không phải khí đốt đều có thê giúp đưa lượng khí thải của ngành về mức không

tuyệt đối Tuy nhiên, trong các ngành công nghiệp như hàng không, các lựa chọn công

nghệ sẽ bị hạn chế hơn; trong nông nghiệp cũng vậy, rất khó có khả năng lượng khí thải

sẽ giảm xuống bằng “0° Do đó, một số lượng khí thải từ các lĩnh vực này có thê sẽ vẫn còn; và để bù đắp những điều này, một lượng CO2 tương đương sẽ cần phải được loại

bỏ khỏi khí quyền Mục tiêu "số 0 ròng" vì vậy trở thành mục tiêu cho toàn bộ nền kinh

tế, song song với Thuật ngữ 'tính trung hoà carbon"

Bén canh dé, Net Zero theo IEA — Co quan ning lượng quốc tế cũng đồng nghĩa với việc nhanh chóng chuyên hướng ra khỏi nhiên liệu hóa thạch Có thể thấy, việc đốt

cháy nhiên liệu hóa thạch là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng mạnh

lượng phát thải khí nhà kính, tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu Các lĩnh vực phát thải nhiều khí thải nhất là: Năng lượng; Chuyên đổi mục đích canh tác, sử dụng đất;

Ngành công nghiệp; Xử lý chất thải Vậy nên, việc cắt giảm hoạt động khai khoáng —

sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên là cần thiết đẻ giảm phát

thải khí nhà kính, từ đó đạt được mục tiêu đảm bảo an toàn môi trường

1.2.3 Các biện pháp được sử dụng để giảm phát thải carbon

Để đạt được mức phát thải ròng bằng “0°, tắt cả các hệ thống toàn cầu sẽ cần phải

chuyển đổi nhanh chóng — từ cách chúng ta cung cấp năng lượng cho nền kinh tế của mình, đến cách chúng ta vận chuyền người và hàng hóa cũng như cung cấp thức ăn cho dân số ngày càng tăng

Dựa trên các nguyên tắc được đưa ra, tác giả đã tổng hợp một số các biện pháp

chung đã và đang được áp dụng bao gồm:

(1) Nói không với nhà máy than

'Việc đốt nhiên liệu hóa thạch như than đá và dầu mỏ là một trong những nguyên

nhân hàng đầu gây ra khí thải carbon dioxide Do đó, chúng ta phải giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng này và mở rộng các lựa chọn tái tạo sạch như năng lượng gió

và mặt trời

(2) Đầu tư bằn vững

Trang 31

Với số 0 ròng, các nhà đầu tư cần có trách nhiệm lớn hơn trong việc xem xét các

công ty đang tích cực giảm tác động môi trường của họ thông qua các hoạt động bền

vững Ví dụ, nếu một nhà đầu tư muốn bỏ tiền vào thị trường chứng khoán, họ nên tìm

kiếm các công ty áp dụng các sáng kiến thân thiện với môi trường và tránh các tập đoàn lớn đóng góp nhiều vào lượng khí thải carbon thông qua các phương pháp sản xuất điện truyền thống

'Bên cạnh việc đầu tư bền vững, các nhà đầu tư có thê lựa chọn thoái vốn Đây là quá trình loại bỏ các khoản đầu tư khỏi nhiên liệu hóa thạch và tái đầu tư các khoản đầu

tư đó vào năng lượng sạch, tái tạo Đó cũng là một cách đề nói với các công ty rằng bạn không ủng hộ việc đầu tư tiền vào những gì gây hại cho môi trường và góp phần vào sự nóng lên toàn cầu Thoái vốn cũng là một cách đề giải phóng vốn và hướng tới những doanh nghiệp có sáng kiến bền vững hơn

(3) Khử carbon

Trong tương lai, chúng ta phải xem xét cách chúng ta có thê khử cacbon trong bầu

khí quyền của mình thông qua các giải pháp công nghệ như năng lượng sinh học với kho lưu trữ thu giữ cacbon (BECCS) Phương pháp này bẫy khí thải CO2 nằm sâu dưới

lòng đất, ngăn không cho chúng quay trở lại bầu khí quyền Điều này cho phép chuyên

hướng khí thải thành thứ gì đó có thể tạo ra năng lượng hơn là để chúng tiếp tục phát tần ra môi trường

(4) Chắm dứt nạn phá rừng và phục hôi đất bị suy thoái

Không có cây xanh, hành tỉnh của chúng ta không thể loại bỏ carbon dioxide khỏi không khí Điều này là do cây chịu trách nhiệm hấp thụ carbon dioxide (CO2) thông qua

quá trình quang hợp CO2 sau đó được chuyên đồi thành oxy mà thực vật, động vật và con người sử dụng đề tổn tại Các ước tính cho thấy nạn phá rừng chiếm khoảng 10% tông lượng khí thải toàn cầu Nhiều tô chức đã bắt đầu thực hiện các sáng kiến tái trồng rừng, Tuy nhiên, với rất nhiều khu rừng bị suy thoái, đã có một sự thúc đầy đối với việc khôi phục các vùng đắt bị suy thoái

(5) Gidm chat thai

Trang 32

Lượng rác thải đang ngày cảng tăng lên, điều này chủ yếu là do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số Với nỗ lực hướng tới các thành phố bền vững, chúng ta phải giảm lượng chất thải này bằng cách sử dụng tất cả các nguồn tài nguyên hiệu quả hơn Tin tốt là hầu hết các công nghệ cần thiết để giảm phát thải đã có sẵn và ngày càng cạnh tranh về chỉ phí với các giải pháp thay thế carbon cao, ví dụ như năng lượng mặt trời và gió hiện cung cấp năng lượng rẻ nhất cho hầu hết thế giới Các thị trường đang đánh thức những cơ hội này và những rủi ro của nền kinh tế carbon cao, và chúng đang thay đôi theo

Đầu tư vào kỹ thuật loại bỏ carbon cũng là cần thiết Các lộ trình khác nhau được

IPCC đánh giá để đạt được 1,5 độ C đều dựa vào việc loại bỏ carbon ở một mức độ nào

đó Loại bỏ CO2 khỏi khí quyền sẽ bù đắp cho lượng khí thải từ các lĩnh vực khó đạt được mức phát thải ròng bằng *0” hơn, chẳng hạn như ngành hàng không

Lộ trình giảm carbon trên thế giới hiện nay'

Động lực toàn cầu đề thiết lập các mục tiêu bằng “0” đang tăng lên nhanh chóng,

với các nền kinh tế chủ chốt như Trung Quốc, Hoa Kỳ, An Độ và Liên minh Châu Âu

đưa ra các cam kết như vậy Bhutan là quốc gia đầu tiên đặt mục tiêu bằng “0° vào năm

2015 Giờ đây, hơn 90 quốc gia, chiếm gần 80% lượng khí thải toàn cầu, được bao phủ bởi mục tiêu phát thải ròng bằng “0° Các quốc gia thường đặt mục tiêu bằng “0” trong khoảng năm 2050 - gần ba thập kỷ kể từ bây giờ Tuy nhiên, để đảm bảo rằng thế giới

đi đúng hướng để đạt được mức 0 ròng, những mục tiêu dài hạn đó phải hướng dẫn và

cung cấp thông tin cho hành động ngắn hạn ngay hôm nay

Theo thỏa thuận tại hiệp định Paris năm 2015, các quốc gia đồng ý đệ trình kế hoạch khí hậu 5 năm một lần, được gọi là đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) NDC, hién dang nhắm mục tiêu đến năm 2030, là một công cụ quan trọng đề sắp xếp các mục tiêu giảm phát thải ngắn hạn và dài hạn Nhiều quốc gia có mục tiêu bằng “0” đang bắt đầu kết hợp chúng trực tiếp vào NDC của họ, đặc biệt là khi Hiệp ước Khí hậu Glasgow năm 2020 “lưu ý tầm quan trọng của việc điều chỉnh các khoản đóng góp do quốc gia quyết định với các chiến lược phát triển phát thải khí nhà kính thấp trong dài

hạn”.

Trang 33

Cũng có nhiều quốc gia có mục tiêu ngắn hạn hơn, ví dụ như Chính phủ Vương quốc Anh đã đưa ra luật một mục tiêu trung gian là cắt giảm 78% lượng khí thải so với

mức của năm 1990 vào năm 2035 Hay tại Hoa Kỳ, một NDC cất giảm 50-52% lượng khí thải so với mức năm 2010 vào năm 2030 đã được thống nhất Đây là những tín hiệu

quan trọng thể hện các quốc gia đã có những tầm nhìn nhất định trong việc hướng tới công cuộc phát thải ròng bằng “0°, tuy nhiên thực chất không phải tất cả các mục tiêu này đều có tính ràng buộc về mặt pháp lý, hơn nữa, vẫn còn thiếu các chính sách ngắn hạn đáng kể để đảm bảo các mục tiêu đó được đáp ứng

Lô trình toàn cầu để đạt “net-zero”

NET Ls

ÔNG toàn câu ở 1.5 độ C

2020 2030 — 2040 2059 2060 2070 2080 2090

‘Han chế mức nóng lên

c0, 4 GHG Hình 1.3 Lộ trình tiến đến mục tiêu "net-zero” trên toàn cầu

Nguén: IPCC, 2018 Nhiệt độ toàn cầu sẽ được ôn định khi chúng ta đạt lượng phát thải CO2 ròng bằng

“0° Đề so sánh điều này, việc hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5°C (2,7°F) đòi

hỏi phải đạt được mức phát thải carbon ròng toàn cầu vào đầu những năm 2050 Ngược

lại, nếu chúng ta đặt mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ ở mức 2°C (3,6°F), thì mốc

thời gian sẽ kéo dài đến đầu những năm 2070 dé đạt được mức phát thải carbon ròng bằng “0” trên toàn cầu

Các báo cáo mới nhất từ Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã

nói rõ rằng chúng ta sắp hết thời gian, nhưng vẫn còn rất ít cơ hội để thực hiện các chính

sách và hành động trong thập kỷ này để đảm bảo chúng ta tránh được những tác động

xấu nhất của biến đôi khí hậu Thế giới vẫn có thê đạt mức 0 ròng và hạn chế sự nóng

Trang 34

lên ở mức 1,5°C, nhưng cần có nhiều hành động hơn trong thập kỷ này, từ các chính

phủ, doanh nghiệp và những người khác, để biến điều đó thành hiện thực

1.3 Lý thuyết chung về chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục

tiêu phát thải ròng bằng “0”

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, các nội dung chính trong chiến lược

1.3.1.1 Khái niệm chiến lược

Khái niệm chiến lược (strategy) bắt nguồn từ khái niệm “strategos” trong tiếng Hy

Lạp cổ, có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội

Tại Châu Âu, khái niệm chiến lược đã thâm nhập từ lĩnh vực quân sự sang lĩnh vực kinh

doanh vào cuối thế kỷ XIX, và sang đến thế kỷ XX thì các quan điểm này đã xâm nhập

sang các lĩnh vực khác như quản lý nhà nước, quản lý các tổ chức phi lợi nhuận và quản

lý nói chung Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa khoa học

về hoạch định và điều khiển các hoạt động quân sự đã bước đầu xâm nhập sang lĩnh vực quản lý kinh tế và xã hội, dần được mô tả một cách chỉ tiết các nội hàm của nó, bao gồm

cả nội dung và phương thức thực hiện Alfred Chandler (1962) dinh nghia: Chién lược

là tiên trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tô chức, lựa chọn các cách thức

hoặc phương hướng hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các

mục tiêu đó

Một số định nghĩa mới hơn được đưa ra nhưng vẫn khá tương đồng với khái niệm

chiến lược của Alfred Chandler như định nghĩa của Kenneth R.Andrew (1971) cho rằng:

“Một chiến lược là định nghĩa công ty đang hoặc sẽ thực hiện điều gì, đang hoặc sẽ trở

thành như thế nảo, bằng mô hình mục tiêu chinh (Objectives), muc dich (Purposes) hay

đích đến (Goals) và những chính sách và kế hoạch (Plan) chính yếu đề đạt được mục

tiêu đớ” Định nghĩa của Jame B Quinn năm 1980: “Chiến lược là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và một chuỗi hành động được kết dính với nhau vào thành một tổng thể.”

Thông qua những cách hiểu khác nhau về chiến lược, có thể thấy rằng: “Chiến

lược là khái niệm thuộc khoa học quản lý, chỉ toàn bộ quá trình hình thành tư tưởng,

quan điểm, định hướng; xây dựng kế hoạch, biện pháp; kết hợp các nguồn lực cần thiết

Trang 35

và thực hiện chúng một cách thích hợp, nhất quán trong một thời hạn tương đối dai dé

thay đổi cục diện công việc hoặc chủ thể từ trạng thái hiện tại đến trạng thái mong

muốn.”

Chiến lược thường có thời hạn thực hiện là 5 năm hoặc ít hơn do sự giới hạn về

khả năng dự báo những biến động và tác động trong dài hạn Tuy nhiên với những chiến

lược cần thiết có sự tác động lâu dài do bản chất của tô chức, ngành, lĩnh vực thì có thể

kéo dài hơn 5 năm

1.3.L2 Đặc tính cơ bản của chiến lược

Theo PGS.TS Ngô Doãn Vịnh trong cuốn sách “Chiến lược phát triển: Bàn về tư

duy và hành động có tính chiến lược” xuất bản năm 2007, Chiến lược phát triển cung

cấp tầm nhìn tổng quát, mục tiêu phát triển một công ty, một ngành, một quốc gia và

tổng hợp các chính sách để thực hiện các mục tiêu đó Đó là một phương tiện để quản

lý, theo đuổi những lựa chọn đề đảm bảo đối tượng chiến lược có khả năng cạnh tranh

hướng đến phát triển Chiến lược phát triển thường có 2 chức năng cơ bản là: chức năng phát triển và chức năng quản lý phát triển

- Tinh hệ thống: Chiến lược phát triển phải có tính hệ thống và đã mang tính hệ thống thì nó phải có tính ôn định tương đối Trên nguyên tắc hệ thống, chiến lược phát triển đề cập đến những vấn đề toàn cục, những vấn đề mang ý nghĩa điểm huyệt, có sức gây công phá lớn đối với sự phát triển của toàn bộ hệ thống

~ Tính bao quát: Chi

thỏa đáng những vấn đề ngắn hạn có tính quyết định, vừa khuếch trương quy mô lớn

lược phát triển bao quát những vấn đề dài hạn, vừa đề cập

vừa coi trọng quy mô vừa và nhỏ

~ Tính chọn lựa: Thời kỳ chiến lược thường là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm,

tuy không phải là ngắn nhưng cũng không đủ đề làm tất cả mọi việc Trong khi nguồn lực phát triển là có hạn và luôn biến đổi mà các yếu tố huy động cho phát triển ở mỗi thời kỳ sẽ thay đổi Do đó, chiến lược phát triển phải chọn lựa những vấn đề then chốt

để tìm cách giải quyết

~ Tính linh hoạt và mềm dẻo: Chiến lược phát triển phải có khả năng điều chỉnh

nhanh, thích ứng rộng, phủ hợp với hoàn cảnh.

Trang 36

- Tinh dài hạn: Những van đề lớn và phức tạp có ý nghĩa chiến lược thường cần nhiều thời gian để hoàn thành Tuy nhiên, trong chiến lược có vấn đề sẽ được giải quyết trong thời gian ngắn, cũng có nhiều vấn đề phải được giải quyết trong thời gian dài

chiến lược phải làm), các bước thực hiện và tổ chức thực hiện cũng phải được thể hiện

một cách cụ thê Tính lượng hóa được thê hiện ở việc làm rõ mục tiêu tổng quát cần tính

toán dự báo các chỉ tiêu cụ thể Các chỉ tiêu cụ thể phải được tính toán va thẻ hiện bằng

con số với biên độ nhất định nhằm cụ thê hóa mục tiêu tông quát của chiến lược

1.1.3.3 Nội dung của chiến lược

PGS.TS Ngô Doãn Vịnh trong cuốn sách “Chiến lược phát triển: Bàn về tư duy và

hành động có tính chiến lược” xuất bản năm 2007 đã mô tả nội dung cơ bản của một chiến lược phát triển bao gồm: (1) Mô tả điểm xuất phát; (2) Xây dựng bức tranh của

tương lai; (3) Phác họa con đường kết nói điểm xuất phát và điểm đến cuối cùng

triển của khu vực đó, phải thực hiện đánh giá toàn diện trên 3 mặt chủ

hội và kết cấu hạ tầng kỹ thuật Mỗi tô chức, đơn vị, quốc gia muốn xây dựng một kế hoạch cho một sự thay đôi, đầu tiên cần phải xác định nơi họ đang đứng và những cơ hội cho sự thay đổi đó; phân tích các yếu tố từ bên ngoài có liên quan, ảnh hưởng đến

việc đạt được sứ mệnh, mục tiêu của quốc gia, tổ chức

(2) Xây dựng bức tranh của tương lai: Đưa ra mục tiêu, định huớng phát triển Mục

tiêu chiến lược cần xác định được: tầm nhìn- một khái niệm, hay một hình ảnh hấp dẫn

mô tả tương lai mong muốn hướng đến của quốc gia; Mục tiêu là kết quả cuối cùng mong muốn - thường ít nhát là sau 3 năm; Mục tiêu cụ thể để có thể đo lường cho các mục tiêu tổng quát.

Trang 37

(3) Phác họa con đường kết nối điểm xuất phát và điểm đến cuối cùng: Đưa ra các

Chính sách, kế hoạch hành động, mô tả chỉ tiết những sách lược quan trọng để thực hiện

từng mục tiêu Xác định và phân bồ các nguồn lực cần thiết đề thực hiện chiến lược, bao gồm cả kinh phí vốn, trong khuôn khổ ưu tiên

1.3.2 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục tiêu phát thải ròng

bing “0”

Trên cơ sở những khái niệm về chiến lược được đưa ra, có thể hiểu “Chiến lược

phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của quốc gia

là toàn bộ quá trình hình thành tư tưởng, quan điểm, định hướng của Chính phủ quốc

gia đó; xây dựng kế hoạch, biện pháp; kết hợp các nguồn lực kinh tế - xã hội cần thiết

và thực hiện chúng một cách thích hợp, nhất quán trong một thời hạn tương đối dai dé chuyển đôi từ mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống sang kinh tế tuần hoàn, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0

Trên cơ sở đó, việc phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn của các quốc gia cũng sẽ được tác giả thê hiện qua 3 nội dung chính:

-_ Bối cảnh, lịch sử hình thành và phát triển kinh tế tuần hoàn

~ _ Các mục tiêu, định hướng, chính sách đặt ra

- _ Các hành động chiến lược cụ thể

Trang 38

CHƯƠNG 2: PHAN TiCH CHIEN LUQC PHAT TRIEN KINH TẾ TUẦN

HOAN VA HUONG TOI PHAT THAI RONG BANG “0” TAI MOT SO QUOC

GIA

2.1 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoan va phat thai carbon 6 Nhat Ban

2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn ở Nhật Ban

2.1.1.1 Bắi cánh, lịch sử hình thành phát trién

Nhật Bản, một đất nước với mật độ dân số đông và địa hình gồm 3⁄4 diện tích là đồi

núi rộng lớn, sau khi nhận thức được bất lợi tự nhiên của tình trạng thiếu tài nguyên đã

buộc phải phát triển nền kinh tế tuần hoàn của riêng mình Con đường đến KTTH ở Nhật Bản được thúc đây bởi việc thiếu không gian chôn lấp do địa hình nhiều đá, hạn chế về

kim loại và tài nguyên khoáng sản trong nước mặc dù là nhà sản xuất công nghiệp lớn

và các ngành công nghiệp nặng

Trong thời kì hiện đại, để thúc đẩy phát triển kinh tế và hiện thực hóa kế hoạch

“bất kịp các nước phát triển phương Tây”, Nhật Bản đã tiến hành các cuộc chiến tranh

xâm lược để tranh giảnh tài nguyên Sau thất bại, nước này nỗ lực khai thác triệt để

nguồn lực trong nước để theo kịp kế hoạch kinh tế “theo định hướng GDP”, tuy nhiên lại gặp nhiều khó khăn vì chỉ phí khai thác đắt đỏ (Xiujun Ji, Yongqing Zhang, & Luying

Hao, 2012) Sau này khi tham gia vào thị trường xăng dầu, Nhật Bản đã có thể thúc đẩy

sự phát triển của mình bằng cách nhập khâu phần lớn dầu làm năng lượng thay thế cho than, nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ phụ thuộc quá mức vào nhập khâu Vì thế,

khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ nỗ ra, Nhật Bản đã phải suy nghĩ lại phương thức phát

triển của mình Việc chuyên sang tuần hoàn bắt đầu từ năm 1870 nhưng chỉ mang lại

kết quả khi luật sử dụng hiệu quả các vật liệu tái chế được thực hiện vào năm 1991 Nhật

Bản trở thành quốc gia đầu tiên ban hành các đạo luật liên quan đến KTTH

Các chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn ở Nhật Bản có sự khác nhau giữa các giai đoạn Tình trạng phát triển lịch sử của Nhật Bản đã quyết định sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn, về cơ bản được chia thành ba giai đoạn Ba giai đoạn này có thể được

coi là con đường chính của nền kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản

Giai đoạn 1: Chuyển đổi chiến lược về tài nguyên không tái tạo

Trang 39

Trong những năm 1870 và 1880, Nhật Bản bắt đầu khám phá nền kinh tế tuần hoàn bắt đầu từ chiến lược sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo, vì việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên này là phần cơ bản nhất của nền kinh tế tuần hoàn Theo tình hình phát triển, những thay đổi chính trong chiến lược được thề hiện trên các khía cạnh: điều chỉnh cơ cấu năng lượng, giảm sự phụ thuộc vào năng lượng đơn lẻ (dầu mỏ), tối ưu hóa cơ cấu công nghiệp, giảm các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều

năng lượng, phát triển các ngành công nghiệp thâm dụng tri thức va nâng cao hiệu quả

sử dụng năng lượng trong các ngành công nghiệp Bằng những điều chinh chiến lược

này, Nhật Bản đã hoàn thành quá trình chuyển đổi từ phụ thuộc quá nhiều vào dầu mỏ

sang sử dụng tổng hợp dầu, khí đốt và than đá Các ngành công nghiệp nặng như sản xuất sắt và kim loại đã giảm trong khi các ngành tiêu thụ năng lượng thấp như ô tô, máy

bay và sản xuất điện tử đã được mở rộng Như vậy, một hệ thống kinh tế tuần hoàn với

các cơ cầu năng lượng hợp lý, sử dụng năng lượng hiệu quả cao và cơ cầu công nghiệp

tối ưu đã được hình thành thành công ở Nhật Bản thông qua những thay đổi này

Giai đoạn 2: Xây dựng chiến lược về tài nguyên tái tạo

Nhật Bản hoàn thành bước đầu phát triển kinh tế tuần hoàn với những thay đổi trong chiến lược sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ cao đã đây việc sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo đến mức giới hạn, khó có thể tiến xa hơn Đồng thời, sự tiến bộ của kiến thức công nghệ đã giúp việc

khai thác năng lượng thay thế trở nên khả thi hơn Trong hoàn cảnh như vậy, Nhật Bản

đã bắt đầu sử dụng chiến lược nguồn tài nguyên tái tạo, đưa nền kinh tế tuần hoàn của

nước này đã chuyển sang một giai đoạn mới

Tài nguyên tái tạo có thể được chia thành hai loại dựa trên tốc độ tái tạo: Loại thứ

nhất bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều và năng lượng

thủy điện nằm trong số những loại có tốc độ tái tạo nhanh; Loại thứ hai bao gồm tài

nguyên rừng dự trữ, nguồn cá và nguồn động vật có tốc độ tái tạo tương đối chậm, còn được gọi là nguồn tài nguyên sinh khối Nhật Bản vạch ra kế hoạch khai thác nguồn năng lượng thay thế vào năm 1994, thúc đây việc sử dụng các nguồn tài nguyên tái tạo trên toàn quốc để tiếp tục định hình hệ thống kinh tế tuần hoàn của mình

Trang 40

Việc khai thác nguồn tài nguyên tái tạo là bước đột phá cho sự phát triển phát triển

tuần hoàn của Nhật Bản Những nguồn tài nguyên này làm giảm chất thải có thể có từ dòng chảy đầu nguồn cũng như giảm chỉ phí công cộng do mức độ ô nhiễm thấp Do

mục đích cuối cùng của nền kinh tế tuần hoàn là đạt được sự phát triển đồng bộ giữa

nền kinh tế và các nguồn lực, nên các nguồn tài nguyên tái tạo sẽ cung cấp nguồn lực cần thiết đề giải quyết vấn đề này

Giai đoạn 3: Xây dựng xã hội tổng hợp dựa trên nên kinh tế tuần hoàn

Những thay đổi chiến lược về tài nguyên tái tạo và sử dụng tối ưu các tài nguyên

¡ kinh tế tuần hoàn, trên cơ sở

không tái tạo là hai trụ cột quan trọng để xây dựng xã

đó, Nhật Bản tích hợp hệ thống xã hội, nền kinh tế và con người đề thúc đầy sự phát

triển toàn diện

2.1.1.2 Các mục tiêu, định hướng chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn

Nhật Bản là quốc gia có hệ thống luật hoàn chỉnh nhất về hệ thống tuần hoàn, đây

là sự hỗ trợ đắc lực cho việc mở rộng nền kinh tế tuần hoàn trên toàn quốc Sự nghiêm

ngặt của nó có thể được nhìn thấy từ hệ thống khung pháp luật bao gồm: Luật Môi

trường (1993), Luật Thúc đây hình thành xã hội tái chế (2000), Luật xử lý chất thải

(1970), Luật hiệu quả tải nguyên (1991), Luật thu gom, tái chế riêng container và bao bì (1995), Luật chu trình máy gia dụng đặc biệt (1998), Luật tái chế trong công trình xây dựng (2000), Luật xử lý Chất thải polychlorin biphenyl (2001), Luat tai chế xe (2002) Được hỗ trợ bởi hệ thống luật pháp hợp lý, Nhật Bản đã xây dựng luật và quy định từ

trên xuống, trong đó quy định rõ ràng về người chịu trách nhiệm pháp lý và tiêu chuân

xử lý từ khái quát đến chỉ tiết Đây là mức hỗ trợ đầu tiên của nền kinh tế tuần hoàn Sau thời gian đầu, đề tiếp tục giải quyết những khó khăn ngày cảng nhiều từ lượng rác thải không lỗ trong sản xuất và tiêu dùng, từ nhu cầu tái chế bồ sung, hay từ vấn đề

với các cơ sở quản lý chất thai và dé rác trái phép, Bộ Môi trường đã ban hành SMCS ~

Chu trình vật liệu của quốc gia - được sửa đổi 5 năm một lần Phiên bản sửa đổi mới

nhất vào năm 2018 có bảy trụ cột chính (Hình 2.1), không chỉ tiếp tục nhắc đến các vật

liệu như kim loại, nhựa, vật liệu có độ bền cao, vật liệu sinh khối (như thức ăn bị bỏ di),

mà còn ưu tiên đề cập tới một số nội dung mới, ví dụ như sản xuất năng lượng mặt trời

và tái chế sản phẩm tã lót

Ngày đăng: 21/12/2024, 15:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1.3.  Lộ  trình  tiến  đến  mục  tiêu  "net-zero”  trên  toàn  cầu - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 1.3. Lộ trình tiến đến mục tiêu "net-zero” trên toàn cầu (Trang 33)
Hình  2.2.  Tầm  nhìn  Kinh  tế  tuần  hoàn  đến  năm  2020  của  Nhật  Bản - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 2.2. Tầm nhìn Kinh tế tuần hoàn đến năm 2020 của Nhật Bản (Trang 41)
Hình  2.3.  Khung  pháp  lý  và  các  công  cụ  chính  sách  của  Chiến  lược  tăng  trưởng  xanh - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 2.3. Khung pháp lý và các công cụ chính sách của Chiến lược tăng trưởng xanh (Trang 46)
Hình  2.4.  Các  quy  định  về  xây  dựng  xã  hội  tuần  hoàn  tài  nguyên  trong  FARC - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 2.4. Các quy định về xây dựng xã hội tuần hoàn tài nguyên trong FARC (Trang 51)
Bảng  2.2.  Thống  kê  lượng  giãm  phát  thải  ở  của  7  ngành  năm  2020  tại  Hàn  Quốc - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
ng 2.2. Thống kê lượng giãm phát thải ở của 7 ngành năm 2020 tại Hàn Quốc (Trang 58)
Hình  2.5  Mô  hình  kinh  tế  tuần  hoàn  tại  Nhật  Bản - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 2.5 Mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản (Trang 89)
Hình  2.6.  Mô  hình  kinh  tế  tuần  hoàn  tại  Trung  Quốc - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
nh 2.6. Mô hình kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc (Trang 90)
Bảng  2.3.      So  sánh  chung  về  kinh  tế  tuần  hoàn  giữa  ba  quốc  gia - Phân tích chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn và phát thải ròng bằng "0" ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
ng 2.3. So sánh chung về kinh tế tuần hoàn giữa ba quốc gia (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w