1. Xác định tỷ lệ người bệnh cao huyết áp có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về kiểm soát huyết áp tại huyện Kiên Hải năm 2024. 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chưa đúng về kiểm soát huyết áp của người bệnh cao huyết áp tại huyện Kiên Hải năm 2024.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ KIỂM SOÁT
HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN CÓ
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI HUYỆN KIÊN HẢI,
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2024
Chủ nhiệm đề tài: BS Trần Thị Phương Thư ký đề tài: BS Trần Văn Cường
Cộng sự: 1 BS Nguyễn Minh Tú;
2 DS Danh Huỳnh Trọng Đức;
3 ĐD Dương Thị Bạch Thúy
Trang 2
ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN CÓ
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI HUYỆN KIÊN HẢI,
TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2024
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN KIÊN HẢI CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
BS TRẦN THỊ PHƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt Trang Danh mục các bảng,
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 3
1.2 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 12
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 28
Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ BÀN LUẬN 29
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Đặc điểm kiến thức, thái độ, thực hành kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu 32
3.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành kiểm soát huyết áp 35
3.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4(Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế )
(Joint National Committee)
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 5Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003) 3
Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay 4
Bảng 3.1 Đặc điểm chung về giới, dân tộc, nhóm tuổi và trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Đặc điểm chung về nghề nghiệp và thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3.3 Đặc điểm về kinh tế gia đình của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3.4 Đặc điểm về bệnh kèm theo của đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 3.5 Đặc điểm về bảo hiểm y tế của đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3.6 Kết quả kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3.7 Kiến thức về THA ở đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.8 Kiến thức các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát HA ở đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.9 Thái độ kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu 32
Bảng 3.10 Thực hành kiểm soát huyết áp của đối tượng nghiên cứu 32 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp với kiến thức chung kiểm soát HA 33
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và số năm mắc bệnh với kiến thức chung kiểm soát HA 33
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và bảo hiểm y tế với kiến thức chung kiểm soát HA 34
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp với thái độ chung kiểm soát HA 34
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, số năm mắc bệnh với thái độ chung kiểm soát HA 35
Trang 6Bảng 3.16 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và bảo hiểm y tế với thái độ chung kiểm soát HA 35 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp với thực hành chung kiểm soát HA 36 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, số năm mắc bệnh THA với thực hành chung kiểm soát HA 36 Bảng 3.19 Mối liên quan kinh tế gia đình và bảo hiểm y tế với thực hành chung kiểm soát HA 37 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa kiến thức chung với thực hành chung kiểm soát HA của đối tượng nghiên cứu 37 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thái độ chung với thực hành chung kiểm soát
HA của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa kiến thức chung với thái độ chung kiểm soát
HA của đối tượng nghiên cứu 38
Trang 7MỞ ĐẦU
Tăng huyết áp là một bệnh lý phổ biến trong xã hội hiện nay cả ở các nước phát triển và đang phát triển Đây là một bệnh lý nguy hiểm do mức độ cũng như bệnh tiến triển gây biến chứng nặng nề cho người bệnh như: đột quỵ não, suy tim, suy thận mạn, phình động mạch, xuất huyết võng mạc gây mù lòa,… Những biến chứng này có thể gây tử vong hoặc tàn phế cho bệnh nhân Vì vậy, việc điều trị để kiểm soát huyết áp sẽ làm hạn chế biến chứng xuất hiện Việc điều trị THA làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và khoảng 15% nguy cơ NMCT Mặc dù việc điều trị THA cho thấy ngăn chặn được BTM và kéo dài, nâng cao đời sống, nhưng THA vẫn chưa được điều trị một cách đầy đủ ở mọi nơi [5] Trong khi đó, việc kiểm soát huyết áp phụ thuộc nhiều vào sự tuân thử điều trị Kiến thức, thực hành, chi phí điều trị và khả năng chi trả đóng vai trò quan trọng
Ở nước ta, kinh tế xã hội phát triển giúp nhận thức của người dân về bệnh tật nói chung và THA dần được nâng cao, người dân có thái độ tích cực hơn trong phòng và điều trị bệnh… Tuy nhiên, mức độ nhận thức của người dân có những khu vực khác nhau chưa đồng đều, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Nhận thức của nhân dân về sự thường gặp, về mức độ nguy hiểm của bệnh còn chưa đầy đủ và đúng mực Việc điều chỉnh để có một lối sống hợp lý là vấn đề rất quan trọng trong việc phòng chống bệnh THA nhưng việc áp dụng trong thực tế lại không đơn giản vì những thói quen sinh hoạt không hợp lý đã tồn tại từ khá lâu và nhận thức của người dân cũng còn những hạn chế nhất định Người bệnh THA lại thường hay có nhiều bệnh lý khác đi kèm như: béo phì, ĐTĐ, rối loạn lipid máu, làm cho việc khống chế số đo HA càng khó khăn hơn Việc điều trị THA cần phải được thực hiện một cách liên tục và lâu dài, tuy nhiên trên thực tế, nhiều người bệnh chưa thực
Trang 8hiện được đúng theo những nguyên tắc này, cũng có thể do người bệnh tự lầm tưởng là bệnh đã khỏi hoặc do điều kiện kinh tế có khó khăn không tiếp tục mua được thuốc nữa hoặc do một vài tác dụng phụ của thuốc gây ra đối với bệnh nhân [2] Do vậy khảo sát và đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành
về kiểm soát huyết áp của bệnh nhân THA là cần thiết, qua đó đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cũng như tính toán chi phí xã hội
phù hợp cho điều trị Vì vậy chúng tôi đã thực hiện: “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về kiểm soát huyết áp và một số yếu tố liên quan của người dân có bệnh tăng huyết áp tại huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang năm 2024”
với 2 mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ thực hành đúng về kiểm
soát huyết áp tại huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang năm 2024,
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành về kiểm soát huyết áp của người dân có bệnh tăng huyết áp tại huyện Kiên Hải,
tỉnh Kiên Giang năm 2024
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh tăng huyết áp
1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tối
đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trượng (HATTr) ≥ 90mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất
2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [3], [20]
Đây không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành…
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Liên Ủy ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa Kỳ (Join National Committee – JNC) JNC VII (năm 2003) chia THA
như sau [36]:
Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
Phân loại THA
Trang 10Bảng 1.2 Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay
THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 100 – 109
Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn
1.1.3 Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng tăng huyết áp
Khoảng 90 – 95% bệnh nhân THA không rõ nguyên nhân (THA tiên phát) Bên cạnh các yếu tố nguy cơ làm THA tiên phát như độ tuổi, di truyền, chủng tộc, điều kiện kinh tế xã hội, giới (nam thường bị THA nhiều hơn nữ) thì một vài yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh THA [31]:
Các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được [6], [17]:
- Thừa cân và béo phì: Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) là 23 hoặc cao
hơn có nguy cơ bị THA cao hơn
- Ăn nhiều muối: làm THA ở một số người, DASH đã chứng minh mối
liên quan chặt chẽ giữa chế độ ăn mặn với THA và đột quỵ
- Rượu: uống rượu nặng và thường xuyên có thể gây THA đột ngột
Trang 11- Thiếu vận động: một cuộc sống tĩnh lặng dễ dẫn đến thừa cân và làm
tăng nguy cơ bị THA
- Stress: nó được đề cập đến như một yếu tố nguy cơ Tuy nhiên, mức độ
stress rất khó đánh giá và thay đổi theo từng người
- Kiến thức, thái độ của người dân về THA: mặc dù THA là bệnh phổ biến
và dễ chẩn đoán, khả năng nhận biết của người dân thường thấp Trong nhiều trường hợp, chỉ đến khi có biến chứng tim mạch mới biết có THA Ngoài ra,
có nhiều trường hợp dù bệnh nhân bị THA nhưng không có triệu chứng cơ năng rõ ràng [33] Các nghiên cứu về người THA tại các cơ sở điều trị cũng như ở cộng đồng đều phản ánh phần nào thực trạng nhận biết và nhận thức của dân chúng [9], [25]
Yếu tố nguy cơ không thể điều chỉnh được [6]:
- Chủng tộc: Ví dụ người Mỹ gốc phi có nguy cơ THA hơn người
Capcasians, và có xu hướng THA sớm hơn và nặng hơn
- Di truyền: THA có xu hướng di truyền Nếu bố hoặc những anh chị em
ruột bị THA sẽ có nguy cơ bị bệnh cao hơn đối tượng khác
- Tuổi: Nhìn chung, tuổi càng cao bạn càng dễ bị THA THA thường xảy
ra ở người trên 35 tuổi Đàn ông thường bắt đầu THA từ 35 -50 Phụ nữ có
thể bị THA sau mãn kinh
Có khoảng < 10% số người bị THA là do một bệnh hoặc yếu tố nào đó gây ra Đây gọi là THA thứ phát hay THA có căn nguyên Khi bị THA xuất hiện sớm (khi còn trẻ) hoặc THA rất khó khống chế thì cần tìm hiểu kỹ xem
có nguyên nhân nào không Những nguyên nhân gây THA thứ phát thường gặp là:
- Các bệnh lý về thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mãn tính, sỏi
thận, niệu quản, hẹp động mạch thận…
Trang 12- Các bệnh nội tiết: Cường tuyết giáp, cường tuyến yên; bệnh u tế bào ưa
crom (u tủy thượng thận), U vỏ thượng thận…
- Các bệnh lý mạch máu và tim: Hở van động mạch chủ, hẹp eo động
mạch chủ, bệnh Takayasu…
- THA do nhiễm độc thai nghén
- THA do dùng một số thuốc: Thuốc chữa ngạt mũi, chữa hen, thuốc
tránh thai, thuốc đông y như cam thảo…
- THA do yếu tố tâm thần: lo lắng, sợ sệt quá mức…
1.1.4 Biến chứng tăng huyết áp
THA cũng đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch [31] Đối với người bị THA, nguy cơ đột quỵ (tai biến mạch máu não) tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần so với người bình thường Nguy cơ tử vong sẽ tăng gấp đôi khi chủ số huyết áp tăng mỗi 20mmHg đối với HATT và tăng 10mmHg đối với HATTr Năm 2008, trên toàn thế giới có khoảng 16,5 triệu người chết vì THA THA có thể gây tử vong hay để lại di chứng nặng nề do ảnh hưởng của nó lên các cơ quan [17],[38] Biến chứng THA không chỉ phụ thuộc vào mức độ THA mà còn phụ thuộc vào sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tim mạch, thời gian mắc bệnh, chế độ điều trị, gồm hai dạng cấp và mãn:
1.1.4.1 Các biến chứng tim mạch
- Cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim: THA lâu ngày làm hư lớp nội
mạc (lớp áo trong cùng) của mạch vành, làm các phân tử cholesterol tỉ trọng thấp (LDL) dễ dàng đi từ lòng mạch máu vào lớp áo trong động mạch vành, sau đó làm hình thành mảng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành Khi động mạch vành bị hẹp nhiều, bệnh nhân thấy đau ngực, nghẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động nhiều, leo cầu thang, cơ đau giảm khi bệnh nhân ngừng gắng sức ( triệu trứng bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ) Đau trước ngực
Trang 13khi gắng sức ( triệu chứng bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ) Đau trước ngực có thể lan lên cổ, lan ra tay trái và ra sau lưng Nếu mảng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong động mạch vành hình thành huyết khối, làm tắc động mạch vành và làm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim Khi bị nhồi máu cơ tim, bệnh nhân thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ hôi, có thể đau lan lên cổ,
lan ra sau tay trái, ra sau lưng [10], [24]
- Suy tim: THA cũng làm cơ tim phì đại (cơ tim dày lên) Bệnh nhân bị
nhồi máu cơ tim do THA sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp
được, dẫn đến suy tim THA lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến suy tim [24]
- Phì đại thất trái: chẩn đoán phì đại thất trái có thể dựa trên những xét
nghiệm đơn giản như điện tâm đồ, siêu âm tim 85% phì đại thất trái đồng tâm, 15% là không đồng tâm Nó là sự tổn thương hay gặp nhất trong THA Sự hiện diện của nó làm tăng tỷ lệ nhồi máu cơ tim lên gấp 3 lần, suy tim gấp 4 lần và đột quỵ gấp 6 lần so với THA chưa có phì đại thất trái
1.1.4.2Các biến chứng về não
Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu nổi áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó bệnh nhân bị xuất huyết não, gây liệt nữa người, liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của bệnh nhân tùy vùng xuất huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trị vùng xuất huyết) [24] THA là yếu tố nguy cơ chính
trong đột quỵ, 85% là nhồi máu não, 10% là xuất huyết não
1.1.4.3 Biến chứng về thận
Sau ĐTĐ, THA là nguyên nhân hay gặp ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối Các biến chứng của THA lên thận có thể gặp như đạm niệu, tiểu máu vì có thể tổn thương cầu thận hay tổn thương mạch máu thận THA mãn gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng thận ngay cả THA nhẹ Xơ hóa thành tiểu động mạch đó là cơ chế chính thường không có triệu chứng trong
Trang 14giai đoạn đầu, triệu chứng thường gặp là tiểu về đêm, thiếu máu mãn, xét nghiệm nước tiểu đạm vi thể Bệnh tiến triển đưa đến suy thận mãn [29]
1.1.4.4 Biến chứng về mắt
THA làm hư mạch máu võng mạc, thành động mạch dày và cứng làm hẹp lòng mạch lại Khi có kết quả xơ cứng thành mạch thì động mạch sẽ đè bẹp tĩnh mạch và cản trở tuần hoàn làm bệnh nhân hỏng mắt tiến triển theo các giai đoạn THA còn làm xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa [10], [24]
1.1.4.5 Các biến chứng về mạch máu ngoại vi
THA làm động mạch chủ phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người THA làm hẹp động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch chân Khi động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, bệnh nhân đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi) [10], [24]
1.1.5 Kiểm soát huyết áp
Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến THA trong cộng đồng như: tuổi cao, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, khẩu phần ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều chất béo), ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, ĐTĐ, tiền sử gia đình có người bị THA… Phần lớn những yếu tố nguy cơ này có thể kiểm soát được khi người dân có hiểu biết đúng và biết được cách phòng tránh Thực hiện lối sống lành mạnh, phù hợp là một biện pháp chính để phòng ngừa THA cũng như góp phần điều trị bệnh THA [24], [32], [34]
Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi:
Nhu cầu muối ăn trung bình của một người khoảng 15g/ngày, trong đó
có tới 10g sẵn có trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ nên bổ sung thêm 5g muối tức là một thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ Để làm giảm yếu tố nguy cơ gây bệnh THA, ngoài việc giảm lượng muối trong khi nấu nướng, thì cũng
Trang 15cần hạn chế dùng thêm muối hoặc nước chấm trên bàn ăn Chú ý với những loại thức ăn nhanh, những món ăn công nghiệp luôn có lượng muối khá cao Muối thường được đề cập trong chế độ ăn hàng ngày là muối ăn sodium chloride (NaCl) Tuy nhiên, có nhiều loại muối khác nhau có cùng nguồn gốc sodium natri tồn tại trong thức ăn, thức uống công nghiệp như: monosodium glutamate (mì chính), sodium citrate, sodium bicarbonate,… cũng có tác hại tương tự NaCl khi dùng nhiều Theo Drug Bllietin, FDA, Cục quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ cho biết: những loại nước ngọt có gas, các loại bia có hàm lượng natri còn cao hơn so với nhiều loại thực phẩm công nghiệp khác [1] Cần chú ý đọc kỹ hàm lượng muối trên các loại thức ăn và chú ý hạn chế muối khi chế biến thức ăn Chỉ dùng 2,4g natri (6g NaCl) một ngày Ăn quá
mặn, tới 15 – 20g NaCl/ngày có thể làm mất hiệu quả của thuốc lợi tiểu
Ngoài ra ăn mặn còn làm tăng tử vong tim mạch Lợi điểm của chế độ giảm muối vừa phải bao gồm [29]:
- Gia tăng hiệu quả của thuốc huyết áp
- Giảm mất kali do thuốc lợi tiểu
- Giảm phì đại thất trái
- Giảm protein niệu
- Giảm bài tiết calci qua đường tiểu
- Giảm loãng xương, ung thu dạ dày, nguy cơ đột quỵ, nguy cơ suyễn,
đục thủy tinh thể, THA
Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo Giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần [1]:
Chúng ta nên ăn 3 bữa một ngày trong đó khoảng một nửa thực phẩm là chất bột, rau xanh, trái cây Không dùng nhiều mỡ và chất ngọt Cố gắng ăn các thức ăn có nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, đậu hạt các loại…
Trang 16Hàng ngày nên ăn khoảng 55 – 85g các chế phẩm từ sữa như phô mát, sữa chua,…
Mỡ bão hòa có nhiều trong mỡ động vật, bơ, phô mát… Các nhà khoa học khuyên khẩu phần ăn hàng ngày (tính theo mức cung cấp năng lượng) không quá 1/10 là lượng mỡ bão hòa Những loại hạt này còn có nhiều loại khoáng chất cần thiết để điều hòa huyết áp như magie Tuân thủ chế độ ăn như trên có thể sẽ giúp giảm huyết áp tâm thu khoảng 8 – 14mmHg
Ngoài chất xơ và những vi chất khác, ăn nhiều rau quả còn giúp bảo đảm chế độ ăn có nhiều kali và ít natri là yếu tố vô cùng quan trọng giúp ổn định huyết áp Nhiều loại củ quả như: khoai tây, bơ, dưa hấu, đậu nành có lượng kali rất cao, đặc biệt là chuối (tỷ lệ kali/natri: 396/1) Do đó chuối có tác dụng rất tốt trong việc hạ huyết áp và chống đột quỵ
Giảm cân nặng:
Rất nhiều người THA bị thừa cân Thường thì khi giảm cân, huyết áp có thể giảm xuống theo một cách đáng kể [30] Bên cạnh đó, thừa cân còn là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch Lối sống ít vận động, ăn nhiều clorie sẽ làm tăng cân dẫn đến béo phì Ngay cả ở bệnh nhân nữ, khi BMI tăng từ 21 lên 26, sẽ có nguy cơ THA gấp 3 lần, nguy cơ ĐTĐ typ II gấp 6 lần Nếu bệnh nhân thực hiện chế độ ăn kiêng, phải tuân thủ có chặt chẽ bao gồm: giảm lượng rượu uống vào Rượu ít dinh dưỡng nhưng giàu năng lượng Hiệu quả hạ huyết áp của giảm cân bao gồm nhiều cơ chế [6] :
- Gia tăng nhạy cảm Insulin do giảm mỡ ở phủ tạng
- Giảm hoạt tính giao cảm, có thể do cải thiện sự kiểm soát của thụ thế
áp lực
- Giảm nồng độ leptin huyết tương
- Đảo ngược lại sự rối loạn chức năng nội mạc (gia tăng giãn mạch tùy
thuộc NO)
Trang 17Chế độ tập luyện:
Tập luyện thể lực là một phần không thể thiếu được của chương trình điều trị hằng ngày [32]:
- Giảm hoạt tính giao cảm qua trung gian gia tăng phản xạ thụ thể áp lực
- Giảm độ cứng động mạch và gia tăng độ giãn đông mạch hệ thống
- Tăng cường phóng thích NO từ nội mạc, yếu tố này có thể liên quan
đến mức cholesterol máu thấp
- Gia tăng nhạy cảm Insulin
Bỏ hút thuốc lá ngay:
Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy rõ nguy cơ của hút thuốc lá với THA và các biến cố tim mạch, người THA mà hút thuốc lá sẽ làm nguy cơ tim mạch tăng gấp nhiều lần Việc bỏ hút thuốc là cũng như làm giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA [6] Các tác hại của thuốc lá lên hệ tim mạch bao gồm [29]:
- Làm xấu tình trạng lipid máu
- Gia tăng béo phần bụng (hội chứng chuyển hóa)
- Gia tăng đề kháng Insulin
- Giảm khả năng giãn động mạch tùy thuộc nội mạc
- Gia tăng khối lượng cơ thất trái
- Tăng hoạt động hẹ giao cảm
Hạn chế uống rượu quá mức:
Có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa rượu và huyết áp [31] Uống nhiều rượu là yếu tố gây THA, vì vậy cần phải hạn chế uống nhiều rượu bia Một số nghiên cứu cho thấy: nếu dùng thường xuyên một lượng rượu nhỏ sẽ có tác dụng làm giảm các nguyên nhân gây tử vong nói chung và do tim mạch nói riêng Uống rượu với mức độ vừa phải có thể làm giảm huyết áp từ 2 – 4 mmHg Nam giới mỗi ngày không uống quá 2 ly
Trang 18nhỏ, tương đương 30ml ethanol (tức khoảng 330 ml bia hay 120 ml rượu vang hay 30 ml rượu whisky) Đối với phụ nữ và người nhẹ cân, lượng rượu nên chỉ bằng một nửa nam giới [1] Nếu bạn uống quá nhiều rượu bia thì hãy hạn chế bởi uống nhiều rượu làm tăng nguy cơ béo phì, THA khó kiểm soát, tăng nguy cơ tai biến mạch não [6]
Hãy kiểm soát tốt những căng thẳng [6]:
Căng thẳng kích thích các phản ứng cường thần kinh giao cảm của cơ thể, tăng tiết các chất adrenalin và làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch ở bệnh nhân THA và làm tăng tần số các cơn THA Nên thu xếp công việc, cuộc sống ở mức cân bằng nhất và nên tham gia tập luyện, thư giãn để giúp tránh khỏi những căng thẳng gặp phải
Thuốc [6]:
Khi huyết áp tăng trên giới hạn cho phép hoặc khi có những nguy cơ đi kèm thầy thuốc sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc để làm giảm huyết áp Hiện nay, chúng ta vui mừng là có nhiều lọai thuốc hạ áp với hiệu quả tốt hơn và ít tác dụng phụ hơn Cũng như tất cả các thuốc điều trị, thuốc hạ huyết áp cũng có thể có tác dụng phụ Tuy vậy, đa số thuốc hạ huyết áp nếu dùng đúng chỉ định là khá an toàn và có tác dụng phụ là ít
1.2 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Trên toàn thế giới, THA được ước tính gây ra 7,5 triệu ca tử vong, khoảng 12,8% trong tổng số các ca tử vong này chiếm 57 triệu người khuyết tật điều chỉnh năm sống Trên khu vực của WHO, tỷ lệ THA cao nhất là ở châu Phi, chiếm 46% cho cả hai giới cộng lại Tỷ lệ THA thấp nhất trong khu vực của WHO là châu Mỹ, chiếm 35% cho cả hai giới Trong tất cả các khu vực của WHO, những người đàn ông có tỷ lệ THA cao hơn một chút so với phụ nữ Sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê ở châu Mỹ và châu Âu
Trang 19Nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy, hầu như hai phần ba nam giới lớn tuổi THA, tần suất này ở nữ giới lớn tuổi còn cao hơn Người da đen không phải gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ THA (80%) cao hơn người da trắng (64%) trong giai đoạn 2003-2006 [11], [37] Hiện nay, bệnh THA ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 65 triệu người lớn ở Mỹ [35]
Tại Canada có 7,5 triệu người bị THA, cứ 5 người Canada là có 1 người
bị THA Trong số những người bị THA thì cứ 3 người lại có 1 người có huyết
áp không kiểm soát được, đặc biệt là những người có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh thận [35]
1.2.2 Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Theo Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm 1960, tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% Theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì tỷ lệ THA của những người từ 25 tuổi trở lên trên toàn quốc cho thấy, tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% Điều đáng quan tâm là trong số người bị THA, có 52% (khoảng 5,7 triệu người) không biết mình bị THA, 30% (khoảng 1,6 triệu người) số người biết bị THA nhưng không điều trị, 64% (khoảng 2,4 triệu người) số người biết
bị THA, đã được điều trị, nhưng không đạt huyết áp mục tiêu [28]
Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm, Nguyễn Tấn Đạt, Lê Minh Hữu tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tỷ lệ người bị THA là 39,4% [19] Năm
2010, theo điều tra của Trần Kim Phụng về tỷ lệ THA ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị là 26,8% [15] Năm 2009, theo điều tra của Đặng Oanh và cộng sự về tỷ lệ THA ở người trưởng thành tại tỉnh ĐắK Lắk là 30% [14]
Theo một nghiên cứu của tác giả Văn Công Minh về tình hình và các
yếu tố nguy cơ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi tại thị xã Bình Minh, Tỉnh
Trang 20Vĩnh Long năm 2013 cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh THA chung là 33,7% Trong
đó, 56,1% là THA độ I, 31,5% là THA độ II và 12,5% là THA độ III [12] Nghiên cứu của Lê Triều Minh nghiên cứu trên 810 đối tượng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên thành phố Vĩnh Long năm 2012 Kết quả như sau: tỷ lệ THA chung là 43% Tuổi liên quan chặt chẽ với THA, tuổi càng cao nguy cơ THA càng cao, học vấn và mức kinh tế gia đình thấp nguy cơ THA cao Thói quen ăn mặn, ăn dầu mỡ động vật có nguy cơ THA cao, hút thuốc lá nguy cơ THA cao Hút thuốc lá càng nhiều thì nguy cơ THA cao (p<0,001) Chỉ số BMI và chỉ số WHR cao nguy cơ THA cao [23]
1.2.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Nghiên cứu của Trần Thiện Thuần về xác định yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân cao huyết áp tại Quận 9 TP Hồ Chí Minh năm 2006 Kết quả cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân thiếu kiến thức bệnh lý THA cũng như kiến thức về cách theo dõi và điều trị bệnh này cao (50.61%) Nguyên nhân dẫn đến kiến thức thấp: Thiếu thông tin về THA Có 61,6 % trình độ học vấn thấp, 54% trình độ học vấn từ cấp II trở xuống Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ sai đối với việc theo dõi và điều trị THA cao 74% Nguyên nhân dẫn đến thái độ sai của người bệnh do: Thiếu kiến thức, hoàn cảnh kinh tế khó khăn Tỷ lệ bệnh nhân thực hành sai trong việc theo dõi và điều trị THA cao 55% Nguyên nhân dẫn đến thực hành sai do: Kiến thức sai, hoàn cảnh kinh tế [21]
Nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ về Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân THA khu vực nông thôn tại Hà Nội và Vĩnh Phúc năm 2014 Cho ta kết quả: Đa số bệnh nhân THA > 60 tuổi 71,7%; 33,2% bệnh nhân THA không biết HA thế nào là bình thường và 87,6% không biết THA được phân thành mấy độ; kiến thức về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ THA
Trang 21còn hạn chế: đa số bệnh nhân THA không biết hoặc hiểu sai về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ THA 87,9% bệnh nhân THA biết biến chứng đột quỵ não nhưng < 43% không biết các biến chứng suy tim, suy thận, tổn thương mắt,… 28% người mắc THA không hiểu đúng về điều trị THA và 89,9% hiểu sai khi cho rằng bệnh THA có thể điều trị khỏi hoàn toàn 38,7% người THA không điều trị hoặc điều trị không liên tục [18]
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân THA tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang của Tạ Văn Trầm Kết quả nghiên cứu cho ta thấy: Có 200 người THA tham gia phỏng vấn; 72,3% biết THA nhờ khám định kỳ, 46,6% biết chính xác ngưỡng huyết áp; 88% biết THA là bệnh nguy hiểm; 73,3% biết cách chữa trị; 16% biết ít nhất một tên thuốc trị THA; 56,5% tuân thủ điều trị; 8,9% điều trị thường xuyên và 22,8% mua thuốc theo toa cũ mà không tái khám [22]
Nghiên cứu tình hình tăng huyết áp và việc thực hiện theo dõi và điều trị
ở người từ 25 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang năm 2014 của Phạm Thị Tâm, Nguyễn Tấn Đạt, Lê Minh Hữu, kết quả cho thấy: tỷ lệ THA là 39,4%, trong đó 27,1% đã phát hiện trước đó và 12,3% mới phát hiện trong nghiên cứu Tỷ lệ THA ở nam là 27,34% và ở nữ là 62,6%, THA tăng dần theo tuổi, nhóm tuổi tăng huyết áp thấp nhất là 25-34 tuổi 11,2% và cao nhất là người từ 75 tuổi trở lên 19,8% [19]
Một nghiên cứu của Hồng Mùng Hai, nghiên cứu tình hình tăng huyết áp
ở người từ 25 tuổi trở lên và kết quả can thiệp tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau năm 2013, tỷ lệ THA là 20,75% Riêng ở nữ giới có tỷ lệ THA là 21,6%
và ở nam giới là 19,8% Cán bộ, viên chức có tỷ lệ THA 12,3%, người nội trợ
là 19,8%, nghề nông là 25,1% Tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi: nhóm tuổi từ 25-44 tuổi là 3,3%, từ 45-54 tuổi là 17,6%, trên 65 tuổi là 50,9% [8]
Trang 22Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh [7] về Kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện cấp cứu Trưng Vương năm 2010 Tỉ lệ có kiến thức đúng của bệnh nhân tăng huyết áp về sử dụng thuốc là 55,7%; tỉ lệ có thái độ đúng là 35,8%; 49,5% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc Có mối liên hệ giữa thái độ về sử dụng thuốc với sự tuân thủ dùng thuốc Không phát hiện mối liên hệ giữa kiến thức
về việc sử dụng thuốc với sự tuân thủ dùng thuốc (p>0,05) Ở nhóm bệnh nhân tuân thủ và không tuân thủ dùng thuốc có mối liên hệ giữa kiến thức và thái độ về sử dụng thuốc
Nghiên cứu của Võ Văn Trạng về kiến thức, thái độ, thực hành kiểm soát
HA của người THA điều trị ngoại trú tại bệnh xá quân y Tỉnh Bạc Liêu năm
2011 Tỷ lệ người có kiến thức kiểm soát HA đúng là 63,1%, thái độ kiểm soát HA đúng là 83,8%, thực hành kiểm soát HA đúng là 10,8% [26]
Nghiên cứu của Phan Nhật Lệ và Trần Thiện Thuần về Kiến thức, thái độ, thực hành về kiểm soát THA của bệnh nhân khám bảo hiểm y tế tại bệnh viện Quận 3 năm 2009, tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về kiểm soát các yếu tố nguy cơ THA: Kiến thức về yếu tố nguy cơ ăn mặn được bệnh nhân biết nhiều nhất chiếm tỉ lệ 81,2%, về yếu tố nguy cơ mập phì và uống rượu chiếm tỉ lệ thấp hơn Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ chấp nhận kiểm soát THA thay đổi lối sống theo lời khuyên của bác sĩ: kiểm soát cân nặng 96,02%, hạn chế ăn mặn 95,94%, uống rượu vừa phải 88,84% Tỷ lệ bệnh nhân có thực hành kiểm soát THA bằng những biện pháp thay đổi lối sống: hạn chế ăn mặn 80%, uống rượu vừa phải 74% và kiểm soát cân nặng 60% [11]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân về kiểm soát huyết áp có độ tuổi từ 25 tuổi trở lên đang sinh sống tại huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tiến hành khảo sát
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người dân có độ tuổi từ 25 trở lên được chẩn đoán THA đang sinh sống tại huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang trong thời gian điều tra
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không đồng ý trả lời phỏng vấn
- Bệnh nhân câm điếc, rối loạn tâm thần, các trường hợp bệnh nặng
không có khả năng trả lời phỏng vấn
- Bệnh nhân bỏ địa bàn, vắng mặt trong thời gian nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 04/2024 đến tháng 10/2024
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành theo nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
d
) p 1 ( p z
2 /2 - 1
Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu ước lượng
α: là mức ý nghĩa 0,05% (xác suất sai lầm loại 1), độ tin cậy 95%
Trang 24Z: là trị số từ phân phối chuẩn (Z 0,975 =1,96 với α=0,05)
p: là tỷ lệ kiến thức đúng về tăng huyết áp của tăng huyết áp, chọn p = 0,49 (Theo kết quả nghiên cứu của Võ Văn Trạng [26] thì tỷ lệ kiến thức đúng chung của người tăng huyết áp là 63,1%)
d: sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 5%
Thay vào công thức ta được n = 358 người
Cộng thêm 10% sai số, hao hụt trong nghiên cứu và làm tròn, cỡ mẫu sau cùng là 400 đối tượng
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện
- Theo bốn danh sách quản lý bệnh nhân tăng huyết áp ở các xã Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn, Nam Du
- Đánh số thứ tự từ 1 đến n trong danh sách quản lý bệnh nhân tăng huyết áp ở mỗi xã
- Tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 100 bệnh nhân ở mỗi danh sách của các xã để phỏng vấn thu mẫu cho đủ mẫu
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Tuổi: được tính theo tuổi dương lịch Được chia thành 4 nhóm:
- 25 – 45 tuổi
- 46 – 55 tuổi
- 56 – 65 tuổi
- ≥ 66 tuổi
Giới tính: có 2 giá trị: Nam, nữ
Dân tộc: gồm: Kinh, Hoa, Khơ me, khác
Trình độ học vấn (cấp bậc học cao nhất đã hoàn thành): gồm các giá trị:
- Mù chữ: không biết viết, biết đọc
Trang 25- Biết đọc biết viết: chưa học hết lớp 5
- Tiểu học: đã học xong lớp 5
- Trung học cơ sở: đã học xong lớp 9
- Trung học phổ thông: đã học xong lớp 12
- Đại học, Cao học: Có bằng đại tốt nghiệp đại học, sau đại học
Nghề nghiệp: là việc làm chính thức chiếm 50% tổng số thời gian trong
ngày của người dân đem lại thu nhập chính cho đời sống cá nhân và gia đình Nghề nghiệp gồm các loại:
- Nông dân: làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi, thợ câu, thả lưới…
- Công nhân: là người kiếm sống bằng cách làm việc thể xác (lao động
chân tay), bằng cách của mình - cung cấp lao động để lãnh tiền công (tiền lương) của chủ nhân (người sử dụng lao động), để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
- Buôn bán: trực tiếp buôn bán trong tất cả các ngành bao gồm: Bán đồ
ăn, đồ uống, quà vặt, buôn bán trên sông, buôn bán nhỏ tại nhà…
- CNVC: công nhân viên chức nhà nước, những người làm các công việc
liên quan đến hành chính, văn bản, sổ sách bao gồm nhân viên văn phòng, kế toán, thư kí, giúp việc văn thư, làm việc văn phòng tại các ủy ban nhân dân phường/xã, quận/huyện hoặc tỉnh/thành phố, giáo viên và trưởng/phó phòng/ban hay cơ quan/đơn vị
- Làm thuê: là người nhờ vào sức lao động của mình làm việc cho người
khác để nhận được tiền công
- Nội trợ: là người lo mọi công việc hằng ngày trong sinh hoạt gia đình
như cơm nước, giặt giũ, chăm sóc con cái …
Trang 26- Hết tuổi lao động/không còn khả năng lao động: những đối tượng được
nghỉ hưu theo quy định của nhà nước hoặc không còn khả năng để thực hiện lao động
- Nghề nghiệp khác: là công việc không ổn định hoặc các công việc
chuyên ngành, đặc thù bao gồm: tài xế, thợ may, thợ tự do, sửa xe, sửa điện tử, thợ mộc, thợ hồ xây dựng, thợ cơ khí, thợ bạc, thợ in lụa, thợ hớt tóc…
Kinh tế gia đình ( dựa theo sổ được Ủy ban nhân dân cấp hoặc thu nhập theo trung bình đầu người theo Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24 tháng 6 năm 2014) là gồm các giá trị:
- Hộ nghèo: Có sổ hộ nghèo hoặc thu nhập < 700 ngàn/tháng/người ở
nông thôn và < 900 ngàn/tháng/người ở thành thị
- Hộ không nghèo: Không có cấp sổ hoặc thu nhập > 700
ngàn/tháng/người ở nông thôn và > 900 ngàn/tháng/người ở thành thị
2.2.4.2 Tình trạng THA của đối tượng nghiên cứu
Thời gian mắc bệnh THA: thời gian từ lúc được chẩn đoán đến nay
- ≤ 5 năm
- > 5 năm
Đang điều trị huyết áp, có hai giá trị:
- Có: đang sử dụng thuốc điều trị THA liên tục theo chỉ định của bác sĩ
- Không: không điều trị hoặc điều trị không liên tục
Chỉ số HA hiện tại: ghi chỉ số huyết áp của đối tượng nghiên cứu khi thực hiện đo HA trực tiếp Phân loại HA dựa theo tiêu chuẩn JNC VII năm
2003
- Bình thường (< 120mmHg và < 80mmHg)
- Tiền THA (120 - 139mmHg hoặc 80 - 89mmHg)
- THA độ 1 (140 - 159mmHg hoặc 90 - 99mmHg)
- THA độ 2 ( ≥ 160 hoặc ≥ 100mmHg)
Trang 27Hiện đang mắc các bệnh nào khác ngoài THA: có hay không có mắc các
bệnh khác ngoài THA đã được chẩn đoán của CSYT hay bác sĩ điều trị thì ghi rõ
- Không mắc bệnh nào
- Thiếu máu não, tai biến mạch máu não
- Đái tháo đường
- Tăng lipid máu
- Bệnh thận: tiểu đạm vi thể, đại thể, suy thận
- Bệnh tim: suy tim, thiếu máu, nhồi máu
- Khác
Thuốc đang điều trị THA: Thuốc hiện tại đang dung để điều trị THA
được bác sĩ điều trị kê toa hay cơ sở y tế cung cấp
2.2.4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành đúng kiểm soát huyết áp
Được đánh giá bằng cách tính điểm cho những câu trả lời đúng trong
bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn
Kiến thức THA và kiểm soát THA:
Bệnh THA gồm có những biến chứng nào
- Đúng: khi biết là có và có thể nêu 1 biến chứng
- Không đúng: khi nói không có hoặc không thể liệt kê được biến chứng
nào
Yếu tố/thói quen làm bệnh THA nặng hơn
Trang 28- Đúng: khi biết là có và có thể nêu ≥ 1 yếu tố/thói quen
- Không đúng: khi nói không có hoặc không thể liệt kê được
THA phải điều trị như thế nào
- Đúng: khi trả lời là điều trị liên tục suốt đời
- Không đúng: khi trả lời không cần thiết phải điều trị, không điều trị liên
tục, không biết
Những biện pháp điều trị THA không dùng thuốc
- Đúng: khi biết là có và có thể nêu 1 biến pháp
- Không đúng: khi nói không có hoặc không thể liệt kê được biện pháp
nào
Chỉ số HA bao nhiêu là kiểm soát tốt
- Đúng: khi trả lời < 140/90 mmHg
- Không đúng: khi không trả lời được hoặc trả lời sai
THA có điều trị khỏi hay không
- Đúng: khi trả lời là không
- Không đúng: khi không trả lời được hoặc trả lời là có
Người THA nên làm các xét nghiệm phát hiện biến chứng không
- Đúng: khi trả lời là có
- Không đúng: khi trả lời là không hoặc không biết
Đánh giá là có kiến thức đúng về THA kiểm soát THA khi đối tượng trả lời đúng 4/7 câu trong bộ câu hỏi phỏng vấn
Thái độ của đối tượng về kiểm soát HA
THA phải điều trị suốt đời
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
Trang 29- Rất không đồng ý
Người THA cần uống thuốc liên tục mỗi ngày
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Người THA phải tái khám theo hướng dẫn của bác sỹ
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Khi bị THA không cần hạn chế ăn mặn
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Người THA nên tập thể dục mỗi ngày
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Người THA không cần hạn chế rượu bia
- Rất đồng ý
Trang 30- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Người THA không cần bỏ thuốc lá
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Người THA nên tìm hiểu thông tin về kiểm soát HA qua các phương tiện
- Rất đồng ý
- Đồng ý
- Không ý kiến
- Không đồng ý
- Rất không đồng ý
Đánh giá là có thái độ đúng về kiểm soát THA khi đối tượng trả lời đúng 6/8 câu trong bộ câu hỏi phỏng vấn
Thực hành về kiểm soát HA của đối tượng nghiên cứu
Đánh giá thực hành đúng qua việc đối tượng có hay không có thực hiện
những hành vi sau:
Đo HA thường xuyên
- Đúng: có đo HA ≥ 1 lần/ngày
- Không đúng: không đo
Đi tái khám
- Đúng: có đi
Trang 31- Không đúng: không đi
Tái khám có đúng lịch
- Đúng: Đúng lịch
- Không đúng: không đúng lịch
Có uống thuốc liên tục
- Đúng: có uống liên tục
- Không đúng: không liên tục
Có tìm hiểu thông tin về điều trị và biến chứng qua các phương tiện
- Đúng: có tìm hiểu ≥ 1 phương tiện
- Không đúng: không tìm hiểu
Chế độ ăn nhạt
- Đúng: Có < 4 ngày/tuần có món kho, ram mặn và giảm ăn mặn hơn
trước lúc bị THA
- Không đúng: Ăn ≥ 4 ngày/tuần có món kho, ram mặn và không giảm so
với trước lúc bị THA
Chế độ giảm ăn dầu mỡ
- Đúng: có ăn < 5 ngày/tuần có món ăn chiên,xào và giảm ăn hơn so với
trước lúc bị THA
- Không đúng: Ăn ≥ 5 ngày/tuần có món ăn chiên, xào và không giảm
hơn so với trước lúc bị THA
Tăng cường ăn trái cây, rau củ
- Đúng: ăn ≥ 2,5 suất/ngày và ≥ 4 ngày/tuần
- Không đúng: ăn ít hơn 2,5 suất/ngày và < 4 ngày tuần
Tăng cường hoạt động thể lực
- Đúng: khi có công việc hoạt động nặng, trung bình hoặc tập thể dục >
30 phút/ngày/tuần x 5 ngày/tuần hay 10 phút/ngày cả tuần
- Không đúng: không hoạt động hoặc tập thể dục