1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam

93 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Những Nhân Tố Tác Động Đến Hoạt Động Logistics Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Logistics & QLCCƯ
Thể loại tiểu luận nhóm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (16)
    • 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu của nghiên cứu 2 2. Mục tiêu chung (16)
      • 2.2. Mục tiêu cụ thể (18)
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 1. Đối tượng nghiên cứu (19)
      • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (19)
    • 4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 3 5. Ý nghĩa của đề tài 3 6. Kết cấu 3 B. PHẦN NỘI DUNG (19)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4 1.1. Tổng quan về dịch vụ Logistics (21)
    • 1.1.1. Khái niệm (21)
    • 1.1.2. Vai trò của dịch vụ logistics (24)
    • 1.1.3. Lịch sử hình thành Logistics (25)
    • 1.2. Những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển ngành logistics ở VN.7 1. Những thành tựu trong quá trình phát triển logistics (27)
      • 1.2.2. Những hạn chế trong quá trình phát triển ngành logistics (30)
    • 1.3. Một số quốc gia phát triển logistics thành công (34)
      • 1.3.1. Trung Quốc (34)
      • 1.3.2. Singapore (35)
      • 1.3.3. Ấn độ (37)
    • 2.1. Thực trạng về dịch vụ logistics tại Việt Nam (40)
    • 2.2. Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động dịch vụ Logistic tại VN16 1. Các nhân tố khách quan (43)
      • 2.2.1.1. Yếu tố về chính sách pháp luật VN 16 2.2.1.2. Yếu tố về vị trí địa lý 19 2.2.1.3. Yếu tố về kết cấu hạ tầng 19 2.2.1.4. Yếu tố về công nghệ thông tin 27 2.2.2. Các nhân tố chủ quan (43)
      • 2.2.2.1. Yếu tố về nguồn nhân lực logistics 30 2.2.2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 32 2.3. Đánh giá ưu, nhược điểm về hoạt động dịch vụ Logistics tại Việt Nam (71)
      • 2.3.1. Ưu điểm (78)
      • 2.3.2. Nhược điểm (80)
  • CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 36 3.1. Hoàn thiện các chính sách pháp luật (83)
    • 3.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (84)
    • 3.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng (85)
    • 3.4. Mở rộng và liên kết quốc tế (87)
    • C. PHẦN KẾT LUẬN (88)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)

Nội dung

Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài 1 2 Mục tiêu của nghiên cứu 2 2 Mục tiêu chung

Hiện nay, toàn cầu hóa và sự phát triển của khoa học công nghệ đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động kinh doanh và xu hướng phát triển kinh tế thế giới Hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia, đặc biệt là ở Việt Nam, đang diễn ra sôi nổi với sự tham gia ngày càng tăng của nhiều doanh nghiệp Các mặt hàng xuất nhập khẩu trở nên đa dạng và phong phú, mở rộng tiềm năng thị trường Do đó, từ khi mở cửa hội nhập quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã đóng góp đáng kể vào lợi nhuận của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế Việt Nam.

Hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đã tác động sâu sắc đến hệ thống phân phối toàn cầu Sự biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực vận tải, lưu kho và dịch vụ khách hàng đã thúc đẩy hoạt động Logistics phát triển Điều này nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời và đồng bộ các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh, từ đó tối ưu hóa nguồn tài nguyên và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Việt Nam đã mở cửa thị trường dịch vụ Logistics từ năm 2013, đáp ứng nhu cầu cung ứng ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, các biện pháp bảo hộ cho hoạt động Logistics trong nước đã được dỡ bỏ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam Mặc dù các doanh nghiệp Logistics trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, nhưng hiện nay hầu hết chỉ hoạt động như những nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ, chưa có doanh nghiệp nào đủ khả năng tổ chức và điều hành toàn bộ quy trình hoạt động Logistics.

Nhóm tác giả đã phát triển bài nghiên cứu một cách hệ thống về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động Logistics, mang lại ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được phân tích, nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu với đề tài: “Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động dịch vụ Logistics.”

Logistics ở Việt Nam đang được đánh giá để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ này Bài viết đề xuất các giải pháp nhằm phát triển ngành dịch vụ Logistics, góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế.

2 Mục tiêu của nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu về phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động Logistics ở Việt Nam.

2.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu trên đề tài nghiên cứu khoa học cần hoàn thiện các mục tiêu sau:

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ Logistics

Nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ Logistics tại Việt Nam, đồng thời đề xuất những giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng và hiệu suất của dịch vụ này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 1 Đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về những nhân tố tác động đến hoạt động dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi hoạt động dịch vụ Logistics ở Việt Nam.

Về thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ 25/12/2022 đến 19/02/2023.

Nghiên cứu này nhằm xác định thực trạng hoạt động dịch vụ Logistics tại Việt Nam, bao gồm những bất cập và hạn chế hiện có Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển lĩnh vực Logistics, góp phần nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh trong nền kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu 3 5 Ý nghĩa của đề tài 3 6 Kết cấu 3 B PHẦN NỘI DUNG

Nhóm tác giả chủ yếu áp dụng phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu thứ cấp, tham khảo từ các tài liệu liên quan đến hoạt động dịch vụ Logistics tại Việt Nam Họ sử dụng các báo cáo từ tạp chí khoa học, tài liệu nghiên cứu, sách, báo và internet để tổng quan lý thuyết, phục vụ cho luận văn.

Nghiên cứu này cung cấp tài liệu quan trọng cho doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ logistics, giúp họ nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của mình Qua đó, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam.

Ngoài mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài còn có phần nội dung được trình bày theo 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Phân tích và đánh giá những nhân tố tác động đến hoạt động dịch vụ Logistics ở Việt Nam

Chương 3: Đề xuất giải pháp

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4 1.1 Tổng quan về dịch vụ Logistics

Khái niệm

Theo Philip Kotler (2003), dịch vụ được định nghĩa là hoạt động hoặc lợi ích được cung cấp để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Chất lượng logistics, tương tự như các loại hình dịch vụ khác, được hiểu là mức độ thỏa mãn và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng đối với các dịch vụ logistics mà doanh nghiệp cung cấp.

Chất lượng dịch vụ logistics được định nghĩa là quá trình cải thiện dịch vụ logistics nhằm tối ưu hóa hiệu quả trong chuỗi cung ứng, bao gồm các giai đoạn như mua sắm, sản xuất, phân phối, vận tải, tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu Sự hợp tác giữa các công ty và toàn bộ ngành công nghiệp là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả này.

Logistics là thuật ngữ đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong một thời gian dài, nhưng tại Việt Nam, nó vẫn còn tương đối mới mẻ Trên toàn cầu, logistics được hiểu qua nhiều khái niệm chính.

Dịch vụ logistics, theo định nghĩa trong cuốn “The Management of Business Logistics”, là một mô hình được thiết lập theo các chuẩn quy định từ trước do các nhà vận tải cung cấp, nhằm mời gọi sử dụng và tính tiền cước giao nhận hàng hóa Tổng quát, logistics là quá trình thực hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng thông tin liên quan, từ nơi sản xuất cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng.

Theo Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (CLM), logistics được định nghĩa là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát việc tiết kiệm chi phí cho dòng lưu chuyển và lưu trữ vật liệu, hàng tồn kho, thành phẩm cùng các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Theo ủy ban quản lý logistics của Mỹ, logistics được định nghĩa là quá trình lập kế hoạch và lựa chọn phương án tối ưu để quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản hàng hóa một cách hiệu quả về chi phí và thời gian Quá trình này kéo dài từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng các yêu cầu trong kế hoạch.

Theo tác giả Theo Mashou trong cuốn “Logistics and Supply Chain Management”, logistics được định nghĩa là quá trình tối ưu hóa vị trí lưu trữ và chu chuyển tài nguyên từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động kinh tế diễn ra giữa các bên như nhà sản xuất, người bán buôn và bán lẻ, nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc quản lý chuỗi cung ứng.

Theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14 tháng 06 năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 quy định:

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại mà trong đó, thương nhân tổ chức thực hiện nhiều công việc liên quan đến hàng hóa, bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, làm thủ tục hải quan, tư vấn khách hàng, và giao hàng Các dịch vụ này được thực hiện theo thỏa thuận với khách hàng để nhận thù lao Phiên âm tiếng Việt của dịch vụ logistics là dịch vụ lô-gi-stíc.

Logistics không chỉ là một dịch vụ đơn lẻ mà là một chuỗi các dịch vụ liên quan đến giao nhận hàng hóa, bao gồm làm thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói, ghi nhãn, lưu kho và phân phát hàng hóa tới các địa chỉ khác nhau Khi nhắc đến logistics, chúng ta thường nghĩ đến một hệ thống dịch vụ liên kết chặt chẽ, với mục tiêu tối ưu hóa mọi công việc từ khâu cung ứng, sản xuất, phân phối cho đến tiêu dùng.

Vai trò của dịch vụ logistics

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa, dịch vụ logistics đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất và nền kinh tế quốc gia Sự phát triển của logistics giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời cải thiện hiệu quả kinh tế - xã hội Logistics không chỉ là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng mà còn là động lực thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa trên toàn cầu.

Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các hoạt động kinh tế cả trong nước và toàn cầu, thông qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông và phân phối Việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển từ khâu đầu vào cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh.

Tiết kiệm và giảm chi phí trong lưu thông phân phối là yếu tố quan trọng giúp mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế Việc này không chỉ góp phần giảm chi phí mà còn hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực buôn bán và vận tải quốc tế.

Logistics, là một thành phần quan trọng trong GDP, có tác động lớn đến tỷ lệ lạm phát, lãi suất, năng suất và chi phí trong nền kinh tế Nó không chỉ nâng cao chất lượng và hiệu quả mà còn tạo ra giá trị gia tăng về thời gian và địa điểm.

Logistics có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh (Minh Khuê, 2021).

Lịch sử hình thành Logistics

Logistics đã trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế nhờ vào sự chuyên môn hóa và phát triển Thú vị thay, logistics lần đầu tiên được phát minh và ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, không phải trong thương mại Trong hai cuộc Đại chiến thế giới, các quốc gia đã áp dụng logistics để di chuyển quân đội và vũ khí nặng, đồng thời đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến Hiệu quả của hoạt động logistics có ảnh hưởng lớn đến thành bại trên chiến trường.

Thuật ngữ logistics có nguồn gốc từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã, nơi các Logistikas chịu trách nhiệm cung cấp vũ khí và nhu yếu phẩm cho binh sĩ Công việc này rất quan trọng trong chiến tranh, yêu cầu các bên tham chiến bảo vệ nguồn cung ứng của mình và phá hủy nguồn cung của đối phương Đến thế kỷ XIX, logistics quân sự trở nên nổi bật, đặc biệt trong Thế chiến thứ 2, khi Mỹ và quân đồng minh vượt trội hơn Đức nhờ cung cấp kịp thời vũ khí và nhu yếu phẩm Những bài học từ logistics quân sự vẫn giữ giá trị khoa học và lịch sử, được điều chỉnh để áp dụng trong sản xuất và kinh doanh ngày nay.

Trong bối cảnh doanh nghiệp, logistics được hiểu là quản lý chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối vật chất Các khái niệm về logistics đa dạng trên thế giới, phụ thuộc vào ngành nghề và mục đích nghiên cứu Dù logistics còn mới mẻ tại Việt Nam, nhưng đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia khác Logistics đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế xã hội, đặc biệt trong thương mại và vận tải hàng hóa.

Những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển ngành logistics ở VN.7 1 Những thành tựu trong quá trình phát triển logistics

Dịch vụ logistics tại Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển, đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng gặp phải một số hạn chế Việc nhận diện những thành tựu và hạn chế này là cần thiết để tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phát triển hiệu quả.

1.2.1 Những thành tựu trong quá trình phát triển logistics

Việt Nam hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, với hơn 5.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics 3PL Trong số này, 89% là doanh nghiệp trong nước, 10% là doanh nghiệp liên doanh và 1% là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nhiều công ty lớn trong ngành logistics quốc tế, như DHL, Kuehne + Nagel, DSV, và DB Schenker, nằm trong danh sách 50 công ty logistics lớn nhất thế giới.

Theo Tổng cục Thống kê (2022), trong lĩnh vực vận tải và kho bãi, số doanh nghiệp mới đăng ký tăng 30,4% và vốn đăng ký tăng 85% trong 9 tháng đầu năm 2022 so với năm 2021 Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lần đầu vượt 100.000 trong nửa đầu năm 2022, cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn phục hồi mạnh mẽ mặc dù có nhiều bất định toàn cầu Tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm 2022, rủi ro lạm phát và xu hướng giá nhiên liệu tăng có thể gây áp lực lên doanh nghiệp và ảnh hưởng đến quyết định hoạt động của họ Việt Nam cũng đứng thứ 8 trong chỉ số toàn cầu về các thị trường logistics mới nổi với điểm số 5,67 vào năm 2021.

Hình 1.1: Chỉ số Logistics năm 2021 theo bảng xếp hạng của Agility

Theo bảng xếp hạng của Agility năm 2022, thị trường logistics Việt Nam đứng thứ 11 trong số 50 thị trường logistics mới nổi toàn cầu Dự báo tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của thị trường này trong giai đoạn 2022 - 2027 sẽ đạt 5,5%, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế sau đại dịch COVID-19, với GDP đạt 8,93% trong 9 tháng đầu năm 2022 (Nguyễn Minh Huệ, 2022).

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), ngành logistics tại Việt Nam đã phát triển với tốc độ 14% - 16% trong những năm gần đây, đạt quy mô khoảng 40 - 42 tỷ USD/năm Thị trường logistics Việt Nam được đánh giá cao, đứng thứ 64/160 quốc gia về mức độ phát triển và thứ 4 trong ASEAN, chỉ sau Singapore, Malaysia và Thái Lan So với một số nước châu Âu, dịch vụ logistics tại Việt Nam vẫn vượt trội hơn so với các quốc gia Đông Âu như Bulgaria (51) và Nga (99).

(73) và hơn phần lớn các quốc gia châu Phi khác (Quỳnh Anh, 2022)

1.2.2 Những hạn chế trong quá trình phát triển ngành logistics

Logistics đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, khi logistics xuyên biên giới yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương của Việt Nam và các nước láng giềng Tuy nhiên, sự liên kết logistics giữa các địa phương vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, dẫn đến việc cung ứng và lưu thông hàng hóa dễ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi biến động thị trường quốc tế Hơn nữa, việc kết nối chưa hiệu quả giữa các vùng sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàng hóa đã làm gia tăng chi phí logistics, kéo dài thời gian vận chuyển, tăng tỷ lệ tổn thất và giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Theo Bộ Công Thương trong năm 2022 cho thấy những khó khăn, vướng mắc Trong đó nổi bật có:

Hạn chế về cơ sở hạ tầng logistics, bao gồm cả cảng bến, đường xá và hệ thống kho bãi, đang gây khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa Đặc biệt, sự thiếu hụt hệ thống kho lạnh và kho mát cho hàng nông sản và thủy sản đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và khả năng phân phối sản phẩm.

Các dự án đầu tư vào hạ tầng logistics cần nguồn vốn lớn, nhưng ngân sách địa phương lại hạn chế Việc thu hút đầu tư tư nhân gặp khó khăn do nhiều yếu tố, bao gồm rủi ro từ suy thoái kinh tế toàn cầu, dịch bệnh, và biến động chính sách từ các nước đối tác Hơn nữa, những vấn đề nội tại như thiếu cơ chế ưu đãi hấp dẫn và thủ tục hành chính chưa thông thoáng cũng cản trở quá trình này.

Các vướng mắc liên quan đến thủ tục hành chính và sự khác biệt trong cách hiểu các văn bản pháp luật đang gây khó khăn cho việc xử lý hồ sơ các dự án phức tạp Khả năng nắm bắt xu hướng và thực hiện các quy trình của cơ quan thẩm quyền địa phương còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả triển khai dự án.

Thiếu cơ chế kết nối thực chất giữa các địa phương dẫn đến việc không tận dụng hiệu quả lợi thế của từng khu vực Việc tổng hợp và chia sẻ nguồn lực, cơ hội vẫn còn hạn chế, chủ yếu diễn ra trong khuôn khổ cạnh tranh cục bộ Các thỏa thuận liên kết hiện tại chủ yếu mang tính hình thức và thiếu sự phối hợp thực tế Hơn nữa, liên kết giữa các địa phương chưa được xây dựng dựa trên chuyên môn hóa hay phân công lao động theo chuỗi giá trị.

Vào năm 2022, giá năng lượng và nhiều loại vật tư tăng cao cũng gây khó khăn cho hoạt động dịch vụ logistics của doanh nghiệp tại địa phương.

Nhiều địa phương và doanh nghiệp chưa thiết lập được liên kết hiệu quả về nguồn hàng và logistics với các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng Điều này dẫn đến tình trạng mất cân đối trong logistics và nguồn hàng giữa các khu vực, làm giảm khả năng tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh cho logistics ở cả cấp độ địa phương, vùng kinh tế và quốc gia.

Dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện chỉ phát triển mạnh mẽ ở một số tỉnh/thành phố trong khu vực kinh tế trọng điểm, trong khi nhiều vùng sản xuất hàng hóa lớn lại thiếu hụt loại hình dịch vụ này Tình trạng thiếu kho bãi, phương tiện và thiết bị thiết yếu ở các khu vực sản xuất nông nghiệp lớn và cửa khẩu đã dẫn đến ùn tắc và gia tăng chi phí logistics.

Các doanh nghiệp logistics và nhà đầu tư đang gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và triển khai dự án lớn do thiếu sự đồng bộ trong chính sách quản lý nhà nước về dịch vụ logistics tại các địa phương khác nhau Hơn nữa, các cụm liên kết ngành vẫn chưa được hình thành đầy đủ và chưa phát huy hiệu quả.

Khó khăn trong việc thực hiện và giám sát quy hoạch hạ tầng logistics, cũng như việc liên kết đầu tư phát triển dịch vụ và đào tạo lao động logistics, đã ảnh hưởng đến hiệu quả logistics ở nhiều địa phương Việc xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin về logistics còn hạn chế, dẫn đến sự chậm trễ trong cải thiện hiệu quả logistics so với kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp Hệ quả là sức hút đầu tư vào lĩnh vực logistics giảm, đặc biệt ở những khu vực xa trung tâm kinh tế lớn.

Một số quốc gia phát triển logistics thành công

Hệ thống logistics của Trung Quốc được phát triển trên cơ sở kết nối các tỉnh có diện tích rộng lớn, nhằm tạo ra sự liên kết hiệu quả cho toàn quốc và cải thiện hạ tầng giao thông nội địa.

Hệ thống điện tử Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ với hai ứng dụng tiêu biểu là Cảng tự động và Hệ thống Bắc Đẩu (BDS) tại Thanh Đảo và Thượng Hải Cảng tự động giúp nâng cao hiệu suất vận hành và xử lý hàng hóa nhờ tính năng tích hợp, an toàn và không cần nhiều nhân lực Trong khi đó, hệ thống BDS đồng bộ hóa dữ liệu di chuyển của các phương tiện, tối ưu hóa quy hoạch và di chuyển quốc gia, được xem là phiên bản cao cấp của GPS.

Chuỗi lạnh đã được phát triển từ các công ty phương Tây từ thập niên 80 của thế kỷ 20, dựa trên nền tảng khoa học và kỹ thuật Sự phát triển này đáp ứng nhu cầu lớn về tích trữ, bảo quản và xuất khẩu lương thực tại Trung Quốc.

Quốc đã nâng cấp chuỗi lạnh của mình để phục vụ các doanh nghiệp lớn toàn cầu, nhưng hiện tại, chuỗi lạnh tại Trung Quốc vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước.

Tập đoàn Logistics Trung Quốc, một tập đoàn siêu lớn thuộc sở hữu nhà nước, được hình thành từ sự hợp nhất của Tập đoàn Vật liệu đường sắt Trung Quốc và Tập đoàn Vận chuyển và Lưu trữ Vật liệu Quốc gia Trung Quốc Với sự hiện diện trên 30 tỉnh thành và có mặt tại năm châu lục, tập đoàn này vận hành 3 triệu phương tiện, góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thống chuỗi cung ứng tích hợp, phù hợp với xu hướng đầu tư của chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.

Singapore là một điểm chiến lược quan trọng trong mạng lưới giao thương toàn cầu, kết nối Đông và Tây Hiện nay, Singapore là trung tâm vận chuyển hàng hóa bận rộn nhất thế giới, với khả năng kết nối tới 600 cảng tại 120 quốc gia Chính phủ Singapore đang triển khai quy hoạch và chiến lược phát triển ngành công nghiệp cảng, tập trung vào công nghệ cảng “xanh” và “thông minh”, nhằm duy trì vị thế trung tâm trong lĩnh vực vận tải biển quốc tế.

Singapore đang phát triển hệ thống cảng tự động trị giá hơn 20 tỷ USD để xử lý hàng hóa và phục vụ tàu biển hiệu quả hơn, trong bối cảnh nguồn nhân lực hạn chế và đắt đỏ Siêu cảng Tuas giai đoạn 1 đã hoàn thành với diện tích 414 ha, bao gồm 21 cầu cảng nước sâu, có khả năng tiếp nhận và xử lý 20 triệu TEU mỗi năm Đến năm 2040, Tuas dự kiến sẽ tăng gấp đôi công suất khai thác cảng lên khoảng 65 triệu TEU, giúp Singapore trở thành cảng tự động lớn nhất thế giới.

Hệ thống liên kết giữa Singapore và các quốc gia Đông Nam Á lục địa đang được cải thiện thông qua tuyến đường sắt xuyên quốc gia Côn Minh - Singapore (SKRL) Tuyến đường này không chỉ kết nối Singapore, quốc gia độc lập từ năm 1965 sau khi tách ra khỏi liên bang Malaysia, mà còn tạo ra nhiều lựa chọn vận tải cho các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động tại khu vực Đông Nam Á.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vận tải biển tại Singapore không chỉ xây dựng hệ thống cảng phục vụ hàng hóa mà còn tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh cho các chủ tàu Cảng trung tâm của Singapore được trang bị chuỗi dịch vụ tích hợp như ngân hàng, tiếp nhiên liệu, dỡ hàng container và lưu trữ, giúp tối ưu hóa quy trình vận chuyển Sự tiện lợi và tính đồng bộ của các dịch vụ này đã khiến Singapore trở thành điểm đến ưu tiên cho nhiều hãng tàu.

Singapore đã triển khai chính sách hỗ trợ doanh nghiệp logistics 3PL, cho phép các công ty đủ tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ quản lý logistics cho khách hàng nước ngoài mà không cần nộp thuế Cụ thể, doanh nghiệp 3PL không phải nộp thuế GST khi nhập khẩu hàng hóa hoặc khi làm đại lý cho các đối tác nước ngoài Hơn nữa, khi cung cấp hàng hóa nhập khẩu cho các đối tác trong nước đã được chấp thuận GST, doanh nghiệp 3PL cũng được miễn thuế.

1.3.3 Ấn độ Ấn Độ là thị trường logistics tiềm năng với giá trị 150 tỷ USD, đóng góp 14,4% GDP Đối với vận tải đường biển, Ấn Độ có 12 cảng chính, vận chuyển

672 triệu tấn hàng hóa trong năm 2020.

Chính sách thúc đẩy vận tải biển tại Ấn Độ nhấn mạnh vai trò quan trọng của logistics trong sự phát triển kinh tế quốc gia Để đạt được mục tiêu này, Ấn Độ đã triển khai các chiến lược và biện pháp cụ thể, bao gồm việc thành lập bộ phận logistics thuộc Bộ Công Thương, do một Thứ trưởng phụ trách Bộ phận này sẽ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến logistics và tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và các bang.

Ấn Độ đã miễn thuế trong 10 năm cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát triển, bảo trì và khai thác cảng, đường thủy nội địa và cảng nội địa Ngoài ra, nước này cho phép tư nhân mua nhượng quyền quản lý tại các cảng do Nhà nước sở hữu với thời hạn 30 năm, kèm theo các điều khoản gia hạn Chính phủ Ấn Độ cũng cho phép thành lập doanh nghiệp FDI 100% theo lộ trình tự động cho các dự án liên quan đến xây dựng và bảo trì các cảng và bến cảng.

Ấn Độ đang nhanh chóng nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nhằm phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức, với mục tiêu cắt giảm chi phí và thời gian vận chuyển Điều này hỗ trợ Ấn Độ hướng tới việc trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới vào năm 2030.

Mạng lưới các trạm trung chuyển, nhà kho và ICD tại Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa do sự phân cách địa lý và khí hậu khắc nghiệt Với cơ chế Liên bang, mỗi bang có quyền lực và luật lệ riêng, làm cho việc tập trung hóa trở nên khó khăn Do đó, hệ thống nhà kho và ICD dày đặc không chỉ là một điểm mạnh mà còn là nền tảng cho sự phát triển của các hệ thống cơ sở hạ tầng khác tại Ấn Độ.

Thực trạng về dịch vụ logistics tại Việt Nam

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu bất ổn, Việt Nam nổi bật với nền kinh tế vĩ mô ổn định Tính đến cuối tháng 9 năm 2022, GDP của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 8,83%, cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2022, với lĩnh vực dịch vụ tăng 10,57% và đóng góp 54,71% vào GDP Ngành dịch vụ đã thể hiện sức bật mạnh mẽ, nhờ vào sự phục hồi của hoạt động xuất nhập khẩu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng đầu năm đạt 15,43 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức cao nhất trong 5 năm qua Trong đó, vốn điều chỉnh tăng thêm chiếm ưu thế với 8,35 tỷ USD, trong khi vốn đăng ký mới chỉ đạt 7,12 tỷ USD, và vốn điều chỉnh từ góp vốn và mua cổ phần đạt 3,28 tỷ USD.

Thị trường hàng hóa Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 276,6 tỷ USD Xuất khẩu sang châu Á đạt 129,81 tỷ USD, chiếm 46,8% tổng kim ngạch, trong khi châu Mỹ đạt 98,71 tỷ USD, chiếm 35,59% Xuất khẩu sang châu Phi còn khiêm tốn với 2,2 tỷ USD, chỉ chiếm 0,8% Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 85,17 tỷ USD, tăng 23,7% so với năm trước, chiếm 30,16% tổng xuất khẩu Trung Quốc đứng thứ hai với 41,22 tỷ USD, tăng 6,2%, chiếm 14,6% tổng kim ngạch, theo sau là EU với 35,7 tỷ USD, tăng 23,7% Hàn Quốc và Nhật Bản cũng ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt là 16,8% và 21,6% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường năm 2022

Trong thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn giữ vị trí là đối tác lớn nhất, tương đương với cùng kỳ năm trước Hàn Quốc và ASEAN theo sau với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt lần lượt 48,1 tỷ USD, tăng 18,8% và 35,6 tỷ USD, tăng 17,5%.

Trong 9 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 8,2 tỷ USD, tăng 118,4% so với cùng kỳ năm 2021 Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 19,4 tỷ USD, tăng 28,5% Điều này dẫn đến nhập siêu dịch vụ lên tới 11,2 tỷ USD, với dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa là những lĩnh vực có mức nhập khẩu cao nhất.

Phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động dịch vụ Logistic tại VN16 1 Các nhân tố khách quan

2.2.1 Các nhân tố khách quan

2.2.1.1 Yếu tố về chính sách pháp luật VN

Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cam kết về logistics với

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các nước khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại quốc tế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 05/09/2007, quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm của các thương nhân trong lĩnh vực này Gần đây, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã được sửa đổi để phù hợp với thực tế hiện nay, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động logistics tại Việt Nam.

Ngày 30/12/2017, quy định chi tiết Luật Thương mại 2005 đã mở rộng đối tượng áp dụng cho dịch vụ logistics, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài Điều này tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, đồng thời mang đến cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam Để tồn tại và phát triển cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế, các doanh nghiệp logistics trong nước cần nhanh chóng đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể chọn áp dụng điều kiện đầu tư từ các điều ước quốc tế khác nhau về kinh doanh dịch vụ logistics, phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, thể hiện sự linh hoạt và mở cửa của thị trường Việt Nam.

Mặc dù có nhiều lợi thế trong việc thực thi pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ logistics, nhưng thực tế cũng cho thấy nhiều khó khăn và bất cập cần được khắc phục.

Thể chế và chính sách trong lĩnh vực logistics còn thiếu tính đồng bộ, dẫn đến nhiều bất cập Khung pháp lý hiện tại bao gồm nhiều văn bản khác nhau, bắt nguồn từ Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, và Luật Đầu tư Điều này gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tìm hiểu và áp dụng quy định, do sự chồng chéo và phức tạp giữa các văn bản Ngoài ra, vấn đề về việc liệu chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có bắt buộc phải là pháp nhân hay không vẫn chưa được làm rõ trong pháp luật.

Trong thời gian gần đây, nhiều điều kiện đầu tư kinh doanh đã được đơn giản hóa, tuy nhiên vẫn còn tồn tại không ít điều kiện can thiệp vào quyền tự chủ của doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics Những yêu cầu như quy mô, phương án kinh doanh, số lượng nhân sự và vốn tối thiểu đã tạo ra rào cản không cần thiết, cản trở sự gia nhập thị trường Các điều kiện này không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ pháp luật mà còn gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của môi trường kinh doanh.

Theo thống kê, 72,4% trong tổng số 24.580 đơn vị kinh doanh vận tải, tương đương 17.799 đơn vị, có quy mô nhỏ hơn 5 xe Nếu áp dụng điều kiện về số lượng phương tiện tối thiểu theo Nghị định 86/2014/NĐ-CP, phần lớn các đơn vị này sẽ không đủ điều kiện hoạt động Do đó, nhiều doanh nghiệp kêu gọi gỡ bỏ các quy định không hợp lý nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thị trường và phát triển.

Mặc dù chính phủ đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật liên quan đến logistics, nhưng hệ thống pháp luật hiện tại về dịch vụ logistics ở Việt Nam vẫn thiếu sự liên kết giữa các ngành nghề cụ thể Các quy định pháp luật hiện đang rải rác trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành mà không có cơ quan chủ trì để hệ thống hóa, dẫn đến mỗi ngành có cách quản lý và triển khai riêng Điều này tạo ra khó khăn trong việc xác định các điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ logistics, cũng như xác định đầu mối quản lý nhà nước cho lĩnh vực này Trong bối cảnh đó, các nhà đầu tư có thể kinh doanh nhiều dịch vụ logistics khác nhau, nhưng lại phải tuân theo sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau.

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực logistics đã mang lại nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, nhưng cũng đặt ra thách thức mới cho quản lý nhà nước Các hình thức kinh doanh mới như ứng dụng công nghệ trong vận tải đường bộ, điển hình là Grab và Bee, yêu cầu cải tiến trong công tác quản lý để thích ứng với sự thay đổi này.

Go Viet tích hợp nhiều tiện ích tiêu dùng như vận chuyển hành khách và hàng hóa Tuy nhiên, do Nghị định 86/2014/NĐ-CP chưa quy định rõ ràng về vấn đề này, nên có nhiều ý kiến khác nhau về việc coi các ứng dụng vận tải là dịch vụ kết nối hay kinh doanh vận tải Điều này dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng các quy định về điều kiện đầu tư và kinh doanh vận tải.

2.2.1.2 Yếu tố về vị trí địa lý

Việt Nam, nằm ở cực đông nam bán đảo Đông Dương, có diện tích đất liền khoảng 331.698 km² và vùng biển rộng khoảng 1.000.000 km² Biên giới Việt Nam tiếp giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam, vịnh Bắc Bộ và biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, cũng như Lào và Campuchia ở phía tây Hình dạng đất nước như chữ S, với chiều dài từ bắc tới nam khoảng 1.650 km và chiều rộng hẹp nhất chỉ 50 km Đường bờ biển dài 3.260 km, không tính các đảo, cho phép Việt Nam tuyên bố 12 hải lý lãnh hải, thêm 12 hải lý tiếp giáp và 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế Địa lý thuận lợi giúp Việt Nam trở thành trung tâm logistics, với khả năng kết nối hàng hóa dễ dàng với Trung Quốc, Lào, Campuchia và phát triển dịch vụ logistics nhờ vào nhiều cảng biển.

Hàng năm, mưa lớn và lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng cho hạ tầng giao thông, làm tắc nghẽn và tăng chi phí bảo trì Các tuyến quốc lộ như 1A, 14, 19 và đường Hồ Chí Minh thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề Từ đầu năm 2022 đến nay, cả nước đã ghi nhận 4 cơn bão, 1 cơn áp thấp nhiệt đới, 197 trận mưa lớn, cùng nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan khác như dông lốc và sạt lở đất.

2.2.1.3 Yếu tố về kết cấu hạ tầng

❖ Hạ tầng giao thông đường bộ

Hiện nay, Việt Nam có tổng chiều dài đường bộ lên tới 595.201 km, trong đó đường bộ quốc gia bao gồm quốc lộ và cao tốc dài 25.560 km Hệ thống đường bộ quốc gia đang được quy hoạch theo Quyết định số 1454/QĐ-TTg ngày 01/9/2022 nhằm kết nối hiệu quả các trung tâm kinh tế, cảng biển và cửa khẩu Các trục đường chính bao gồm cao tốc Bắc Nam, quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh, đường ven biển, và các trục biên giới Bên cạnh đó, các trục ngang Đông - Tây từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, cùng với các trục hướng tâm từ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, cũng được phát triển nhằm tạo thành các hành lang vận tải quan trọng Khu vực phía Bắc bao gồm các quốc lộ 4, 279, 37; miền Trung có quốc lộ 14C; và miền Nam có các tuyến N1, N2.

Bảng 2.1: Thống kê chiều dài đường cao tốc và quốc lộ theo vùng năm

Chiều dài cao tốc (km)

Chiều dài quốc lộ (km)

Trung du và miền núi phía

Bắc Trung Bộ và Duyên hải

Tây Nguyên 54.508 5.861 19 3.059 Đồng bằng sông Cửu Long 40.548 17.283 90 2.652

Đến tháng 6/2022, mạng lưới đường cao tốc của Việt Nam đã khai thác khoảng 23 đoạn tuyến với tổng chiều dài 1.239 km và đang xây dựng thêm 14 tuyến mới dài 840 km Tuy nhiên, mạng lưới này vẫn còn thiếu, đặc biệt trên các trục vận tải chính như Bắc - Nam và các tuyến vành đai xung quanh Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù độ bao phủ của mạng lưới quốc lộ khá tốt, nhưng 39% trong số đó nằm ở khu vực đồi núi, nhiều tuyến đã được quy hoạch nhưng chưa được nâng cấp, dẫn đến tiêu chuẩn thiết kế chưa đạt yêu cầu quy hoạch.

Hình 2.2: Mật độ đường cao tốc trên các vùng miền cả nước năm 2022

Hình 2.3: Mật độ đường quốc lộ trên các vùng miền cả nước năm 2022 (%)

Hệ thống quốc lộ hiện có khoảng 64,76% được trải mặt nhựa, trong khi phần còn lại là bê tông xi măng, láng nhựa và cấp phối Đường một làn xe chiếm 11,04%, đường hai làn xe chiếm 74,53%, đường bốn làn xe chiếm 13,93%, và đường từ 6 đến 10 làn xe chỉ chiếm 0,5%, với những đoạn đường khác có bề rộng khác nhau.

Hình 2.4: Biểu đồ phân loại quốc lộ theo kết cấu đường năm 2022

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 36 3.1 Hoàn thiện các chính sách pháp luật

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao năng lực doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ logistics là điều cần thiết Doanh nghiệp Việt Nam cần được hỗ trợ để hiểu rõ quy trình cung cấp dịch vụ logistics, đặc biệt trong vận tải Việc đào tạo hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn, cũng như am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế, là rất quan trọng Các doanh nghiệp trong các ngành như dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản, và cơ khí - chế tạo nên áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến, chú trọng vào việc triển khai các hoạt động logistics dựa trên công nghệ thông tin và các công nghệ mới.

Doanh nghiệp cần nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực và đầu tư vào cơ sở vật chất, bao gồm nâng cấp hệ thống kho bãi và trang thiết bị vận chuyển chuyên dụng Việc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ giúp mở rộng mạng lưới dịch vụ, tạo đầu ra thị trường quốc tế và nâng cao chuyên môn cho cán bộ, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh Thông qua các hoạt động này, doanh nghiệp sẽ được khuyến khích áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến, đặc biệt chú trọng vào logistics dựa trên công nghệ thông tin và các công nghệ mới.

Xây dựng cơ sở hạ tầng

Để hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics, cần tiếp tục rà soát các quy hoạch và kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ giữa hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải nhằm phát triển ngành logistics Cần điều chỉnh quy hoạch và cơ cấu sản xuất địa phương phù hợp với hạ tầng và dịch vụ logistics, đồng thời liên kết các quy hoạch giao thông, vận tải với chiến lược phát triển công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu và kinh tế - xã hội của từng địa phương Ngoài ra, cần gắn kết quy hoạch trung tâm logistics, cảng cạn và kho ngoại quan thành một tổng thể thống nhất Đặc biệt, cần tăng cường lưu lượng hàng hóa vận chuyển qua các phương thức như đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không, đồng thời phát triển hệ thống vận chuyển để đáp ứng xu hướng thương mại điện tử, chú trọng giao hàng chặng cuối.

Phát triển thị trường dịch vụ logistics là cần thiết, bao gồm việc tổ chức hội thảo, hội chợ và triển lãm quốc tế nhằm xúc tiến thương mại Cần thiết lập các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài và mời doanh nghiệp quốc tế vào Việt Nam để trao đổi cơ hội đầu tư và hợp tác Đồng thời, cần tuyên truyền cho doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu về lợi ích của việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài, nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng Đặc biệt, cải thiện cơ sở hạ tầng logistics liên quan đến thương mại điện tử là ưu tiên hàng đầu, kết hợp logistics với thương mại điện tử theo xu hướng toàn cầu Cuối cùng, đào tạo nguồn nhân lực cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý là yếu tố quan trọng để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ logistics.

Mở rộng và liên kết quốc tế

Để nâng cao hiệu quả logistics, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế và mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và toàn cầu Việc xây dựng công trình giao thông, kho bãi và trung tâm logistics trên các tuyến đường kết nối các cảng của Việt Nam với Lào, Campuchia, Thái Lan và Nam Trung Quốc là rất quan trọng Đồng thời, phát triển vận tải đa phương thức và xuyên biên giới, đặc biệt cho hàng hóa quá cảnh, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các trung tâm logistics ở nước ngoài, giúp tập kết và phân phối hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế Tăng cường liên kết với các hiệp hội và doanh nghiệp dịch vụ logistics trong khu vực và toàn cầu, cùng với việc thu hút đầu tư xây dựng trung tâm logistics, sẽ thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, góp phần hình thành mạng lưới logistics hiệu quả trên toàn cầu.

PHẦN KẾT LUẬN

Kinh tế Việt Nam đang hòa nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt kể từ khi gia nhập WTO, mở ra thời kỳ phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức Sự phát triển sâu rộng trong quan hệ thương mại quốc tế đã tạo ra môi trường thuận lợi, thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực logistics, một ngành hỗ trợ thiết yếu cho các hoạt động kinh tế khác.

Việt Nam đang nhanh chóng phát triển dịch vụ Logistics và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, với các hoạt động logistics tạo thành chuỗi dịch vụ liên quan đến nhiều yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô Tất cả các khía cạnh như kinh tế, chính trị và xã hội đều ảnh hưởng đến hoạt động logistics Việc phân tích các nhân tố tác động giúp tìm kiếm cơ hội và nhận diện thách thức, từ đó định hình chiến lược cho doanh nghiệp và ngành logistics Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp cần tận dụng ưu thế, khắc phục hạn chế, và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực cũng như dịch vụ logistics, góp phần vào hiệu quả kinh doanh và sự phát triển của ngành.

Ngày đăng: 20/12/2024, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hằng, 2022. Triển vọng ngành logistics Việt Nam năm 2022. Tạp chí điện tử kinh tế Môi trường. Truy cập vào ngày 13/02/2023 tại https://kinhtemoitruong.vn/trien-vong-nganh-logistics-viet-nam-nam-2022-66456.html  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng ngành logistics Việt Nam năm 2022. "Tạp chíđiện tử kinh tế Môi trường. Truy cập vào ngày 13/02/2023 tại
2. Bảo Yến, 2020. Tìm hiểu quá trình ứng dụng công nghệ vào hoạt động Logistics hiện nay. Truy cập vào ngày 16/02/2023 tại https://ratracosolutions.com/n/qua-trinh-ung-dung-cong-nghe-vao-hoat-dong-logistics/  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quá trình ứng dụng công nghệ vào hoạt độngLogistics hiện nay
3. Chí Công, 2023. Tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp logistics. Báo Nhân dân. Truy cập vào ngày 17/02/2023 tại https://nhandan.vn/tang-cuong-nang-luc-canh-tranh-cho-doanh-nghiep-logistics-post735080.html  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệplogistics
4. Đào Trường Thành, 2020. Một số vấn đề về lịch sử hình thành và phát triển dịch vụ Logistics ở Việt Nam. Tạp chí khoa học, Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội, Số 38, 72 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lịch sử hình thành và phát triểndịch vụ Logistics ở Việt Nam
5. Đào Lê, 2020. Ngành logistics trước nhiều thách thức. Báo Đồng Nai điện tử. Truy cập vào ngày 13/02/2023 tại http://www.baodongnai.com.vn/tieu-diem/202005/nganh-logistics-truoc-nhieu-thach-thuc-3005004/  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành logistics trước nhiều thách thức
6. Đặng Đình Đào và Nguyễn Đình Hiền, 2012. Một số vấn đề phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế. Việt Nam. NXB Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển bềnvững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế. Việt Nam
Nhà XB: NXBLao động - Xã hội
7. Nguyễn Như Tiến, 2006. Logistics khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam. Việt Nam: NXB  Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logistics khả năng ứng dụng và phát triển trongkinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam
Nhà XB: NXB  Giao thôngvận tải
9. Hoàng Thị Đoan Trang và Hoàng Ngọc Thuận, 2020. Thực trạng quản lý chất lượng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Công Thương. Số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lýchất lượng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam
10.Mekong Logistics, 2021. Nguồn nhân lực quyết định khả năng phát triển logistics Việt Nam. Truy cập vào ngày 13/02/2023 tại  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực quyết định khả năng phát triểnlogistics Việt Nam
11.Minh Khuê, 2021. Chức năng, vai trò của dịch vụ logistics hiện nay?. Truy cập vào ngày 30/12/2022 tại https://luatminhkhue.vn/chuc-nang-vai-tro-cua-dich-vu-logistics-hien-nay.aspx#2-chuc-nang-vai-tro-cua-dich-vu-logistics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng, vai trò của dịch vụ logistics hiện nay
12.Nhật Nam, 2022. Bùng nổ trong đào tạo nhân lực logistics. Báo điện tử Chính Phủ. Truy cập vào ngày 13/02/2023 tại https://baochinhphu.vn/bung- no-trong-dao-tao-nhan-luc-logistics-102220125160157429.htm  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùng nổ trong đào tạo nhân lực logistics
13.Phạm Hiếu, 2022. Thiệt hại gần 9.000 tỷ đồng do thiên tai từ đầu năm 2022.Báo Nông nghiệp Việt Nam. Truy cập vào ngày 15/02/2023 tại https://nongnghiep.vn/thiet-hai-gan-9000-ty-dong-do-thien-tai-tu-dau-nam-2022-d334170.html   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiệt hại gần 9.000 tỷ đồng do thiên tai từ đầu năm 2022
14.Quỳnh Anh, 2022. Doanh nghiệp logistics Việt Nam: Vượt khó để pháttriển.VCCI. Truy cập ngày 11/02/2023 tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp logistics Việt Nam: Vượt khó để phát

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê chiều dài đường cao tốc và quốc lộ theo vùng năm - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Bảng 2.1 Thống kê chiều dài đường cao tốc và quốc lộ theo vùng năm (Trang 13)
Hình 1.1: Chỉ số Logistics năm 2021 theo bảng xếp hạng của Agility - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 1.1 Chỉ số Logistics năm 2021 theo bảng xếp hạng của Agility (Trang 29)
Hình 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường năm 2022 - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường năm 2022 (Trang 42)
Bảng 2.1: Thống kê chiều dài đường cao tốc và quốc lộ theo vùng năm - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Bảng 2.1 Thống kê chiều dài đường cao tốc và quốc lộ theo vùng năm (Trang 50)
Hình 2.4: Biểu đồ phân loại quốc lộ theo kết cấu đường năm 2022 - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.4 Biểu đồ phân loại quốc lộ theo kết cấu đường năm 2022 (Trang 54)
Hình 2.5: Hệ thống các tuyến đường sắt của Việt Nam - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.5 Hệ thống các tuyến đường sắt của Việt Nam (Trang 56)
Hình 2.6: Hệ thống các nhóm cảng biển Việt Nam - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.6 Hệ thống các nhóm cảng biển Việt Nam (Trang 59)
Bảng 2.2: Hiện trạng hệ thống cảng biển tại Việt Nam - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Bảng 2.2 Hiện trạng hệ thống cảng biển tại Việt Nam (Trang 60)
Hình 2.7: Hệ thống các cảng hàng thông của Việt Nam - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.7 Hệ thống các cảng hàng thông của Việt Nam (Trang 63)
Bảng 2.3: Số liệu thống kê kết quả áp dụng CNTT của các doanh nghiệp - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Bảng 2.3 Số liệu thống kê kết quả áp dụng CNTT của các doanh nghiệp (Trang 68)
Hình 2.8: Những hạn chế nguồn nhân lực ngành Logistics VN - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.8 Những hạn chế nguồn nhân lực ngành Logistics VN (Trang 72)
Hình 2.9: Tỷ trọng lao động làm việc theo các loại hình dịch vụ - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.9 Tỷ trọng lao động làm việc theo các loại hình dịch vụ (Trang 73)
Hình 2.10: Những thuận lợi khi doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động logistics - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.10 Những thuận lợi khi doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động logistics (Trang 79)
Hình 2.11: Những khó khăn khi doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động logistics - Kỹ thuật xếp dỡ và Đóng gói hàng hóa   phân tích những nhân tố tác Động Đến hoạt Động logistics Ở việt nam
Hình 2.11 Những khó khăn khi doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động logistics (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w