4 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN Cộng hòa Thống nhất Aprepluya Aprepluya/Bên nguyên đơn và Nhà nước Dân chủ Ranovstayo Ranovstayo/Bên bị đơn trân trọng đệ trình tranh chấp hiện tại liên quan
Trang 13A
TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ
TẠI CUNG HÒA BÌNH, THE HAGUE, HÀ LAN
VỤ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠI DỊCH J-VID-18
CỘNG HÒA LIÊN HIỆP APREPLUYA BÊN NGUYÊN ĐƠN
v
NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ RANOVSTAYO BÊN BỊ ĐƠN
BẢN TRANH TỤNG CHO NGUYÊN ĐƠN
CUỘC THI PHIÊN TÒA GIẢ ĐỊNH LUẬT QUỐC TẾ PHILIP C JESSUP 2020
Trang 22
MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN 4
CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA 5
TRÌNH BÀY SỰ VIỆC 6
TÓM TẮT LẬP LUẬN CHÍNH 8
LẬP LUẬN 9
A Ranovstayo không trao trả cô Vormund đã vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ quốc gia khác 9
1 Hành động lãnh sự quán Ranovstayo cho phép cô Vormund ở lại được coi là hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của nước Aprepluya 9
2 Việc Ranovstayo từ chối yêu cầu trao trả cô Vormund sau khi cô bị truy tố tại Aprepluya được coi là can thiệp vào quá trình thực thi pháp luật của Apreplya 9
B Hành động Ranovstayo khi không trao trả cô Vormund đã vi phạm nguyên tắc hợp tác 10
C Ranovstayo không trao trả cô Vormund vi phạm quy chế người tị nạn 1951 11
1 Cô Vormund không được coi là người tị nạn theo Công ước về Quy chế Người tị nạn năm 1951 11
2 Ngay cả khi cô Vormund là người xin tị nạn thì không là đối tượng thuộc phạm vi theo điều 33 của công ước này 12
KẾT LUẬN 13
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các hiệp ước và công ước:
1 Hiến chương Liên hợp quốc, 1 U.N.T.S XVI (1945)
2 Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị, ngày 16
tháng 12 năm 1966, 999 U.N.T.S 171
3 Quy chế của Tòa án Công lý Quốc tế, 1055, 33 U.N.T.S 993
(1945)
4 Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự, 500 U.N.T.S 95 (1963)
1,2 1,19 36,40
55
Tài liệu của Liên hợp quốc
1 Tuyên bố về các Nguyên tắc của Luật Quốc tế liên quan đến Quan
hệ Hữu nghị và Hợp tác giữa các Quốc gia phù hợp với Hiến chương
Liên Hợp Quốc, G.A Res 2625 (XXV), U.N Doc A/8028 (1970)
2 Tuyên bố về Việc Không Chấp nhận Sự Can thiệp vào Công việc Nội
bộ của Quốc gia và Bảo vệ Độc lập và Chủ quyền của họ, G.A Res
2131 (XX), U.N Doc A/RES/20/2131 (1965)
1
2
Án Lệ quốc tế khác
Trang 44
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
Cộng hòa Thống nhất Aprepluya (Aprepluya/Bên nguyên đơn) và Nhà nước Dân chủ Ranovstayo (Ranovstayo/Bên bị đơn) trân trọng đệ trình tranh chấp hiện tại liên quan đến các quy định hạn chế nhập cảnh và việc từ chối bàn giao cô Keinblat Vormund lên Tòa án Công lý Quốc tế thông qua Đơn Khởi Kiện được nộp ngày 12 tháng 7 năm 2018, căn cứ theo Điều 40(1) của Quy chế Tòa án Công
lý Quốc tế
Các bên đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa án theo các tuyên bố của mình dựa trên Điều 36(2) của Quy chế Tòa án Ngoài ra, các bên cũng đồng ý rằng các vấn
đề tranh chấp bao gồm cả đơn kiện chính và đơn phản tố sẽ được Tòa án xem xét trong một giai đoạn duy nhất của thủ tục tố tụng Mỗi bên cam kết tuân thủ phán quyết của Tòa án là cuối cùng và có tính ràng buộc, đồng thời thực hiện phán quyết đó một cách thiện chí
Trang 5CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA
HÀNH ĐỘNG KHÔNG TRAO TRẢ CÔ VORMUND CỦA RANOVSTAYO CÓ VI PHẠM LUẬT PHÁP QUỐC TẾ KHÔNG ?
Trang 66
TRÌNH BÀY SỰ VIỆC
BỐI CẢNH VỤ VIỆC
Aprepluya là một nền dân chủ nghị viện phát triển với dân số 3 triệu người
và GDP là 160 tỷ euro Thủ đô Beauton nằm cách biên giới phía đông 50 km, với ngành ngân hàng và dịch vụ tài chính là đóng góp chính cho GDP
Ranovstayo là một quốc gia dân chủ phát triển với dân số 25 triệu người
và GDP là 1 nghìn tỷ euro Thủ đô Bogpadayo nằm cách biên giới với Aprepluya
80 km và cách Beauton 130 km Nền kinh tế của Ranovstayo tập trung vào dầu
mỏ, nông nghiệp và sản xuất Do số lượng lớn du khách Ranovstayo đến tỉnh Segura1 của Aprepluya, Ranovstayo đã thiết lập một lãnh sự quán tại đây từ năm
1980
Vụ việc bắt đầu khi Keinblat Vormund, một công dân Aprepluya và kỹ thuật viên tại Phòng thí nghiệm Quốc gia NBL, đăng tải một dòng tweet tiết lộ rằng tám kỹ thuật viên tại NBL đã xuất hiện triệu chứng của bệnh J-VID-18 Thông tin nhanh chóng lan truyền, gây ra sự hoang mang trong cộng đồng và thu hút sự chú ý của chính quyền Cảnh sát xác định Vormund là người phát tán thông tin và tiến hành điều tra
Để tránh bị bắt giữ, Vormund lái xe đến lãnh sự quán Ranovstayo tại tỉnh Segura và xin trú ẩn Tại đây, cô viết một lá thư trình bày chi tiết về tình hình tại NBL và bày tỏ lo ngại về việc bị trả thù chính trị, ám chỉ mong muốn tìm kiếm tị nạn Lãnh sự quán Ranovstayo đã quyết định tiếp nhận cô và đồng ý cho cô ở lại Văn phòng Công tố Aprepluya sau đó chính thức buộc tội Vormund với ba tội danh: (i) gây rối trật tự công cộng; (ii) vi phạm thỏa thuận không tiết lộ thông tin;
và (iii) cản trở điều tra của cảnh sát
Chính phủ Aprepluya, thông qua Bộ Ngoại giao, đã gửi công hàm chính thức đến Đại sứ quán Ranovstayo, yêu cầu lãnh sự quán tại Segura trao trả Vormund để phục vụ quá trình tố tụng Trong công hàm, Aprepluya lập luận rằng Vormund đang phải đối mặt với các cáo buộc hình sự nghiêm trọng và nhấn mạnh rằng hành động giữ Vormund tại lãnh sự quán vi phạm chủ quyền của Aprepluya cũng như cản trở quyền tài phán của quốc gia này
1 Một tỉnh của Aprepluya
Trang 7Tuy nhiên, Ranovstayo từ chối thực hiện yêu cầu, viện dẫn rằng Vormund
có quyền tị nạn chính trị theo các nguyên tắc nhân quyền quốc tế và cho rằng việc trao trả cô sẽ vi phạm nghĩa vụ của họ trong việc bảo vệ người tị nạn Sự từ chối này đã dẫn đến căng thẳng ngoại giao leo thang giữa hai quốc gia
VỤ ÁN VÀ VI PHẠM LUẬT PHÁP QUỐC TẾ
Aprepluya cáo buộc rằng Ranovstayo đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bao gồm tôn trọng chủ quyền quốc gia và hợp tác pháp lý Họ cho rằng hành động giữ Vormund tại lãnh sự quán đã cản trở quyền tài phán của Aprepluya, làm gián đoạn quá trình điều tra và truy tố theo pháp luật nội bộ Ngược lại, Ranovstayo bảo vệ lập trường rằng Vormund đã tiết lộ thông tin quan trọng liên quan đến sức khỏe cộng đồng, và việc trao trả cô có thể khiến cô phải đối mặt với sự trả thù chính trị hoặc xét xử không công bằng Ranovstayo lập luận rằng hành động từ chối trao trả Vormund không vi phạm luật pháp quốc tế mà là một biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền tị nạn chính trị
XEM XÉT VÀ QUYẾT ĐỊNH
Aprepluya đã đưa vụ việc ra trước Tòa án Quốc tế, yêu cầu tòa xem xét hành động của Ranovstayo và xác định liệu có sự vi phạm các nghĩa vụ quốc tế liên quan đến quyền công dân và quyền tự do của cô Vomund hay không Tòa án phải đưa ra quyết định về việc liệu Ranovstayo có vi phạm các nghĩa vụ quốc tế khi không trao trả cô Vomund cho Aprepluya, cũng như liệu hành động của Ranovstayo có được phép trong khuôn khổ luật quốc tế hay không
Trang 88
TÓM TẮT LẬP LUẬN CHÍNH
Việc Ranovstayo từ chối trao trả cô Vormund của Aprepluya cấu thành một hành vi can thiệp bất hợp pháp vào công việc nội bộ của Aprepluya Hơn nữa, hành động này vi phạm Điều 55 khoản 1 của Công ước Vienna về Quan hệ Lãnh
sự, can thiệp vào quá trình thực thi pháp luật của Aprepluya
Ngoài ra hành động của Ranovstayo đã vi phạm nghĩa vụ hợp tác nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, làm tổn hại nghiêm trọng đến mối quan hệ bình đẳng, quan hệ hợp tác giữa Aprepluya và Ranovstayo
Ranovstayo cũng vi phạm luật pháp quốc tế khi coi cô Vormund là người xin
tị nạn, trong khi các viên chức lãnh sự không có thẩm quyền để cấp quy chế tị nạn Ngay cả trong trường hợp có thể cho rằng Ranovstayo có quyền cấp quy chế
tị nạn cho cô Vormund, các điều kiện pháp lý cũng không được đáp ứng
Thứ nhất, cô Vormund đã phạm các tội hình sự thông thường Thứ hai, Aprepluya là một nền cộng hòa dân chủ với các cơ quan lập pháp được bầu cử,
và không có mối đe dọa nào đến tính mạng của cô Vormund Cuối cùng, không
có bất kỳ sự xáo trộn nào có thể đặt cô Vormund vào tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng
Trang 9LẬP LUẬN
can thiệp vào nội bộ quốc gia khác
1 Hành động lãnh sự quán Ranovstayo cho phép cô Vormund ở lại được coi
là hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của nước Aprepluya
Hành động của lãnh sự quán Ranovstayo khi cho phép cô Keinblat Vormund
trú ẩn2 vi phạm nguyên tắc không can thiệp, vốn là một quyền cơ bản đảm bảo
các quốc gia tự do thực hiện chính sách chủ quyền của mình trong luật pháp quốc
tế, như được quy định tại Điều 2 khoản 7 của Hiến chương Liên Hợp Quốc.3 Quy
tắc này cấm mọi hình thức can thiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp, vào các vấn đề nội
bộ hoặc đối ngoại của quốc gia khác Việc Ranovstayo tiếp nhận Vormund, dù cô
đang đối mặt với cáo buộc hình sự tại Aprepluya, đã xâm phạm chủ quyền của
Aprepluya và tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho trật tự quốc tế
Aprepluya có quyền tự quyết trong việc xử lý các vấn đề nội bộ, bao gồm điều
tra và xét xử công dân vi phạm pháp luật, quyền này được bảo vệ bởi các nguyên
tắc cơ bản của luật quốc tế, như quy định tại Điều 2(e) Nghị quyết 2131 của Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc.4 Theo nguyên tắc này, các quốc gia không được thực
hiện bất kỳ hành động nào gây bất ổn hoặc làm suy yếu sự ổn định của quốc gia
khác Hành động của Ranovstayo khi cho cô Vormund trú ẩn tại đại sứ quán đã
can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của Aprepluya
Theo Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (1966)5, quyền tự quyết
bảo vệ khả năng thực thi quyền tài phán của một quốc gia Việc Ranovstayo từ
chối hợp tác6 đã trực tiếp cản trở Aprepluya thực hiện các biện pháp pháp lý đối
với Vormund, làm suy giảm chủ quyền và tính toàn vẹn của hệ thống pháp lý quốc
gia này Do đó, Aprepluya có quyền yêu cầu Ranovstayo hợp tác, bao gồm trao
trả Vormund để đảm bảo quyền tài phán của mình
2 Việc Ranovstayo từ chối yêu cầu trao trả cô Vormund sau khi cô bị truy
tố tại Aprepluya được coi là can thiệp vào quá trình thực thi pháp luật của
Apreplya
2 Đoạn 22 Jessup 2020
3 Hiến chương Liên hợp quốc Điều 2 khoản 7
4 Tuyên bố về Việc Không Chấp nhận Sự Can thiệp vào Công việc Nội bộ của Quốc gia và Bảo vệ Độc lập và
Chủ quyền của họ, G.A Res 2131 (XX), U.N Doc A/RES/20/2131 (1965), Điều 2(e) 5
Trang 1010
Việc Ranovstayo từ chối yêu cầu trao trả cô Keinblat Vormund, người đang phải đối mặt với các cáo buộc hình sự tại Aprepluya7, rõ ràng là một hành động can thiệp vào quá trình thực thi pháp luật của quốc gia này Theo Điều 55 Khoản
1 của Công ước Vienna về Quan hệ Ngoại giao (VCCR)8, các cá nhân được hưởng đặc quyền và miễn trừ lãnh sự phải tôn trọng luật pháp của quốc gia tiếp nhận Điều này có nghĩa là cán bộ ngoại giao không thể sử dụng quyền miễn trừ để né tránh việc thực thi pháp luật của quốc gia mà họ đang hoạt động
Trong trường hợp này, Aprepluya đã thực hiện quyền lực hình sự chủ quyền của mình trên lãnh thổ của mình, nhưng hành động của Ranovstayo đã ngăn cản quyền này Cô Vormund đã vào Lãnh sự quán của Ranovstayo và không bị dẫn
độ, dẫn đến việc Aprepluya không thể thực hiện các biện pháp pháp lý cần thiết
để truy tố cô9 Điều này đã vi phạm quyền tài phán của Aprepluya
Hơn nữa, trong vụ việc "United States v Alvarez-Machain" (1992)10, Tòa
đã khẳng định rằng các quốc gia có quyền thực hiện quyền tài phán hình sự của mình và rằng việc bảo vệ quyền tị nạn không thể được hiểu là một sự bảo vệ chống lại việc áp dụng các luật pháp thông thường của quốc gia.11 Phán quyết này nhấn mạnh rằng các cán bộ ngoại giao, bao gồm cả những người bảo vệ quyền tị nạn, cần phải tôn trọng hệ thống pháp luật của quốc gia tiếp nhận Do đó, Ranovstayo
có nghĩa vụ phải giao nộp cô Vormund cho Aprepluya để thực hiện các biện pháp pháp lý cần thiết, và việc từ chối thực hiện nghĩa vụ này là một sự can thiệp rõ ràng vào quá trình thực thi pháp luật của Aprepluya
B Hành động Ranovstayo khi không trao trả cô Vormund đã vi phạm nguyên
tắc hợp tác
Điều 1 khoản 2 Hiến chương Liên hợp quốc quy định rằng: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và
tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hoà bình thế giới”12 là sự hợp tác tích cực, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia Theo đó, Aprepluya và Ranovstayo có trách nhiệm hợp tác dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, đảm bảo công
lý quốc tế Điều này giúp duy trì an ninh chung, ngăn ngừa tội phạm vi phạm pháp luật lợi dụng biên giới để trốn tránh trách nhiệm
7 Đoạn 33 Jessup 2020
8 VCCR Khoản 1 Điều 55
9 Đoạn 20, 22, 25, 32, 34 Jessup 2020
10 United States v Alvarez-Machain năm 1992
11 Phán quyết của tòa trong vụ việc United States v Alvarez-Machain năm 1992 đoạn 10 và đoạn 28
12 Hiến chương Liên hợp quốc, Điều 1 khoản 2
Trang 11Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc quy định Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với Hiến chương :
“Mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các Quốc gia khác trong các lĩnh vực của quan hệ quốc tế để gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, khuyến khích sự ổn định
và tiến bộ, lợi ích chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế mà không có sự phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị, kinh tế và văn hóa”.13 Hành động từ chối trao trả cô Vormund, người đang đối mặt với các cáo buộc hình sự tại Aprepluya của Ranovstayo14 đã vi phạm nghĩa vụ hợp nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc
tế, làm tổn hại nghiêm trọng đến mối quan hệ bình đẳng , quan hệ hợp tác giữa Aprepluya và Ranovstayo, hành động này không tuân thủ tinh thần hợp tác mà Nghị quyết 2625 quy định Khi một quốc gia từ chối hợp tác, điều này có thể gây khó khăn cho hệ thống tư pháp quốc tế Việc Ranovstayo từ chối hợp tác trong việc trao trả cô Vormund làm xói mòn tính công bằng và bình đẳng trong quan hệ quốc tế, tác động tiêu cực đến trật tự và an ninh chung của cộng đồng quốc tế, khiến tội phạm xuyên quốc gia ngày càng gia tăng, từ đó gây ra những hệ lụy nghiêm trọng về niềm tin và sự ổn định chung
1951
1 Cô Vormund không được coi là người tị nạn theo Công ước về Quy chế Người tị nạn năm 1951
Theo Điều 1(F) của Công ước về Quy chế Người tị nạn (1951)15, cá nhân không được hưởng quy chế tị nạn nếu họ vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc gia hoặc quốc tế Điều này áp dụng khi tội danh không liên quan đến lý do bị bách hại thuộc các nhóm được bảo vệ (chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nhóm xã hội cụ thể, quan điểm chính trị )
Điều 1(A-2) của Công ước chỉ ra rằng một cá nhân đủ điều kiện là người tị nạn nếu họ "có nỗi lo sợ bị bách hại chính đáng" liên quan đến một trong năm yếu
tố trên.16 Tuy nhiên, các cáo buộc chống lại cô Vormund tại Aprepluya, bao gồm gây rối trật tự công cộng và vi phạm thỏa thuận bảo mật17, là các vi phạm pháp luật nội địa không liên quan đến yếu tố bách hại.18 Những hành vi này không cấu thành lý do hợp pháp để áp dụng quy chế người tị nạn
13 Tuyên bố về các Nguyên tắc của Luật Quốc tế liên quan đến Quan hệ Hữu nghị và Hợp tác giữa các Quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, G.A Res 2625 (XXV), U.N Doc A/8028 (1970)
14 Đoạn 32, 33, 34 Jessup 2020
15 Công ước viên về Quy chế Người tị nạn, 1951, Điều 1(A-2)
16 Công ước về Quy chế Người tị nạn, 1951, Điều 1(A-2)
17 Đoạn 32 Jessup 2020
18 UNHCR, Handbook on Procedures and Criteria for Determining Refugee Status under the 1951 Convention