1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng

127 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Minh Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Hiên
Trường học Trường Đại học Hải Phòng
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 728,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá giúp giáo viên thu tín hiệu ngược ngoài để biết được kết quả học tập cũng như rèn luyện của học sinh, nắm được thực trạng kết quả học tập, phát hiện ra nguyên nhân của thực trạn

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng

Hải Phòng, ngày 15 tháng 10 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Hương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Hải Phòng đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hiên, người đã định hướng cho tôi hướng nghiên cứu đề tài, cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn, cùng những kinh nghiệm nghiên cứu quý báu;

cô đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô Khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy, cô cùng các anh chị em quan tâm góp ý để luận văn hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Hương

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 9

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VIẾT CỦA HỌC SINH LỚP 5 9

1 1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Các vấn đề chung về năng lực và năng lực viết 9

1.1.2 Năng lực viết 12

1.1.3 Một số vấn đề về đánh giá năng lực trong dạy học ở tiểu học 14

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Khái quát chung về kiểm tra đánh giá ở trường Tiểu học 17

1.2.2 Thực trạng việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng 18

Tiểu kết chương 1 24

CHƯƠNG 2 26

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VIẾT 26

CỦA HỌC SINH LỚP 5 26

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 26

2.1.1 Đảm bảo tính khách quan 26

2.1.2 Đảm bảo tính công khai, công bằng 26

2.1.3 Đảm bảo tính toàn diện 27

2.1.4 Đảm bảo tính phát triển, vì sự tiến bộ của học sinh 27

2.1.5 Đảm bảo tính giáo dục 28

2.2 Đề xuất một số biện pháp đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 28

2.2.1 Thiết kế các tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp 28

2.2.2 Xây dựng hướng dẫn chấm điểm Tập làm văn trên tinh thần tôn trọng cách nhìn nhận của từng cá nhân học sinh 40

Trang 4

2.2.3 Thực hiện khéo léo các kĩ thuật đánh giá 41

2.2.4 Phối hợp linh hoạt các hình thức đánh giá 50

Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3 63

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.2 Nội dung thực nghiệm 63

3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 63

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 63

3.3.2 Thời gian thực nghiệm 65

3.4 Tiến hành thực nghiệm 65

3.5 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 67

3.5.1 Kết quả trước khi thực nghiệm 67

3.5.2 Kết quả sau khi thực nghiệm 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTViết tắt Viết đầy đủ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

1 So sánh kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của lớp thực

2 So sánh kết quả kiểm tra năng lực viết theo Tiêu chí

3 So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của lớp thực

4 So sánh kết quả kiểm tra năng lực viết theo Tiêu chí

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là sự sáng tạo kì diệu, lớn lao của con người Ngôn ngữ

là công cụ vạn năng giúp chúng ta thành công trong các hoạt động giao tiếp đời sống Ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển trên cơ sở ngôn ngữ nói Ngôn ngữ nói có trước, ngôn ngữ viết có sau Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết nên người viết có điều kiện để chọn lọc, suy ngẫm, phân tích, gọt giũa kĩ càng Tuy nhiên, để viết được những văn bản đúng yêu cầu, mỗi người đều phải trang bị cho mình những năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực viết

Năng lực viết là khả năng của cá nhân để thực hiện hành động viết văn bản nhằm đạt được chủ đích về giao tiếp một cách hiệu quả Nói cách khác,

viết là hành động tạo lập văn bản, là một phần quan trọng của quá trình giao tiếp Viết là hoạt động đòi hỏi người viết phải có những kĩ năng cần thiết để truyền tải mục đích giao tiếp Chỉ khi có kĩ năng viết tốt, người viết mới có thể làm chủ được việc trao đổi thông tin

Việc rèn luyện để có kỹ năng viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: giúp người viết thúc đẩy, hoàn thiện bản thân; trình bày được hiểu biết, năng lực của cá nhân; giành được sự tin tưởng, đánh giá cao của người tiếp nhận; khơi gợi cảm xúc, tình cảm và thuyết phục, lôi kéo hành động từ người tiếp nhận;

là cách giao tiếp hiệu quả vì không phải điều gì cũng có thể nói ra thành lời; lưu lại những điều ý nghĩa, hay đơn giản chỉ là những khoảnh khắc, những dòng tâm tư, tình cảm của mình qua từng con chữ; viết để thể hiện bản thân

và thuyết phục những người xung quanh

Viết là một trong bốn kĩ năng ngôn ngữ rất quan trọng cần hình thành cho học sinh từ bậc tiểu học Giai đoạn tiểu học là giai đoạn nền tảng hình thành kỹ năng viết Trước đây, các kĩ năng cần thiết khi học môn Tiếng Việt

Trang 9

thường được sắp xếp theo thứ tự quen thuộc: nghe - nói - đọc - viết Tuy nhiên, hiện nay chương trình sách giáo khoa mới của môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học có những thay đổi tích cực GS.TS Lê Phương Nga, nghiên cứu viên, người tham gia biên soạn Chương trình sách giáo khoa mới môn Tiếng Việt

đã nhấn mạnh khi trao đổi về chương trình môn học: Chương trình được thiết

kế theo hướng mở, vẫn chú trọng trang bị 4 kỹ năng trên song tầm quan trọng của mỗi kĩ năng được thể hiện từ cao đến thấp theo trình tự: đọc - viết - nói - nghe Sở dĩ, các kĩ năng được sắp xếp lại theo thứ tự trên vì học sinh đã biết nói và nghe tự nhiên khi các em còn chưa đi học, hai kĩ năng này sẽ được tiếp tục phát triển trong những năm học ở trường mầm non Nhưng chỉ khi đi học tiểu học, các em mới chính thức học đọc và học viết một cách có hệ thống Do

đó đọc, viết trong chương trình mới được tập trung dạy và học nhiều hơn nói

xu thế và lĩnh hội tinh hoa của cuộc cách mạng thời đại Với mục tiêu đào tạo con người toàn diện, năng động, sáng tạo, có đầy đủ kỹ năng Thế kỷ XXI thì việc phát huy khả năng viết là vô cùng cần thiết

Đối với học sinh cuối cấp tiểu học, kỹ năng viết của các em đang trong giai đoạn hình thành, vốn từ của các em chưa phong phú, cách viết còn nhiều hạn chế nên các em rất cần được giáo viên quan tâm đánh giá về các kĩ thuật viết Tuy nhiên, khả năng tưởng tượng của các em cũng tương đối tốt nên giáo viên cần định hướng và rèn luyện cho các em kỹ năng diễn đạt một cách phù hợp và đúng mức Như vậy, việc đánh giá năng lực viết cho học sinh lớp

Trang 10

5 có vai trò vô cùng quan trọng Thông qua việc đánh giá các bài viết của học sinh, giáo viên và các nhà quản lý nắm bắt được những ưu điểm, tồn tại về năng lực viết của học sinh, từ đó đề ra hướng khắc phục và những điều chỉnh phù hợp với đối tượng trong quá trình dạy học Vậy cần đánh giá như thế nào

để phản ánh đúng quá trình hình thành năng lực viết của học sinh cuối cấp tiểu học? Đó chính là vấn đề được chúng tôi lựa chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận văn này

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về kiểm tra đánh giá trong giáo dục tiểu học

Kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một khâu quan trọng tác động lớn đến chất lượng giáo dục Kiểm tra đánh giá có giá trị không chỉ cho người dạy, người học mà còn có giá trị quan trọng đối với các nhà quản lý Việc KTĐGkhách quan, đúng hướng sẽ là động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập, thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo cho người học

Trên thế giới, vào những năm 80 của thế kỉ XX đã có một cuộc cách mạng về KTĐGhọc sinh Quan điểm đánh giá và phương pháp đánh giá được thay đổi căn bản và được xem xét theo một góc nhìn hoàn toàn mới: coi người học (Learner) và quá trình học tập (Learning) là trung tâm của toàn bộ hoạt động giáo dục

Cùng với sự phát triển của khoa học giáo dục, lĩnh vực KTĐG cũng được nghiên cứu và thay đổi theo chiều hướng tích cực Một số khái niệm đã xuất hiện phù hợp với xu hướng mới, tiêu biểu là ba đặc trưng quan trọng của KTĐG, đó là: đánh giá phát triển, đánh giá thực tiễn và đánh giá sáng tạo

Đánh giá phát triển hay còn gọi là Đánh giá quá trình (Formative Assessment) là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy, tại các thời điểm khác nhau như: đánh giá chất lượng đầu vào (Pre Test), đánh giá tổng kết (Summative Assessment) Đánh giá quá trình nhằm

Trang 11

cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên nhằm mục tiêu cải thiện hoạt động hướng dẫn, giảng dạy, được thực hiện để hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng dạy và học

Đánh giá tổng kết thường để phục vụ công tác quản lí Kết quả học tập của từng học sinh sẽ được định lượng bằng điểm số Căn cứ vào điểm số đó

để tính điểm trung bình của học sinh trong một lớp, một trường Qua đó, đánh giá kết quả quá trình dạy học của giáo viên

Đánh giá thực tiễn (Authentis Assessment) được thực hiện với mục đích kiểm tra các năng lực cần có trong cuộc sống hằng ngày Cách đánh giá này đòi hỏi mối liên hệ chặt chẽ giữa yêu cầu của đánh giá với thực tế cuộc sống

Đánh giá sáng tạo (Alternative Assessment) hay đánh giá thay thế, nó trái ngược với cách đánh giá truyền thống và gần với các khái niệm đánh giá thực tiễn, đánh giá tích hợp, đánh giá toàn diện

Đối với Australia, đánh giá được coi là thành tố cơ bản trong giáo dục, đánh giá trên cơ sở chú trọng chiều sâu của quá trình học tập (J Cuming, Griffith University, Brishbane, QLD, Australia 2010) Phần Lan là đất nước

có nền giáo dục phát triển Căn cứ vào nhu cầu của học sinh và tình hình thực tiễn, giáo viên được phép điều chỉnh chương trình giảng dạy (Theo Tiến sĩ Nguyễn Khánh Trung - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục IRED)

Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, khoa học về KTĐG cũng có những biến chuyển tích cực Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chú trọng đến công tác KTĐG, khẳng định KTĐG là một khâu quan trọng trong quá trình dạy và học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản liên quan đến đánh giá, xếp loại học sinh: Quyết định số 30/2005/QĐ của Bộ GD&ĐT ngày 30/9/2005 ban hành quy định đánh giá xếp loại học lực, hạnh kiểm học sinh tiểu học; Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT (Thông tư 32) của Bộ GD&ĐT ngày 27/10/2009 ban hành quy định đánh giá, xếp loại học sinh tiểu học

Trang 12

Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học; Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm

2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Tác giả Hồ Sỹ Anh đã nghiên cứu khá kĩ về đổi mới KTĐG học sinh thể hiện qua bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/9/2013 Bài viết nêu rõ một số vấn đề tồn tại trong KTĐG học sinh của Giáo dục Việt Nam và đưa ra các giải pháp đề xuất nhằm đổi mới KTĐG học sinh theo hướng tiếp cận năng lực

Như vậy, trong giáo dục học, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh; Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả học tập, dựa vào

sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, chuẩn kiến thức kĩ năng, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục

2.2 Những nghiên cứu về năng lực và đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh tiểu học

Chương trình giáo dục phổ thông Quebec Education Program - Canada định nghĩa “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”

Các tác giả của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động năm 2005 đã nêu rõ năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó; phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm: năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge)

Trang 13

Các nước có nền kinh tế phát triển (OECD) đăc biệt quan tâm đến năng lực cốt lõi (key competences) và phân chia thành những năng lực nền tảng như: năng lực giao tiếp, năng lực viết, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề.

Các chuyên gia tâm lý học Việt Nam và nhóm nghiên cứu của trường Đại học Ngoại thương đều có cùng quan điểm: năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Như vậy, khó có thể định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng như thế giới đều có cách hiểu tương tự nhau Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp khả năng, phẩm chất, thái độ của cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ

Dựa vào các nghiên cứu trên, có thể nhận định năng lực của học sinh chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những tình huống thực tiễn trong cuộc sống

Hiện nay, nhiều hệ thống giáo dục trên thế giới đã xây dựng chương trình theo hướng phát huy năng lực học sinh Trong bối cảnh đó, việc đánh giá theo định hướng năng lực cũng được thực hiện song hành vì đánh giá là

bộ phận không thể tách rời quá trình dạy và học Có nhiều bài viết về đánh giá theo định hướng năng lực Tuy nhiên, những nghiên cứu cụ thể về việc đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh tiểu học còn chưa phong phú

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề xuất các biện pháp kiểm tra đánh giá trong môn Tiếng Việt có khả năng đánh giá được năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường Tiểu học quận Hồng Bàng

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ

- Xác định cơ sở lý luận của việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 của trường tiểu học

- Đánh giá thực trạng năng lực viết của học sinh lớp 5

- Đề xuất các biện pháp đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5

- Thực nghiệm sư phạm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5

Với lí do trên, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung sau:

- Năng lực viết của học sinh lớp 5

- Xây dựng các biện pháp đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5

- Thực nghiệm các biện pháp đánh giá năng lực viết của học lớp 5 Quá trình nghiên cứu được thực hiện ở các trường tiểu học thuộc quận Hồng Bàng - quận trung tâm của thành phố Hải Phòng gồm 9 trường tiểu học,

có một số trường ở ngay trung tâm (tiêu biểu là trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương), có cả những trường ở vị trí xa trung tâm (tiêu biểu là trường Tiểu học Quán Toan), thuận lợi cho việc khảo sát thực nghiệm với các đối tượng học sinh khác nhau

Trang 15

5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

5.2 Phương pháp khảo sát, thống kê

Khảo sát thực tế hoạt động kiểm tra đánh giá của giáo viên bằng cách

sử dụng phiếu hỏi, phỏng vấn, dự giờ…, xử lý các số liệu khảo sát được bằng cách thông kê lại để có căn cứ thực hiện nghiên cứu

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

5.4 Thủ pháp so sánh – đối chiếu

So sánh các quan điểm về kiểm tra đánh giá, so sánh, đối chiếu các số liệu sau khi khảo sát, thống kê

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và các Phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc theo 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5

Chương 2: Biện pháp tổ chức đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

1.1.1.1 Khái quát chung về năng lực

Năng lực là một khái niệm rộng, với nhiều cách hiểu và được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vự khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng

So với kĩ năng, năng lực có phạm vi nghĩa rộng hơn Theo từ điển Tiếng Việt [34], kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” Theo D.S Rychem và L H Salgnick [35], “năng lực không chỉ là kiến thức, kĩ năng, nó nhiều hơn thế.Năng lực bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể Ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả là một năng lực dựa trên kiến thức của mỗi cá nhân về ngôn ngữ, kĩ năng thực hành và thái độ hướng tới những người mà ta đang giao tiếp”

Trong Lý luận dạy học hiện đại, năng lực được quan niệm là “điểm hội

tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [4]

Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm

“know - how” chứ không chỉ biết và hiểu “know -what” Biết làm cần được hiểu bao gồm hệ thống tri thức - kĩ năng - thái độ mà người học thực hiện trong các hoạt động cụ thể và giải quyết các tình do cuộc sống đặt ra[39]

Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng lực vào phạm trù hoạt động và giải thích: năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như

Trang 17

hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định

Tóm lại, có thể hiểu: Năng lực là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động (công việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, năng lực được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành năng lực ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho

cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với năng lực mà mình có

Năng lực của con người được hình thành trên cơ sở tư chất sẵn có của mỗi cá nhân, được phát triển thông qua quá trình công tác, học tập và rèn luyện Năng lực có ba đặc trưng cơ bản, đó là: được bộc lộ thông qua hoạt động; thể hiện sự hiệu quả (thành công hoặc chất lượng cao) của hoạt động; thể hiện sự phối hợp (tổng hợp, huy động) từ nhiều nguồn lực Có nhiều cách phân chia năng lực khác nhau song phổ biến vẫn nhất là cách phân chia thành hai loại: năng lực chung và năng lực riêng (năng lực chuyên biệt)

1.1.1.2 Năng lực chung và năng lực chuyên biệt

Năng lực chung bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực nhận thức, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực trí tuệ, năng lực vận động….Đó là những năng lực cơ bản được hình thành từ bản năng của con người, được phát triển thông qua quá trình giáo dục, lao động và học tập

Năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển để đáp ứng cho những yêu cầu, hoạt động theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt Ví dụ: năng lực âm nhạc, mĩ thuật, toán học Năng lực chuyên biệt góp phần hình thành và phát triển năng lực chung

Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới có hiệu lực từ ngày 15/2/2019 và được áp dụng từ năm 2020

Trang 18

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu lên 5 phẩm chất, 10 năng lực chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh

Năm phẩm chất đó là: yêu nước; nhân ái (yêu quý mọi người; tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người); chăm chỉ (chăm học; chăm làm); trung thực; trách nhiệm (có trách nhiệm với bản thân; có trách nhiệm với gia đình;

có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; có trách nhiệm với môi trường sống)

Mười năng lực cốt lõi gồm: năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ; năng lực tính toán; năng lực tìm hiểu tự nhiên; năng lực tìm hiểu xã hội; năng lực Công nghệ; năng lực Tin học; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh

1.1.1.2 Năng lực ngôn ngữ

Năng lực ngôn ngữ (language competence) gồm các thành tố sau: những kiến thức về ngôn ngữ gồm hệ thống chữ cái, chính tả, phát âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ…; những kĩ năng về ngôn ngữ: hai kĩ năng nghe, đọc

để tiếp nhận từ bên ngoài, hai kĩ năng nói, viết do chủ thể tạo ra; tình cảm, thái độ đối với ngôn ngữ đang sử dụng: ý thức học hỏi, tích lũy những hiểu biết về ngôn ngữ, trân trọng, giữ gìn sự trong sáng, làm giàu thêm cho ngôn ngữ… Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp là hai nhóm năng lực khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mặc dù tiếng Việt chỉ là một trong những phương tiện để thực hiện giao tiếp nhưng lại đóng vai trò quan trọng nhất Muốn phát triển năng lực giao tiếp cần phải hình thành và phát triển năng lực tiếng Việt vì hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào năng lực tiếng Việt và sự kheo léo khi kết hợp với một số năng lực khác

Trang 19

Bốn năng lực đọc, viết, nói, nghe là bốn năng lực bộ phận Để hình thành và phát triển tốt bốn năng lực bộ phận này, cần hình thành cho học sinh năng lực nhận thức về các quy tắc ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ (gọi tắt

là năng lực nhận thức) như: dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ v.v Năng lực nhận thức gồm hai mảng nhận thức cơ bản: Thứ nhất

là nhận thức về các đơn vị ngôn ngữ, các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, các quy tắc kết hợp các đơn vị ngôn ngữ thành những đơn vị lớn hơn Thứ hai là nhận thức văn hoá giao tiếp - nhận thức về các điều kiện sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong thực tiễn Nếu nhóm nội dung thứ nhất giúp học sinh có thể dụng từ, đặt câu đúng ngữ pháp tiếng Việt thì nhóm nội dung thứ hai sẽ giúp học sinh sử dụng các câu được đặt ra phù hợp với tình huống giao tiếp, giúp cho qua trình giao tiếp đạt được hiệu quả cao

Trong bài viết “Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực” được cập nhật ngày 1/12/2014 trên trang nguvan.hnue.edu.vn, PGS.TS Đỗ Việt Hùng đã chia các năng lực bộ phận thành các năng lực cụ thể.Đối với học sinh tiểu học, năng lực đọc bao gồm: Năng lực đọc đúng, đọc diễn cảm; năng lực đọc thầm; năng lực đọc - hiểu, năng lực đọc nhanh, đọc lướt để xác định nội dung chính của văn bản; năng lực đọc để tóm tắt văn bản, thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề cho trước Năng lực nói bao gồm: năng lực phát âm đúng các phụ âm, nguyên âm; năng lực đặt câu; năng lực kể chuyện, trình bày, yêu cầu, đề nghị; năng lực nói về một nội dung cho trước; năng lực phát biểu ý kiến, thuyết trình, giải thích trước đám đông; năng lực đối thoại, trao đổi Năng lực nghe bao gồm năng lực nghe - hiểu; năng lực đánh giá, nhận xét; năng lực nghe - phản hồi ý kiến của người khác; năng lực nghe - tóm tắt ý chính

1.1.2 Năng lực viết

Viết văn bản có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc học viết Mọi loại văn bản trong đời sống, trong công việc đều cần được viết một cách có kỹ

Trang 20

năng Năng lực viết là khả năng của mỗi người để thực hiện hành động viết văn bản nhằm đạt được một chủ đích về giao tiếp một cách hiệu quả Năng lực viết được xem là năng lực chung vì viết liên quan đến nhiều môn học Trong môn Tiếng Việt, viết lại được coi là năng lực chuyên biệt (năng lực chuyên môn) vì kết quả bài viết của học sinh chính là sự phản ánh hiểu biết của các em về kiến thức Tiếng Việt, là sự bày tỏ tình cảm, thái độ của các em đối với cuộc sống Năng lực viết còn có mối liên quan mật thiết với các năng lực khác.

Học sinh lớp 5 cần có những kĩ năng viết cơ bản sau: kĩ năng viết đúng chính tả; kĩ năng viết câu, đoạn văn, văn bản miêu tả, kể chuyện thể hiện đúng suy nghĩ của cá nhân, bộc lộ cảm xúc phù hợp, sử dụng dấu câu thích hợp; kĩ năng viết lời nhắn cá nhân, viết thư; kĩ năng điền các mẫu tờ khai; kĩ năng trích dẫn ý kiến người khác trong bài viết

Trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn của môn Tiếng Việt lớp 5, dạy làm văn hay dạy tạo lập văn bản được coi là một nhiệm

vụ mang tính thử thách nhất đối với giáo viên Để hình thành và phát triển năng lực viết cho học sinh, giáo viên cần phải trang bị cho mình kiến thức-kĩ năng về nhiều lĩnh vực, giáo viên phải có khả năng tạo ra các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ mà mình muốn có ở học sinh, phải có kĩ năng thị phạm và các kĩ năng Tiếng Việt thành thạo để tạo mẫu khi cần thiết Để có năng lực viết thực sự, cần tạo cho các em thói quen, cách làm việc nghiêm túc với từng

từ ngữ, có ý thức chia sẻ với cô giáo, với các bạn về sự hứng khởi của việc lựa chọn từ này thay vì từ khác, của việc tìm kiếm những từ ngữ thực sự thể hiện được suy nghĩ, cảm xúc của bản thân Năng lực viết đòi hỏi sự sáng tạo,

sự tự khám phá ý tưởng của chính bản thân người viết; đòi hỏi phải có thời gian và những phản hồi tích cực từ giáo viên, bạn học thì mới có thể tạo ra các bài viết tốt

Trang 21

1.1.3 Một số vấn đề về đánh giá năng lực trong dạy học ở tiểu học

1.1.3.1 Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh các trường phổ thông tập trung vào các hoạt động trọng tâm sau: Một là, chuyển từ hình thức đánh giá kết quả (đánh giá tổng kết) sang hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ (đánh giá quá trình) Hai là, chuyển từ đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học, chú trọng kĩ năng vận dụng và giải quyết vấn đề thực tiễn Ba là, tích hợp các hình thức đánh giá vào quá trình dạy học; tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá

Trong dạy học hiện nay, đánh giá kết quả giáo dục được xem như là một phương pháp dạy học Đánh giá giúp giáo viên thu tín hiệu ngược ngoài

để biết được kết quả học tập cũng như rèn luyện của học sinh, nắm được thực trạng kết quả học tập, phát hiện ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó có phương pháp điều chỉnh hoạt động học và hoạt động dạy cho phù hợp; việc đánh giá giúp các em học sinh biết kết quả học tập của bản thân từ đó điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động học tập của mình, đề cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, giúp giáo viên thu các tín hiệu ngược trong để tổng hợp ghi nhận xét về kiến thức, năng lực, phẩm chất, theo dõi quan sát hành vi của học sinh trong học tập và hoạt động tập thể, thúc đẩy quá trình đánh giá vì sự tiến

bộ của học sinh Quá trình đánh giá và tự đánh giá được tiến hành một cách công bằng và khách quan sẽ đem lại những tác động tích cực, giúp giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học, đạt được các mục tiêu đề ra, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục

1.1.3.2 Đánh giá theo hướng phát triển năng lực

Năng lực là mục tiêu của quá trình giáo dục, điều đó có nghĩa là việc đánh giá kết quả giáo dục theo mục tiêu phải là việc đánh giá năng lực Một người học thể hiện được năng lực A hay năng lực B nào đó tức là người này

Trang 22

phải thể hiện mình có khả năng thực hiện một nhiệm vụ có thực (trong học tập, trong đời sống) ở trong một tình huống Trong quá trình thể hiện khả năng thực hiện nhiệm vụ, người học sẽ vận dụng những hiểu biết, những kĩ năng, thái độ và hành vi của mình Do vậy việc đánh giá năng lực tập trung nhiều vào sự vận dụng trong tình huống Các bằng chứng mà nhà giáo dục cần tìm kiếm qua hoạt động đánh giá năng lực là khả năng giải quyết vấn đề, thực hiện một nhiệm vụ gắn với một tình huống cụ thể Điều này yêu cầu các tiêu chí, chỉ số, công cụ dùng để đánh giá năng lực phải bao gồm các tình huống, các nhiệm vụ hoặc vấn đề mà người học cần thể hiện năng lực

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển mạnh mẽ từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Trước đây, chúng ta thường quan tâm học sinh học được cái gì, nhưng hiện tại việc học sinh vận dụng được những gì qua quá trình học tập mới là vấn đề cốt lõi cần được đặc biệt chú trọng Để thực hiện thành công việc “Dạy cách học”, cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau, quan tâm sát sao đánh giá quá trình học tập để tác động, điều chỉnh kịp thời các phương pháp dạy học và giáo dục Đánh giá năng lực là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng; không hoàn toàn dựa vào chương trình giáo dục môn học, không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá; tạo cơ hội cho học sinh giải quyết các tình huống mang tính thực tiễn để các em có thể kết hợp, vận dụng linh hoạt những kiến thức kĩ năng đã học với những kinh nghiệm, trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống Thông qua đó, có thể đánh giá được cả thái độ, tình cảm và những giá trị về chuẩn mực đạo đức của người học

1.1.3.3 Đánh giá năng lực viết

Theo Mai Bích Huyền, Nguyễn Thị Hồng Nam [19], đánh giá năng lực viết của học sinh phải dựa trên mục tiêu đánh giá và đặc trưng của thể loại

Trang 23

kiểu bài Các tác giả đã nhấn mạnh mục tiêu đánh giá bài viết là để đánh giá năng lực nắm vững đặc trưng thể loại; đánh giá kĩ năng tổ chức bài viết, kĩ năng lập luận; đánh giá năng lực hiểu yêu cầu đề bài, chủ đề bài viết; đánh giá

sự hiểu biết về nội dung mà đề bài yêu cầu; đánh giá sự hiểu biết về người đọc Lê Ngọc Tường Khanh đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực viết của học sinh tiểu học rất cụ thể [22] Với mỗi bài viết, học sinh cần phải xác định được vấn đề cần viết là gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?

Theo đó, các năng lực khi thực hiện một bài viết tất yếu phải có là: khả năng sử dụng những kinh nghiệm cuộc sống vào bài viết; khả năng liên hệ và ứng dụng những điều đã viết vào thực tiễn cuộc sống; khả năng đánh giá mức

độ hoàn thành bài viết của mình; khả năng lập dàn bài, lập kế hoạch chi tiết cho bài viết; khả năng tìm kiếm và xử lý thông tin cho bài viết; khả năng trình bày bài viết mạch lạc, logic; khả năng hợp tác trong quá trình hình thành bài viết; khả năng giao tiếp để tìm kiếm thông tin cho bài viết; khả năng tự đánh giá toàn diện bản thân thông qua qua trình thực hiện nhiệm vụ; khả năng nhận thức những tác động tích cực mà bài viết mang lại Tác giả cũng nhấn mạnh rằng tùy từng yêu cầu bài viết và thời điểm đánh giá trong năm học để lựa chọn các tiêu chí cho phù hợp

Chương trình Tiếng Việt lớp 5 hiện hành không đưa ra mục tiêu dạy học viết cụ thể, mục tiêu đó chỉ được xác định chung chung trong chuẩn kiến thức - kĩ năng môn Tiếng Việt Đây cũng được xem là căn cứ đế đánh giá năng lực viết của học sinh Năng lực viết mà mỗi học sinh cuối cấp tiểu học cần đạt được đó là: có khả năng trình bày rõ ràng ý tưởng của cá nhân về thế giới xung quanh các em bao gồm những vật thể tự nhiên hoặc đồ vật, con vật, cảnh quan, con người, sự việc bằng các văn bản có mục đích trần thuật, miêu

tả, trao đổi thông tin, báo cáo, thiết lập mối quan hệ giữa mình với người khác Năng lực viết của học sinh cần được đánh giá thường xuyên trong các tiết học chính khóa, bổ trợ, trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp, được đánh

Trang 24

giá thông qua các bài kiểm tra định kì Mục đích của loại hình đánh giá định

kì là thu thập kết quả học tập về mạch nội dung viết, từ đó xác nhận kết quả của học sinh, tìm ra những giải pháp điều chỉnh về chương trình, tài liệu, phương pháp dạy học nhằm cải thiện chất lượng viết của học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát chung về kiểm tra đánh giá ở trường Tiểu học

Thực hiện theo xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá trong giáo dục, hiện nay, các nhà trường đang thực hiện việc đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT Đánh giá theo Thông tư 22 giúp giáo viên điều chỉnh kịp thời các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sau mỗi bài học, mỗi chủ đề hoặc sau mỗi giai đoạn; phát hiện những tiến bộ của học sinh hàng ngày để động viên, khích lệ Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT nêu rõ: Học sinh

có khả năng tham gia đánh giá, tự đánh giá, rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh, và rèn luyện để tiến bộ hơn Quá trình học tập, rèn luyện của học sinh cũng được phụ huynh, cộng đồng cùng tham gia đánh giá Đó là nét nổi bật của Thông tư

22, thể hiện sự hợp tác tích cực giữa cha mẹ học sinh với nhà trường trong các hoạt động giáo dục Nội dung đánh giá tập trung vào việc đánh giá các hoạt động học tập trong và ngoài lớp, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo từng môn học và hoạt động giáo dục Học sinh được đánh giá thường xuyên theo tiến trình bài học bởi giáo viên, học sinh (tự đánh giá và đánh giá bạn qua hoạt động của tổ, nhóm) và phụ huynh Giáo viên quan sát, theo dõi từng cá nhân hoặc mỗi nhóm học sinh để động viên, gợi ý, hỗ trợ kịp thời; tôn trọng ý hiểu, cách diễn đạt của mỗi học sinh; chấp nhận sự khác nhau về thời gian, tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ học tập của các học sinh trong lớp

Khi đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học, chú trọng đánh giá ba năng lực và bốn phẩm chất Đó là các năng lực: tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề

Trang 25

Các phẩm chất: yêu cha mẹ, gia đình; yêu bạn bè, trường lớp; yêu quê hương, đất nước, con người; tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; chăm học, chăm làm, thích hoạt động nghệ thuật, thể thao Giáo viên cần nắm

rõ các tố chất riêng của mỗi học sinh để đưa ra những nhận định đúng đắn nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục các tồn tại Đối với mỗi nhiệm vụ, hoạt động học tập, học sinh sẽ thực hiện cá nhân trước; trong quá trình thực hiện hoặc sau khi thực hiện nhiệm vụ, học sinh tự đánh giá việc làm và kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình; chia sẻ kết quả hoặc khó khăn với bạn/nhóm hoặc giáo viên để giúp bạn hoặc được bạn hay giáo viên giúp đỡ kịp thời; báo cáo kết quả cuối cùng với giáo viên để được xác nhận hoàn thành hoặc được hướng dẫn thêm

Ngoài đánh giá bằng nhận xét, học sinh còn được đánh giá định kì kết quả học tập các môn Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí được tiến hành vào giữa học kì, cuối học kì và cuối năm học bằng điểm số thông qua bài kiểm tra định kì theo thang điểm 10 Để đánh giá khách quan năng lực học tập của học sinh, kết quả học tập phải được đánh giá trong suốt quá trình học chứ không chỉ căn cứ vào kết quả của các bài kiểm tra định kì

Giáo viên cần xác định được năng lực cần đạt của mỗi tiết học hay chủ

đề, khối lớp đang dạy nhằm tiến hành KTĐG đúng thực chất Các nhà trường đều tổ chức hội thảo bàn về các biện pháp - ra đề kiểm tra phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đánh giá ở từng bộ môn Cuối mỗi kì, các nhà quản lí cần kiểm tra sát sao việc đánh giá xếp loại học sinh của giáo viên, đối chiếu với việc thực hiện KTĐG theo định hướng phát triển năng lực

1.2.2 Thực trạng việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng

Để tìm hiểu về nhận thức và quá trình thực hiện của giáo viên các trường tiểu học quận Hồng Bàng trong việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý

Trang 26

kiến thông qua buổi Sinh hoạt chuyên đề cấp quận “Nâng cao hiệu quả đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT thông qua môn Tiếng Việt” được tổ chức tại trường Tiểu học Bạch Đằng vào tháng 10 năm học 2018-

2019 (nơi tôi đang công tác) Chúng tôi đã hỏi ý kiến 96 người trong đó có 15 cán bộ quản lý (CBQL), 45 tổ trưởng chuyên môn và 36 giáo viên lớp năm của 9 trường tiểu học quận Hồng Bàng Các cán bộ quản lý và giáo viên được mời tham gia phỏng vấn và khảo sát có trình độ Đại học chiếm 95,2%, có trình độ Thạc sĩ chiếm 3%, số giáo viên còn lại đang tham gia học các lớp sau Đại học Như vậy, những CBQL và giáo viên mà chúng tôi mời tham gia phỏng vấn đều đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi trong xu thế đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay

Khi khảo sát thực trạng, chúng tôi tổng hợp và tính điểm bình quân với quy ước: cứ mỗi phiếu đánh giá ở mức độ tốt: 3 điểm, khá: 2 điểm, trung bình: 1 điểm, chưa đạt: 0 điểm

1.2.2.1 Khảo sát nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về đánh giá theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Bảng 1.1 Nhận thức về đánh giá theo hướng phát triển năng lực

Thứ bậc Chú trọng đánh giá các năng lực

tư duy bậc cao (tư duy sáng

tạo )

2,83 3 2,72 3 2,76 3

Đánh giá vì sự tiến bộ của học

Trang 27

Thứ bậc Đánh giá khả năng vận dụng giải

quyết những vấn đề thực tiễn 2,90 1 2,88 1 2,89 1

Kết quả khảo sát nhận thức về đánh giá năng lực của học sinh được đánh giá ở mức độ tốt, ĐTB của cả 3 nội dung là: 2,83, trong đó CBQL các trường tiểu học đánh giá là: 2,86 và đội ngũ TTCM, GV đánh giá là: 2,80 Cả

3 nội dung đều có ĐTB ≥ 2,8 Mức độ nhận thức về các nội dung được các nhóm đánh giá là khá đồng đều, nội dung được đánh giá cao nhất là nội dung 3: Chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá khả năng vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn 2,83 (thứ bậc 1); nội dung 1: Chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao (tư duy sáng tạo ) được đánh giá thấp hơn: 2,76 (thứ bậc 3) So sánh ý kiến đánh giá của 2 nhóm tham gia khảo sát cho thấy có sự khác biệt, nhìn chung CBQL có nhận thức cao hơn giáo viên Trao đổi ý kiến với một số CBQL các trường tiểu học, được biết: một số giáo viên nhận thức chưa đầy đủ về đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực người học, nhất là các giáo viên lớn tuổi

1.2.2.2 Khảo sát nhận thức về sự cần thiết của việc đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh

Để đánh giá đúng thực trạng chúng tôi đã tiến hành tổng hợp và quy đổi

về chuẩn định lượng với các mức độ như sau: Rất cần thiết: 3 điểm; Cần thiết:

2 điểm; Ít cần thiết:1 điểm; Không cần thiết: 0 điểm

Trang 28

Bảng 1.2 Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc kiểm tra đánh

giá theo hướng phát huy năng lực học sinh

TT Đối tượng

điều tra

Số lượng

Rất Cần thiết Cần thiết Ít cần thiết

1.2.2.3 Khảo sát thực trạng nhận thức về cách đánh giá năng lực viết qua các môn học

Chúng tôi tiếp tục thực hiện phỏng vấn trực tiếp 9 nhóm giáo viên lớp 5 của 9 trường tiểu học trong quận bằng hai câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Thầy/cô đã đánh giá năng lực viết của học sinh như thế nào qua môn Tiếng Việt? Qua các môn học còn lại?

Câu hỏi 2: Để đánh giá năng lực môn Tiếng Việt của học sinh, thầy/cô cần đánh giá những năng lực nào?

Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

Thực trạng đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 thông qua môn Tiếng Việt: Có 8% số giáo viên còn trả lời chung chung, chưa đúng trọng tâm

Đa số giáo viên (92%) đều nhận thức cần phải đánh giá theo năng lực của học sinh, đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh Tuy nhiên, cách thực hiện lại phản

Trang 29

ánh quá trình đánh giá chủ yếu căn cứ vào kiến thức-kĩ năng, chưa thể hiện rõ cách đánh giá phát huy năng lực của học sinh:

Về mục đích đánh giá: đã xác định kiến thức-kĩ năng HS cần đạt theo mục tiêu của bài học song chưa chú trọng khả năng vận dụng kiến thức-kĩ năng đó để giải quyết các tình huống thực tiễn

Về ngữ cảnh đánh giá: chưa gắn với thực tiễn cuộc sống, chỉ giới hạn ở những nội dung được học trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5

Về nội dung đánh giá: chỉ xét trong phạm vi môn Tiếng Việt: tập trung đánh giá kĩ năng viết chính tả, tốc độ viết, kĩ năng diễn đạt khi viết các câu trả lời trong bài đọc hiểu, kĩ năng dùng từ viết câu, liên kết câu, liên kết đoạn, viết đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh Chưa gắn với nhiều môn học khác, chưa gắn với các hoạt động giáo dục và trải nghiệm của bản thân học sinh trong cuộc sống GV quan tâm nhiều tới việc HS có đạt được hay không nội dung

đã được học, chưa quan tâm đến mức độ phát triển năng lực của học sinh

Về hình thức, thời điểm đánh giá: thường thực hiện đánh giá thường xuyên trước hoặc sau tiết học, chưa chú trọng đánh giá trong tiến trình tiết học Giáo viên căn cứ chuẩn kiến thức-kĩ năng để đánh giá, tuy nhiên giáo viên thường đánh giá chung chung, chưa cụ thể, chưa có lời tư vấn kèm theo, đánh giá bằng cách viết lời nhận xét trong vở học sinh còn hạn chế

Ví dụ: phân môn Tập làm văn lớp 5 (bài tập 2: Luyện tập tả người - Tả ngoại hình nhân vật)

Nhận xét chung chung: “Em viết đoạn 1 chưa đúng, cố gắng lên nhé!” Nhận xét cụ thể kết hợp tư vấn: “Các câu văn của đoạn 1 chưa phù hợp với nhân vật, em cần lựa chọn từ ngữ để miểu tả đúng đặc điểm ngoại hình của cậu bé vùng biển”

Khi đánh giá bài văn của học sinh, đa số giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc đặt các câu hỏi như: Bài viết đúng yêu cầu chưa? Bố cục có đủ ba phần

Trang 30

không? Các chi tiết đã sắp xếp hợp lý chưa? Học sinh đã dùng những biện pháp nghệ thuật gì? Khi đánh giá định kì: Giáo viên đã bám sát tiêu chí, hướng dẫn chầm điểm trong đề kiểm tra định kì, đánh giá theo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo Một vài giáo viên đánh giá chưa khớp giữa điểm kiểm tra định kì với đánh giá thường xuyên, chưa nhận thức rõ điểm kiểm tra định kì chỉ mang tính thời điểm, kết quả học tập của học sinh được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình học tập Kết quả đánh giá năng lực của học sinh phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, bài tập đã hoàn thành, học sinh càng đạt được nhiều kiến thức-kĩ năng thì được coi là có năng lực cao hơn (trong khi đánh giá theo năng lực lại phụ thuộc vào độ khó của bài tập đã hoàn thành, học sinh giải quyết bài tập càng khó, càng phức tạp sẽ được coi là có năng lực cao hơn)

Khi đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 thông qua các môn học khác, 100% giáo viên cho rằng những học sinh có năng lực viết tốt ở môn Tiếng Việt thì ở các môn học còn lại các em cũng thể hiện tốt khả năng của mình Khi học môn Tiếng Việt, học sinh có nhiều cơ hội để rèn luyện và phát huy năng lực viết Đối với các môn học còn lại, giáo viên đánh giá năng lực viết của học sinh thông qua cách viết các câu trả lời, câu lập luận, giải thích, cách viết tóm tắt nội dung, chắt lọc ý dựa vào văn bản cho trước…Mặc dù học sinh không phải viết nhiều song giáo viên vẫn đánh giá được khả năng sử dụng vốn từ, kĩ năng diễn đạt khi viết câu, viết đoạn của học sinh

Qua phỏng vấn, 89% giáo viên cũng đánh giá năng lực viết của học sinh chủ yếu dựa vào chuẩn kiến thức-kĩ năng theo từng môn học Tuy nhiên,

ở các môn học còn lại, khi đánh giá năng lực viết, 90% giáo viên đã gắn với môn Tiếng Việt, gắn với các hoạt động thực hành, trải nghiệm của học sinh trong học tập và cuộc sống

Trang 31

1.2.2.4 Khảo sát thực trạng nhận thức về các tiêu chí chủ yếu khi đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5

Bảng 1.3 Nhận thức về những tiêu chí chủ yếu khi đánh giá năng

lực viết của học sinh lớp 5

Tiêu chí chủ yếu

CBQL TTCM, GV Tổng hợp

KQ chung ĐTB Thứ bậc ĐTB Thứ bậc ĐTB Thứ bậc

Hình thức ngôn ngữ và trình bày 2,89 3 2,62 4 2,76 4 Khả năng biểu đạt và lập luận 2,89 3 2,68 3 2,79 3

ĐTB chung 2,92 2,74 2,84

Kết quả bảng 1.3 cho thấy mức độ nhận thức về về những tiêu chí chủ yếu khi đánh giá năng lực viết ở mức tốt, thể hiện ĐTB = 2,84 Trong đó: CBQL các trường tiểu học đánh giá là: 2,92; TTCM, GV đánh giá là: 2,74 Mức độ đánh giá của các đối tượng về các tiêu chí khá đồng đều, Tiêu chí 1: Nội dung được xem là quan trọng nhất: 2,92 (thứ bậc 1), trong khi đó tiêu hcis 2: hình thức ngôn ngữ và trình bày được coi là ít quan trọng nhất: 2,76 (thứ bậc 4)

Tiểu kết chương 1 Chương 1 đề cập tới hai vấn đề trọng yếu:

Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề về đánh giá theo hướng phát triển năng lực, tập trung tìm hiểu về đánh giá năng lực viết Cơ sở lí luận của việc đánh giá năng lực viết Năng lực bao gồm năng lực chung và các năng lực chuyên môn Năng lực ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giao tiếp Hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào năng lực tiếng Việt, vì vậy cần

Trang 32

hình thành và phát triển năng lực tiếng Việt Đọc, viết, nói, nghe là bốn năng lực bộ phận của năng lực tiếng Việt trong đó năng lực viết được chúng tôi quan tâm và nghiên cứu sâu Đổi mới kiểm tra đánh giá là việc làm vô cùng cần thiết đối với các cấp học, đặc biệt cần thực hiện nghiêm túc và hiệu quả ngay từ bậc tiểu học

Tiếp theo, chúng tôi đưa ra các cơ sở thực tiễn về kiểm tra đánh giá tại các trường tiểu học hiện nay Những nhiệm vụ được đặt ra khi giáo viên thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT sao cho linh hoạt

và hiệu quả Chúng tôi đã thực hiện cuộc khảo sát bằng hình thức dùng phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn giáo viên trong một buổi sinh hoạt chuyên môn cấp quận để có các minh chứng về thực trạng việc đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng Kết quả cho thấy, khi đánh giá năng lực viết của học sinh, giáo viên vẫn chưa thực sự đánh giá theo hướng phát huy năng lực, còn nặng về việc đánh giá theo chuẩn kiến thức-kĩ năng môn học Đây chính là cơ sở cho việc tìm ra các biện pháp phù hợp để đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương 2

Trang 33

CHƯƠNG 2BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VIẾT

CỦA HỌC SINH LỚP 5 2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp

2.1.1 Đảm bảo tính khách quan

Đảm bảo sự khách quan trong đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng

vì đó là sự phản ánh chân thực về chất lượng giáo dục Đánh giá khách quan tạo ra các yếu tố tâm lý tích cực, động viên đối tượng được đánh giá cố gắng vươn lên; tạo điều kiện để mỗi học sinh bộc lộ thực chất khả năng và trình độ của mình; ngăn ngừa được tình trạng thiếu trung thực khi làm bài kiểm tra…

Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc: Đánh giá phải phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện dạy học Tránh đánh giá chung chung, tránh những nhận định chủ quan hay áp đặt một cách thiếu căn cứ Sử dụng đa dạng các hình thức, phương pháp, kỹ thuật khi đánh giá Các tiêu chí đánh giá cần được miêu tả rõ ràng Kết hợp cân đối giữa hai loại hình đánh giá: đánh giá thường xuyên và đánh giá tổng kết

2.1.2 Đảm bảo tính công khai, công bằng

Các tiêu chí đánh giá về các bài tập hoặc nhiệm vụ học tập cần được công bố cho học sinh trước khi thực hiện Điều đó sẽ giúp học sinh có cơ sở

để tham gia đánh giá kết quả học tập của bạn học và tự đánh giá bản thân; biết cách thực hiện các nhiệm vụ để đạt được kết quả cao nhất Việc đánh giá công khai thể hiện sự khách quan, công bằng trong công tác KTĐG của mỗi nhà trường

Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc: Tất cả học sinh trong lớp cần được giao nhiệm vụ học tập vừa sức Đề kiểm tra phải cho học sinh cơ hội để chứng tỏ khả năng áp dụng kiến thức-kỹ năng đã học vào đời sống hàng ngày,

là cơ hội để học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề: Với đề kiểm tra

Trang 34

nhằm thu thập thông tin để đánh giá xếp loại học sinh, hình thức kiểm tra phải quen thuộc với học sinh, ngôn ngữ trình bày đơn giản, rõ ràng, không chứa hàm ý đánh đố học sinh Với bài kiểm tra thực hành tự luận, cần xây dựng thang đánh giá sao cho việc chấm điểm, xếp loại, ghi nhận xét phản ánh đúng khả năng làm bài của học sinh Các kết quả KTĐG phải được thể hiện rõ ràng trong hồ sơ đánh giá, phải được công bố kịp thời tới học sinh, phụ huynh 2.1.3 Đảm bảo tính toàn diện

Mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, năng lực, phẩm chất của từng học sinh được thể hiện qua kết quả đạt được ở các bài kiểm tra định kì Vì vậy trong quá trình KTĐG cần đảm bảo tính toàn diện cả về phương diện lý thuyết và thực hành, về số lượng, chất lượng

Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc: Việc đánh giá phải đảm bảo bao quát được các hoạt động đánh giá Các bài tập hoặc hoạt động đánh giá cần phong phú, đa dạng Mục tiêu đánh giá cần bao quát, phù hợp với mức độ phát triển

kỹ năng Nội dung kiểm tra đánh giá bám sát những nội dung trọng tâm của chương trình; đánh giá toàn diện về kiến thức-kĩ năng, phẩm chất, trí tuệ và các lĩ năng xã hội

2.1.4 Đảm bảo tính phát triển, vì sự tiến bộ của học sinh

Quá trình KTĐG có tác dụng phát triển năng lực của học sinh,giúp học sinh nhận ra chiều hướng phát triển của bản thân, nhận ra khả năng của mình, thúc đẩy lòng tự tin, hướng phấn đấu và hình thành năng lực tự đánh giá

Yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc: Đánh giá cần hướng đến việc khích

lệ sự phấn đấu và tiến bộ của học sinh, phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh; chú trọng rèn luyện và phát triển các kỹ năng góp phần phát triển động cơ học tập đúng đắn cho học sinh

Trang 35

2.1.5 Đảm bảo tính giáo dục

Trong quá trình đánh giá, giáo viên cần đưa ra các tư vấn cụ thể về những ưu điểm đạt được, những điều có thể làm tốt hơn, những tồn tại cần khắc phục Từ kết quả đánh giá của giáo viên, học sinh nhận thấy được sự tiến bộ của bản thân, xác định những mục tiêu cần cố gắng hơn, thấy được sự ghi nhận của giáo viên về khả năng của mình, tự điều chỉnh các hoạt động học tập của bản thân góp phần quan trọng vào việc thực hiện chức năng giáo dục

và phát triển của quá trình đánh giá giáo dục

2.2 Đề xuất một số biện pháp đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 2.2.1 Thiết kế các tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp

2.2.1.1 Thiết kế tiêu chí đánh giá năng lực viết

Tiêu chí là các yêu cầu dùng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng, bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các qui tắc, qui định và tính bền vững của các kết quả đó

Đánh giá năng lực viết thường căn cứ vào những yêu cầu cần đạt về kĩ năng viết được quy định trong chuẩn kiến thức - kĩ năng môn Tiếng Việt; căn

cứ vào một số biểu hiện về năng lực, phẩm chất, các hành vi nhằm cụ thể hóa mục tiêu học tập của học sinh

Khi thực hiện một yêu cầu hay bài tập liên quan đến kĩ năng viết, các

em cần xử lý các thông tin và trình bày vấn đề một cách tường minh, các em cần có khả năng xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, lúc này các

em cần đến kĩ năng mềm vô cùng quan trọng - kĩ năng giải quyết vấn đề Đây chính là năng lực phương pháp Năng lực cá thể của học sinh cũng được biểu hiện qua việc các em có khả năng đánh giá người khác, tự đánh giá toàn diện

về bản thân, cảm nhận được những tác động tích cực mang lại thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ Khi học sinh thực hiện một văn bản viết chính là lúc các em thể hiện kĩ năng tạo lập vản bản, kĩ năng tổng hợp kiến thức, kĩ năng

Trang 36

tìm kiếm thông tin, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác Đây được xem là những biểu hiện của năng lực xã hội

Căn cứ vào mối liên quan giữa các năng lực đã nêu trên, các tiêu chí đánh giá năng lực viết của học sinh cần được thiết kế rõ ràng, cụ thể và phù hợp Tiêu chí đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 được căn cứ chủ yếu vào hai phân môn: Chính tả và Tập làm văn Để đưa ra các tiêu chí đánh giá phù hợp, trước tiên giáo viên phải nắm rõ nội dung chương trình từng phân môn

a Phân môn Chính tả:

Phân môn Chính tả lớp 5 bao gồm ba nội dung:

Nội dung thứ nhất: bài viết chính tả

Bài viết chính tả có thể là một đoạn hoặc một đoạn, một bài được trích

từ bài tập đọc trước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc hoặc các văn bản khác có nội dung phù hợp với chủ điểm đã học trong tuần Có 2 hình thức chính tả được sử dụng là: chính tả nghe - viết và chính tả nhớ - viết trong đó

có 08/35 tiết chính tả nhớ - viết , 27/35 tiết chính tả nghe - viết (chú trọng hình thức nghe – viết); chính tả so sánh được lồng trong tất cả các bài chính tả

âm, vần

Nội dung thứ hai: bài tập chính tả âm, vần

Hệ thống bài tập chính tả nhằm ôn lại một số quy tắc chính tả, tiếp tục luyện viết các từ ngữ có âm, vần, thanh dễ viết sai do các âm vần đó có cấu tạo phức tạp, khó phát âm; do học sinh không nắm vững quy tắc ghi âm; do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương Bài tập chính tả âm, vần là bài tập lựa chọn Mỗi bài tập lựa chọn gồm 2 đến 3 bài tập nhỏ dành cho các vùng phương ngữ nhát định Giáo viên căn cứ vào đặc điểm địa phương và thực tế phát âm của học sinh dể lựa chọn bài tập hoặc tự biên soạn bài tập mới cho phù hợp (phụ lục 2: Hệ thống các loại bài tập chính tả âm, vần lớp 5).Hình

Trang 37

thức bài tập chính tả âm, vần rất phong phú, đa dạng Nội dung bài tập mang tính tình huống và thể hiện rõ quan điểm giao tiếp trong dạy học (phụ lục 3: Một số hình thức bài tập chính tả âm, vần lớp 5)

Nội dung 3: Chính tả viết hoa

Học sinh được ôn luyện cách viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam và nước ngoài; bước đầu rèn luyện cách viết hoa tên cơ quan, tổ chức xã hội, danh hiệu, giải thưởng, huân chương…

Tiêu chí đánh giá phân môn Chính tả:

Học sinh cần viết bài viết chính tả khoảng 80 chữ đến 100 chữ; thời gian từ 15 phút đến 20 phút; viết đúng chính tả, viết đúng một số từ ngữ cần phân biệt phụ âm đầu, vần, thanh điệu dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương; biết tự phát hiện và sửa lỗi chính tả của mình, của bạn; tốc độ đạt yêu cầu, chữ viết rõ ràng, viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ; trình bày đúng quy định, viết sạch đẹp; làm đúng các bài tập chính tả do giáo viên chọn Các bài viết chính tả hàng tuần được đánh giá bằng nhận xét và chỉ được đánh giá bằng điểm số trong các bài kiểm tra định kì

b Phân môn Tập làm văn

Chương trình Tập làm văn lớp 5 được cụ thể hóa qua hai loại bài học chủ yếu: loại bài hình thành kiến thức (được cấu trúc theo 3 phần: Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập) và loại bài luyện tập thực hành (thường gồm 2-3 bài tập nhỏ hoặc 1 đề tập làm văn kèm gợi ý thực hành luyện tập nói hoặc viết) (Phụ lục 4: Tổng hợp các dạng bài Tập làm văn trong sách Tiếng Việt lớp 5) Phân môn Tập làm văn được phân phối theo chương trình 2 tiết/tuần Học sinh được học hai kiểu loại văn bản chính: loại văn bản miêu tả gồm tả người và tả cảnh; các loại văn bản khác gồm: báo cáo thống kê, viết đơn, viết biên bản, thuyết trình - tranh luận, lập chương trình hoạt động, tập viết đoạn đối thoại Giáo viên cần nắm chắc yêu cầu của từng kiểu loại văn bản để đưa ra nội

Trang 38

dung và mức độ đánh giá cho phù hợp Việc đánh giá kĩ năng viết các kiểu loại văn bản nói chung thường dựa vào các tiêu chí chủ yếu sau: nội dung; kết cấu bài viết; khả năng biểu đạt và lập luận; hình thức ngôn ngữ và trình bày Các kĩ năng làm văn được xây dựng dựa trên quy trình sản sinh ngôn bản, bao gồm 4 kĩ năng chủ yếu: kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp (yêu cầu học sinh biết nhận diện đặc điểm văn bản, biết phân tích đề bài, xác định yêu cầu);

kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp (học sinh phải xác định được dàn

ý của bài văn đã cho, quan sát đối tượng, biết tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn bằng sơ đồ tư duy); kĩ năng hiện thực hóa hoạt động giao tiếp (học sinh biết xây dựng đoạn văn bằng cách chọn từ, tạo câu, viết đoạn, liên kết các đoạn thành bài văn); kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp (học sinh biết đối chiếu với văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt)

Cụ thể, khi học sinh thực hiện viết theo kiểu loại văn bản miêu tả, kể chuyện, các em có cơ hội để thể hiện rõ nhất năng lực tạo lập văn bản Học sinh phải có khả năng tạo ra một văn bản viết hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, đúng yêu cầu về thể loại, thể hiện rõ cách thức tổ chức văn bản đúng quy định Các em sẽ được vận dụng các kĩ năng như: sử dụng từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh, tình huống; sử dụng mẫu câu phù hợp với mục đích nói; sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, điệp ngữ…; tạo lập câu đúng ngữ pháp; viết các đoạn văn để tạo thành bài văn theo bố cục hoàn chỉnh, đúng yêu cầu, mục đích; sử dụng các từ ngữ chuyển ý, liên kết từ để xâu chuỗi các chi tiết, các sự kiện giúp mạch văn thêm trôi chảy, uyển chuyển; vận dụng kĩ năng kết nối các sự kiện riêng lẻ thành chuỗi sự kiện; vận dụng các cách viết mở đề, kết đề thu hút sự chú ý của người đọc; vận dụng linh hoạt các kĩ năng viết trong cuộc sống…

Căn cứ vào các kĩ năng trên, có thể đưa ra các tiêu chí đánh giá bài viết thể loại miêu tả, kể chuyện ngắn gọn như sau:

Trang 39

Ví dụ: Tiêu chí đánh giá dạng bài miêu tả, kể chuyện

Lập ý cho từng phần (mở bài, thân bài, kết bài) 03

Trang 40

Năng lực sử dụng ngôn ngữ viết được đánh giá trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: những từ ngữ được sử dụng có phù hợp với người nghe hay không; có phản ánh đầy đủ, chính xác thái độ và tình cảm của người viết hay không Trong quá trình diễn ra hoạt động giao tiếp, nghĩa của từ luôn có sự biến đổi và chuyển hoá nên trong những tình huống khác nhau sẽ có những cách lý giải nghĩa của từ một cách khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn hay loại

bỏ từ ngữ nào đó khi sử dụng chính là sự phản ánh năng lực viết, phản ánh thái độ, cảm xúc của người viết trước hiện thực

Với xu hướng dạy học và đánh giá theo năng lực học sinh hiện nay, giáo viên cần tổ chức cho các em tham gia, tiếp cận các tình huống giao tiếp trước, thông qua việc giải quyết các tình huống đó, các em sẽ tự rút ra cách thức sử dụng ngôn từ Trong văn bản viết, số câu cũng góp phần đánh giá năng lực viết của học sinh vì học sinh nào diễn đạt được nhiều nội dung thì mới có thể viết được dài Học sinh diễn đạt ít nội dung, chỉ viết vài ba câu sẽ sớm kết thúc đoạn Chưa chắc câu dài đã là câu hay, câu ngắn đã là câu dở Tuy nhiên, khi học sinh viết được câu dài nghĩa là học sinh đã bộc lộ được khả năng tư duy tốt hơn Khi số từ trong một câu được tăng lên nghĩa là học sinh phải biết cách giải quyết nhiều mối quan hệ và sự liên kết giữa các từ ngữ về mặt nghĩa cũng như trật tự từ trong câu Nếu học sinh viết câu đúng ngữ pháp, diễn tả hay có nghĩa là học sinh có năng lực viết tốt Số lượng từ trong câu phản ánh năng lực tư duy của học sinh Hiện nay, chuẩn kiến thức -

kĩ năng chưa quy định nội dung này Cần sử dụng các kiểu cấu trúc ngữ pháp khi viết Một bài viết dài nhưng cấu trúc ngữ pháp chỉ đặt theo cấu tạo C-V thì nội dung câu sẽ đơn điệu Sự phong phú về cấu trúc ngữ pháp sẽ làm cho bài văn thêm sinh động Nếu hai bài viết ngang nhau về độ dài, số câu thì giáo viên có thể dùng tiêu chí này để đánh giá Khi học sinh biết sử dụng phù hợp các biện pháp tu từ trong câu nghĩa là học sinh đã đạt được mức độ trên chuẩn Một bài viết tốt sẽ được trình bày bằng các đoạn văn khác nhau Nếu bài văn là một chủ đề lớn thì mỗi đoạn văn sẽ là một chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề)

Ngày đăng: 16/12/2024, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11] Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2014), Bước đầu tìm hiểu khái niệm “Đánh giá theo năng lực” và đề xuất một số hình thức đánh giá năng lực ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá theo năng lực
Tác giả: Nguyễn Thành Ngọc Bảo
Năm: 2014
[44] Phạm Hữu Tòng (2012), Phát huy chức năng “Tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học” trong sự vận hành đồng bộ ba yếu tố “Nội dung, mục tiêu, giải pháp dạy học” để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học” trong sự vận hành đồng bộ ba yếu tố “Nội dung, mục tiêu, giải pháp dạy học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Năm: 2012
[25] Murray, D. (1972), Teach Writing a Process not Produc, Khai thác từ http://www.csun.edu Link
[1] Lê A (1998), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Khác
[2] Chu Thị Thùy An (2017), Phát triển năng lực lập luận cho học sinh tiểu học khi viết văn miêu tả, Tạp chí Giáo dục, số 402, kì 2 tháng 3/2017 Khác
[3] Hồ Sỹ Anh (2013), Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh,Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/9/2013 Khác
[4] Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2009), Lý luận dạy học hiện đại (bài giảng Powepoint), Potsdam, CHLB Đức Khác
[5] Bộ GD&ĐT (2006), Chương trình giáo dục phổ thông Ngữ văn, Hà Nội, NXB Giáo dục Khác
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo (tháng 6/2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn Trung học phổ thông, Hà Nội Khác
[8] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình Giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể Khác
[9] Bộ Giáo dục và Đào tạo (Dự án GREF, tháng 4/2018), Dự thảo chương trình Ngữ văn phổ thông mới Khác
[10] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới Khác
[12] Catherine Garrison, Michael Ehringhaus (2017) - Đặng Thanh Hiền dịch, Những đặc trưng của qua trình đánh giá Khác
[13] Phan Thị Hồ Điệp - Khoa Giáo dục Đặc biệt - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Phụ huynh cũng chính là một trong những yếu tố tạo nên áp lực cho con trẻ Khác
[14] Nguyễn Thu Hà (2014), Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Tập 30, Số 2, 56-645 Khác
[15] Nguyễn Thị Hạnh (2014), Giáo dục thời đại, Trao đổi đánh giá năng lực viết của học sinh cuối cấp Tiểu học Khác
[16] Nguyễn Thị Hiên, Đánh giá năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh phổ thông, Tạp chí Khoa học ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, số 65, năm 2014 Khác
[17] Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển bách khoa Khác
[18] Trần Bá Hoành, Đánh giá trong giáo dục, Hà Nội 1995 Khác
[19] Mai Bích Huyền, Nguyễn Thị Hồng Nam (2014), Tiêu chí đánh giá bài luận - một trong những công cụ phát triển năng lực tạo lập văn bản cho học sinh, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 62/2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
ng Tên bảng Trang (Trang 6)
Bảng 1.1. Nhận thức về đánh giá theo hướng phát triển năng lực - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 1.1. Nhận thức về đánh giá theo hướng phát triển năng lực (Trang 26)
Bảng 1.2. Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc kiểm tra đánh - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 1.2. Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của việc kiểm tra đánh (Trang 28)
Bảng 1.3. Nhận thức về những tiêu chí chủ yếu khi đánh giá năng - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 1.3. Nhận thức về những tiêu chí chủ yếu khi đánh giá năng (Trang 31)
Bảng 2.1. Cách thiết kế chỉ số đánh giá bài văn tả cảnh - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 2.1. Cách thiết kế chỉ số đánh giá bài văn tả cảnh (Trang 43)
Bảng 2.2. Theo dõi sự tiến bộ của học sinh về kĩ năng viết trong tháng - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 2.2. Theo dõi sự tiến bộ của học sinh về kĩ năng viết trong tháng (Trang 58)
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (kết quả bài kiểm tra số 1) - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 3.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm (kết quả bài kiểm tra số 1) (Trang 74)
Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra năng lực viết văn theo Tiêu chí đánh giá - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 3.2. Kết quả kiểm tra năng lực viết văn theo Tiêu chí đánh giá (Trang 76)
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm (kết quả bài KT số 2) - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm (kết quả bài KT số 2) (Trang 77)
Hình  ảnh,  nhân  vật, - Luận văn thạc sĩ Giáo dục tiểu học: Đánh giá năng lực viết của học sinh lớp 5 các trường tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
nh ảnh, nhân vật, (Trang 111)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w