Tuy nhiên, thống kê từ Cục Y tế dự phòng năm 2011 cũng cho thấy trên 80% học sinh tiểu họcViệt Nam mắc các bệnh răng miệng như sâu răng, viêm quanhrăng, ở lứa tuổi lớn hơn tỷ lệ này cũng
ĐỒI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Học sinh tại lứa tuổi 8 đến 11 tuổi trường tiểu học QuỳnhThiện, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu : Cắt ngang - Bệnh chứng -
Can thiệp (có kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính).
Sơ đồ 2.3: Mối liên quan giữa 3 thiết kế nghiên cứu và mục đích của từng thiết kế 2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp: Do hiện tại Việt
Việc nghiên cứu can thiệp dự phòng cho nhóm học sinh chưa bị sâu răng tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là so với nhóm chứng Do đó, chúng tôi đã áp dụng một cỡ mẫu chung cho cả hai nghiên cứu can thiệp này, sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho hai tỷ lệ.
Thay vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu của hai nhóm can thiệp và hai nhóm đối chứng là: n = nct1 = nc1 = nct2 = nc2 130/nhóm
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh - chứng: được tính theo công thức sau:
Thay vào công thức tính ta có n1 = n2 = n = 132 và do đây là nghiên cứu Bệnh – Chứng ghép cặp nên ta có 132 cặp HS bệnh - chứng
- Cỡ mẫu cho điều tra cắt ngang: Công thức tính cỡ mẫu thích hợp cho điều tra này là:
Với p = 78,8% và α = 0,05, cỡ mẫu tính toán là n = 713 Tuy nhiên, trong giai đoạn can thiệp (giai đoạn 3), cần ít nhất 260 học sinh không bị sâu răng và 260 học sinh bị sâu răng để chia thành nhóm can thiệp và nhóm chứng Do đó, với tỷ lệ học sinh bị sâu răng là 78,8%, tỷ lệ học sinh không bị sâu răng là 21,2%, dẫn đến việc cần khám tổng cộng 1.227 học sinh.
Để đảm bảo rằng một số học sinh tiểu học không bị sâu răng có thể tham gia nghiên cứu, chúng tôi sẽ tăng cỡ mẫu trong giai đoạn can thiệp lên 10%, với tổng số học sinh cần khám là 1350.
Trong giai đoạn nghiên cứu cắt ngang, nhóm nghiên cứu hy vọng có được 260 học sinh không bị sâu răng tại phường Quỳnh Thiện, Tx Hoàng Mai Tuy nhiên, trong độ tuổi từ 8 đến 11, chỉ có 962 trẻ, trong đó có 556 nam và 406 nữ, thấp hơn kỳ vọng Do đó, tổ nghiên cứu quyết định khám thêm cho 388 học sinh từ 6 đến 8 tuổi để đạt đủ mẫu nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi phân tích dữ liệu từ nghiên cứu bệnh-chứng ghép cặp và xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và sâu răng Trước khi can thiệp, đã tổ chức 14 cuộc thảo luận nhóm, trong đó có 6 cuộc tại trường Tiểu học Quỳnh Thiện A và 8 cuộc tại trường Tiểu học Quỳnh Thiện B Mỗi nhóm thảo luận bao gồm từ 8-10 đối tượng, với sự tham gia của học sinh và phụ huynh đại diện cho các khối lớp của trường.
Sau can thiệp có 7 cuộc thảo luận nhóm, trong đó 4 cuộc tại trường tiểu học Quỳnh Thiện A và 3 nhóm tại Trường tiểu học Quỳnh Thiện B
Chọn mẫu phân tầng không theo tỷ lệ và mẫu chủ đích tại hai trường TH Phường Quỳnh Thiện nhằm đảm bảo đủ số lượng học sinh không bị sâu răng trong nhóm chứng Tổng số học sinh được khám trong giai đoạn 1 đã tăng lên từ 6 đến 11 tuổi, thay vì từ 8 đến 11 tuổi như ban đầu, với mục tiêu đạt hơn 1350 học sinh theo tính toán trước nghiên cứu Để tôn trọng yếu tố y đức, học sinh không bị sâu răng được chọn ngẫu nhiên vào nhóm chứng và được ghép cặp với học sinh bị sâu răng Tất cả học sinh tiểu học tại các trường đều được khám để phát hiện sâu răng trong giai đoạn 1, sau đó, học sinh tiểu học bị sâu răng sẽ được ghép cặp với học sinh không bị sâu răng để triển khai nghiên cứu giai đoạn 2.
Chọn mẫu cho giai đoạn nghiên cứu can thiệp là nhóm đối tượng tại khám đợt 1 mà chưa được ghép cắp Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp tại hai khu vực này phụ thuộc vào số học sinh không phát hiện sâu răng tại mỗi trường trong giai đoạn nghiên cứu cắt ngang (giai đoạn 1).
- Thu thập tài liệu liên quan nghiên cứu; Họp thống nhất các bước nghiên cứu; Xây dựng kế hoạch để triển khai nghiên cứu
- Tập huấn cho nhóm cộng tác
- Triển khai điều tra, can thiệp theo mục tiêu nghiên cứu.
2.2.5 Các phương pháp cụ thể
2.2.5.1 Phương tiện nghiên cứu: Nhân lực, Dụng cụ khám, Nơi khám.
2.2.5.2 Khám lâm sàng và ghép cặp đối tượng cho nghiên cứu bệnh chứng
Trong giai đoạn này, tất cả học sinh phát hiện sâu răng đều được trám bằng chất trám GIC (Cement Gốm Ion) Tuy nhiên, một số trường hợp không thể điều trị ổn định do mức độ hư hại lớn, sâu ở vị trí khó trám hoặc có triệu chứng hoại tử tủy, được xếp vào nhóm sâu răng chưa điều trị khỏi Đối với các trường hợp viêm lợi liên quan đến mảng bám và chảy máu khi khám, học sinh sẽ được điều trị cao răng và mảng bám tại chỗ, cùng với việc sử dụng kháng sinh và kháng viêm.
Các đối tượng can thiệp sẽ được xác định dựa trên kết quả phân tích ở giai đoạn 2, nhằm tìm hiểu các yếu tố nguy cơ liên quan mật thiết đến sâu răng.
Để phòng ngừa bệnh RM hiệu quả, các đối tượng CT cần thực hiện định kỳ 2 tháng/lần theo hướng dẫn của WHO Các biện pháp này tập trung vào việc thay đổi hành vi sức khỏe RM, nhằm nâng cao nhận thức và thái độ của bản thân về chăm sóc sức khỏe RM.
2.2.5.4 Đánh giá sau can thiệp
- Đánh giá lại sau 10 tháng: khám như lần đầu ở cả hai nhóm có can thiệp và không can thiệp
- Đánh giá hiệu quả can thiệp dự phòng mắc mới, tái phát và các vấn đề răng miệng liên quan sâu răng của đối tượng nghiên cứu:
- Chỉ số hiệu quả: p1: tỷ lệ trước can thiệp, p2: tỷ lệ sau can thiệp
- Chỉ số can thiệp: CSCT= CSHQ nhóm can thiệp – CSHQ nhóm đối chứng
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả can thiệp phòng sâu răng
2.2.5.5 Nội dung nghiên cứu định tính
Mục đích của nghiên cứu định tính này là để khám phá sâu các mối quan hệ nhân quả và đánh giá tính khả thi của các giải pháp can thiệp đã được áp dụng Đối tượng nghiên cứu bao gồm học sinh tiểu học và người chăm sóc trẻ, thông qua các buổi thảo luận nhóm.
+ Thảo luận nhóm trước can thiệp
+ Thảo luận nhóm sau can thiệp
Nội dung thảo luận đều được ghi âm (có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu)
2.2.6 Các chỉ số đánh giá
2.2.6.1 Về đánh giá tỷ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám
2.2.6.2 Về đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng liên quan đến sâu răng
2.2.6.3 Đánh giá các yếu tố liên quan
- Kiến thức, thực hành của HS trong chăm sóc sức khỏe răng miệng (SKRM)
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng của học sinh bao gồm kiến thức và thực hành vệ sinh răng miệng của cả học sinh và phụ huynh Thói quen ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng, khi chế độ dinh dưỡng không hợp lý có thể dẫn đến sâu răng và các tình trạng liên quan như viêm lợi, cao răng và mảng bám răng Việc nâng cao nhận thức và thực hành tốt trong chăm sóc răng miệng là cần thiết để giảm thiểu các vấn đề này.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
BÀN LUẬN
TỶ LỆ SÂU RĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
4.1.1 Về tỷ lệ sâu răng
Tỷ lệ sâu răng chung đạt 77,6%, với sâu răng sữa chiếm 67,2% và sâu răng vĩnh viễn là 45,2% Chỉ số SMTr răng sữa trung bình là 4,25, trong đó Trường tiểu học Quỳnh Thiện A có chỉ số 4,41, trong khi Trường tiểu học Quỳnh Thiện B là 4,0 Đối với răng vĩnh viễn, chỉ số SMTr chung là 1,41, với Trường tiểu học Quỳnh Thiện A là 1,60 và Trường tiểu học Quỳnh Thiện B là 1,41.
Tại Trường tiểu học Quỳnh Thiện B, tỷ lệ răng được trám trung bình rất thấp, chỉ đạt 0,04 cho răng sữa và 0,03 cho răng vĩnh viễn Trong khi đó, Trường tiểu học Quỳnh Thiện A có tỷ lệ cao hơn, với 0,27 cho răng sữa và 0,11 cho răng vĩnh viễn Tình trạng này phản ánh thực trạng sâu răng gia tăng ở học sinh tiểu học và các độ tuổi khác tại Việt Nam Ngoài ra, tỷ lệ học sinh được trám bít hố rãnh ở cả hai trường vẫn còn thấp.
Vũ Mạnh Tuấn, Trần Văn Trường (2011) nghiên cứu trên
Tại 616 trường tiểu học ở Từ Liêm, Hà Nội, có đến 57,1% trẻ em mắc sâu răng vĩnh viễn khi được kiểm tra bằng mắt thường Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp khám bằng laser, tỷ lệ này tăng lên 78,9% Chỉ số SMTr dao động từ 1,62 đến 2,1 và từ 2,6 đến 3,8.
Nghiên cứu của Vũ Thị Định (2012) ở 3073 HS tiểu học
Tại TP Hà Nội, tỷ lệ sâu răng chung đạt 59,78%, với tỷ lệ sâu răng sữa là 53,47% và sâu răng vĩnh viễn là 6,31% Chỉ số SMTr cho răng sữa là 1,94 và cho răng vĩnh viễn là 1,77, trong khi chỉ số SMTr tổng thể là 0,127 Bên cạnh đó, tỷ lệ răng được trám cho cả hai loại răng là 0,22.
4.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng
4.1.2.1 Về các yếu tố liên quan đến sâu răng ở các đối tượng ghép cặp
Phân tích hồi qui đa biến cho thấy thực hành chăm sóc răng miệng kém làm tăng nguy cơ sâu răng lên 15 lần so với thực hành tốt (KTC 95%: 5,86 - 38,42, p