1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết quả nghiên cứu hồ sơ hành chính 09 hồ sơ ls hc 09 ngày 1412017 doanh nghiệp thúy hiền bị cơ quan thuế ra quyết Định xử phạt và truy thu thuế theo quyết Định số 2304

19 12 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết Quả Nghiên Cứu Hồ Sơ Hành Chính 09 Hồ Sơ: LS. HC 09
Tác giả Phùng Thị Thu Trang
Trường học Học Viện Tư Pháp
Thể loại nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 100,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hành vi bị phạt: sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để kê khai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn giảm theo khoản 4 điều 108 Luật Quản l

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Trang 2

- -KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ HÀNH CHÍNH 09

Hồ sơ: LS HC 09

Giáo viên hướng dẫn

: ………

Họ và tên : Phùng Thị Thu Trang

Ngày thực hành

:………

Hà Nội, ngày… tháng……năm 2024

I NGHIÊN CỨU VỀ TỐ TỤNG

1.Tóm tắt tình huống vụ án

Khiếu kiện Quyết định xử phạt truy thu thuế của Doanh nghiệp Thúy Hiền

Trang 3

Ngày 14/1/2017 Doanh nghiệp Thúy Hiền bị cơ quan thuế ra Quyết định xử phạt

và truy thu thuế theo Quyết định số 2304/QĐ-XPHC ngày 14/1/17 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế thành phố B tỉnh A

- Hành vi bị phạt: sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để kê khai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn giảm theo khoản 4 điều 108 Luật Quản lý Thuế (bao gồm 20 hóa đơn do Công ty Tân Thiên xuất cho DN Thúy Hiền)

- Hình thức xử phạt: phạt tiền với số tiền 436 745.869 đồng

- Biện pháp khắc phục hậu quả: truy thu thuế 436.745.869 đồng

- Tổng cộng số tiền thuế truy thu và phại: 873.491.738 đồng

Ngày 10/2/2017 bà Lê Thúy Hiền là chủ DNTN Thúy Hiền đã làm đơn khiếu nại

đề nghị Chi cục thuế hủy bỏ Quyết định số 2304 vì cho rằng việc truy thu thuế và

xử phạt hành chính là không phù hợp

Cụ thể, DN Thúy Hiền đã giải thể và đã nộp đầy đủ số thuế truy thu và tiền phạt theo Quyết định 487/QĐ-XPHC ngày 25/10/2014 với tổng số tiền là 1.621.769.058 đồng, trong đó đã bao gồm số hóa đơn công ty Tân Thiên xuất cho DN Thúy Hiền Ngày 28/3/2017 Chi cục thuế thành phố B, tỉnh A ra Quyết định số 2807/QĐGQKN không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà Hiền vì cho rằng tại thời điểm lập Biên bản kiểm tra cơ quan Thuế chỉ căn cứ số liệu, hồ sơ kế toán, chứng từ, hóa đơn do người nộp thuế xuất trình, Chi cục Thuế vẫn chấp nhận theo

hồ sơ kê khai thuế của DN trong đó có 20 hóa đơn do Công ty Tân Thiên xuất Ngày 31/3/2017 bà Hiền có đơn khởi kiện Chi cục Trưởng Chi cục Thuế Thành phố B yêu cầu hủy Quyết định số 2304 và Quyết định số 2807 của Chi cục Thuế Thành phố B, với căn cứ sau:

DN Thùy Hiền không thực hiện hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp

DN Thúy Hiền đã giải thể từ 2014, đã tiến hành quyết toán với cơ quan thuế

và đã thực hiện nộp đầy đủ số thuế truy thu và xử phạt theo quy định.

2 Đương sự

- Người khởi kiện: Lê Thúy Hiền (Nguyên chủ doanh nghiệp tư nhân TM&DV Thúy Hiền, doanh nghiệp đã giải thể năm 2014)

Trang 4

- Người bị kiện: Chi cục trưởng chi cục thuế thành phố B.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3 Đối tượng khởi kiện

- Quyết định hành chính số 2304/QĐ-XPHC ngày 13/01/2017 xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với doanh nghiệp tư nhân TM&DV Thúy Hiền của Chi cục trưởng chi cục thuế thành phố B

- Quyết định giải quyết khiếu nại số 2807/QĐ-GQKN ngày 28/03/2017 của Chi cục trưởng chi cục thuế TP B

4 Yêu cầu khởi kiện

Hủy Quyết định số 2304/QĐ-XPHC ngày 13/01/2017 của Chi cục trưởng Chi cục thuế Thành phố B

- Căn cứ khởi kiện: Điều 30, Điều 31 Luật tố tụng hành chính; Luật xử lý vi phạm hành chính (K2, Điều 2); Điều 76 Luật quản lý thuế; Công văn số 7333/BTC-TCT ngày 24/06/2018 (Được đề cập tại bút lục 12: Bản giải trình của bà Lương Thị Thanh Huyền)

- Căn cứ phản đối yêu cầu khởi kiện:

5 Văn bản quy phạm pháp luật

- VBPL về thủ tục: Luật tố tụng hành chính 2015 (Điều 30; Điều 31; K2 điều 116;

Điều 117; Điều 118)

- VBPL về nội dung: Luật quản lý thuế 2006, Luật quản lý thuế được sửa đổi bổ

sung năm 2012; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị định 98/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Nghị định 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Thông tư số 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế; Thông

tư 153/2010/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ

6 Các vấn đề nghiên cứu tố tụng

6.1 Nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết

Trang 5

Căn cứ Điều 31, Luật tố tụng hành chính 2015, trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính của Chi cục trưởng Chi cục thuế Thành phố B thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B

6.2 Nghiên cứu về điều kiện khởi kiện

- Thời hiệu khởi kiện: Căn cứ K2, Điều 116 Luật TTHC 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính Theo đó, quyết định hành chính 2304 ngày 14/01/2017 và bà Hiền gửi đơn khởi kiện ngày 31/03/2017 Như vậy, thời hiệu để bà Hiền khởi kiện vẫn còn

- Thủ tục khởi kiện: Thủ tục khởi kiện của bà Hiền đảm bảo quy định pháp luật tại Điều 117 và Điều 118 – Luật TTHC 2015 (Bà Hiền có đơn khởi kiện đủ các tiêu chuẩn nội dung tại Điều 118, Bà Hiền có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính theo điều 117 để làm đơn khởi kiện)

- Sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của tòa

án

6.3 Biện pháp thu thập chứng cứ: Thời hạn giao nộp chứng cứ, sử dụng

phương pháp thu thập chứng cứ

6.4 Nghiên cứu các QĐ của Tòa án: QĐ tạm dình chỉ, áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời

7 Tài liệu chứng cứ chứng minh

Đương sự Tên tài liệu chứng cứ Ngày tháng

năm tài liệu

Số bút lục Người khởi

kiện

Quyết định xử phạt VPHC số 2304

Quyết định giải quyết khiếu nại 2807

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của DNTN Thuý Hiền

Bút lục 24 Hợp đồng kinh tế, biên bản giao

nhận hàng, hóa đơn VAT của DNTN Thúy Hiền với Công ty Tân Thiên

Bút lục 23

Trang 6

Người bị kiện Công văn 228/C46 10/06/2016 Bút lục

17

18

19

20 Biên bản kiểm tra thuế với đơn vị

giải thể

35 Biên bản làm việc giữa chi cục

thuế thành phố B và Bà Lê Thúy Hiền

16

Người liên

quan

Toà án thu

thập

Thông báo thụ lý vụ án hành chính

Biên bản lấy lời khai các đương sự Biên bản hỏi cung các bị can

Tờ khai của các đương sự tại tòa án

Biên bản giao nhận chứng cứ

II NGHIÊN CỨU VỀ NỘI DUNG

1 Các tiêu chí chính

-Thẩm quyền ban hành, thực hiện

Về thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2304:

Thẩm quyền ban hành QĐ xử phạt VPHC là Chi cục trưởng chi cục thuế TP

B Quyết định 2304 do Phó Chi cục trưởng là người ký thay Tuy nhiên, ở phần căn

cứ pháp lý của Quyết định 2304 có đề cập đến Quyết định giao quyền xử phạt VPHC về thuế nhưng không có số, ngày tháng năm văn bản và trong hồ sơ cũng không thể hiện văn bản này

Trang 7

Về chủ thể thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2304:

Quyết định xử phạt số 2304 được ban hành ngày 14/01/2017 có nêu xử phạt vi phạm hành chính đối với: Doanh nghiệp tư nhân TM &DV Thúy Hiền Tuy nhiên, tại thời điểm ban hành quyết định này thì DN Thúy Hiền đã thực hiện giải thể vào năm 2014 (theo thông tin bà Hiền cung cấp tại bút lục 1 và 12) Như vậy, cần thu thập thêm thông tin, tài liệu để xác minh DNTN Thúy Hiền đã hoàn tất các thủ tục giải thể vào năm 2014 hay chưa

Nếu DNTN Thúy Hiền đã giải thể từ năm 2014 thì quyết định 2304 sai về đối tượng bị xử phạt VPHC Cụ thể, căn cứ theo điểm d Điều 65 – Luật xử lý vi phạm HC 2012 quy định những trường hợp không ra quyết định xử phạt VPHC gồm: “Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt” Theo đó, không có căn cứ cho rằng Chi cục thuế B được ban hành quyết định xử phạt VPHC khi DN Thúy Hiền đã giải thể

- Thủ tục ban hành, thực hiện: trình tự, thời hạn, thời hiệu, thể thức văn bản

Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

về thuế số 2304: Theo luật XPVPHC 2012 điều 57 thì mức phạt số tiền

436.745.869 đồng phải lập Biên bản VPHC Tuy nhiên cơ quan Thuế Tp B đã không tiến hành lập Biên bản xử phạt theo quy định, mà chỉ có lập Biên bản làm việc

Trong Biên bản làm việc thiếu các nội dung theo quy định về biên bản xử phạt như thời gian giải trình hành vi vi phạm, nơi nhận giải trình hành vi vi phạm

Cụ thể, nội dung của một biên bản xử phạt hành chính theo K2, Điều 58 – Luật TTHC 2012: “Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người

vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.”

Về thời hạn, thời hiệu của Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế số 2304:

Trang 8

Theo khoản 1, Điều 66 quy định về Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính như sau: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.” Tuy nhiên, Chi cục thuế B không có biên bản vi phạm hành chính mà chỉ có biên bản làm việc với bà Hiền Đồng thời, không đủ căn cứ

để cho rằng biên bản làm việc với Bà Hiền có bản chất là biên bản vi phạm hành chính vì không đáp ứng đủ các yếu tố nội dung quy định tại Điều 58-Luật TTHC

2012

Trong tình huống này, căn cứ dựa theo khoản 3, Điều 63 – Luật xử lý VPHC quy định về Chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính thì “Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.” Cụ thể, khoản 1 Điều này quy định: “1 Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi

tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành

tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.”

Theo khoản 3 trên thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày kể từ ngày

có kết quả xử lý vi phạm hành chính Trong hồ sơ có thể hiện Cơ quan điều tra C46

có CV228/C46 gửi Chi cục thuế tỉnh A về việc kiểm tra và xử lý việc sử dụng hóa đơn GTGT ngày 10/6/2016, nhưng Chi cục thuế TP B chỉ có biên bản làm việc ngày 06/01/2017 và ra quyết định xử phạt số 2304 ngày 13/01/2017 là quá thời hạn theo quy định trên

- Nội dung: Căn cứ ban hành, căn cứ thực hiện, căn cứ thực tiễn

Về cơ bản, quyết định xử phạt hành chính số 2304 đảm bảo đầy đủ các tiêu chí về nội dung theo Điều 68 – Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm hành chính của Doanh nghiệp Thúy Hiền “sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để kê khai thuế….” là không phù hợp với quy định của Pháp luật

Cụ thể, theo điều 20 - Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định:

Trang 9

“Sử dụng hóa đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hóa đơn giả, hóa đơn chưa

có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng Hóa đơn giả là hóa đơn được in hoặc khởi tạo theo mẫu hóa đơn đã được phát hành của tổ chức, cá nhân khác hoặc in, khởi tạo trùng số của cùng một ký hiệu hóa đơn Hóa đơn chưa có giá trị sử dụng là hóa đơn đã được tạo theo hướng dẫn tại Thông tư này, nhưng chưa hoàn thành việc thông báo phát hành Hóa đơn hết giá trị sử dụng là hóa đơn đã làm đủ thủ tục phát hành nhưng tổ chức, cá nhân phát hành thông báo không tiếp tục sử dụng nữa; các loại hóa đơn bị mất sau khi đã thông báo phát hành được tổ chức, cá nhân phát hành báo mất với cơ quan thuế quản lý trực tiếp; hóa đơn của các tổ chức, cá nhân

đã ngừng sử dụng mã số thuế (còn gọi là đóng mã số thuế)”

Ở đây, hóa đơn Công ty Tân Thiên xuất cho DN Thúy Hiền là hóa đơn hợp pháp, hóa đơn thật do BTC phát hành nên không thể gọi là hóa đơn bất hợp pháp

Đồng thời, tại Biên bản làm việc ngày 06/01/2017, Chi cục thuế B kết luận DNTN Thúy Hiền có hành vi vi phạm sử dụng hóa đơn khống Như vậy, Chi cục thuế B đang xác định bản chất của hành vi vi phạm của DN Thúy Hiền là sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nhưng quyết định xử phạt số 2304 lại xác định hành vi vi phạm là sử dụng hóa đơn bất hợp pháp

Cụ thể, theo khoản 1, Điều 21 – Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về việc

Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn như sau: “1 Sử dụng bất hợp pháp hóa đơn là việc lập khống hóa đơn; cho hoặc bán hóa đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (trừ các trường hợp được sử dụng hóa đơn do

cơ quan thuế bán hoặc cấp và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư này); cho hoặc bán hóa đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hóa đơn không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc; lập hóa đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác.”

2 Đánh giá, chứng minh các tiêu chí

+ Lý do khởi kiện:

- Doanh nghiệp Thúy Hiền không thực hiện hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp Doanh nghiệp đặt mua hàng hóa, dịch vụ của Công ty Tân Thiên

là có thật, có biên bản giao nhận hàng hóa, có hợp đồng Toàn bộ hóa đơn mà Tân Thiên xuất cho DN là hóa đơn hợp pháp của BTC phát hành Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp thực hiện kê khai, đóng thuế đầy đủ và có xác nhận cơ quan thuế Tại biên bản kiểm tra thuế ngày 14/10/2014, Chi cục thuế B kiểm tra và

Trang 10

không hề xác định hóa đơn của Tân Thiên xuất cho Thúy Hiền bất hợp pháp (căn

cứ đơn khởi kiện bà Hiền)

Pháp luật không có quy định DN Thúy Hiền bắt buộc phải biết là Công ty Tân Thiên mua hàng ở đâu để bán lại cho mình Đồng thời, căn cứ K2, Điều 2 Luật

xử lý vi phạm hành chính thì DN Thúy Hiền hoàn toàn không có lỗi trong việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp của Tân Thiên Do đó, khi doanh nghiệp Thúy Hiền không có lỗi thì không thể xử phạt VPHC được (căn cứ đơn giải trình khởi kiện của bà Huyền)

+ Ý kiến phản đối: Công văn 228 của CSĐT- Bộ Công an gửi Chi cục thuế tỉnh A về việc kiểm tra DNTN Thúy Hiền sử dụng 20 tờ hóa đơn GTGT của Công

ty Tân Thiên Công ty Tân Thiên được xác định là không hoạt động kinh doanh mà

có hành vi mua bán hóa đơn, thu lợi bất chính

3 Xác định những tình tiết phải chứng minh

- Thời hiệu ra quyết định xử phạt

- Văn bản pháp luật viện dẫn

- Về việc bà Hiền cho rằng DNTN TM&DV Thúy Hiền đã giải thể vào năm

2014 nên không được xử phạt vi phạm hành chính sau thời điểm giải thể

III SẮP XẾP CHỨNG CỨ VÀO TỪNG TIÊU CHÍ, TÌNH TIẾT

CHỨNG MINH VÀ TƯ CÁCH TỐ TỤNG

1 Kế hoạch hỏi bảo vệ bên người khởi kiện

STT Nội dung câu hỏi Mục đích để hỏi Kết luận

đúng trình tự không?

Theo LXLVPHC: trường hợp xử phạt

với DNTN Thúy Hiền bắt buộc phải

lập biên bản vi phạm hành chính theo

Điều 56, 58 Vậy đại diện của chi Cục

Thuế cho biết việc xử phạt với DNTN

Thúy Hiền có được lập biên bản

không? Quyết đinh xử phạt 2304 có

căn cứ biên bản vi phạm hành chính

không?

Chứng minh tính bất hợp pháp của QĐ xử phạt VPHC về thủ tục

2 Nếu coi Biên bản làm việc là BB vi

phạm hành chính thì vì sao BBVPHC

Chứng minh tính bất hợp pháp của biên

Ngày đăng: 14/12/2024, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w