Việc GDMT trong nhà trường Tiểu học là một quá trình nhận thức giúp các em hiểu biết về thiên nhiên, môi trường, từ đó giáo dục các em ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường, dần dầ
Trang 1i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON
Phạm Công Chứ
THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Mã sinh viên: 2052020005
NINH BÌNH, (2020)
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC - MẦM NON
Phạm Công Chứ
THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản khóa luận tốt nghiệp Đại học này là kết quả nghiên cứu thực sự của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Tố Uyên Các số liệu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Những kết luận nêu trong khóa luận chưa từng được công bố ở bất kì công trình khoa học nào khác
Sinh viên
Phạm Công Chứ
Trang 4XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Người hướng dẫn
(Ký, ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Tố Uyên
Trang 5iii
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT HOA
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tầm quan trọng của việc dạy học tích hợp giáo dục BVMT 18
thông qua môn Khoa học lớp 4 18
Bảng 1.2: Hiệu quả của việc lồng ghép, tích hợp các kiến thức BVMT 19
trong môn Khoa học lớp 4 19
Bảng 1.3: Các nội dung tích hợp giáo dục BVMT trong môn Khoa học lớp 4 21
Bảng 2.1: Các nội dung tích hợp giáo dục BVMT trong môn Khoa học lớp 4 31
Bảng 3.1: Bảng đánh giá kết quả kế hoạch dạy học tích hợp GDMT 68
Bảng 3.2: Bảng đánh giá mục tiêu GDMT 72
Bảng 3.3: Bảng đánh giá nội dung tích hợp GDMT 72
Bảng 3.4: Bảng đánh giá phương pháp GDMT 73
Bảng 3.5: Bảng đánh giá hình thức tích hợp GDMT 73
Bảng 3.6: Bảng đánh giá nguyên tắc tích hợp GDMT 74
Trang 7v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8
NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1.1 Giáo dục môi trường 10
1.1.1.1 Khái niệm môi trường 10
1.1.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường 11
1.1.1.3.Khái niệm giáo dục môi trường 12
1.1.2 Dạy học tích hợp giáo dục môi trường 13
1.1.2.1 Tích hợp 13
1.1.2.2 Tích hợp giáo dục môi trường 14
1.1.2.3 Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học tiểu học 16
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 17
1.2.1 Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy môn Khoa học ở trường Tiểu học 17
1.2.2 Cấu trúc nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
Chương 2: TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 24
2.1 QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4 24
2.1.1 Xác định mục tiêu chính của bài và mục tiêu giáo dục môi trường 24
2.1.2 Chia nội dung bài học thành từng phần tương ứng với các hoạt động dạy học 27
2.1.3 Chọn hoạt động có thể tích hợp nội dung giáo dục môi trường 27
Trang 82.1.4 Dự tính thời gian và lựa chọn phương pháp cụ thể 27
2.1.5 Thiết kế các hoạt động dạy học 28
2.2 CÁC NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4 31
2.3 MỘT SỐ BÀI SOẠN THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.1 MỤC ĐÍCH ĐÁNH GIÁ 58
3.2 NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ 58
3.2.1 Các bài học được thiết kế tích hợp giáo dục môi trường 58
3.2.2 Bảng đánh giá theo các tiêu chí 59
3.3 TIẾN HÀNH ĐÁNH GIÁ 61
3.3.1 Thời gian thiết kế kế hoạch dạy học và đánh giá chuyên gia 61
3.3.2 Chọn giáo viên tham gia đánh giá 61
3.3.3 Cách tiến hành đánh giá 62
3.3.3.1 Xây dựng hệ thống đánh giá: đánh giá bằng 2 phiếu đánh giá 62
3.3.3.2 Hướng dẫn kĩ thuật đánh giá 62
3.3.3.3 Trưng cầu ý kiến các chuyên gia 68
3.3.3.4 Thu thập và xử lí các ý kiến 68
3.4 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ 68
3.4.1 Phân tích định lượng 68
3.4.2 Phân tích định tính 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 9BVMT là việc làm, hành động không của riêng một cá nhân hay một tổ chức nào mà đó là sự chung sức, nỗ lực của toàn nhân loại Mỗi việc làm của chúng ta đều tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, đó có thể là tác động mang ảnh hưởng tích cực, cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường Sự ảnh hưởng đó không chỉ tác động đến chúng ta mà nó sẽ tác động
vô cùng lớn đến những thế hệ mai sau
Giáo dục với nhiệm vụ đào tạo ra những con người không những có kiến thức mà còn phải hội tụ đủ các kỹ năng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Nhằm nâng cao ý thức BVMT cho các em học sinh, những mầm non tương lai của đất nước, trong nhà trường kiến thức BVMT đã được lồng ghép vào bài học để giáo dục ý thức cho các em
Hoa Lư là một huyện thuộc tỉnh Ninh Bình, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế, hội nhập của tỉnh Bên cạnh đó, Hoa Lư còn được coi là cầu nối giao lưu giữa các huyện với Thành phố Ninh Bình Được thiên nhiên ban tặng Hoa Lư có nhiều danh lam thắng cảnh với những giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc Với bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử kiến tạo
Trang 10nên một Hoa Lư hôm nay trở thành huyện đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của tỉnh Ninh Bình với 1 thị trấn, 10 xã tương ứng với 11 trường Tiểu học Bên cạnh đó, sự gia tăng về lượng khách du lịch đã kéo theo vấn nạn về tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện cũng như sự phát triển của các làng nghề, các cơ sở sản xuất,… đang có những tác động tiêu cực ảnh hưởng tới môi trường và căn bản nguyên nhân chính vẫn là do sự thiếu hiểu biết của mọi người còn chưa cao, chưa có ý thức BVMT
GDMT cho học sinh ở trường Tiểu học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng bởi trường Tiểu học là nơi đào tạo thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước Ngay từ khi được ngồi trên ghế nhà trường cần giáo dục cho các em một cách có hệ thống về tư tưởng, thái độ và về tình cảm GDMT cho HSTH vừa đem lại những lợi ích trước mắt và cả lợi ích lâu dài vì vậy việc làm này được coi là hiệu quả và bền vững nhất Việc GDMT trong nhà trường Tiểu học là một quá trình nhận thức giúp các em hiểu biết về thiên nhiên, môi trường, từ đó giáo dục các em ý thức quan tâm thường xuyên đến môi trường, dần dần hình thành ở các em lòng yêu thích, tôn trọng thiên nhiên, BVMT sống, phong cảnh đẹp, các di tích lịch sử của đất nước
Các môn Tự nhiên xã hội, đặc biệt là phân môn Khoa học lớp 4 là một môn học có rất nhiều nội dung GDMT được lồng ghép trong tiết dạy Các em được học môn Khoa học chính là được tìm hiểu về những sự vật, hiện tượng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh các em
Có thể nói rằng, nâng cao hiểu biết về khoa học và các vấn đề môi trường trong cuộc sống là nhằm kích thích nghiên cứu, quan sát, phân tích, suy luận và đánh giá có phê phán để hình thành khả năng tiếp nhận thông tin
và thu thập bằng chứng, giải quyết vấn đề theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên những tài liệu, những công trình nghiên cứu
về tích hợp GDMT trong dạy học môn Khoa học lớp 4 còn chưa nhiều, các đề tài nghiên cứu phần lớn vẫn mang lí thuyết chưa cụ thể vào quá trình dạy học thực tế cho học sinh thông qua môn Khoa học lớp 4
Trang 113
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Khoa học lớp 4 ở trường Tiểu học”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trước những năm 1960, lĩnh vực gần gũi nhất với GDMT là các nghiên cứu thiên nhiên, nghiên cứu nông thôn và điều tra hiện trường Vào thời gian này việc nghiên cứu các loài được thực hiện riêng lẻ để tìm hiểu về đặc điểm riêng, hành vi và nhu cầu của chúng Sau đó, khái niệm Sinh thái ra đời, mối quan hệ tương tác giữa các loài với nhau cũng như giá trị của các hệ sinh thái bắt đầu được đánh giá đúng
Năm 1972, tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về môi trường được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm GDMT chính thức ra đời Sự ra đời của GDMT góp phần giúp con người nhận thức rõ hơn tác động của mình đối với môi trường Tiếp theo hội nghị Stockholm, một số hội nghị quốc tế khác về GDMT đã được tổ chức, trong đó có hội nghị ở Belgrade (1975) Tại đây, định nghĩa đầu tiên về giáo dục được đề xuất Năm 1977, Hội nghị liên chính phủ về GDMT - tổ chức ở Tbilisi (Nga) đã chính thức đưa ra định nghĩa và các nguyên tắc của GDMT [22]
2.2 Ở Việt Nam
Tài liệu “Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học” (2002) thuộc dự án
của Tổ chức Phát triển Hà Lan nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy về BVMT trong các trường Tiểu học nhằm mục đích thay đổi hành vi BVMT của HSTH bằng việc học tập nâng cao nhận thức về môi trường cho các em HSTH thông qua các hoạt động đã được thiết kế trong chương trình giảng dạy [5]
Trang 12Theo tác giả Nguyễn Thơ (2015), ở trường học việc GDMT cho học sinh tất yếu phải thông qua môn học Tuy nhiên, quỹ thời gian học tập ở trường có hạn, nên vấn đề GDMT phải được tích hợp thông qua một số môn học, mà nội dung có quan hệ gần gũi với môi trường [19]
Theo tác giả Nguyễn Thị Thấn (2009) thì ở cấp Tiểu học các môn học như: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Lịch sử và địa lý có khả năng GDMT nổi trội so với các môn học còn lại Qua các môn học đó, giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản về môi trường cũng như cơ sở khoa học của các biện pháp cải thiện và BVMT [18]
Trong bài viết “Môn tự nhiên xã hội lớp 3 mới với những vấn đề giáo
dục bảo vệ môi trường” (2004) của tác giả Dương Quang Ngọc cho biết:
Trong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 cần giúp học sinh hiểu được những vấn đề như tầm quan trọng của con người; nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, vệ sinh môi trường và trách nhiệm của học sinh; sự phong phú đa dạng của giới sinh vật trên trái đất và những nguy cơ
đe dọa chúng Từ đó hình thành cho học sinh những biểu tượng ban đầu về môi trường tự nhiên, hình thành trong chúng tình yêu thiên nhiên, gia đình, trường lớp, có ý thức sống ngăn nắp, gọn gàng, tiết kiệm [14]
Trong cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Tiếng việt cấp tiểu
học” (2010), của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu một trong những nguyên
nhân chính gây ô nhiễm môi trường là do sự thiếu hiểu biết về môi trường và GDMT Do đó, cần phải giáo dục cho mọi người đặc biệt là HSTH để hiểu biết được về môi trường và tầm quan trọng của môi trường [3]
Theo tác giả Nguyễn Minh Giang và Hoàng Thy Thơ (2013) thì việc quan sát trực tiếp môi trường xung quanh có tác dụng hình thành ở học sinh những biểu tượng sinh động, đầy đủ, chính xác và chân thực về các sự vật và hiện tượng Các em có thể thấy được vẻ đẹp, sự kì diệu hay hiện trạng của môi trường xung quanh mình Đó là cơ sở quan trọng để giáo dục cho học sinh tình cảm và ý thức giải quyết các vấn đề môi trường, cải thiện hiện trạng
và BVMT sống của mình [9]
Trang 134, 5) và 40% - 70% (đối với lớp 1, 2, 3); “Học sinh đã biết giúp đỡ gia đình,
hứng thú tham gia làm các công việc nhẹ nhàng như quét nhà, tưới cây, chăm sóc, bảo vệ cây xanh”; ngoài ra các em còn biết hành vi nào của mọi người là
BVMT hay phá hoại môi trường [15]
Theo tác giả Võ Trung Minh (2015), thông qua tích hợp GDMT dựa vào trải nghiệm, học sinh có nhiều điều kiện thuận lợi để thể hiện hết những hiểu biết, kết hợp với khai thác các giác quan của cá nhân, rèn luyện hành vi
và thói quen BVMT GDMT dựa vào trải nghiệm sẽ giúp cho giáo viên và học sinh được tiếp xúc với môi trường thực tiễn, thể hiện các hoạt động BVMT có hiệu quả Đồng thời, GDMT dựa vào trải nghiệm còn giúp cho học sinh và giáo viên kiểm nghiệm, vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn BVMT; điều chỉnh kịp thời những hành vi, thái độ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống [13]
Theo Nguyễn Thơ (2015): Tích hợp không chỉ là để tinh giản, thu gọn,
mà trong chừng mực nào đấy chúng ta có điều kiện bổ sung thêm kiến thức cho người học, đồng thời còn làm cho nội dung bài giảng thêm phong phú, tiết học trở nên hấp dẫn hơn…mà vẫn không làm ảnh hưởng đến nội dung bài học Môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1, 2, 3 là môn học có nhiều thuận lợi để tích hợp nội dung GDMT cho học sinh Việc giáo dục cho học sinh có ý thức BVMT không phải ngày một, ngày hai mà phải được giáo dục thường xuyên từ năm này qua năm khác, từ cấp học này lên cấp học khác, thậm chí là giáo dục suốt đời Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau và có thể tiến hành bằng nhiều hình thức, phương
Trang 14pháp khác nhau mới mong đạt được kết quả tốt trong việc tích hợp GDMT cho học sinh [19]
Bài viết “Giáo dục môi trường ngoài giờ lên lớp” (2005) của Dương Thị
Thúy Giang đã kết luận: Do cán bộ quản lý, giáo viên thiếu kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết về công tác GDMT và GDMT ngoài giờ lên lớp nên việc GDMT chưa nằm trong kế hoạch hoạt động của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, tổ chức các hoạt động ở ngoài trời giáo viên chưa chú ý khai thác đầy đủ mục tiêu giáo dục khác…[8]
Nguyễn Thị Hường và Lê Thanh Hương (2011) cho rằng: việc sử dụng phương pháp điều tra khi dạy học chủ đề “môi trường và tài nguyên thiên nhiên” của môn Khoa học ở Tiểu học có thể giúp học sinh cơ hội tìm hiểu bài học một cách sinh động, hấp dẫn; rèn luyện cho học sinh những kỹ năng như quan sát, phân tích, đo đạc, khả năng thích ứng với môi trường, kỹ năng xử lý tình huống Đồng thời, học tập theo phương pháp điều tra còn tạo điều kiện để học sinh tìm hiểu rõ thực tế địa phương và các biện pháp BVMT mà người dân thực hiện; từ đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương, đất nước, giáo dục ý thức BVMT [10]
GDMT là một việc làm rất cần thiết và quan trọng, nhất là với lứa tuổi HSTH Tuy nhiên chúng ta giáo dục học sinh ý thức BVMT bằng cách nào, hình thức nào đó là một vấn đề đáng quan tâm Chính vì thế chúng tôi đã chọn nghiên cứu về tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học môn Khoa học lớp 4 vì trong môn Khoa học có rất nhiều nội dung hay có thể tích hợp BVMT qua nội dung bài học Như thế sẽ giúp các em có thái độ và cách ứng xử đúng đắn về các vấn đề môi trường và ý thức đúng đắn được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống các em và mọi người xung quanh
Như vậy, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tích hợp nội dung GDMT trong dạy học các môn học ở Tiểu học, tuy nhiên để đi sâu vào việc GDMT trong các bài học cụ thể còn hạn chế đặc biệt là việc phân tích các nội dung dạy học để tích hợp GDMT, vì vậy trong đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tập trung vào việc nghiên cứu quy trình và thiết kế các kế
Trang 153.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục BVMT
Nghiên cứu cấu trúc chương trình và nội dung của môn Khoa học lớp 4 làm cơ sở xây dựng nội dung cần tích hợp
Xác định quy trình thiết kế kế hoạch dạy học giáo dục BVMT trong dạy học ở trường Tiểu học và trong dạy học môn Khoa học lớp 4
Vận dụng quy trình thiết kế kế hoạch dạy học giáo dục BVMT để lập
kế hoạch dạy học một số bài, chủ đề cụ thể của môn Khoa học lớp 4
Phân tích kết quả đánh giá nội dung tích hợp của các giáo viên dạy môn Khoa học lớp 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học môn Khoa học lớp 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục BVMT vào một
số nội dung dạy học môn Khoa học lớp 4
Thời gian: Từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020
Không gian: Trường Tiểu học Trường Yên, Trường Tiểu học Ninh An
và Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
5.2 Nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phiếu điều tra: Điều tra thực trạng GDMT ở một số trường Tiểu học huyện Hoa Lư để tìm hiểu mức độ nhận thức về vấn đề môi trường và BVMT của giáo viên và học sinh Sử dụng phiếu điều tra để thu nhận xét đánh giá của giáo viên về các kế hoạch bài học đã thiết kế
Phỏng vấn giáo viên, học sinh, trao đổi với tổ trưởng tổ chuyên môn môn học nói chung và dạy học môn Khoa học nói riêng Với cán bộ quản lý nhà trường Tiểu học về thực tế giảng dạy tích hợp kiến thức giáo dục BVMT qua dạy học
5.2.2 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát các hoạt động giáo dục BVMT, việc tổ chức các hoạt động về giáo dục BVMT nhằm xác định những khó khăn, hạn chế của người dạy, người học trong dạy học tích hợp giáo dục BVMT
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia: sử dụng đội ngũ giáo viên có năng lực, trình
độ và kinh nghiệm dạy học đưa ra các nhận xét, đánh giá kết quả thiết kế kế
hoạch dạy học đã bằng các phiếu đánh giá
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí kết quả điều tra bằng phương pháp thống kê toán học, từ đó rút ra kết luận của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 179
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kế hoạch dạy học xây dựng theo quy trình thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục ý thức BVMT làm tư liệu dạy học góp phần nâng cao hiệu quả tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học môn Khoa học lớp 4, đồng thời nâng cao ý thức BVMT cho HSTH
Trang 18NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Giáo dục môi trường
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Theo cuốn Môi trường và con người của Mai Đình Yên định nghĩa môi
trường như sau: “Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống Nói cách khác, môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của sinh vật” [20]
Theo Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, năm 1993 đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [16]
Theo Lê Văn Khoa (1995): “Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tập hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường” Khái niệm chung về môi trường như vậy được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và từng mục đích nghiên cứu [12]
Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể
Theo Vũ Trung Tạng (2000): “Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài,… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích ghi của mình” [17]
Theo cuốn giáo trình về Môi trường và con người của Nguyễn Xuân
Cự, Nguyễn Thị Phương Loan đã định nghĩa về môi trường như sau:
Trang 1911
“Môi trường của một vật thể, sự kiện, sinh vật là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể, sự kiện, sinh vật đó Môi trường tự nhiên là một hệ thống thống nhất, ổn định, cân bằng động, tồn tại và vận động tuân theo những quy luật tự nhiên nhất định Các đặc trưng cơ bản của hệ thống chỉ được duy trì và thể hiện khi hệ thống được bảo toàn nguyên trạng và ổn định
Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là cả vũ trụ bao la, bao gồm tổng hợp các điều kiện tự nhiên (tài nguyên và môi trường), nhân tạo (công cụ, phương tiện,…), xã hội (tổ chức, thể chế, luật lệ,…) bao quanh và có ảnh hưởng tới con người nói riêng và sự phát triển của xã hội loài người nói chung” [4]
Thông qua các khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy môi trường
sống của con người rất đa dạng và phức tạp, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo Nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau Đặc biệt là sau Hội nghị thượng đỉnh
Trái Đất Rio năm 1992 thì vấn dề môi trường được nhấn mạnh tới việc giải quyết các mâu tuần giữa sự phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của mỗi con người về BVMT trong cuộc sống hàng ngày
Như vậy, chúng ta có thể hiểu môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên,
các dạng vật chất bao quanh chúng ta và những dạng vật chất do con người tạo ra, có ảnh hưởng và tác động tới quá trình lao động, sản xuất, sinh sống
và phát triển của con người, sinh vật hiện tại trong tương lai
1.1.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường
Khái niệm BVMT được Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam (1993) ghi rõ: “BVMT là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên” [16]
Theo Luận án Tiến sĩ của Võ Trung Minh thì: “BVMT là ý muốn chung hướng tới việc sử dụng hợp lí có cải tạo và phục hồi các nguồn tài nguyên trong thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm môi trường” [13]
Trang 20Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI khẳng định: “BVMT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và BVMT sinh thái Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo và ứng phó với sự biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia” [7]
Như vậy, BVMT là không làm thay đổi tới sự phát triển của nền kinh tế
- xã hội mà đảm bảo cho kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, bên cạnh sự phát triển kinh tế phải đi đôi với BVMT BVMT chính là bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta khỏi những tác hại xấu từ môi trường đem lại bầu không khí, chất lượng cuộc sống tốt nhất
1.1.1.3 Khái niệm giáo dục môi trường
Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế - xã hội cả về tốc
độ lẫn quy mô thì vấn đề môi trường và BVMT ngày càng trở nên cần thiết với tất cả nhân loại Nó là một vấn đề thời sự được quan tâm hơn bao giờ hết
Từ đó, có nhiều phương hướng đưa ra để gìn giữ môi trường ngày càng bền vững, như vậy một thuật ngữ “giáo dục môi trường” đã được nhắc tới ngày càng nhiều trong những thập niên gần đây Để hiểu hơn về GDMT chúng tôi
đã tìm hiểu về khái niệm môi trường như sau:
- Trong Luật Giáo dục môi trường của Mỹ (1970), GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan
hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật, phát triển đô thị và nông thôn,… có ảnh hưởng đến môi trường con người như thế nào” [6]
- Tại hội thảo “GDMT trong chương trình của trường học” của IUCN (Hiệp hội Quốc tế về Tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên) năm 1970, GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên
Trang 2113
và xã hội bao quanh con người Hơn nữa, GDMT cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động liên quan tới chất lượng môi trường” [6]
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng GDMT là một quá
trình giúp con người hiểu được sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong môi trường với con người, từ đó con người có hiểu biết, nhận thức được tầm quan trọng của môi trường để đưa ra những hành động, việc làm tích cực BVMT
1.1.2 Dạy học tích hợp giáo dục môi trường
1.1.2.1 Tích hợp
Theo cuốn Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về
Tự nhiên và xã hội của Nguyễn Thị Thấn thì “tích hợp là sự kết hợp một cách
hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận
và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [18]
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp là sự thống nhất, sự hài hòa, sự kết hợp” [22]
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy” [22]
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “intergration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy [22]
Như vậy, tích hợp là sự kết hợp các nguồn kiến thức bên ngoài, có liên
quan với các kiến thức đã có trong bài học, đảm bảo liên kết với nhau về hình thức, mặt ý nghĩa nhằm tạo nên một nội dung có đầy đủ các yếu tố cần nói đến với đối tượng đang nói và giữa chúng phải luôn có sự thống nhất, hài hòa với nhau
Trang 221.1.2.2 Tích hợp giáo dục môi trường
Theo cuốn Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học các môn học về
Tự nhiên và xã hội của Nguyễn Thị Thấn tích hợp GDMT được định nghĩa
như sau: “Tích hợp GDMT là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong bài” [18]
Hình thành cho học sinh những kỹ năng ứng xử, thái độ tôn trọng
và BVMT một cách thiết thực, rèn luyện năng lực nhận biết những vấn đề môi trường,…
Tham gia một số hoạt động BVMT phù hợp với lứa tuổi; thuyết phục người thân, bạn bè có ý thức và hành vi BVMT
Trang 23 Nguyên tắc tích hợp:
- Tích hợp nhưng không làm thay đổi đặc trưng của môn học, không biến bài học bộ môn thành bài học GDMT Nghĩa là các kiến thức GDMT được tiềm ẩn trong nội dung bài học phải có mối quan hệ logic, chặt chẽ với các kiến thức sẵn có trong bài học Theo nguyên tắc này, các kiến thức của bài học được coi như là cơ sở cho kiến thức về môi trường
- Khai thác nội dung GDMT có chọn lọc, tập trung vào chương, mục nhất định, không tràn lan, tùy tiện Theo nguyên tắc này, các kiến thức GDMT phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực tiễn về môi trường, tránh sự trùng lặp, thích hợp với trình độ của học sinh, không gây quá tải làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
- Phát huy cao độ tính tích cực nhận thức của học sinh và kinh nghiệm thực tế các em đã có, tận dụng tối đa mọi khả năng để học sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường Theo nguyên tắc này, các kiến thức GDMT đưa vào bài học phải phán ảnh được hiện trạng về môi trường và tình hình BVMT ở địa phương nơi trường đóng, giúp học sinh giải quyết vấn đề một cách cụ thể, trực quan và sâu sắc
- Tuy nhiên để việc GDMT địa phương đạt hiệu quả ngoài những nguyên tắc trên giáo viên cần phải:
Dựa vào cấu trúc của chương trình: do đặc điểm của chương trình các môn về Tự nhiên và xã hội ở Tiểu học được sắp xếp theo chủ đề và phát triển theo cấu trúc đồng tâm từ lớp dưới lên lớp trên nên trong quá tình tích hợp cần rà soát toàn bộ nội dung GDMT có trong chương trình để việc sắp xếp các kiến thức về môi trường địa phương được đưa vào theo một trật tự hệ
Trang 24thống hợp lí, logic, tránh sự trùng lặp, không nâng cao, mở rộng gây nhàm chán, giảm hứng thú học tập của học sinh
Xác định nội dung những kiến thức được tích hợp sao cho:
Kích thích để tạo được tình cảm của học sinh đối với quê hương, làng xóm, khơi dậy lòng khát khao mong muốn cho quê hương mình xanh- sạch- đẹp
Giúp học sinh nhận thức được đầy đủ tình trạng thực tế, cụ thể của môi trường địa phương với cả hai mặt tích cực và tiêu cực để các em thấy được vai trò của mình đối với việc xây dựng và bảo vệ quê hương, mà trước hết là BVMT sống của bản thân, gia đình và người dân địa phương
Khi tích hợp kiến thức, những những vấn đề môi trường địa phương cần phải được chọn lọc và tinh giản cho phù hợp với trình độ nhận thức của HSTH
1.1.2.3 Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Tiểu học
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng rất quan trọng, dễ tiếp thu những giá trị mới về kiến thức và kỹ năng, nên việc đưa giáo dục BVMT vào bậc học này sẽ giúp cho các em sớm có ý thức trong việc BVMT sống Nếu được giáo dục tốt các
em sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc cải tạo, BVMT tại địa phương và đặc biệt hơn các em sẽ trở thành những tuyên truyền viên tích cực trong cộng đồng
- Tích hợp GDMT trong dạy học Tiểu học là sự cân nhắc, lựa chọn, kết hợp chặt chẽ một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ được đề cập trong bài học
Ý nghĩa của việc tích hợp GDMT trong dạy học Tiểu học:
- Loại bỏ những trùng lặp về kiến thức trong từng bài học, môn học, cũng như các môn học có mối quan hệ gần gũi
- Nhờ tích hợp mà chúng ta có điều kiện giảm bớt số lượng môn học bắt buộc, giảm bớt số lượng tiết học, nhằm dành thời gian cho các hoạt động học tập, giáo dục khác; tăng khả năng thực hành, rèn luyện các kỹ năng cần thiết…
- Nhờ tích hợp chúng ta có thêm nhiều thuận lợi để tiến hành giáo dục học sinh về các mặt: đạo đức, lao động, thẩm mỹ, thể chất…
Trang 2517
- Nhờ tích hợp mà cùng một sự kiện, một vấn đề, một nội dung…học sinh có thể tiếp thu một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, cũng như thấy được các mối liên hệ có tính bản chất hơn…
Như vậy việc tích hợp GDMT trong dạy học ở Tiểu học là điều rất cần thiết và quan trọng, giúp các em có hiểu biết và nắm rõ kiến thức về môi trường qua các giờ học Bên cạnh đó việc tích hợp GDMT trong dạy học cũng giúp cho môn học trở nên phong phú về mặt kiến thức, không bị nhàm chán cho người học Tăng hiệu quả nhận thức và tâm trí thoải mái ngồi học của các
em Từ đó các em có cái nhìn sâu sắc hơn tới môi trường xung quanh và cuộc sống, thôi thúc hành động, chỉnh hướng hành vi của bản thân để làm những điều tốt đẹp BVMT
em sẽ có tình cảm yêu quý thiên nhiên, yêu quý gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước Có ý thức quan tâm đến vấn đề xung quanh, giữ gìn vệ sinh
cá nhân, vệ sinh môi trường
Vì vậy chúng tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thực trạng giáo dục BVMT trong dạy môn Khoa học đối với giáo viên ở ba trường Tiểu học: Trường Tiểu học Trường Yên, Trường Tiểu học Ninh An, Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn bằng các phiếu hỏi Sau quá trình phân tích và tổng hợp chúng tôi đã thu được kết quả của quá trình điều tra như sau:
Với câu hỏi tìm hiểu về nhận thức của giáo viên việc dạy học tích hợp giáo dục BVMT thông qua môn Khoa học cho học sinh thì có tới 57,6% giáo viên đều chọn rất cần thiết, 42,4% giáo viên chọn cần thiết Điều này chứng tỏ
Trang 26được sự nhận thức của giáo viên về việc dạy học tích hợp giáo dục BVMT thông qua môn Khoa học là rất cần thiết và sự hưởng ứng là rất cao
Bảng 1.1: Tầm quan trọng của việc dạy học tích hợp giáo dục BVMT
thông qua môn Khoa học lớp 4
Khi chúng tôi tìm hiểu về thực tế về việc thay đổi phương pháp trong
quá trình giảng dạy tích hợp cho giáo viên tiểu học thông qua câu hỏi: “Thầy
cô có thường xuyên thay đổi phương pháp để mang lại hiệu quả trong việc giảng dạy tích hợp và tích hợp GDMT không?” Chúng tôi đã khi thu được
kết quả: 74,6 % giáo viên trả lời ở mức độ thường xuyên, 24,6% giáo viên thỉnh thoảng thay đổi phương pháp trong quá trình dạy tích hợp và tích hợp GDMT cho học sinh Điều đó cho chúng ta thấy rằng tất cả giáo viên đã nhận thức được việc GDMT cho học sinh là vô cùng quan trọng, để góp phần mang lại hiệu quả cho quá trình đưa kiến thức BVMT trong nội dung bài học tới các
em cần phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy học Điều đó sẽ giúp cho các em cảm thấy hứng thú, thoải mái trong giờ học, giờ học sẽ bớt nhàm chán Việc giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc thay đổi phương pháp dạy học sẽ tạo điều kiện cho việc tích hợp GDMT trong môn Khoa học mang lại hiệu quả cao và lan rộng hơn
Trang 2719
Với bất kì môn học nào thì người giáo viên cũng luôn mong muốn cho học trò của mình hứng thú, thoải mái trong quá trình tiếp thu kiến thức Họ luôn mong được đón nhận lại những ý kiến phản hồi tích cực từ các em học sinh Để biết được những suy nghĩ, khó khăn trong quá trình dạy học tích hợp
GDMT thông qua môn Khoa học lớp 4 Với câu hỏi: “Quý thầy (cô) có cảm
nhận như thế nào về thái độ của học sinh khi dạy học tích hợp GDMT thông qua môn Khoa học lớp 4?” thì phần lớn giáo viên cho thấy học sinh rất hứng
thú trong quá trình học tập, 29,9% giáo viên chọn hứng thú và 4,4% giáo viên cho là học sinh có thái độ bình thường khi học tích hợp nội dung GDMT
Bảng 1.2: Hiệu quả của việc lồng ghép, tích hợp các kiến thức BVMT
trong môn Khoa học lớp 4
Hầu hết giáo viên cho rằng việc lồng ghép, tích hợp các kiến thức BVMT trong môn Khoa học lớp 4 hiện nay mang lại hiệu quả Cụ thể là có 20,9% giáo viên đánh giá ở mức độ rất hiệu quả, 71,6% giáo viên đánh giá ở mức độ hiệu quả, 7,5% giáo viên đánh giá ở mức độ bình thường Từ những số liệu trên chúng ta có thể dễ dàng thấy được nhận thức của giáo viên, từ đây giáo viên có thể lồng ghép các kiến thức về môi trường một cách sâu rộng hơn
Với câu hỏi số 7 về việc tích hợp GDMT trong môn Khoa học sẽ giúp các em học sinh cảm thấy thế nào thì có đến 53,7% giáo viên được hỏi đồng ý
là “Sẽ giúp các em yêu thích môn học”, 91% giáo viên đồng ý là “Giúp các
em cảm thấy yêu quý thiên nhiên, biết giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên” và
64,2% giáo viên cho rằng việc tích hợp GDMT trong môn Khoa học sẽ “giúp
Trang 28các em ý thức được hành vi của mình” Và một điều đáng mừng đó là việc
tích hợp GDMT trong môn Khoa học “không gây áp lực tới các em”
Việc tích hợp GDMT vào môn Khoa học lớp 4 là rất cần thiết, tuy nhiên không phải là giáo viên có thể tích hợp một cách tùy tiện, không có mục đích, không có trọng tâm Để việc tích hợp GDMT vào môn Khoa học lớp 4 mang lại hiệu quả thì chúng tôi đã đưa ra một số ý kiến như sau:
GDMT cần có sự phối hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường
Hình thành cho học sinh kiến thức BVMT
Thiết kế các kế hoạch dạy học có tích hợp GDMT
Tổ chức các hoạt động ngoài giờ về GDMT
Tổ chức các hoạt động thực tế về chủ đề Môi trường của môn học
Cần sử dụng các phương tiện trực quan trong môn Khoa học để dạy GDMT Hầu hết các giáo viên đều đồng ý với các ý kiến mà chúng tôi đưa ra, tuy nhiên vẫn còn một số ít giáo viên không đồng ý
Thông qua kết quả của các phiếu hỏi dành cho giáo viên ở một số trường Tiểu học của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chúng tôi có thể khẳng định rằng việc tích hợp giáo dục BVMT trong môn Khoa học lớp 4 là vô cùng cần thiết Bên cạnh đó, môn Khoa học lớp 4 là một môn học có rất nhiều nội dung hay, phong phú và đa dạng với các chủ đề có thể tích hợp nội dung GDMT rất tốt Điều đó giúp cho các em học sinh có thêm kiến thức về môi trường, hiểu biết hơn về tầm quan trọng của môi trường, các tác động của con người tới môi trường và ngược lại Hiện nay việc GDMT đang được quan tâm
và được các trường Tiểu học áp dụng bằng việc tổ chức các hoạt động cho học sinh nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn về khâu xây dựng kế hoạch và hoạt động ngoại khóa tổ chức đòi hỏi kinh phí, thời gian cũng như công sức lớn Nhưng cũng không mang lại hiệu quả cao về nhiều yếu tố khác nhau làm ảnh hưởng và chi phối mục đích hướng tới của việc giáo dục cho các em Còn
về tích hợp giáo dục BVMT thông qua môn Khoa học mang lại rất nhiều hiệu quả và dễ dàng thực hiện trong mỗi giờ học của môn Khoa học, chúng ta còn có thể thay đổi được phương pháp giảng dạy, cách thức tiến hành để đáp ứng cho
Trang 2921
các em được học một cách thoải mái nhất Như vậy chúng ta thấy rằng tích hợp GDMT vào môn Khoa học đã nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía các thầy cô
1.2.2 Cấu trúc nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4
Môn Khoa học lớp 4 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển từ môn Tự hiên và Xã hội (các lớp 1, 2, 3); tích hợp những kiến thức về vật lí, hóa học, sinh học và nội dung giáo dục sức khỏe, GDMT Cấu trúc nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 gồm có 70 bài trải đều trong 3 chủ đề: Con người và Sức Khỏe, Vật chất và Năng lượng, Thực vật và Động vật Chủ đề Con người và Sức khỏe gồm 19 bài từ bài 1 đến bài 19; chủ đề Vật chất và Năng lượng gồm 37 bài từ bài 20 đến bài 56; chủ đề Thực vật và Động vật gồm 14 bài từ bài 57 đến bài 70 [1] Cụ thể như sau:
Bảng 1.3: Các nội dung tích hợp giáo dục BVMT trong môn Khoa học lớp 4
Con người
và sức khỏe
1 Trao đổi chất ở người
- Một số biểu hiện về sự trao đổi chất giữa cơ thể người và môi trường
- Vai trò của các cơ quan trong sự trao đổi chất giữa cơ thể người với môi trường
2 Nhu cầu dinh dưỡng
- Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và vai trò của chúng đối với cơ thể
- Dinh dưỡng hợp lí
- An toàn thực phẩm
3 Vệ sinh phòng bệnh
- Phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng
- Phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hóa
4 An toàn trong cuộc sống
- Phòng tránh tai nạn đuối nước
Vật chất 1 Nước
Trang 30- Vật cho ánh sáng đi qua và vật cản sáng
- Vai trò của ánh sáng Sử dụng ánh sáng trong đời sống
4 Nhiệt
- Nhiệt độ, nhiệt kế
- Nguồn nhiệt, vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt
- Vai trò của nhiệt Sử dụng an toàn và tiết kiệm một số nguồn nhiệt trong sinh hoạt
- Nhu cầu không khí, nước, chất khoáng, ánh sáng, nhiệt
- Sự trao đổi chất giữa thực vật với môi trường
2 Trao đổi chất ở động vật
- Nhu cầu không khí, nước, chất khoáng, nhiệt
- Sự trao đổi chất giữa động vật với môi trường
3 Chuỗi thức ăn trong tự nhiên
- Một số ví dụ về chuỗi thức ăn trong tự nhiên
- Vai trò của thực vật đối với sự sống trên Trái Đất
Trang 3123
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tích hợp GDMT trong môn Khoa học lớp 4 ở trường Tiểu học, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Đối với GDMT, đây là một vấn đề cấp thiết, được Đảng và Nhà nước chú trọng quan tâm Trong những năm qua Đảng và Nhà nước cùng với các cấp lãnh đạo, các ban nghành, các đoàn thể, tổ chức đã và đang không ngừng đưa ra phương hướng chỉ đạo, kế hoạch triển khai thực hiện nhằm giáo dục ý thức BVMT cho tất cả mọi người, mọi đối tượng tầng lớp nhân dân, nhất là các em học sinh tiểu học
- Về GDMT cho các em học sinh tiểu học đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều chuyên gia nghiên cứu để tìm ra phương hướng, giải pháp GDMT tới các em làm sao mang lại hiệu quả tốt nhất và thực hiện nó có hiệu quả Giúp các em hiểu biết tốt hơn về lợi ích được sống trong điều kiện môi trường tốt đẹp và ngược lại Từ đó các em sẽ có ý thức, thái dộ thay đổi hành
vi của bản thân để BVMT
- Nắm bắt được tầm quan trọng của việc tích hợp GDMT, phía nhà trường Tiểu học đã tổ chức việc tích hợp nội dung GDMT vào các môn học chính khóa và vào trong các hoạt động ngoại khóa Tuy nhiên, việc tích hợp giáo dục BVMT vào trong môn Khoa học lớp 4 ở trường Tiểu học vẫn chưa được thực hiện hay có tích hợp thì mới chỉ sơ qua chưa mang tính cụ thể để giáo dục các em học sinh
- Môn Khoa học lớp 4 là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức về tự nhiên, gần gũi trong cuộc sống xoay quanh những sự vật, hiện tượng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh các em Trước thực trạng môi trường ngày nay đang bị ô nhiễm trầm trọng thì việc dạy học tích hợp GDMT trong môn Khoa học lớp 4 ở trường Tiểu học là vô cùng cần thiết Giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc GDMT vào trong môn Khoa học lớp 4 tuy nhiên việc thực hiện vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả cao
Trang 32Chương 2 TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 2.1 QUY TRÌNH THIẾT KẾ KẾ HOẠCH DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN KHOA HỌC LỚP 4
Quy trình thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp GDMT được hiểu là trình
tự các thao tác để tạo ra kế hoạch dạy học tích hợp GDMT, đạt được mục tiêu dạy học nhất định Để thiết kế kế hoạch dạy học tích hợp GDMT cần thực hiện theo quy trình gồm 5 bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu chính của bài và mục tiêu GDMT
Bước 2: Chia nội dung bài học thành từng phần tương ứng với các hoạt động dạy học
Bước 3: Chọn hoạt động có thể tích hợp nội dung GDMT
Bước 4: Dự tính thời gian, lựa chọn phương pháp cụ thể
Bước 5: Thiết kế kế hoạch dạy học
2.1.1 Xác định mục tiêu chính của bài và mục tiêu giáo dục môi trường
Mục tiêu của bài học sẽ là căn cứ để đánh giá chất lượng học tập của học sinh và hiệu quả thực hiện bài dạy của giáo viên Mục tiêu phải nêu cụ thể những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà học sinh cần đạt được sau tiết học, đặc biệt chỉ rõ mức độ, yêu cầu Mục tiêu phải được viết rất cụ thể sao cho có thể
đo đạc được, quan sát được, đánh giá được hoặc lượng hoá được
Mục tiêu bài học thường được chia làm 3 phần: Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ
xác định, liệt kê, đặt tên, nhớ lại, nêu lên, kể ra, viết ra…
Trang 3325
sắp xếp, tính toán, lựa chọn, tóm tắt, khái quát hóa, xây dựng, chứng minh, phân biệt, minh họa, trình bày, chọn lựa, …
thành, áp dụng, liên hệ, giải quyết, so sánh, soạn thảo, bố trí, thiết lập, xếp hạng, phát hiện được,…
toán đối chiếu, phân biệt, tìm sự khác nhau, tách ra…
trí, thiết lập, kết hợp, hình thành, lập kế hoạch, đề xuất, liên hệ…
lựa, định giá, cho điểm, lập luận, xác định giá trị, phê phán, nhận xét, bảo vệ, khẳng định ủng hộ, bình phẩm, miêu tả…
Kỹ năng:
- Kỹ năng là: "Hoạt động quan sát được và những phản ứng mà một người thực hiện nhằm đạt được mục đích" Kỹ năng được chia ra: Kỹ năng nhận thức và kỹ năng thực hành
- Mục tiêu về kiến thức là nhằm phát triển các năng lực cho học sinh như: năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tính toán,…
Giáo viên cần xác định rõ học sinh đạt được các năng lực gì sau khi học xong bài giảng Cần sử dụng các động từ để mô tả mức kỹ năng cần đạt được từ đơn giản đến phức tạp, biết thực hiện (hay tiến hành, hoàn thành, làm ) hành động hay hành vi nào đó, ở trình độ nhất định (đúng mẫu, nhanh đến đâu, chính xác ở mức độ nào) như: kể được, vẽ được, thực hành được, thực hiện được, soạn thảo được, định khoản được, làm được, vận dụng được, lắp ráp được, vận hành được, sáng tác được, cải tiến được, thiết kế được, nhận biết được, tiến hành, hoàn thành, giải quyết vấn đề, thực hiện, quan sát, thu thập, sử dụng, đo lường, lập kế hoạch, chuẩn đoán, chế biến, ước lượng, tập hợp, xây dựng, tổ chức, phân tích, xem xét, phát hiện, áp dụng, sử dụng, xử lý, đọc được đúng…
Thái độ:
Trang 34- Thái độ “là cảm nhận của con người và ứng xử của họ đối với một
công việc, những thái độ biểu hiện có thể có tính chất cá nhân (thói quen) hoặc hành vi liên cá nhân” Có 2 loại thái độ: thái độ không quan sát được và thái độ quan sát được
- Giáo viên cần xác định rõ học sinh có thái độ như thế nào sau khi học xong bài giảng Cần sử dụng các cụm từ để diễn tả như: qua tiết giảng hình thành được đức tính cẩn thận, trung thực, kiên trì, ý thức trách nhiệm trong công việc, ý thức và đạo đức nghề nghiệp, đoàn kết, nhận thức được, tôn trọng, chấp nhận, đồng tình, ủng hộ, yêu thích, phê phán, bác bỏ, hợp tác, phán xử, tuân thủ, thay đổi, hợp nhất, sửa đổi, tin tưởng, nghiêm túc, chủ động đề xuất, biết tiết kiệm, đảm bảo an toàn, phối hợp…
Ngoài ra đối với các bài có thể tích hợp GDMT giáo viên cũng cần đưa ra mục tiêu giáo dục BVMT trong bài đó là gì Tuy nhiên không cần phải chia ra 3 phần: kiến thức, kỹ năng, thái độ giống như mục tiêu bài học
Ví dụ: Bài 25: Nước bị ô nhiễm (Khoa học lớp 4)
I Mục tiêu bài học
1 Kiến thức
Học sinh nêu được đặc điểm chính của nước sạch và nước bị ô nhiễm:
Nước sạch: trong suốt, không màu, không mùi, không vị, không
chứa các vi sinh vật hoặc các chất hòa tan có hại cho sức khỏe con người
Nước bị ô nhiễm: có màu, có chất bẩn, có mùi hôi, chứa vi sinh vật
nhiều quá mức cho phép, chứa các chất hòa tan có hại cho sức khỏe con người
2 Kĩ năng
- Học sinh nhận biết được nguồn nước sạch và nguồn nước bị ô nhiễm
trong thực tế cuộc sống
3 Thái độ
- Giúp các em luôn có ý thức sử dụng nước sạch, không bị ô nhiễm
Mục tiêu GDMT: Học sinh có ý thức giữ gìn nguồn nước sạch sẽ, cùng
mọi người tham gia các hoạt hoạt động BVMT nước xung quanh
Trang 352, 3, 4 hoạt động tùy vào nội dung của từng bài
Ví dụ ở bài 25: Nước bị ô nhiễm: giáo viên có thể chia nội dung bài thành 3 hoạt động dạy học như sau:
Hoạt động 1: Làm thí nghiệm: Nước sạch và nước bị ô nhiễm
Hoạt động 2: Đặc điểm của nước sạch và nước bị ô nhiễm
Hoạt động 3: Trò chơi sắm vai để nhận biết được việc làm đúng sai
2.1.3 Chọn hoạt động có thể tích hợp nội dung giáo dục môi trường
Khi đã xác định được nội dung trọng tâm của bài học thì giáo viên có thể đưa ra mức độ tích hợp của bài là toàn phần, bộ phận hay liên hệ Nội dung được tích hợp phải liên quan chặt chẽ đến nội dung bài học, như thế mới giúp học sinh hiểu và vận dụng được vào thực tế
Ở bài 25: Nước bị ô nhiễm với mục tiêu BVMT là giáo dục học sinh sử dụng tiết kiệm, không làm bẩn nguồn nước Giáo viên có thể tích hợp vào hoạt động 1: làm thí nghiệm để phân biệt nước sạch, nước bị ô nhiễm và hoạt động 2: đặc điểm của nước sạch và nước bị ô nhiễm
2.1.4 Dự tính thời gian và lựa chọn phương pháp cụ thể
Ở bậc Tiểu học, thời gian của 1 tiết học kéo dài từ 30 phút đến 35 phút Chính vì vậy việc dự tính thời gian cho các hoạt động là rất quan trọng Phân
bổ thời gian hợp lí sẽ giúp cho giáo viên tránh được việc dạy thiếu hoặc thừa thời gian Để phân chia thời gian hợp lí thì giáo viên cần phải nắm rõ được mục tiêu bài học cũng như nội dung trọng tâm của bài là gì để chia ra thời gian phù hợp với các hoạt động của bài học Ví dụ khi dạy Bài 25: Nước bị ô nhiễm (Khoa học 4) giáo viên xác định được nội dung trọng tâm của bài là học
Trang 36sinh phân biệt được cũng như nêu được các đặc điểm của nước sạch và nước bị
ô nhiễm Từ đó giáo viên dự tính thời gian cho các hoạt động như sau:
Hoạt động 1: Làm thí nghiệm: Nước sạch và nước bị ô nhiễm (7 phút)
Hoạt động 2: Đặc điểm của nước sạch và nước bị ô nhiễm (9 phút)
Hoạt động 3: Trò chơi sắm vai để nhận biết được việc làm đúng sai (7 phút) Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực
Có nhiều phương pháp dạy học khác nhau Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu điểm và hạn chế Chính vì thế giáo viên trong một tiết học giáo viên cần phải phối hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy những điểm mạnh
và hạn chế những điểm yếu của từng phương pháp trong quá trình dạy học
Khi lựa chọn phương pháp giáo viên cần phải căn cứ vào:
Mục tiêu, nội dung dạy học
Nguyên tắc dạy học
Đặc điểm tâm, sinh lý, khả năng, trình độ, hứng thú của người học, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên
Ví dụ: Bài 25: Nước bị ô nhiễm (Khoa học 4): Khi dạy giáo viên có thể
sử dụng phương pháp thí nghiệm và phương pháp quan sát để giúp học sinh phân biệt được nước sạch và nước bị ô nhiễm
2.1.5 Thiết kế các hoạt động dạy học
Tương ứng với nội dung bài học và từng hoạt động dạy học của bài đã xác định, giáo viên đưa ra các bước tiến hành cụ thể cho từng hoạt động Lưu
ý khi xây dựng các bước tiến hành cần phù hợp với mục tiêu của từng hoạt động, tránh lan man tốn thời gian Như vậy, giáo viên khi lên lớp sẽ làm chủ được tiết học của mình, xử lý tốt các tình huống có thể xảy ra trong tiết học, cũng như giúp học sinh nắm bắt được bài nhanh hơn
Ví dụ ở hoạt động 1 của Bài 25: Nước bị ô nhiễm có thể tiến hành như sau:
Trang 3729
Hoạt động 1: Làm thí nghiệm: nước sạch, nước bị ô nhiễm (9 phút) Mục tiêu:
- Phân biệt được nước trong và nước đục bằng cách quan sát thí nghiệm
- Giải thích được tại sao nước sông, ao, hồ thường đục, không sạch
Phương pháp dạy học chủ yếu: quan sát, thí nghiệm
Tiến trình dạy học:
Giáo viên đề nghị các nhóm báo cáo về
việc chuẩn bị đồ dùng của nhóm mình
Yêu cầu học sinh đọc to các bước tiến
hành thí nghiệm trước lớp
Giáo viên nêu lại quy trình làm thí nghiệm
và một số lưu ý khi tiến hành thí nghiệm
Yêu cầu các nhóm làm thí nghiệm
Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm
gặp khó khăn
Gọi 2 nhóm lên trình bày, các nhóm
khác bổ sung Giáo viên chia bảng thành 2
cột và ghi nhanh các ý kiến của nhóm
Giáo viên nhận xét, tuyên dương ý kiến
để đưa ra ý kiến sau khi quan sát, thư kí ghi các ý kiến vào giấy Sau đó cả nhóm thống nhất và đưa ra kết luận
Đại diện 2 nhóm trình bày:
- Miếng bông lọc chai nước giếng (nước máy) sạch, không có màu hay mùi vì nước này sạch
- Miếng bông lọc chai nước sông (ao, hồ) có nhiều đất, bụi, chất bẩn nhỏ đọng lại vì nước này bẩn
Học sinh lắng nghe
Trang 38hay của các nhóm
Qua thí nghiệm chứng tỏ nước sông hay
ao, hồ hoặc nước đã sử dụng có nhiều tạp
chất như đất, cát, bụi,… nhưng ở sông, hồ, ao
còn có những sinh vật hay thực vật nào sống?
Ngoài những sinh vật trên trong nước
sông, ao, hồ còn chứa nhiều sinh vật mà
chúng ta không thể nhìn thấy được bằng
mắt thường Để biết được đó là những sinh
vật nào thầy và các em cùng quan sát bằng
hiển vi
Yêu cầu 3 học sinh lên quan sát
Yêu cầu từng em đưa ra ý kiến em nhìn
thấy gì trong nước đó?
Giáo viên nhận xét, kết luận: Nước ao,
hồ, sông hay nước đã qua sử dụng thường
bị lẫn lẫn nhiều đất cát và nhiều vi khuẩn
sinh sống Nước sông có nhiều phù sa nên
có màu đục, nước ao hồ có nhiều sinh vật
sống như rong, rêu, tảo nên thường có
màu xanh,… Nước giếng hay nước mưa,
máy không bị nhiễm nhiều đất, cát,…
Giáo dục: Học sinh có ý thức giữ gìn
nguồn nước sạch sẽ, cùng mọi người tham
gia các hoạt hoạt động bảo vệ môi trường
nước xung quanh
Học sinh trả lời: Ở sông, ao
hồ còn có các sinh vật như rêu, bèo, rong,…
Học sinh quan sát
Học sinh đưa ra ý kiến
Học sinh lắng nghe
Học sinh lắng nghe
Trang 39Bảng 2.1: Các nội dung tích hợp giáo dục BVMT trong môn Khoa học lớp 4
STT Bài Tên bài Nội dung GDMT đã
được tích hợp
Nội dung GDMT cần tích hợp
Mức
độ tích hợp
Con người cần gì để sống?
Con người cần các điều kiện vật chất và tinh thần để sinh sống
Bộ phận
2 2 Trao đổi
chất ở người
Con người lấy từ môi trường thức ăn, nước, không khí và thải ra môi trường chất thừa,
cặn bã
Bộ phận
3 10
Ăn nhiều rau quả chín, sử dụng thực phẩm sạch
và an toàn
Tiêu chuẩn của thực phẩm sạch, an toàn;
các biện pháp thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm
Các biện pháp thực hiện vệ sinh
an toàn thực phẩm của học sinh và gia đình
Bộ phận, liên hệ
4 14
Phòng một
số bệnh lây qua đường tiêu hóa
Giữ vệ sinh ăn uống;
vệ sinh cá nhân; vệ sinh môi trường
Bộ phận, liên hệ
5 24 Nước cần
cho sự sống Vai trò của nước
Sử dụng tiết kiệm;
không làm nhiễm bẩn nguồn nước
Bộ phận, liên hệ
6 25 Nước bị ô Phân biệt nước sạch, Sử dụng tiết Toàn
Trang 40nhiễm nước ô nhiễm kiệm; không làm
nhiễm bẩn nguồn nước, cùng mọi người tham gia các hoạt động bảo
vệ môi trường nước xung quanh
phần, liên hệ
7 26
Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm
Nguyên nhân làm cho nước bị ô nhiễm; tác hại của việc sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm đối với sức khỏe con người
Nguyên nhân làm cho nguồn nước của địa phương bị
ô nhiễm, ảnh hưởng của nguồn nước đối với người dân địa phương Đồng thời nêu được một số việc làm bảo vệ nguồn nước ở địa phương
Toàn phần, liên hệ
8 27
Một số cách làm sạch nước
Giáo dục học sinh
sử dụng tiết kiệm nước trong sinh hoạt hàng ngày và
có ý thức giữ gìn vệ sinh nguồn nước
Liên hệ
9 28 Bảo vệ
nguồn nước
Các việc làm bảo vệ nguồn nước; tuyên truyền bảo vệ nguồn
Các việc làm cụ thể bảo vệ nguồn nước của người dân địa phương
Toàn phần, liên hệ