1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu văn bản truyện việt nam 1930 1945

19 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Thể Loại Truyện Ngắn Việt Nam Giai Đoạn 1930 – 1945 (Khảo Sát Qua Một Số Tác Phẩm Tiêu Biểu)
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài Tập Lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 577,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm thể loại truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

BÀI TẬP LỚN Môn học: ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

ĐỀ TÀI: Đặc điểm thể loại truyện ngắn Việt Nam giai đoạn

1930 – 1945 (khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu)

HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

1.1 Truyện ngắn 3

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn 3

1.1.2 Đặc điểm 3

1.2 Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 3

CHƯƠNG 2: NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 4

2.1 Đề tài và chủ đề 4

2.1.1 Đề tài 4

2.1.2 Chủ đề 6

2.2 Cốt truyện, kết cấu 7

2.2.1 Cốt truyện 7

2.2.2 Kết cấu 10

2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 10

2.4 Ngôn ngữ, giọng điệu 11

2.4.1 Ngôn ngữ 11

2.4.2 Giọng điệu 13

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

“Cuộc sống là một vườn hoa đầy màu sắc và trong đó, mỗi nhà văn lại giống như những con ong cần mẫn đi tìm mật cho đời Họ không chỉ đem đến cho người đọc một nội dung có tính thông điệp mà còn mong muốn tác phẩm của mình có sức mạnh làm rung động hàng triệu tâm hồn Muốn thế phải làm cho người ta tin, mà chỉ tin được nhờ ở sự chân thực Đó là lí do đơn giản để

Nam Cao cho rằng nghệ thuật không cần và không nên là ánh trăng lừa dối Có

người cho rằng cái đẹp là những gì ở bên trên cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật chỉ là vẻ đẹp kì diệu của thế giới siêu thoát, thanh cao, là mở đầu và tận cùng của tất cả Tác phẩm như vậy làm sao có thể rung động được tâm hồn người đọc; bởi

lẽ cuộc sống siêu thoát ấy đâu có phải là cuộc sống của họ.”

“Nhận thấy được, văn học Việt Nam từ xưa đến nay chúng ta luôn tồn tại một kho tàng văn học đồ sộ và giá trị sâu sắc Các tác phẩm theo từng thể loại riêng để có thể khẳng định được sự trường tồn của nó qua dòng chảy của thời gian thì nó phải đạt được những yêu cầu thiết yếu, sự tiếp nhận và đánh giá của độc giả Trong nền văn học Việt Nam từ xưa cho đến nay, có biết bao tên tuổi của các nhà thơ, nhà văn mang đến cho bạn đọc những tác phẩm hay và ý nghĩa

Từ Truyện Kiều một trong những tác phẩm bất hủ của đại thi hào Nguyễn Du

cho đến những tiểu thuyết, truyện ngắn thời chiến tranh oanh liệt Và khi nói đến văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, ta lại càng thấy được những nét độc đáo mà mỗi nhà văn gây dựng lên Với những tên tuổi góp mặt như: Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Ngô Tât Tố,… Đặc biệt, ở giai đoạn này, thể loại truyện ngắn được phổ biến rộng rãi và chú ý nhiều hơn cả Vì so với nhiều thể loại văn học nghệ thuật, truyện ngắn Việt Nam là thể loại phát triển nhanh và có nhiều thành tựu nhất Sự phát triển về mặt số lượng đồng nghĩa với

sự xuất hiện thêm ngày càng nhiều những gương mặt mới Truyện ngắn được nhiều người tìm đọc cho chúng ta một nhận định rằng tuy người viết mới xuất hiện nhưng những nỗ lực sáng tạo của họ đã nhanh chóng thuyết phục được độc giả.Đối với thể loại truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 luôn là nguồn

đề tài bất tận, dồi dào, đã có rất nhiều những nhà lí luận không ngừng khám phá

và tạo ra công trình nghiên cứu lí giải về đặc trưng của thể loại này ở nhiều khía

Trang 4

cạnh khác nhau Nhưng trong giới hạn của bài viết Đặc điểm thể loại truyện

ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 qua việc khảo sát ở một số tác phẩm tôi

muốn tìm hiểu thêm về những đặc điểm truyện ngắn của một số nhà văn tiêu biểu để giúp tôi có cái nhìn rộng mở hơn.”

2 Mục đích nghiên cứu

“Mỗi loại hình văn học đều được hình thành từ những đặc điểm riêng biệt Từ cách tạo dựng cốt truyện, tình huống cho đến những chi tiết nhỏ như lời nói, nghệ thuật, biện pháp tu từ sẽ đều mang đến cho người đọc những khám phá khác nhau Và điều đó chính là nhờ vào cách thể hiện của mỗi tác giả, đặc biệt hơn là qua từng giai đoạn sẽ lại có những thay đổi mới lạ Chính vì thế, việc lựa chọn tìm hiểu và phân tích đặc điểm truyện ngắn trong giai đoạn 1930 – 1945 cũng nhằm làm thái độ đánh giá, làm rõ nội dung cảm xúc, thái độ, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể người viết thời điểm đó trở nên nổi bật hơn.”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

“Dựa trên phạm vi truyện ngắn Việt Nam (1930 – 1945) và thu hẹp trong phạm vi phân tích đặc điểm của thể loại này qua một số tác phẩm tiêu biểu.”

4 Phương pháp nghiên cứu

- “Phương pháp phân tích, tổng hợp”

- “Phương pháp khảo sát tác phẩm”

5 Bố cục đề tài

“Ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì nội dung chính của đề tài bao gồm:”

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Chương 2 NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm truyện ngắn

“Truyện ngắn là một thể loại văn học Chúng thường là những câu chuyện được kể bằng văn xuôi ngắn gọn, súc tích và có ý nghĩa

Khác với tiểu thuyết về dung lượng, truyện ngắn “tập trung mô tả một

mảnh đất của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của xã hội.”[1-tr.457]

1.1.2 Đặc điểm

“Trong khi tiểu thuyết chứa được nhiều vấn đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống thì truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảng khắc của cuộc sống.”

“Nội dung thể loại truyện ngắn bao gồm hầu hết các khía cạnh của cuộc sống: đời tư, thế sự hay lịch sử cạnh tranh, nhưng tính độc đáo của nó là sự ngắn gọn Khác với tiểu thuyết chứa đựng nhiều vấn đề bao trùm nhiều lĩnh vực thì truyện ngắn thường tập trung vào một tình huống cụ thể, một chủ đề cụ thể Vì vậy, truyện ngắn thường bị giới hạn về nhân vật, thời gian và không gian, có khi truyện chỉ là một khoảnh khắc trong cuộc sống Truyện ngắn mang đến cho người đọc một nút thắt, một câu hỏi cần được giải đáp Nút thắt này ngày càng chặt hơn cho đến khi cao trào đột ngột được kích hoạt.”

1.2 Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

“Ở Việt Nam, so với nhiều thể loại văn xuôi nghệ thuật, truyện ngắn là thể văn học chiếm ưu thế và đạt được nhiều thành tựu hơn cả Giai đoạn

1930-1945 được coi là giai đoạn bùng nổ của truyện ngắn Việt Nam Đây là giai đoạn truyện ngắn hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc cả về hình thức lẫn nội dung Truyện ngắn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu

Trang 6

đáng kể với sự xuất hiện của một đội ngũ đông đảo những tác giả tài năng, cùng với sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm được coi là kiệt tác trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trong đó phải kể đến tên tuổi những nhà văn đã đi vào tâm thức của những người yêu văn học như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam… Đây là những tác giả tiêu biểu cho dòng văn học giai đoạn

1930 – 1945, đồng thời cũng là những tác giả có các tác phẩm được lựa chọn để đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường phổ thông Các tác phẩm của

họ không chỉ là những sản phẩm tinh thần có ý nghĩa giáo dục, bồi đắp tư tưởng tình cảm cho học sinh mà còn là những ngữ liệu tiêu biểu góp phần giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xây dựng văn bản.”

CHƯƠNG 2: NHỮNG NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN

NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 2.1 Đề tài và chủ đề

2.1.1 Đề tài

“Như ta đã biết, đề tài, nội dung truyện ngắn có thể lấy ở nhiều mặt của cuộc sống, từ nhiều vấn đề có tính chất thời sự xã hội Phần lớn là vấn đề đời tư

cá nhân, có khi chỉ là khoảnh khắc trong đời tư đó Việc lựa chọn đề tài, phản

ánh nội dung trong tác phẩm chịu sự chi phối bởi nhãn quan nhà văn, trong đó xác lập điểm nhìn riêng cho mình là quan trọng hơn cả Nhà văn tiến bộ luôn

đứng trên mọi quan hệ giai cấp, mọi sự ràng buộc của hệ tư tưởng, nói lên tiếng nói lẽ phải của chân lý, cuộc đời Cảm hứng thế sự chi phối âm vang, độ lắng đọng của truyện ngắn trong dòng thời gian, trong lòng người đọc Những truyện ngắn trường tồn mãi mãi khi nó âm ỉ bên trong những tiếng nói thầm kín của con người, những khát vọng của mọi thời đại.”

“Các nhà văn giai đoạn 1930 - 1945 cũng thường dùng ngòi bút của mình để miêu tả những điều tầm thường, nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày,

từ đó nêu lên những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao và nảy sinh những tư tưởng triết học sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật Mỗi nhà văn sẽ đề tạo dựng cho mình một tiếng nói riêng, một chủ đề riêng hướng về những người tuy nhỏ bé trong xã hội nhưng vì biết đào sâu, tìm tòi nên các tác phẩm của họ vẫn

Trang 7

có thể nói lên được những khám phá mới, có chiều sâu về hiện thực và đặt ra những câu hỏi rất mới lạ cho độc giả Thông qua sáng tác chuyên đề của mình

về con người giai đoạn này, các nhà văn dường như đã vẽ nên một bức chân dung chân thực về làng quê, chợ phiên, khu xóm… thật nghèo nàn, bần cùng, đầy rẫy những mâu thuẫn và cuộc sống của những kiếp người dường như rất bi thảm và đầy những bất công.”

“Đi vào tìm hiểu qua những sáng tác truyện ngắn của Nam Cao thường tập trung vào hai đề tài: người nông dân và người trí thức nghèo trước cách mạng tháng tám Ở đề tài người nông dân Nam Cao đã dựng lên bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trên con đường phá sản, bần cùng, không lối thoát, hết sức thê thảm vào những năm trước cách mạng Và nổi lên trong bức tranh ấy

là hình tượng những người nông dân hiền lành, lương thiện bị đẩy vào tình trạng

tha hóa, lưu manh hóa, bị hủy hoại cả nhân hình và nhân tính (Chí Phèo, Tư

Cách Mõ, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó…) Những sáng tác về đề

tài người trí thức của ông tập trung thể hiện những tấn bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản có hoài bão, khát vọng, giàu tài năng nhưng lại bị gánh

nặng áo cơn ghì sát đất, trở thành những mảnh đời thừa, những kiếp sống mòn.

Nam Cao không chỉ dừng lại ở việc phản ánh tình trạng thê thảm của xã hội và con người trước cách mạng mà còn trực tiếp phân tích, cắt nghĩa, truy tìm nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó Dù ở đề tài người nông dân hay người trí thức Nam Cao đều bộc lộ sự cảm thông, thương xót trước những đau khổ, bất hạnh của con người Tác phẩm của ông là lời kết án đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến bất công chà đạp nhân phẩm của con người, đồng thời là tiếng

kêu khẩn thiết: hãy cứu lấy nhân phẩm con người.

Ta thấy được cách xây dựng khá thành công hình ảnh người nông dân điêu đứng, phá sản vì thủ đoạn tranh cướp ruộng đất của bọn địa chủ cường hào

trong tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, những kiếp người

long đong, khốn khổ của những người nông dân việt Nam trước cảnh sưu cao

thuế nặng trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Hay số phận bi thảm, cùng cực của

người nông dân qua cuộc sống hàng ngày của họ ở những tác phẩm của Nam Cao Những con người sống quẩn quanh, bế tắc trong cái đói, cái nghèo Biết bao người chết vì đói, vì ốm đau không có tiền thuốc thang Anh đĩ Chuột trong

Trang 8

truyện ngắn “Nghèo” buộc phải thắt cổ tự tử để đỡ gánh nặng cho vợ con: “Cái

bộ xương bọc trong da giãy giụa như một con gà bị bẫy, sau cùng, nó chỉ còn giật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng lẳng” Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên vất vưởng sống trong rách rưới đói nghèo, tủi nhục vì bị người ta khinh

bỉ, làm nhục đã phải tìm đến cái chết một cách thê thảm thê thảm: “Ông thắt cổ bằng cái ruột tượng gốc của mụ Lợi Cái mặt ông đọng máu sưng lên bằng cái thớt Cái đầu ông nghẹo xuống như đầu một thằng bé khi nó dỗi trông thật là thiểu não” Cuộc đời lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên cũng là một chuỗi ngày dài đầy bất hạnh Không đủ tiền cưới vợ cho con đến nỗi nó phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su, lão Hạc phải sống mòn mỏi trong cô đơn, nghèo đói Lão làm thuê, làm mướn để kiếm ăn qua ngày chứ nhất định không tiêu vào tài sản của con Thế rồi ốm đau không còn sức để đi làm thuê nữa Lão Hạc đành phải tự kết liễu đời mình bằng một cái chết thật thảm khốc: “Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại giật mạnh một cái, nẩy lên Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết Cái chết thật là dữ dội”

“Có thể nói qua những số phận bất hạnh, những cái chết thê thảm ấy Nam Cao và các nhà văn đương thời đã phản ánh cuộc sống ngột ngạt, bế tắc, không lối thoát của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng.”

2.1.2 Chủ đề

“Chủ đề của văn bản là những tư tưởng hoặc những vấn đề mà thông qua tác phẩm, tác giả muốn truyền tải và phản ánh hiện thực tới người đọc Vì vậy,

có thể tác phẩm đó là truyện, có thể là tùy bút, có thể là thơ, … có thể ngắn, có thể dài nhưng chủ đề mà tác giả truyền tải chỉ có một Nói cách khác, chủ đề nhiều hay ít không phải dựa vào độ dài của tác phẩm được viết ra.”

“Một tác phẩm văn học được viết ra, nó là tâm huyết của tác giả trong một thời gian ngắn, cũng có thể là tâm huyết cả cuộc đời họ, mà trong đó, họ đã đặt nặng những tâm tư, tình cảm của mình Thông qua tác phẩm, họ có thể muốn truyền đạt những điều tốt đẹp trong cuộc sống, hoặc cũng có thể nêu bật lên những cái tiêu cực, đồng thời, mong muốn con người hướng tới những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống Bởi vậy, tùy thuộc vào tâm nguyện của tác giả đối với

Trang 9

tác phẩm mà chủ đề được nêu bật lên trong tác phẩm có thể là một, hoặc hai, hoặc nhiều hơn thế nữa.”

Như trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, xuất hiện tới hai chủ đề lớn được tác giả nêu bật lên trong truyện Đầu tiên là chủ đề về khung cảnh đẹp đẽ chân thực của con người lao động ở vùng núi Tây Bắc, là hình ảnh một ông lão tuy tuổi cao nhưng lại mang trong mình sức mạnh phi thường, thông thạo địa hình hiểm trở, để từ đó ngợi ca sức mạnh của con người có thể vươn lên trên mọi hoàn cảnh, chiến thắng sự dữ dội và khắc nghiệt của thiên nhiên Và chủ đề thứ hai chính là việc ca ngợi vẻ đẹp của con sông Đà hùng vĩ

và dữ dội, hung bạo nhưng cũng đầy trữ tình của con sông Đà, qua đó thể hiện cái đẹp vô cùng tươi mới, đầy sức sống mãnh liệt, kiêu sa của thiên nhiên vùng núi Tây Bắc đầy khắc nghiệt

2.2 Cốt truyện, kết cấu

2.2.1 Cốt truyện

“Nhân vật trong truyện ngắn đa phần được khắc họa bằng nội tâm chứ ít khi thông qua sự đối thoại như văn bản kịch Nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn là mạch chỉ xuyên suốt, quyết định cấu chốt của cốt truyện Cốt truyện được xây dựng liền mạch với sự phát triển tâm trạng, nó chủ yếu là nhận ra cái

gì, vì vậy nó thường kết thúc theo lối chấm phá Nội dung của truyện ngắn thể hiện qua hệ thống chi tiết Các chi tiết có thể xuất hiện nhiều lần, lặp lại có tác dụng nhấn mạnh chủ ý nhà văn Có những tác phẩm rất nhiều chi tiết, các chi tiết chính được các chi tiết phụ tô bật ý nghĩa.”

Đối với mỗi nhà văn, việc lựa chi tiết trong truyện ngắn là hết sức cần

thiết “Ý thức về chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn là sức sống cảm quan

thẩm mỹ đối với người cầm bút Do dung lượng truyện ngắn hạn chế, nên sự tuyển dụng chi tiết đưa vào tác phẩm phục vụ cho chủ đề, cho tư tưởng chung, cho việc khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật v.v là trách nhiệm, tài năng của nhà văn.”[2-tr.83]

“Khi nói đến cốt truyện, cần chú ý rằng, đó luôn luôn là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ Thông qua cốt truyện, nhà văn vừa khái quát những xung đột xã hội, vừa thể hiện tâm hồn, tình cảm và sự đánh giá chủ quan của họ đối

Trang 10

với cuộc sống Vì vậy, không thể bê nguyên xi những chuyện có thật ngoài cuộc đời vào tác phẩm Những xung đột xã hội phải được đồng hóa một cách có nghệ thuật nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên, thứ yếu để xây dựng cốt truyện theo hướng điển hình hóa Vì vậy, cùng xuất phát từ một xung đột xã hội giống nhau, những nhà văn khác nhau lại xây dựng những cốt truyện khác nhau nhằm thể hiện quan điểm, thái độ, ý đồ tư tưởng, phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống Những xung đột xã hội giữa nông dân, địa chủ, quan lại được thể hiện qua nhiều cốt truyện khác nhau trong các tác phẩm của các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng …là những thí dụ cụ thể.”

“Trong quá trình xây dựng tác phẩm, những nhà văn trong thời kì này thường đặt tính cách vào hoàn cảnh nên tính cách phong phú, đa dạng và luôn phát triển theo sự phát triển của hoàn cảnh Như vậy, trong văn học hiện đại, cốt truyện là phương tiện để bộc lộ tính cách, cốt truyện được sử dụng để triển khai các tính cách chứ không phải cốt truyện quyết định và chi phối tính cách như trước kia Nói như thế không có nghĩa là xem thường vai trò của cốt truyện vì tính cách chỉ có thể được biểu hiện và phát triển thông qua cốt truyện Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn luôn cố gắng xây dựng những cốt truyện chân thực và hấp dẫn đồng thời thể hiện được chiều sâu tâm lí của tính cách nhân vật.”

“Cơ sở sâu xa của cốt truyện là một xung đột đang vận động Vì vậy, quá trình phát triển của một cốt truyện cũng giống như quá trình vận động của xung đột, bao gồm các bước hình thành, phát triển và kết thúc Nhìn chung, một cốt truyện thường có các thành phần chính là: phần trình bày, phần thắt nút, phần phát triển, cao trào – điểm đỉnh và cuối cùng là phần kết thúc (mở nút) Mỗi phần sẽ đều có một chức năng và nhiệm vụ riêng của nó.”

“Có thể thấy rằng, những thành phần chính trên đây tạo thành một cốt truyện đầy đủ Tuy nhiên, trong thực tế văn học, không phải lúc nào cốt truyện cũng đầy đủ cả 5 thành phần đồng thời cũng không phải được trình bày theo thứ

tự như trên Ở một số cốt truyện, có thể thiếu mất một vài thành phần, ở một số cốt truyện khác, có thể không có phần mở đầu hoặc nhiều khi lại bắt đầu bằng phần kết thúc hoặc một biến cố gần với điểm đỉnh.”

Ngày đăng: 13/12/2024, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w