1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị

243 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Hoa Văn Trang Trí Trên Trang Phục Của Người Vân Kiều Vào Dạy Học Mỹ Thuật Tại Trường Tiểu Học Số 2 Hướng Hiệp, Huyện Đakrông Tỉnh Quảng Trị
Tác giả Nguyễn Thị Nhàn
Người hướng dẫn TS. Phan Lê Chung
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung Ương
Chuyên ngành Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Mỹ Thuật
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 7,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (74)
    • 1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn (29)
      • 1.1.1. Đồ án hoa văn (29)
      • 1.1.2. Trang trí (29)
      • 1.1.3. Họa tiết (31)
      • 1.1.4. Trang phục dân tộc (32)
      • 1.1.5. Dạy học Mĩ thuật (32)
      • 1.1.6. Kí hiệu (34)
      • 1.1.7. Biểu tượng (35)
      • 1.1.8. Trang phục (36)
    • 1.2. Khái quát về dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông, Quảng Trị (37)
      • 1.2.1. Địa danh Đakrông và nguồn gốc lịch sử của dân tộc Bru Vân Kiều 29 1.2.2. Nghệ thuật (37)
    • 1.3. Khái quát về hoa văn trên trang phục của người dân tộc Bru Vân Kiều (46)
      • 1.3.1. Nguồn gốc của trang phục và hoa văn trang trí trên trang phục (46)
      • 1.3.2. Các loại hình trang phục và nghệ thuật trang trí trên trang phục của người dân tộc Bru Vân Kiều (56)
    • 1.4. Tình hình dạy học tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị (63)
      • 1.4.1. Sơ lược về trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị (63)
      • 1.4.2. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (65)
      • 1.4.3. Tình hình giảng dạy Mĩ thuật tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp (68)
      • 1.4.4. Tình hình học tập môn Mĩ thuật tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp (70)
    • 2.1. Tạo hình hoa văn trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông 66 1. Hoa văn (74)
      • 2.1.2. Yếu tố tạo hình của hoa văn (78)
      • 2.1.3. Kĩ thuật tạo hoa văn (82)
      • 2.1.4. Giá trị của hoa văn (96)
    • 2.2. So sánh hoa văn trên trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông với hoa văn trên trang phục của dân tộc Mường, Tà Ôi (0)
    • 2.3. Áp dụng hoa văn trang trí trên trang phục người Bru Vân Kiều ở huyện Đakrông vào dạy học Mĩ thuật cho học sinh Lớp 3, 4, Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp (108)
      • 2.3.1. Vận dụng các nhóm đề tài hoa văn trên trang phục vào việc dạy học mĩ thuật lớp 3 (0)
      • 2.3.2. Vận dụng màu sắc và bố cục hoa văn vào việc dạy học mĩ thuật trong chương trình giáo dục địa phương lớp 4 (108)
      • 2.3.3. Vận dụng kĩ thuật tạo hình hoa văn vào dạy học câu lạc bộ mĩ thuật (109)
      • 2.3.4. Vận dụng việc tìm hiểu hoa văn trang trang trí trên trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông vào hoạt động trải nghiệm ngoại khóa môn mĩ thuật (110)
  • Chương 3: THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG HOA VĂN TRANG TRÍ TRÊN (113)
    • 3.1. Mục đích của thực nghiệm (113)
    • 3.2. Đối tượng thực nghiệm (113)
    • 3.3. Yêu cầu thực nghiệm (113)
      • 3.5.1. Các bước dạy học thực hiện (115)
      • 3.5.2. Thực nghiệm dạy mĩ thuật trong chương trình mĩ thuật chính khóa (119)
      • 3.5.3. Thực nghiệm dạy học mĩ thuật trong chương trình giáo dục địa phương (122)
      • 3.5.4. Hoạt động trải nghiệm ngoại khóa môn mĩ thuật (125)
      • 3.5.5. Sinh hoạt động câu lạc bộ “Yêu nghệ thuật”, chủ đề: Khám phá trang trí hoa văn trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông, Quảng Trị (0)
    • 3.6. Tổng kết và đánh giá thực nghiệm (130)
      • 3.6.1. Tổng kết thực nghiệm (130)
      • 3.6.2. Đánh giá thực nghiệm (132)
  • KẾT LUẬN (118)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (121)
  • PHỤ LỤC (147)

Nội dung

Lý do chọn đề tài Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người Bru-Vân Kiều vào dạy học Mĩ thuật tại trường, giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc,

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Một số khái niệm sử dụng trong luận văn

Theo Từ điển Tiếng Việt (2013), đồ án được định nghĩa là “bố cục trang trí hoa văn trên một tác phẩm nghệ thuật”, trong khi hoa văn được hiểu là “hình vẽ trang trí (nói chung)”.

Theo quan điểm của tác giả Đào trong luận văn nghiên cứu hoa văn trên trang phục của người Thái đen tại Mường Lò, đồ án hoa văn không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo của cộng đồng Những hoa văn này mang ý nghĩa sâu sắc, liên kết chặt chẽ với truyền thống và phong tục tập quán của người Thái đen.

Phương Thúy nhấn mạnh rằng đồ án hoa văn là sự kết hợp chặt chẽ và khoa học của các họa tiết, nhằm tạo ra những mẫu trang trí mang tính thẩm mỹ và đặc trưng cho từng tộc người và vùng miền Điều này không chỉ thể hiện năng lực sáng tạo mà còn phản ánh tư duy sắp xếp bố cục họa tiết một cách tinh tế.

Đồ án hoa văn là những họa tiết được tạo ra bằng cách cách điệu hoặc giản lược hình ảnh tiêu biểu từ thiên nhiên và con người, tạo nên hình ảnh và họa tiết mới có tính thẩm mỹ cao Những hoa văn này được sử dụng để trang trí mà vẫn giữ được đặc điểm của mẫu vật và người mẫu gốc.

Theo Từ điển Tiếng Việt (2013) thì trang trí là: “Xếp đặt, bày biện cho hài hòa, hợp lí và đẹp mắt” [19; tr.1109]

Theo Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông (2001), đưa ra khái niệm trang trí là:

Trang trí là nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người Nhờ vào các yếu tố trang trí, những vật dụng không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn nâng cao giá trị sử dụng, thể hiện rõ nét trong nghệ thuật ứng dụng Đời sống con người đa dạng với nhiều lĩnh vực như ăn mặc, ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi và giải trí, do đó nghệ thuật trang trí phát triển thành nhiều chuyên ngành khác nhau để đáp ứng các nhu cầu này.

Tài liệu đào tạo giáo viên (2006) Dự án phát triển giáo viên Tiểu học,

Nxb Giáo dục: Con người bẩm sinh đã có xu hướng yêu thích cái đẹp và luôn khao khát thưởng thức nghệ thuật Những sản phẩm phục vụ cuộc sống ngày càng được cải tiến về mẫu mã, kiểu dáng và màu sắc, nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của con người Tất cả những hoạt động này được gọi là nghệ thuật trang trí.

Trang trí là một loại hình nghệ thuật gắn liền với cuộc sống, nhằm sắp xếp và bố trí các vật dụng một cách hợp lý và thẩm mỹ Nó sử dụng màu sắc và chất liệu để tạo ra những kiểu dáng đa dạng, phục vụ nhu cầu hàng ngày Nghệ thuật trang trí đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, từ trang trí nhà ở, câu lạc bộ, trường học đến sân khấu và các phương tiện truyền thông Trang trí không chỉ làm cho cuộc sống thêm tươi vui mà còn khích lệ con người yêu lao động và yêu cuộc sống hơn.

Nghệ thuật trang trí ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, với nhiều đồ vật mang giá trị văn hóa, phản ánh phong cách của từng thời đại Các hình thức trang trí bao gồm đồ gốm, chạm đá, chạm gỗ, đúc đồng, thêu, dệt, và khảm trai Những yếu tố này không chỉ xuất hiện trên y phục mà còn trên các loại thổ cẩm của các dân tộc thiểu số, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc.

Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông (2001), có viết:

Trang trí phục trang bao gồm việc chăm sóc cho trang phục, làm đẹp vải vóc và sáng tạo các kiểu quần áo, mũ nón, giày dép phù hợp cho mọi lứa tuổi trong các điều kiện làm việc và nghỉ ngơi Trang trí mỹ nghệ tập trung vào việc làm đẹp cho các sản phẩm gốm, sứ, mây, tre, cói, thủy tinh, đồ trang sức và đồ vàng bạc Trang trí ấn loát liên quan đến nghệ thuật trình bày và in ấn sách báo cùng các ấn phẩm khác Cuối cùng, trang trí sân khấu điện ảnh phục vụ cho các yêu cầu mỹ thuật của sân khấu, bao gồm đạo cụ, phông màn, trang phục và hóa trang.

Trang trí là quá trình sắp xếp các yếu tố như hình, mảng, đường nét, khối, ánh sáng và màu sắc nhằm phục vụ nhu cầu thẩm mỹ của con người Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Theo Từ điển Tiếng Việt (2013) thì họa tiết là “Hình vẽ cách điệu hóa, dùng để trang trí” [19; tr 494]

Theo Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông (2001), thì hoạ tiết trang trí là:

Hoạ tiết trang trí cần có hình thể rõ ràng với đường nét cụ thể và độc đáo, được sáng tạo theo phong cách vẽ đặc trưng Các hoạ tiết này thường được đơn giản hoá, cách điệu hoá và lặp lại theo phương pháp đối xứng qua đường trục, đồng thời xen kẽ nhắc lại theo phương pháp trang trí đường diềm.

Họa tiết trang trí bao gồm các hoa văn và hoa đính, thường được sử dụng để làm đẹp cho quần áo, túi xách, đồ gia dụng và nội thất Đây là yếu tố quan trọng trong việc thiết kế và trang trí không gian sống của con người.

Họa tiết trang trí bao gồm nhiều loại như hoa văn truyền thống, họa tiết kết hợp, họa tiết đơn giản, họa tiết phức tạp và họa tiết đối xứng Những họa tiết này thường được thiết kế với tính thẩm mỹ cao, mang lại sự sang trọng cho các sản phẩm mà chúng được áp dụng.

Họa tiết trang trí, thường được in hoặc thêu trên các vật dụng, là sản phẩm sáng tạo của các nhà thiết kế và nghệ sĩ, nhằm mục đích trang trí với sự hài hòa về màu sắc và hình ảnh.

Họa tiết trang trí đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật thiết kế và trang trí, giúp làm nổi bật và tạo nên sự độc đáo, khác biệt cho các sản phẩm.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam 4, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội

(2005), Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn đã nêu:

Khái quát về dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông, Quảng Trị

1.2.1 Địa danh Đakrông và nguồn gốc lịch sử của dân tộc Bru Vân Kiều

Theo tài liệu văn hóa Chăm ở Quảng Trị, các thông tin xuất hiện từ sớm, như trong "Ô châu cận lục" có nhiều đoạn mô tả tháp Trung Đơn và sự xây dựng tháp ở Dương Lệ, cùng với sự tồn tại của một số làng Chăm vào thế kỷ XVI Mặc dù chưa được xem là nghiên cứu chính thức, tác phẩm của Dương Văn An và hai sinh đồ vẫn cung cấp nguồn tư liệu hữu ích cho hiện tại.

Lê Đức Thọ, (2012), Văn hóa Chămpa, Nxb Thuận Hóa Huế [25; tr.10] đã viết:

Văn hóa Chămpa là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa của Quảng Trị, đặc trưng cho các tộc người Việt, Tà Ôi, và Bru - Vân Kiều Việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa Chăm không chỉ làm phong phú thêm nhận thức về lịch sử văn hóa của vùng đất này mà còn góp phần phát huy giá trị văn hóa địa phương Đakrông, nằm trên các tuyến đường quan trọng của tỉnh Quảng Trị, là nơi cư trú của ba dân tộc chính: Bru Vân Kiều, Pa Kô, và người Việt, trong đó Bru Vân Kiều và Pa Kô là cư dân bản địa lâu đời Một đặc trưng nổi bật của người Bru Vân Kiều tại Đakrông là hoa văn trên trang phục truyền thống, phản ánh cuộc sống gắn liền với thiên nhiên và văn hóa vùng miền Những họa tiết này không chỉ mang tính trang trí mà còn thể hiện tinh thần, phong tục, và truyền thống của tộc người sống giữa núi rừng Đakrông.

Đakrông là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm ở tọa độ 16°17'55" đến 16°49'12" vĩ bắc và 106°44'01" đến 107°14'15" kinh đông.

Dân số người Vân Kiều ở Quảng Trị tuy không lớn nhưng đang tăng trưởng nhanh chóng Họ sở hữu một nền văn hóa nghệ thuật đặc sắc, thể hiện qua các lễ hội, âm nhạc và hoa văn trang phục tinh tế Các họa tiết trên trang phục và công trình truyền thống thường mang biểu tượng thiên nhiên và cuộc sống hàng ngày Nét nghệ thuật này không chỉ phản ánh đời sống của người dân mà còn thể hiện niềm tin và tự hào về bản sắc dân tộc của người Bru Vân Kiều.

Theo Giang Quốc Trung (2006) trong tác phẩm "Lịch sử địa lý Quảng Trị" của Nxb Sở GD&ĐT, dân số tỉnh Quảng Trị bao gồm 29.369 người Bru-Vân Kiều, chiếm 6,4% tổng dân số, và 6.994 người Pa Cô-Tà Ôi, tương đương 1,52% dân số toàn tỉnh.

Dân tộc Bru-Vân Kiều, một trong 54 dân tộc tại Việt Nam, sở hữu giá trị văn hóa và nghệ thuật phong phú, phản ánh cuộc sống vùng núi Xuất phát từ cư dân nông nghiệp ở trung Lào, họ đã di cư đến nhiều nơi, bao gồm Thái Lan và Việt Nam, chủ yếu tập trung ở các vùng núi phía Tây của Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế Tên gọi Bru-Vân Kiều xuất phát từ việc họ xây dựng làng quanh núi Vân Kiều, ngọn núi mang ý nghĩa quan trọng trong văn hóa của họ.

Người Bru-Vân Kiều có tín ngưỡng đa thần và quan niệm "vạn vật hữu linh", cho rằng mọi thứ trong tự nhiên đều có linh hồn Họ tổ chức nhiều nghi lễ để làm vừa lòng các vị thần, từ cúng tế khi phát rừng, gieo lúa đến các nghi lễ cưới hỏi và tang ma Đặc biệt, họ có tục thờ linh hồn sống, mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều được lập bàn thờ riêng và linh hồn này sẽ được thờ cho đến khi người đó qua đời.

Qua nhiều thời gian, xã hội Bru-Vân Kiều đã dần qua nhiều biến đổi

Người Bru-Vân Kiều đã chuyển từ lối sống săn bắt và hái lượm sang nông nghiệp, mặc dù vẫn còn phụ thuộc vào thiên nhiên Họ không sống tập trung mà xen kẽ với các tộc người khác, dẫn đến sự giao thoa văn hóa, tuy nhiên nhiều nét văn hóa đặc trưng của họ đang dần mai một trước sự thay đổi của thời đại.

Người Bru-Vân Kiều là biểu tượng sống động của bản sắc văn hóa vùng núi, nơi tín ngưỡng và nghi lễ hòa quyện, tạo thành mối liên kết thiêng liêng giữa con người và thiên nhiên.

Theo tác giả Nguyễn Bảo Cương (2017) trong tác phẩm "Người Bru Vân Kiều ở Việt Nam", dân tộc Vân Kiều, hay còn gọi là người Bru, mang nghĩa "người ở rừng" trong tiếng địa phương, phản ánh nguồn gốc lịch sử sâu sắc của họ.

Tác phẩm không chỉ có giá trị tư liệu mà còn thể hiện vẻ đẹp nghệ thuật rõ nét, thông qua hình ảnh và bài viết phản ánh đời sống xã hội, văn hóa vật chất, tinh thần và tín ngưỡng của con người.

Cuốn sách "Người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Bảo Cương, phát hành năm 2017 bởi Nhà xuất bản Thông tấn, mang đến cái nhìn sâu sắc về vẻ đẹp mộc mạc và phong phú của cộng đồng Bru-Vân Kiều, sống hòa hợp với người Kinh và Tà Ôi/Pa Cô tại tỉnh Quảng Trị Trong bức tranh đa dạng văn hóa của khu vực, người Kinh chiếm 88,5% dân số, trong khi Bru-Vân Kiều chiếm 9,2% và Tà Ôi/Pa Cô chiếm 2,3% Cuốn sách là một phần quan trọng trong bộ sách giới thiệu về 54 dân tộc tại Việt Nam, giúp người đọc hiểu rõ hơn về văn hóa và cuộc sống của người Bru-Vân Kiều.

Theo Wikipedia (2024), dân số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam vào năm 2019 ước tính khoảng 94.598 người, phân bố tại 39/63 tỉnh, thành phố Họ chủ yếu cư trú tập trung ở một số tỉnh thành nhất định.

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ tỉ lệ cư trú dân cư người Bru-Vân Kiều, Đakrông, Quảng Trị

Quảng Trị là tỉnh có số lượng người Bru-Vân Kiều đông nhất tại Việt Nam với 69.785 người, chiếm 73,9% tổng số Tiếp theo là Quảng Bình với 18.575 người, chiếm 19,6% Các tỉnh Đắk Lắk và Thừa Thiên Huế có số lượng người Bru-Vân Kiều lần lượt là 3.563 và 1.389 người.

Biểu đồ tỉ lệ cư trú dân cư người Vân Kiều

Quảng TrịQuảng Bình Đắk LắkThừa Thiên Huế

Người Bru-Vân Kiều là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu tại vùng rừng núi Trường Sơn và xếp thứ 23 về số lượng Tại tỉnh Quảng Trị, theo thống kê năm 2017, có 14.197 hộ với tổng cộng 67.242 người, chiếm 9,2% dân số tỉnh Họ tập trung chủ yếu ở các huyện Hướng Hoá và Đakrông, bên cạnh đó còn sống rải rác ở Vĩnh Linh, Gio Linh, và Cam Lộ Người Bru-Vân Kiều sử dụng ngôn ngữ thuộc hệ Môn-Khmer và có đặc điểm nhân chủng Mongoloid phương Nam, với chiều cao trung bình từ 1,55m đến 1,57m, da ngăm đen, tóc đen thẳng, và mắt rộng.

Khái quát về hoa văn trên trang phục của người dân tộc Bru Vân Kiều

1.3.1 Nguồn gốc của trang phục và hoa văn trang trí trên trang phục

Nguồn gốc của trang phục

Người Bru - Vân Kiều, giống như nhiều tộc người khác trên thế giới, đã tiến hóa từ loài vượn, vượt qua những giới hạn của động vật để hình thành ý thức cộng đồng nguyên sơ Họ sinh sống tập trung tại các vách hang và hốc núi, tạo thành những cộng đồng người nguyên thủy.

Trong thời kỳ tiền sử, con người sống bằng săn bắn và hái lượm với những vũ khí thô sơ, phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt và các kẻ thù Để tồn tại, họ đã hòa mình vào thiên nhiên và tìm kiếm các nguồn tài nguyên để chống chọi với điều kiện lạnh giá Ban đầu, họ sử dụng lá cây, da và lông thú để giữ ấm, sau đó dần dần phát triển kỹ năng chế biến vỏ cây thành trang phục như khố và áo Khi biết đến nghề trồng bông, người Bru - Vân Kiều đã sáng tạo ra những bộ trang phục phù hợp với điều kiện sống và thẩm mỹ của dân tộc, tạo ra những trang phục bền vững mà ngày nay chúng ta gọi là trang phục người Bru - Vân Kiều.

Người Bru - Vân Kiều đã có một quá trình phát triển văn hóa đáng chú ý, trong đó sự xuất hiện của quần áo và đồ trang sức đóng vai trò quan trọng Mặc dù khó xác định chính xác thời điểm bắt đầu tạo ra và sử dụng trang phục, nhưng có thể khẳng định rằng đây là một giai đoạn quyết định trong tiến hóa văn hóa và tâm sinh lý của họ.

Người Bru - Vân Kiều xưa coi cái đẹp của trang phục và trang sức là thiêng liêng, gần gũi với tổ tiên và thần linh Trong các lễ hội, họ thường mặc trang phục đẹp và đeo nhiều loại trang sức bằng bạc, đồng, mã não, với niềm tin rằng tổ tiên sẽ phù hộ cho họ Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ảnh hưởng của cơ chế thị trường và cuộc sống hiện đại đã làm thay đổi nghề dệt truyền thống và việc sử dụng trang phục truyền thống, chỉ còn phổ biến ở phụ nữ già hoặc đã có gia đình, trong khi nam giới mặc trong các dịp lễ hội Tính thiêng của trang phục truyền thống vẫn được giữ gìn như một cách bảo vệ và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc Hiện nay, trang phục của người Bru - Vân Kiều đang đổi mới, ngày càng đẹp và đa dạng hơn về kiểu dáng và màu sắc.

Trong cộng đồng người Bru - Vân Kiều, sự biến đổi trong việc tìm kiếm và sáng tạo nguyên liệu phục vụ nhu cầu ăn mặc của con người diễn ra chậm rãi trong thời gian dài.

Trang phục và trang sức của người Bru - Vân Kiều được làm từ nguyên liệu tự nhiên sẵn có trong núi rừng, bao gồm lá cây, vỏ cây, rễ cây, dây leo, cùng với các vật liệu như hạt A chanh, xương thú, răng thú và ngà voi.

Báo công thương (2024), Nét đặc sắc trong trang phục truyền thống của người Bru-Vân Kiều đã đưa ra:

Khố truyền thống của nam giới người Bru - Vân Kiều được làm từ vỏ cây sui, qua các công đoạn ngâm, tước nhỏ và phơi khô, sau đó được dệt và nhuộm màu đỏ với viền đen Khi nghề trồng bông phát triển, trang phục của họ trở nên đa dạng và thẩm mỹ hơn, phù hợp với môi trường sống Đàn ông thường mặc khố cởi trần hoặc kết hợp với áo chù hoe, khố quấn quanh thắt lưng và thả dài đến mắt cá chân Tùy vào hoàn cảnh, khố có thể ngắn hoặc dài, với màu sắc và hoa văn khác nhau Trong lễ hội, họ thường mặc khố dài, sặc sỡ và thêm khăn quàng đầu Phụ nữ Bru - Vân Kiều mặc áo dài tay làm từ vải bông nhuộm chàm hoặc đen, có kiểu dáng xẻ tà, cổ đứng và được trang trí bằng các hoa văn sặc sỡ cùng hàng tiền bạc trắng ở ngực Gấu áo cũng được trang trí với các mô típ hoa văn đa dạng, tạo nên nét đặc trưng trong trang phục truyền thống của họ.

Tất cả các đường may giữa thân áo trước và sau, cùng với tay và nách, đều được sử dụng chỉ nổi màu đỏ, xanh, vàng, tạo hình xương rắn Vùng thắt eo trang trí hoa văn hình lá cây màu trắng, vàng và đỏ, thể hiện kỹ thuật dệt và khâu chỉ màu tinh xảo Váy của phụ nữ khá đơn giản, chỉ là một tấm vải hình chữ nhật dài khoảng 120 cm.

Chiều dài của chiếc váy là 140cm và chiều rộng khoảng 80 - 100cm, được quấn từ trước ra sau và gấp nếp chéo trước bụng Hoa văn trang trí trên váy rất phong phú với nhiều họa tiết khác nhau, chạy ngang và dàn đều từ dưới lên trên thân váy, tạo nên các hình dạng như răng cưa, sóng nước, zích zắc và thoi Bài viết này đề cập đến những chiếc áo khố vỏ cây của người dân tại Bảo tàng Quảng Trị.

Bru-Vân Kiều [32] đã cho biết:

Bảo tàng tỉnh Quảng Trị hiện đang trưng bày năm hiện vật trang phục cổ sơ làm từ chất liệu vỏ cây, bao gồm bốn chiếc áo, một chiếc khố và một tấm nguyên liệu Những trang phục này thuộc về các dân tộc Bru - Vân Kiều và Tà Ôi, được giới thiệu tại gian trưng bày văn hóa của họ.

Chiếc áo vỏ cây đầu tiên của ông Pả Chuộp, người Bru - Vân Kiều, đến từ bản Chai, xã Tà Long, huyện Hướng Hóa, đã được sưu tầm và đưa về Bảo tàng vào tháng 12 năm 1996 với số đăng ký 1308/ĐM 164 Áo có kích thước chiều dài thân 80cm, rộng thân sau 40cm, rộng thân trước 18cm và rộng vai 40cm.

Chiếc áo vỏ cây thứ hai của ông Vỗ Minh, người Bru - Vân Kiều tại bản Loa, xã Pa Tầng, huyện Hướng Hóa, được sưu tầm và đưa về Bảo tàng vào tháng 9 năm 1997 với số đăng ký 1355/ĐM 179 Áo có kích thước dài 70cm, rộng phần thân sau 60cm, phần thân trước 29cm và rộng vai 40cm.

Chiếc áo vỏ cây thứ ba thuộc về ông Pả Ta Khư, người Bru - Vân Kiều, ở bản A Dơi Nước, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa Áo được sưu tầm vào tháng 9 năm 1997, với số đăng ký 1383/ĐM 198 Kích thước áo gồm chiều dài thân 64cm, chiều rộng thân sau 46,5cm, chiều rộng thân trước 19cm và chiều rộng vai 41cm.

Chiếc áo vỏ cây thứ tư của ông Hồ Văn Minh, người Bru - Vân Kiều đến từ bản Kỳ Nơi, xã A Túc, huyện Hướng Hóa, được sưu tầm về Bảo tàng vào tháng 12 năm 2005 với số đăng ký 3018/ĐM 586 Áo có kích thước dài 50cm, rộng thân sau 55cm, rộng thân trước 23cm và rộng vai 35cm.

Chiếc khố vỏ cây thứ năm là của ông Côn Hồ thuộc người Tà Ôi ở bản

La Lay, một di sản văn hóa của xã A Ngo, huyện Đakrông, đã được sưu tầm và đưa về Bảo tàng vào tháng 10 năm 1997, với số đăng ký 1426/ĐM 220 Khố có kích thước dài 1,5m và rộng 28cm.

Tình hình dạy học tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị

1.4.1 Sơ lược về trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị

Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ 2 vào tháng 3 năm 2023

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, nhà trường đã đạt được nhiều thành tích nổi bật và nhận được nhiều bằng khen từ phòng giáo dục và đào tạo huyện Đakrông.

Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng và triển khai cho cán bộ giáo viên đăng ký thi đua Mục tiêu chính của nhà trường là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đồng thời áp dụng hiệu quả chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Trong năm học 2023 - 2024, nhà trường có tổng cộng 12 lớp học, bao gồm 2 điểm trường Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị 11 phòng học, 10 phòng làm việc, 4 phòng bộ môn, 1 phòng thư viện và 1 phòng thiết bị.

Trong năm học 2023 - 2024, trường có tổng cộng 248 học sinh và đội ngũ 25 cán bộ, giáo viên, nhân viên Đội ngũ này luôn thể hiện tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao trong công việc, với đạo đức tốt và lối sống lành mạnh Họ sẵn sàng hỗ trợ lẫn nhau, tạo dựng môi trường sống hòa thuận và giúp đỡ nhau trong công việc hàng ngày Nhà trường hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp từ chi bộ và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đoàn thể địa phương như Công đoàn, Chi đoàn, liên đội, đảm bảo không có giáo viên nào bị xếp loại chuyên môn yếu kém.

Cán bộ, giáo viên, và nhân viên nhà trường đã nỗ lực không ngừng để đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch, với các đảng viên gương mẫu trong mọi hoạt động Tinh thần đoàn kết cao đã giúp xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh Ban giám hiệu và các đoàn thể đã phối hợp chặt chẽ thực hiện nhiệm vụ năm học, góp phần đưa nhà trường đạt danh hiệu Trường tiên tiến liên tục Tất cả đều nghiêm chỉnh chấp hành kỉ cương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, phấn đấu không có vi phạm về pháp luật và quy định đạo đức nhà giáo.

Cán bộ, giáo viên và nhân viên cần nhận thức rõ ràng về quyền và trách nhiệm của mình, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ được giao để đảm bảo hiệu quả công việc.

Gương mẫu và rèn luyện đạo đức, phong cách sống là điều cần thiết cho giáo viên Việc thường xuyên học tập và tự nâng cao trình độ sẽ tạo nên mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và học sinh Đồng thời, trường lớp cần duy trì môi trường xanh, sạch, đẹp để đáp ứng tiêu chí đánh giá tốt từ đoàn thanh tra chuyên đề về phong trào thi đua.

Ngành giáo dục đang tổ chức xây dựng trường học thân thiện, khuyến khích học sinh tích cực tham gia Trường đã nhận chăm sóc một số di tích, bao gồm 01 nhà cộng đồng thôn Khe Hà, 01 nghĩa trang liệt sĩ, 02 thương binh nặng, và 02 địa chỉ nhân đạo hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó trong học tập Các hoạt động này được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao ý thức cộng đồng và tạo điều kiện cho học sinh phát triển.

1.4.2 Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Tài liệu bồi dưỡng sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Tiểu học môn Mĩ thuật (mô-đun 2.9), của

TS Nguyễn Ngọc Ân, Công đoàn giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2020

Học sinh tiểu học có nhận thức và cảm xúc về thế giới xung quanh, cùng với nhu cầu biểu đạt những điều đó Mặc dù trẻ em có thể viết và nói, nhưng những phương tiện này thường bị hạn chế Tạo hình là phương tiện biểu đạt hiệu quả nhất, giúp các em thể hiện tâm tư và cảm xúc thông qua hình vẽ, nét vẽ, màu sắc và cách sắp xếp bố cục Qua đó, các em có thể truyền tải những suy nghĩ và cảm nhận của mình về sự vật, hiện tượng, con người và thế giới xung quanh.

Màu sắc và hình ảnh từ thế giới xung quanh rất sinh động và hấp dẫn trẻ em, kích thích nhu cầu khám phá và tìm hiểu Sự hấp dẫn này dẫn đến việc trẻ muốn biểu đạt và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình, không chỉ để người khác hiểu mà còn để thỏa mãn chính bản thân.

Công việc tạo hình với các thao tác đơn giản và vật dụng quen thuộc luôn thu hút trẻ em, mang đến cho các em cơ hội khám phá và phản ánh thế giới xung quanh Những cách làm dễ dàng nhưng độc đáo cùng với sự biến hóa thú vị giúp trẻ thể hiện bản thân và được ghi nhận, đáp ứng nhu cầu lớn của các em Sản phẩm tạo hình không chỉ thỏa mãn sự sáng tạo mà còn khuyến khích sự phát triển cá nhân của trẻ.

Trẻ em tiểu học thường rất yêu thích môn mỹ thuật, nhưng để giờ học hiệu quả, giáo viên cần tổ chức các hoạt động phù hợp, kích thích năng lượng và sự sáng tạo của từng học sinh Ngược lại, những giờ học mang tính khuôn mẫu, máy móc và lý thuyết dài dòng sẽ khiến trẻ mất hứng thú, dẫn đến tâm lý chán nản và không đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 2 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông quy định nội dung giảng dạy Môn Mĩ thuật Chương trình này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nghệ thuật trong nhà trường, giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và khả năng thẩm mỹ.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định mục tiêu giáo dục giúp học sinh (HS) làm chủ kiến thức và kỹ năng thực tiễn, phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần Đối với HS tiểu học, mục tiêu giáo dục mang tính nền tảng, trang bị hiểu biết sơ khai về ngành nghề, hướng nghiệp cho các cấp học cao hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp Chương trình mới đã tác động tích cực đến môn Mỹ thuật, tập trung vào việc phát triển năng lực mỹ thuật với các mục tiêu như quan sát và nhận thức thẩm mỹ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ, phân tích và đánh giá thẩm mỹ Định hướng lấy người học làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, giúp HS khám phá kiến thức và phát triển năng lực học tập tích cực Môn Mỹ thuật không chỉ liên kết với thực tiễn mà còn giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của mối liên hệ giữa môn học với đời sống, văn hóa, lịch sử và xã hội, từ đó phát triển toàn diện và bồi dưỡng HS có năng khiếu mỹ thuật.

Dựa trên định hướng của chương trình GDPT 2018, việc dạy học Mĩ thuật tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp đã có nhiều đổi mới đáng kể Những thay đổi này không chỉ liên quan đến quan điểm và mục tiêu dạy học mà còn bao gồm cả nội dung và phương pháp giảng dạy Phương pháp dạy học và đánh giá cũng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Tạo hình hoa văn trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông 66 1 Hoa văn

2.1.1.1 Nhóm đề tài hoa văn hình học

Nghệ thuật trang trí dân gian của dân tộc Bru Vân Kiều đạt trình độ cao với kho tàng thổ cẩm sáng tạo và đẹp mắt Phụ nữ Bru Vân Kiều thể hiện óc quan sát nhạy bén, sử dụng thế giới xung quanh làm nguồn cảm hứng cho các hoa văn độc đáo trên vải thổ cẩm Các mô típ hoa văn thường được cách điệu từ hình ảnh thiên nhiên như mặt trời, mặt trăng, cây cỏ và đồ dùng sinh hoạt, phản ánh đặc thù địa hình núi đồi và khe suối nơi họ sinh sống Điều này tạo ra các yếu tố nghệ thuật như hình, mảng, đường và nét, góp phần hình thành những mô típ trang trí hoa văn hình học đặc sắc, nổi bật giữa các dân tộc khác tại Đakrông.

Theo luận văn thạc sỹ của Trần Thị Nhàn (2021), trang phục và trang sức truyền thống của người Bru - Vân Kiều ở Quảng Trị không chỉ thể hiện qua hình thức mà còn qua các mô típ hoa văn và màu sắc Mô típ hoa văn trong trang phục của dân tộc này được hình thành từ kỹ thuật chèn sợi chỉ màu, khâu, dệt chỉ màu, và chèn hạt chì, cườm Những hoa văn này chứa đựng hình ảnh và biểu tượng phong phú, phản ánh cảm nhận giản dị của con người về môi trường tự nhiên và đời sống xã hội.

Hoa văn trang trí trên trang phục người Bru-Vân Kiều

TT Hoa văn Vị trí Màu sắc Kĩ thuật

Hệ mô típ thực vật

Xanh, trắng Vàng, cam Thêu

2 Hình tù vạt (lá đoác) Gấu áo nữ

3 Hình A un (cây bắp) Váy Vàng, nâu Dệt

(măng cây giang) Khăn Đỏ, cam Dệt

5 Hình Laparađin (lá cây đùng đình) Váy Đỏ, xanh, vàng, trắng

Hệ mô tip động vật

Hình Tagađang Áo nam Vàng, xanh, hồng, đỏ

Váy Trắng, vàng, đỏ, xanh

8 Hình A binh Váy Vàng, đỏ Dệt

(hoa văn dấu chân gà) Váy Vàng, trắng, xanh

Cổ áo Vàng, xanh, đỏ, trắng

Váy Vàng, xanh, đỏ, trắng

Hệ mô típ đồ vật

Hình Rèng ròng (nhà Roon có hàng rào) Váy Trắng, vàng, xanh, tím, đỏ

Trắng, vàng, xanh, tím, đỏ, hồng

Gấu áo Vàng, đỏ, tím, trắng, xanh

Gấu áo Vàng, đỏ, xanh, trắng

Váy Trắng, vàng, xanh, tím, cam

Váy Xanh, đỏ, hồng, cam, trắng

18 Hình A rưa che Áo Hồng, trắng, xanh

Khăn Xanh, tím, cam, vàng, đỏ

20 Hình châr beeng kloak Túi xách Đỏ, vàng, trắng Dệt

21 Hình Xê linh Áo nam Vàng, hồng, đỏ Dệt

Khăn Đỏ, vàng, trắng, cam, hồng

Hệ mô típ về thế giới quan

Hình Meenh chachung/ Aminh chachung

24 Hình Pa puốc Áo Vàng, đỏ, xanh, hồng, tím

25 Hình trmoq pakôm Áo Xanh, đỏ, vàng, nâu, trắng

Váy Xanh, đỏ, vàng, trắng

Bảng 2.1: Hoa văn trang trí trên trang phục người Bru-Vân Kiều

Các mô típ hoa văn được tạo ra bởi kỹ thuật có ảnh hưởng sâu sắc, thể hiện dưới dạng "hình học hóa" Mặc dù phong cách nghệ thuật này mang tính hình học, nó vẫn cần đảm bảo sự trong sáng, rành mạch và tính "hiện thực" Phong cách này luôn bám sát tự nhiên, tránh xa khuynh hướng hình học phi lý.

Nghệ thuật tạo hình và trang trí dân gian trên trang phục của dân tộc Bru - Vân Kiều nổi bật với các mô típ được bố cục theo sự băng giải, cân xứng và lặp đi lặp lại Các băng dải trang trí thường đơn giản, bao gồm đường hoa văn zích zắc, hình chông nhọn hay hình tam giác, tạo thành kết cấu giải băng Đặc biệt, bố cục băng ngang chiếm ưu thế so với băng dọc Trên nền vải đen, các dải hình và màu sắc trải dài tạo nên các dải ngang ôm quanh cơ thể người mặc, từ chân váy lên tới các vị trí cao hơn như ngang đầu gối, bụng, ngực và vai.

Mặc dù bố cục dải ngang chiếm ưu thế trong trang phục, nhưng một số trang trí y phục vẫn xuất hiện các dạng trang trí theo chiều dọc, như các đường trang trí dài trên khố nam, tấm choàng và áo, váy.

Trang phục người Bru - Vân Kiều nổi bật với kiểu bố cục thành dãi, thể hiện nét duyên dáng riêng biệt Sự độc đáo này là kết quả của nhiều biện pháp trang trí mà các nghệ nhân áp dụng, không tập trung các dải lại mà phân tán đều trên bề mặt vải Điều này tạo ra sự hài hòa với các tầm cao thấp khác nhau trên cơ thể người mặc, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của trang phục.

Để tránh sự đơn điệu do bố cục phân tán, họ kết hợp các loại dải khác nhau như dải ngang và dải dọc, dải mỏng và dải dày Dải phức hợp thường chứa một dải dày nằm giữa các dải mỏng, trong khi một số dải phức hợp không có dải dày hoặc kết hợp bố cục ô với bố cục dải Ngoài ra, họ còn sử dụng thêu chỉ màu và đính hàng tiền, "bạc trắng" trên thân áo trước, đặc trưng của người Bru - Vân Kiều.

2.1.2 Yếu tố tạo hình của hoa văn

Hoa văn trang trí trên trang phục của người Bru Vân Kiều ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, thể hiện những đặc trưng văn hóa độc đáo Các yếu tố hình ảnh chính tạo nên hình dáng và phong cách riêng biệt của hoa văn này, phản ánh bản sắc và truyền thống của dân tộc Bru Vân Kiều.

Các hoa văn thường sử dụng các hình khối cơ bản như hình vuông, hình tam giác, hình tròn, cùng với các đường nét chạy ngang, dọc hoặc chéo Sự sắp xếp và kết hợp các hình khối này có thể theo kiểu đối xứng hoặc không đối xứng, nhằm tạo ra sự hài hòa và cân đối trong thiết kế.

Tác giả Đỗ Thị Hòa (Chủ biên), Nguyễn Thị Ngân, Lê Mai Oanh, Nguyễn Cảnh Phương, (2008), Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam,

Trang phục của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer mang màu sắc tượng trưng cho sự phong phú của đất rừng, thể hiện khát vọng, tình yêu và cuộc sống của người dân.

Tư duy thẩm mỹ của tộc người Bru Vân Kiều thể hiện rõ qua trình độ tư duy màu sắc, đóng vai trò như một "ngôn ngữ" phản ánh tâm lý, thị hiếu và cá tính trong văn hóa của họ Màu sắc không chỉ là yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tạo hình và trang trí dân gian mà còn tạo ra hiệu quả nghệ thuật nổi bật Chúng ta cần chú ý đến màu nền của trang phục, các đường nét trang trí và cách kết hợp giữa chúng để tạo nên hiệu ứng màu sắc ấn tượng.

Bảng màu của tộc người Bru - Vân Kiều bao gồm năm màu: đỏ, đen, trắng, vàng và xanh, tạo nên sự hài hòa trong trang phục dù chưa phong phú Màu đen được sử dụng làm nền, trong khi màu đỏ thường được chọn để đối sánh nổi bật Việc lựa chọn màu sắc này có thể phản ánh môi trường sống và tính cách mạnh mẽ của người Bru - Vân Kiều, với màu đỏ tượng trưng cho mặt trời và màu đen là màu của đất Mặc dù màu đen hạn chế khả năng nổi bật của các sắc độ, người Bru - Vân Kiều đã khéo léo sử dụng màu đỏ trên nền đen để tạo sự độc đáo, đồng thời thêm các màu trắng, vàng và xanh để làm tăng sự rực rỡ cho trang phục Sự kết hợp này tuy không phong phú nhưng vẫn tránh được sự đơn điệu, và các tua màu ở đầu khăn, khố được sử dụng để tăng cường độ nổi bật của màu sắc.

Màu sắc chủ đạo bao gồm các gam màu mạnh như đỏ, đen và trắng Màu đỏ biểu trưng cho may mắn và sự sống, trong khi đen và trắng thể hiện sự cân bằng và truyền thống.

Các cặp màu sắc nổi bật bao gồm màu đỏ kết hợp với đen hoặc trắng, tạo nên sự tương phản mạnh mẽ Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa màu vàng và xanh không chỉ làm điểm nhấn mà còn mang lại sự đa dạng trong hoa văn.

Các cặp màu ít được sử dụng trong hoa văn của người Bru Vân Kiều thường là những gam màu nhẹ nhàng hoặc pastel Thay vào đó, họ ưa chuộng các màu sắc đậm và tương phản, thể hiện sự đặc sắc trong trang phục của mình.

Áp dụng hoa văn trang trí trên trang phục người Bru Vân Kiều ở huyện Đakrông vào dạy học Mĩ thuật cho học sinh Lớp 3, 4, Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp

2.3.1 Áp dụng các nhóm đề tài hoa văn trên trang phục vào việc dạy học mĩ thuật lớp 3

Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống mĩ thuật lớp 3 bao gồm 35 tiết học được chia thành nhiều chủ đề, giúp kết nối kiến thức một cách mạch lạc Nội dung bài học được thiết kế gợi mở, tạo cơ hội cho học sinh kết nối với cuộc sống và hoạt động giáo dục Giáo viên có thể tích hợp nghệ thuật truyền thống dân gian địa phương Đakrông vào từng chủ đề bài học, đặc biệt là thông qua việc nghiên cứu hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều Chủ đề 2: Hoa văn trên trang phục một số dân tộc, diễn ra trong tuần 2 và 3, rất phù hợp để lồng ghép các nhóm đề tài hoa văn như hình học, thực vật, động vật và thế giới quan Học sinh sẽ thực hành tạo sản phẩm mĩ thuật là trang phục lễ hội cho nhân vật 2D và 3D bằng bìa cứng, từ đó tìm hiểu và trang bị kiến thức về trang phục và hoa văn của dân tộc Bru Vân Kiều, đồng thời nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa địa phương.

2.3.2 Vận dụng màu sắc và bố cục hoa văn vào việc dạy học mĩ thuật trong chương trình giáo dục địa phương lớp 4

Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Quảng Trị lớp 4 bao gồm 35 tiết học, trong đó có 4 tiết dành cho kiểm tra và đánh giá Môn Mĩ thuật được chú trọng với chủ đề số 2: Lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Trị, bao gồm hai tiết học kết hợp với chương trình giáo dục mĩ thuật chính khóa Học sinh rất thích thú với các tiết học Mĩ thuật vì chúng gắn liền với thực tiễn cuộc sống và đặc trưng vùng miền Các em có cơ hội vận dụng kiến thức và kinh nghiệm từ thực tế, đồng thời khám phá và trải nghiệm mĩ thuật qua việc tìm hiểu các trang phục của người dân tộc tại tỉnh Quảng Trị.

Trong tuần 7 của chương trình lớp 4, chủ đề "Trang phục truyền thống các dân tộc ở Đakrông" được xây dựng nhằm giúp học sinh nhận diện trang phục đặc trưng của các dân tộc tại tỉnh Quảng Trị thông qua kiểu dáng và hoa văn tiêu biểu Học sinh sẽ áp dụng kiến thức về hoa văn trang trí, màu sắc và bố cục trên trang phục dân tộc Bru vân Kiều để thực hành vẽ trang trí đường diềm, đồng thời giới thiệu đặc trưng của hoa văn trên trang phục dân tộc Vân Kiều Qua đó, học sinh cũng được giáo dục về việc trân trọng và giữ gìn trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số tại Quảng Trị.

2.3.3 Vận dụng kĩ thuật tạo hình hoa văn vào dạy học câu lạc bộ mĩ thuật

Sinh hoạt câu lạc bộ nghệ thuật là hoạt động dạy học cho học sinh Tiểu học, giúp các em trải nghiệm mỹ thuật ngoài giờ Kế hoạch sinh hoạt do giáo viên mỹ thuật xây dựng với chủ đề “Khám phá trang trí hoa văn trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông” được thực hiện vào tháng 12, diễn ra hai tuần một tiết Chủ đề này tập trung vào kỹ thuật vẽ họa tiết trên trang phục dân tộc, tạo ra các sản phẩm mỹ thuật Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh về nguyên liệu và dụng cụ thêu cơ bản như chỉ thêu, kim thêu, và kéo cắt chỉ, đồng thời dạy các kỹ thuật thêu như thêu chụm, thêu móc xích thẳng, thêu trái-phải, và thêu lên-xuống.

Giáo viên hướng dẫn học sinh lớp 4 thực hành thêu các họa tiết trang trí trên trang phục, bao gồm hình cây, hình xương rắn, hình thoi, hình tam giác và hình chữ X Ngoài ra, học sinh cũng có thể sử dụng đồng tiền bạc để tạo thành hàng trang trí trước ngực, giúp phát triển kỹ năng thêu và sáng tạo cho các em.

2.3.4 Vận dụng việc tìm hiểu hoa văn trang trang trí trên trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông vào hoạt động trải nghiệm ngoại khóa môn mĩ thuật

Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp đã tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm cho học sinh, giúp các em học thông qua chơi và gắn liền với thực tiễn Những hoạt động này tận dụng nguồn lực và điều kiện sẵn có tại địa phương, mang đến cho học sinh cơ hội trải nghiệm cuộc sống và tương tác với thực tế Đồng thời, trường cũng đưa môn học mỹ thuật đến gần hơn với người học, đảm bảo mục tiêu và yêu cầu giáo dục phẩm chất năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Năm học 2023 – 2024, nhà trường đã tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm liên quan đến bộ môn mỹ thuật, nhờ sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo, giáo viên chủ nhiệm và sự đồng thuận của phụ huynh học sinh Các hoạt động này bao gồm chuyến ngoại khóa tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm tại nhà bà Hồ Thị Hồng ở thôn Xa Vi, xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, và gặp gỡ nghệ nhân ưu tú Hồ Văn Hồi tại thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa Những trải nghiệm này giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa và nghệ thuật địa phương.

Tại Hồ Phương ở Đakrông, nơi lưu giữ nhiều cổ vật quý giá của người Vân Kiều, các hoạt động bổ ích giúp học sinh tiếp xúc và tìm hiểu về văn hóa dân tộc Học sinh có cơ hội quan sát, lắng nghe và trò chuyện với nghệ nhân và người dân bản địa Bru Vân Kiều về quá trình dệt vải và sáng tạo hoa văn trên trang phục Qua đó, học sinh sẽ khắc sâu kiến thức về nghệ thuật trang trí, hình thành ý thức và trách nhiệm bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời tăng cường niềm tự hào về nghệ thuật trang trí dân gian của chính dân tộc mình.

Trong chương 2, học viên đã nghiên cứu sâu về hoa văn trang trí trên trang phục người Bru Vân Kiều, bao gồm các nhóm hoa văn tiêu biểu: hoa văn thực vật, động vật, đồ vật và thế giới quan Bài viết khái quát kỹ thuật tạo hình của các hoa văn này, như kỹ thuật dệt và thêu, đồng thời làm rõ quy trình mà nghệ nhân sử dụng để tạo ra sản phẩm Qua đó, học viên nhận thấy sự sáng tạo và công phu của dân tộc Bru Vân Kiều trong việc sản xuất trang phục Họ cũng tìm hiểu về chất liệu làm trang phục như gai, bông, vỏ cây A Mưng và một số quy trình nhuộm vải cơ bản.

Bài viết làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các hoa văn này trong việc định hình bản sắc tộc người Nghiên cứu hoa văn không chỉ giúp hiểu rõ hơn về đời sống văn hóa mà còn góp phần vào sự phát triển của cộng đồng Bru Vân Kiều Học viên đã so sánh hoa văn trang phục của dân tộc Bru Vân Kiều với hoa văn của dân tộc Pako ở Đakrông, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt, làm nổi bật sự đa dạng trong văn hóa trang phục của các tộc người trong cùng khu vực.

Cuối chương 2, bài viết phân tích các nhóm đề tài hoa văn trang trí trên trang phục Bru Vân Kiều và kỹ thuật tạo ra hoa văn, nhấn mạnh các yếu tố tạo hình như màu sắc và bố cục Những nghiên cứu này sẽ được ứng dụng trong việc giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn mỹ thuật cho học sinh lớp 3 và lớp 4 tại trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp, Đakrông, Quảng Trị Chương trình dạy học sẽ bao gồm cả hoạt động chính khóa, ngoại khóa và trải nghiệm thực tế tại địa phương.

THỰC NGHIỆM VẬN DỤNG HOA VĂN TRANG TRÍ TRÊN

Mục đích của thực nghiệm

Mục đích của phương pháp thực nghiệm này là áp dụng hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông vào giảng dạy mỹ thuật, nhằm đánh giá hiệu quả của việc này qua việc thu thập thông tin từ hai lớp học khác nhau (học sinh lớp 3, 4) Phương pháp sẽ tác động lên nhóm lớp thực nghiệm trong khi nhóm lớp đối chứng không bị ảnh hưởng, nhưng vẫn có sự tương tác giữa hai nhóm Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng việc áp dụng hoa văn trang trí vào dạy mỹ thuật, từ đó xem xét sự phát triển và kết quả của việc áp dụng, để đánh giá tính phù hợp của giả thuyết trong thực tiễn giảng dạy và làm cơ sở cho việc hoàn thiện nghiên cứu.

Đối tượng thực nghiệm

Chương trình sẽ được triển khai trong năm học 2023 - 2024 tại Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp Đối tượng tham gia gồm học sinh khối lớp 3 và 4, trong đó lớp thực nghiệm 3A có 27 học sinh, lớp đối chứng 3B có 24 học sinh; lớp thực nghiệm 4A có 31 học sinh, lớp đối chứng 4B có 26 học sinh.

Yêu cầu thực nghiệm

Chuẩn bị cơ sở nghiên cứu cho phương pháp dạy học thực nghiệm liên quan đến hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông là rất quan trọng Học viên cần xây dựng kế hoạch thực hiện phương pháp này, xác định các bước tiến hành và nội dung dạy học phù hợp, đồng thời đảm bảo thời gian thực nghiệm đủ dài để có thể phân tích và đánh giá kết quả một cách thuyết phục Việc thiết lập tiêu chí đánh giá và hệ thống bảng hỏi, phiếu điều tra sẽ giúp thu thập thông tin hiệu quả Trước khi áp dụng phương pháp, học viên cần phân tích kiến thức và kỹ năng ban đầu của học sinh trong lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, đảm bảo tính đồng đều về số lượng và năng lực học tập trong môn mỹ thuật để đảm bảo tính công bằng và khả năng so sánh Qua đó, học viên có thể rút ra kết luận về hiệu quả của việc áp dụng hoa văn trang trí trong dạy học mỹ thuật.

Sự tương đồng giữa các lớp học đối chứng và lớp học thực nghiệm được thể hiện qua cơ sở vật chất và trang thiết bị, bao gồm phòng học, máy chiếu, tivi, loa, và tài liệu giáo dục với số lượng như nhau Điều này đảm bảo điều kiện học tập bình đẳng, với thời khóa biểu có số lượng tiết dạy học mỹ thuật trong tuần hoàn toàn giống nhau.

Học viên áp dụng nghiên cứu về hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều để giảng dạy mỹ thuật cho học sinh lớp 3, 4 tại Trường Tiểu học Số 2 Hướng Hiệp Cụ thể, trong chương trình dạy học chính khóa lớp 3, hoa văn trên trang phục được sử dụng trong hai chủ đề: Chủ đề 2 "Hoa văn trên trang phục một số dân tộc" vào tuần 2, 3 và Chủ đề 3 "Màu sắc em yêu" vào tuần 4, 5, 6.

Chương trình giáo dục địa phương môn mĩ thuật lớp 4 tập trung vào chủ đề lịch sử và văn hóa truyền thống tỉnh Quảng Trị Hoạt động ngoại khóa sẽ bao gồm việc thăm quan làng nghề và gặp gỡ nghệ nhân, cùng với sinh hoạt câu lạc bộ mĩ thuật với chủ đề khám phá trang trí hoa văn trên trang phục dân tộc Bru Vân Kiều tại Đakrông thông qua hình thức thêu hoa văn.

3.5 Tổ chức dạy học thực nghiệm

3.5.1 Các bước dạy học thực hiện

Các bước dạy học thực hiện trong quá trình áp dụng thực nghiệm Bước 1: Lên kế hoạch thực hiện và lựa chọn lớp thực nghiệm và đối chứng

1 Lựa chọn chủ đề trong chương trình dạy học

GV sẽ lựa chọn chủ đề phù hợp trong chương trình mỹ thuật chính khóa, giáo dục địa phương tại Quảng Trị và dạy học ngoại khóa Chủ đề này cần hướng tới việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, đồng thời kết nối với nghệ thuật trang trí hoa văn dân tộc Bru Vân Kiều.

Mục tiêu của bài dạy là phát huy kỹ năng sáng tạo và tư duy hình ảnh của học sinh, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn văn hóa địa phương và nghệ thuật truyền thống Qua đó, bài dạy góp phần vào việc giáo dục và phát triển con người một cách toàn diện.

2 Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm

Học viên thực hiện khảo sát năng lực học tập của học sinh trong phạm vi bài học nhằm giúp giáo viên hiểu rõ tình hình học tập, năng lực và phẩm chất của học sinh ở các lớp Mục đích của khảo sát này là cung cấp thông tin cần thiết trước khi lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.

Giáo viên tiến hành khảo sát học sinh lớp 3 và lớp 4 bằng phiếu khảo sát để đánh giá mức độ đồng đều về năng lực học tập Kết quả khảo sát sẽ được thống kê nhằm lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, đảm bảo sự tương đồng về năng lực và điều kiện học tập.

Giáo viên sẽ tạo bảng thống kê kết quả khảo sát cho các lớp 3A, 3B, 4A, 4B Dựa trên những kết quả này, giáo viên sẽ lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm phù hợp, đảm bảo rằng các lớp có sự tương đồng về năng lực và điều kiện học tập trước khi tiến hành giảng dạy thực nghiệm.

Bước 2: Tiến hành thực nghiệm giảng dạy

1 Tổ chức thực nghiệm giảng dạy

Thực nghiệm giảng dạy vào chương trình chính khóa

GV sẽ tổ chức các tiết dạy thực nghiệm môn mĩ thuật cho học sinh lớp 3, tập trung vào hoa văn trang trí trên trang phục của người Vân Kiều Qua tiết học này, học sinh sẽ có cơ hội học tập và trải nghiệm thực tế về văn hóa và nghệ thuật truyền thống.

Thực nghiệm giảng dạy trong chương trình giáo dục địa phương

GV tổ chức các tiết học theo chương trình giáo dục địa phương cho môn mỹ thuật lớp 4, tập trung vào việc giới thiệu, tìm hiểu và ứng dụng hoa văn trang trí truyền thống của người Vân Kiều tại Đakrông.

2 Sử dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực

GV áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, trải nghiệm sáng tạo, học tập dựa trên dự án và tương tác thực hành để khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập Học sinh sẽ có cơ hội quan sát, thực hành vẽ và trang trí hoa văn trên sản phẩm thủ công, từ đó phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy sáng tạo.

GV kết hợp công nghệ như trình chiếu, video minh họa và hình ảnh thực tế địa phương để làm nổi bật trang phục và hoa văn Bru Vân Kiều, từ đó tăng tính sinh động cho bài học.

Bước 3: Đánh giá kết quả theo nội dung thực nghiệm

1 Đánh giá kết quả dạy học

GV tiến hành đánh giá hiệu quả của bài học dựa trên các tiêu chí sau:

Sự tiến bộ trong năng lực sáng tạo của học sinh sẽ được đánh giá qua bài thực nghiệm, trong đó giáo viên xem xét khả năng vẽ và thiết kế hoa văn trang trí mang phong cách dân tộc Bru Vân Kiều.

Học sinh sẽ được đánh giá về sự hiểu biết của mình đối với giá trị nghệ thuật và văn hóa của dân tộc Bru Vân Kiều tại địa phương Việc này giúp nâng cao nhận thức về văn hóa địa phương và tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng.

Kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm: GV đánh giá kỹ năng làm việc nhóm của HS qua các hoạt động thực hành trải nghiệm

2 So sánh kết quả giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

Ngày đăng: 13/12/2024, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Ân, (2020) Tài liệu bồi dưỡng sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Tiểu học môn Mĩ thuật (mô-đun 2.9), Công đoàn giáo dục Việt Nam Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Tiểu học môn Mĩ thuật (mô-đun 2.9)
2. Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh, (2017), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa
Tác giả: Trần Lâm Biền, Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2017
6. Trịnh Bá Đĩnh (Chủ biên), (2017), Kí hiệu và biểu tượng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kí hiệu và biểu tượng
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
7. Lê Thanh Hà (2023), Bộ tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên Tiểu học về học thông qua chơi (quyển 2), Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên Tiểu học về học thông qua chơi
Tác giả: Lê Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2023
8. Tưởng Duy Hải (Chủ biên), Trần Ngọc Bích, Cao Hồng Huệ, Lê Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Cẩm Ly, Nguyễn Hà My, Trần Thúy Ngà, Đào Thị Sen, Phạm Văn Thuận, Vũ Thị Ngọc Thúy, Tô Thị Thanh Thủy, Nguyễn Huyền Trang (2023), Bài học Stem 4, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học Stem 4
Tác giả: Tưởng Duy Hải (Chủ biên), Trần Ngọc Bích, Cao Hồng Huệ, Lê Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Cẩm Ly, Nguyễn Hà My, Trần Thúy Ngà, Đào Thị Sen, Phạm Văn Thuận, Vũ Thị Ngọc Thúy, Tô Thị Thanh Thủy, Nguyễn Huyền Trang
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2023
9. Y Thi, Hồ Chư, Kô Kăn Sương, Kray Sưk, Hồ Sương, Anh Thi, Trương Quang Hiệp (2021) Những giá trị văn hóa đặc sắc của người Bru- Vân Kiều và Pako (Tập 1), Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Những giá trị văn hóa đặc sắc của người Bru-Vân Kiều và Pako (Tập 1)
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
10. Đỗ Thị Hòa (Chủ biên), Nguyễn Thị Ngân, Lê Mai Oanh, Nguyễn Cảnh Phương (2008), Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Trang phục các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn Khmer Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2008), "Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hòa (Chủ biên), Nguyễn Thị Ngân, Lê Mai Oanh, Nguyễn Cảnh Phương
Năm: 2008
11. Hà Tuệ Hương (2006), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở Tiểu học, Tài liệu đào tạo giáo viên, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ở Tiểu học, Tài liệu đào tạo giáo viên
Tác giả: Hà Tuệ Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Phan Hữu Huyện, Nguyễn Văn Thuấn (Đồng chủ biên), Lê Phúc Chi Lăng, Đinh Thị Hồng Vân, Phạm Văn Hải, Trần Thị Hoài Nam (2023) Thực hành Giáo dục địa phương tỉnh Quảng Trị, lớp 4, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Giáo dục địa phương tỉnh Quảng Trị, lớp 4
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
14. Trần Mạnh Hưởng - Trần Thị Minh Phương (2008), Dạy học lớp 3 theo chương trình Tiểu học mới, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lớp 3 theo chương trình Tiểu học mới
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng - Trần Thị Minh Phương
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
15. Nguyễn Văn Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông (2001), Luật tục của người Tà Ôi, Cơ Tu Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục của người Tà Ôi, Cơ Tu Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2001
16. Hoàng Nam (2013), Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam (Quyển 1 tr72), Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam (Quyển 1 tr72)
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2013
17. Đặng Bích Ngân (Chủ biên) (2001), Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông
Tác giả: Đặng Bích Ngân (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
19. Nguyễn Tôn Nhan - Phú Văn Hẳn (Đồng chủ biên) (2013), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tôn Nhan - Phú Văn Hẳn (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2013
20. Trần Thị Nhàn (2021) Bước đầu tìm hiểu về trang phục, trang sức truyền thống người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi ở Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về trang phục, trang sức truyền thống người Bru - Vân Kiều và Tà Ôi ở Quảng Trị
21. Nguyễn Thị Nhung (Chủ biên), Tài liệu tập huấn giáo viên dạy - học mĩ thuật theo phương pháp mới (2014) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giáo viên dạy - học mĩ thuật theo phương pháp mới (2014)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
23. Y Thi (2011), Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Văn hóa dân gian người Bru-Vân Kiều Quảng Trị, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Bru-Vân Kiều Quảng Trị
Tác giả: Y Thi
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
26. Đào Phương Thúy (2023), Nghiên cứu hoa văn trên trang phục của người Thái đen tại Mường Lò, Luận văn thạc sĩ LL & PPDH Bộ môn Mĩ thuật, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoa văn trên trang phục của người Thái đen tại Mường Lò
Tác giả: Đào Phương Thúy
Năm: 2023
28. Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2020), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2020
30. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2024), “Trang phục người Bru VânKiều”,https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_Bru_-_V%C3%A2n_Ki%E1%BB%81u, truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục người Bru VânKiều”
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm: 2024

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tam giác  Hình thoi - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình tam giác Hình thoi (Trang 98)
Bảng thống kê về kết quả khảo sát của hai lớp 3A và 3B, 4A và 4B trước  khi dạy học thực nghiệm: - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Bảng th ống kê về kết quả khảo sát của hai lớp 3A và 3B, 4A và 4B trước khi dạy học thực nghiệm: (Trang 118)
Bảng 3.2: Bảng thời gian dạy học lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.  3.5.2. Thực nghiệm dạy mĩ thuật trong chương trình mĩ thuật chính khóa - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 3.2 Bảng thời gian dạy học lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. 3.5.2. Thực nghiệm dạy mĩ thuật trong chương trình mĩ thuật chính khóa (Trang 119)
Bảng 3.1:  Kết quả kiểm tra Chủ đề 2: Hoa văn trên trang phục của lớp - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra Chủ đề 2: Hoa văn trên trang phục của lớp (Trang 130)
Bảng 3.2: Bảng kết quả kiểm tra trước và sau khi vận dụng hoa văn - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Bảng 3.2 Bảng kết quả kiểm tra trước và sau khi vận dụng hoa văn (Trang 131)
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị - Nguồn Địa chí Quảng Trị - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị - Nguồn Địa chí Quảng Trị (Trang 149)
Hình 1.2. Bản đồ hành chính huyện Đakrông - Nguồn - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình 1.2. Bản đồ hành chính huyện Đakrông - Nguồn (Trang 150)
Hình 2.11. Khung dệt truyền thống của người Bru Vân - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình 2.11. Khung dệt truyền thống của người Bru Vân (Trang 157)
H3.2. Hình “A-Nun cây Bắp” Hoa văn truyền thống viền sau áo nữ Bru- - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
3.2. Hình “A-Nun cây Bắp” Hoa văn truyền thống viền sau áo nữ Bru- (Trang 167)
H3.3. Hình “tù vạt (lá Đoác)” Hoa văn truyền thống người Bru-Vân Kiều - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
3.3. Hình “tù vạt (lá Đoác)” Hoa văn truyền thống người Bru-Vân Kiều (Trang 168)
H5.3. Hình “Ơpờra ơpờrít (hàng rào), hoa văn truyền thống người Bru- - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
5.3. Hình “Ơpờra ơpờrít (hàng rào), hoa văn truyền thống người Bru- (Trang 184)
H5.4. Hình “A lít (dụng cụ quay bông thành sợi)”, hoa văn truyền thống - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
5.4. Hình “A lít (dụng cụ quay bông thành sợi)”, hoa văn truyền thống (Trang 185)
Hình thành đường kiến bò) là hoa văn truyền - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình th ành đường kiến bò) là hoa văn truyền (Trang 186)
HÌNH  ẢNH VỀ  HOẠT ĐỘNG TRẢ I NGHIỆ M THỰC T Ế C ỦA HỌC  VIÊN ĐỂ TÌM HI ỂU VỀ  HOA VĂN TRÊN TRANG PHỤ C DÂN TỘC BRU - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢ I NGHIỆ M THỰC T Ế C ỦA HỌC VIÊN ĐỂ TÌM HI ỂU VỀ HOA VĂN TRÊN TRANG PHỤ C DÂN TỘC BRU (Trang 210)
Hình hoa văn và sử dụng hoa văn để trang trí đồ vật - Khai thác hoa văn trang trí trên trang phục của người vân kiều vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học số 2 hướng hiệp, huyện Đakrông tỉnh quảng trị
Hình hoa văn và sử dụng hoa văn để trang trí đồ vật (Trang 221)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w