1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thảo luận về vấn Đề việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp hiện nay và Đề xuất những giải pháp khả thi

15 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thảo Luận Về Vấn Đề Việc Làm Cho Sinh Viên Sau Khi Tốt Nghiệp Hiện Nay Và Đề Xuất Những Giải Pháp Khả Thi
Tác giả Nguyễn Thị Mai Khanh
Người hướng dẫn TS. Trần Minh Hằng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa xã hội Việt Nam đương đại
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp Ngày nay, vấn đề việc làm là một nhu cầu cấp bách của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi nguồn nhân lực phong

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NHÂN HỌC 

Đề bài:

THẢO LUẬN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP HIỆN NAY VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP KHẢ THI

Giảng viên: TS Trần Minh Hằng Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Khanh

Lớp: K67 Nhân học Môn học: Văn hóa xã hội Việt Nam đương đại

Mã sinh viên: 22030616

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2024

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới giảng viên TS Trần Minh Hằng – người đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ em trong suốt quá trình học tập trong học phần Văn hóa xã hội Việt Nam đương đại, để giúp em hoàn thành bài tiểu luận cuối kỳ này một cách tốt nhất

Do chưa có nhiều kinh nghiệm và trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên bài tiểu luận này không tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung Em rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn, giúp

em có những kinh nghiệm quý báu trong những nghiên cứu sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2024

Sinh viên Khanh Nguyễn Thị Mai Khanh

Trang 3

1 Thực trạng việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp

Ngày nay, vấn đề việc làm là một nhu cầu cấp bách của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi nguồn nhân lực phong phú nhưng nền kinh tế chưa phát triển cao, do đó sẽ không có sự cân xứng trong mối quan hệ cung-cầu trên thị trường lao động trong một quốc gia [4, 5] Vấn đề việc làm luôn

là mối quan tâm của tất cả các nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình

độ đại học-cao đẳng Trong hệ thống giáo dục, giáo dục đại học có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động đã qua đào tạo từ 15 tuổi trở lên có chứng chỉ trong quý đầu năm 2021 là 13,26 triệu người [9] Vậy có hơn 6 triệu người có bằng đại học trở lên (chiếm 45,7%) Tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có bằng cấp/chứng chỉ là 26, tăng so với quý trước và cùng kỳ năm ngoái [10], đến quý

ba năm 2021, số công nhân đã qua đào tạo có trình độ sơ cấp trở lên là 13,1 triệu người, chiếm 26,1% lực lượng lao động

Phỏng vấn 7 sinh viên để hiểu rõ quan điểm và trải nghiệm của họ về vấn

đề việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp, trong đó có 2 sinh viên năm cuối đang làm đề án chuẩn bị tốt nghiệp và 3 sinh viên đã ra trường được 1-2 năm Từ

đó rút ra được những nguyên do cũng như những giải pháp cần thiết cho vấn đề này

Đánh giá về tình trạng sinh viên khó xin việc hiện nay, Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng, Tổng giám đốc BK-Holding, giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội cho biết, có rất nhiều lý do khiến sinh viên ra trường loay hoay tìm việc Theo đó, các em còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm làm việc Sinh viên có thể tự rèn luyện

và học hỏi trong quá trình học tập tại trường đại học Hay theo một khảo sát của Công ty Navigos Group vào năm 2023, hơn 60% nhà tuyển dụng cho biết họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm ứng viên đáp ứng đủ yêu cầu công việc Khi mà sinh viên mới ra trường nhưng lại pháp đáp ứng tiêu chí “có kinh nghiệm” mà các doanh nghiệp ra, quả thực là một bài toán nan giải với các sinh viên hiện nay

Mỗi năm, gần 400 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc cung cấp cho

xã hội hàng trăm nghìn lao động đã qua đào tạo Mơ ước có một công việc phù hợp với năng lực và chuyên ngành của mình không phải là điều đơn giản khi sinh viên không biết nhu cầu tương ứng để tìm việc - nhu cầu tuyển dụng Mùa tốt nghiệp cũng là mùa tuyển dụng của các công ty, thông tin tuyển dụng phong phú trên các trang web việc làm Số lượng việc làm cao, nhưng số lượng ứng viên cũng cao không kém Nhiều sinh viên chọn cách gửi hồ sơ xin việc vào nhiều vị trí tuyển dụng để tìm kiếm công việc phù hợp với chuyên môn của mình hoặc mở rộng cơ hội cho bản thân bằng cách vào một số ngành nghề gần gũi với ngành

Trang 4

họ đã được đào tạo, hoặc vì không tìm được công việc mong muốn, nhiều sinh viên tốt nghiệp phải chọn giải pháp tiếp tục học lên cao hơn

“Có quá nhiều thứ để tìm hiểu, quá là mông lung Mình cũng đã gửi những

hồ sơ xin việc đến những doanh nghiệp, những công ty nhiều đấy nhưng mà mình cũng có những sự khó khăn, có những sự thất bại”

(P.Đ.N, Khoa Công nghệ kỹ thuật ô tô, 21 tuổi) Tình trạng sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm đã là một vấn đề kéo dài nhiều năm nay Báo cáo phân tích về lĩnh vực giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 do Viện Hàn lâm Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với UNESCO tại Việt Nam thực hiện, trích dẫn dữ liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy rằng vào năm 2019, hơn 3% sinh viên tốt nghiệp cao đẳng và 2,8% sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở trình độ trung cấp chỉ là 1,1%

Qua khảo sát thấy được rằng tình hình chung của đại đa số sinh viên gặp phải là những kiến thức và kỹ năng mà sinh viên được học ở trường đại học vẫn còn chênh lệch lớn với những yêu cầu thực tế của thị trường lao động Nhiều sinh viên gặp khó khăn khi tìm kiếm công việc phù hợp với chuyên ngành của mình, các ngành học như công nghệ thông tin, kỹ thuật, tài chính, ngân hàng…đang có nhu cầu tuyển dụng cao, trong khi đó, nhiều sinh viên theo học những ngành không “hot” hay theo xu hướng thị trường thì không có cơ hội nghề nghiệp rõ ràng hoặc thiếu kỹ năng thực tế

“Hiện tại mình vẫn đi làm thêm, nhưng mà mình làm trái ngành trái nghề Mình đi chạy grab để có thu nhập và vẫn đang rải CV đợi phản hồi từ các công ty”

(T.T.H, Hán Nôm, 23 tuổi)

“Sau khi tốt nghiệp ra trường, mình cũng nộp hồ sơ ở khá nhiều nơi, nhưng

mà cái tỷ lệ được thông qua hồ sơ thì khá là ít, còn một số bị từ chối khá là nhiều Mình còn tìm đến cả trung tâm việc làm để tìm kiếm được công việc phù hợp hơn”

(T.T.N.T, Xã hội học, 22 tuổi)

Mô hình giáo dục truyền thống chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động, cũng như không phản ánh đầy đủ kỹ năng mềm cần thiết Nhiều trường vẫn đang giảng dạy theo xu hướng thụ động, chưa tạo được sự tương tác cần thiết giữa người dạy và người học, thiếu các hoạt động giúp sinh viên chủ động tiếp cận kiến thức khiến cho kiến thức trở nên khó hiểu, nhàm chán Các hoạt động còn thiếu đó cũng chính là các kỹ năng mềm mà các doanh nghiệp đang cần ở các nhân sự của mình Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ

Trang 5

có thể tạo ra những biến động lớn trong yêu cầu về kỹ năng lao động, ảnh hưởng đến khả năng tìm việc của sinh viên

Thế nhưng, cũng có một số trường hợp sinh viên sau khi tốt nghiệp đã tìm được những công việc đúng ngành, đúng nghề và quan trọng là đúng sở thích của bản thân Để có được điều này, sinh viên đã định hướng từ rất sớm những thế mạnh, sở thích của bản thân từ đó tích cực trau trên giảng đường, từ đó mở rộng

cơ hội việc làm cho bản thân

“Có liên quan đến những thứ mà mình có định hướng và mình đang mong muốn hoc tập Thứ nhất, về công việc giáo viên tiếng Pháp chẳng hạn, thì mình

đã học chuyên Pháp từ cấp 3 và lên Đại học thì mình vẫn tiếp tục theo đuổi ngoại ngữ là tiếng Pháp Còn đối với công việc trợ lý marketing truyền thông, thì ngay

từ cấp 3 mình đã tham gia vào CLB Truyền thông của trường, lên Đại học thì tham gia vào CLB Marketing của Học viện Ngoại giao Từ những định hướng đó thì các công việc hiện tại đều liên quan đến những trải nghiệm trong quá khứ mà mình đã từng làm”

(N.M.A, Học viện Ngoại giao, 23 tuổi)

Kể từ năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các trường công bố

tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp và đưa thông tin này lên trang web của trường cùng với các nội dung công khai cam kết về chất lượng đào tạo, nguồn lực cho đào tạo, doanh thu và chi phí tài chính [11] Tuy nhiên, nội dung công bố

tỷ lệ sinh viên có việc làm chỉ thực hiện mang tính hình thức bởi các trường Ngoài một số trường cung cấp số liệu chi tiết, nhiều trường chỉ cập nhật các thông tin chính thức, chung chung như: “Hầu hết sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành đào tạo sau khi tốt nghiệp” Trong khi đó, đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học, đây là một tiêu chí quan trọng Ở nhiều quốc gia, bảng xếp hạng đại học dựa trên tỷ lệ phần trăm sinh viên tốt nghiệp có việc làm với thông tin về công việc, lương bổng và công ty Dữ liệu được cập nhật định kỳ sau mỗi năm học hoặc hàng năm Đáng chú ý là ngay cả những trường đưa ra các con số chi tiết, mà tính xác thực chưa được xác minh, cũng khiến nhiều người "bối rối" khi so sánh với

số lượng cử nhân thất nghiệp trên thị trường lao động Nhiều cơ sở giáo dục đại học công bố rằng tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp đạt hơn 90%, thậm chí 97-98%

Tiểu kết: Nhìn chung tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp vẫn đang gặp phải khá nhiều bất cập Tỷ lệ thất nghiệp cao, việc làm không phù hợp,

kỹ năng mềm chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng là những vấn đề đáng báo động Tuy nhiên, bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ đã chủ động trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết, sẵn sàng đối mặt với những khó khăn

Trang 6

Để giải quyết vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tạo ra một môi trường làm việc thuận lợi và đáp ứng nhu cầu của cả người lao động và nhà tuyển dụng

2 Nguyên nhân

Thiếu định hướng nghề nghiệp

Nguyên nhân đầu tiên được xác định là sinh viên thiếu định hướng nghề nghiệp Việc này sẽ dẫn đến việc chọn ngành nghề không phù hợp với bản thân, gây ra tình trạng chán nản, chần chừ không muốn tìm việc vì không biết nên tìm công việc gì là tốt nhất cho mình Tại thị trường Việt Nam, thường có tới 40% việc định hướng nghề nghiệp phụ thuộc vào phụ huynh Với tâm lý mong muốn con em mình sau khi ra trường sẽ có được một công việc ổn định, các bậc cha mẹ vẫn thường thiên về những ngành nghề an toàn hoặc những ngành đang “hot” tại thời điểm đó (ví dụ: các ngành về kinh tế, sư phạm, IT, ) Việc định hướng cho con cái theo nghề cha mẹ “cho là tốt” mà không quan tâm đến khả năng hay sở thích của con cái khiến cho sinh viên theo học những ngành đó dễ bị nản và bỏ học giữa chừng Một số khác được tự do lựa chọn ngành học và ngay cả trong quá trình học lại không có một sự định hướng cụ thể, việc sinh viên theo học chuyên môn hiện tại của mình đôi khi xuất phát từ một điều ngẫu nhiên hay đơn giản chỉ là đáp ứng được nhu cầu “có bằng đại học”

“Mình theo ngành này vì cũng có phần yêu thích ô tô, với cả con trai thì theo các ngành kỹ thuật mình thấy khá là phù hợp, chứ lúc chọn ngành mình cũng không bận tâm quá nhiều”

(P.Đ.N, Khoa Công nghệ kỹ thuật ô tô, 21 tuổi)

TS Trịnh Văn Tùng và Ths Phạm Huy Cường, Trường ĐH KH XH & NV

- ĐHQGHN đã có nghiên cứu điều tra sự gắn bó giữa ngành đào tạo và nghề kì vọng nhìn từ góc độ hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp của/cho SV ĐHQGHN Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, một bộ phận lớn sinh viên sau khi

đã đi gần hết quá trình đào tạo trong trường đại học, chuẩn bị bước vào môi trường lao động nghề nghiệp, thì họ còn thiếu một định hướng đầy đủ và cụ thể cho nghề nghiệp của mình

“Mình học không giỏi lắm các môn tự nhiên, nên ngành học mình ưu tiên các ngành về xã hội nhưng mình trượt mấy ngành điểm cao rồi nên đành học ngành này Lúc đấy cũng có hơi thất vọng, những nghĩ thôi cứ học trước đã rồi sau này ra trường tính sau”

(T.T.H, ngành Hán Nôm, 23 tuổi) Một vấn đề nữa là các chương trình đào tạo hiện nay chủ yếu tập trung vào lý thuyết, trong khi đó các kỹ năng thực tế, sự hiểu biết về thị trường lao động

Trang 7

và các cơ hội nghề nghiệp lại chưa được đề cập đầy đủ Điều này khiến sinh viên không thể xác định được sở thích, năng lực cũng như những yêu cầu thực tế của công việc Thêm vào đó, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và xu hướng nghề nghiệp cũng khiến cho sinh viên dễ bị lạc lõng và khó khăn trong việc bắt kịp yêu cầu công việc Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng lao động mà còn gây ra áp lực lớn cho các sinh viên khi bước vào thị trường việc làm, làm giảm hiệu quả của quá trình chuyển giao từ học đường sang môi trường công sở

Thị trường lao động cạnh tranh

Mỗi năm, hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, tạo ra một lượng lớn nguồn nhân lực, trong khi đó, cơ hội việc làm lại không tăng tương xứng Điều này dẫn đến tình trạng cung vượt cầu, khiến các sinh viên phải cạnh tranh khốc liệt để giành lấy những vị trí công việc có sẵn Trong quá trình

đi tìm việc làm, các sinh viên không chỉ phải cạnh tranh với các bạn mới ra trường giống mình mà còn phải cạnh tranh hẳn với những anh chị đã có 2-3 năm kinh nghiệm Hơn thế nữa, sinh viên đang phải đối mặt với việc các doanh nghiệp cắt giảm hoặc ngừng tuyển nhân sự do tình hình kinh tế khó khăn khiến cho việc cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn Theo một khảo sát của Navigos Group công

bố vào tháng 3/2024, gần 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát chọn cắt giảm nhân sự, hơn một nửa số công ty cũng tạm ngừng tuyển dụng mới Điều này dẫn đến cơ hội việc làm cho sinh viên mới ra trường bị thu hẹp

Các nhà tuyển dụng thường ưu tiên những ứng viên có kinh nghiệm làm việc, kỹ năng chuyên môn vững vàng, cũng như khả năng thích ứng nhanh chóng với công việc thực tế Vì vậy, những sinh viên vừa mới ra trường, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng thực tế, thường gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với những ứng viên có kinh nghiệm lâu năm hoặc đã có sự chuẩn bị tốt từ trước Hơn nữa, trong một số ngành nghề, mức lương và phúc lợi lại không hấp dẫn, làm cho sự cạnh tranh càng trở nên khốc liệt hơn Tình trạng này không chỉ tạo áp lực lớn lên sinh viên mà còn khiến họ dễ rơi vào tình trạng thất nghiệp dài hạn hoặc phải chấp nhận công việc không đúng chuyên môn, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội

“Mình tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm nhưng mà chưa xin được việc làm với lại đang chạy thêm để kiếm thêm thu nhập thôi Thu nhập của mình không

ổn định, ở Hà Nội này nên mình phải làm thêm các công việc như chạy xe, chạy ship để kiếm thêm thu nhập Lương thì ít nhưng mình phải cố gắng thôi, áp lực lắm!”

(N.N.H, Đại học Sư phạm, 23 tuổi)

Trang 8

Áp lực cạnh tranh đang khiến cho các sinh viên phải “ngụp lặn” rải CV khắp mọi nơi và phải chấp nhận làm bán thời gian hay phải xoay xở nhiều nghề những công việc không đúng với ngành học để trang trải cho cuộc sống Theo số liệu được đưa ra ở hội thảo “Trầm cảm - Hãy cùng trò chuyện” do Viện Sức khỏe Tâm thần tổ chức, gen Z là một thế hệ bùng nổ trong lo âu, 75% vấn đề sức khỏe xảy ra ở tuổi 24, có ⅙ giới trẻ đang xảy ra trình trạng lo âu và tìm kiếm việc làm xây dựng sự nghiệp chính là một trong những lo âu đó

Thiếu kinh nghiệm

Nhiều sinh viên tốt nghiệp mà không có kinh nghiệm thực tế trong ngành nghề mình theo học Với nhiều nhà tuyển dụng, “kinh nghiệm làm việc” chính là phần đầu tiên trong CV ứng viên họ tìm đọc, vì thông qua những thông tin này

họ mới biết được những công việc mà ứng viên đã làm trước đó để cân nhắc xem

có phù hợp với vị trí đang tuyển dụng hay không nhưng đó cũng là điểm yếu của nhiều sinh viên mới ra trường Tất nhiên trong những bài tư vấn tuyển dụng vẫn

có những lời động viên rằng “Kinh nghiệm của người mới ra trường là những hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học tại nhà trường” Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, những “kinh nghiệm” đó chưa bao giờ là đủ

“Mình đã nộp CV ở một số nơi, thế nhưng mà do mình vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm và CV của mình vẫn còn khá là trống nên là mình vẫn chưa được chấp nhận hồ sơ”

(B.T.Q, ngành Truyền thông, 21 tuổi)

“Đa phần bọn mình đi làm toàn trái với ngành mình đang học, nên thành

ra lúc ra trường lại không có kinh nghiệm với chuyên ngành của mình đã chọn”

(P.Đ.N, Khoa Công nghệ kỹ thuật ô tô, 21 tuổi) Mặc dù đã hoàn thành chương trình học tại các trường đại học, cao đẳng, nhưng phần lớn sinh viên không có cơ hội thực hành, áp dụng kiến thức vào công việc thực tế trong suốt quá trình học Các chương trình học chủ yếu tập trung vào

lý thuyết, trong khi những kỹ năng thực tế như giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, hay quản lý thời gian lại không được chú trọng đầy đủ Do đó, khi bước vào thị trường lao động, nhiều sinh viên thiếu khả năng thích ứng nhanh chóng với yêu cầu công việc, nhất là khi các nhà tuyển dụng thường ưu tiên những ứng viên có kinh nghiệm thực tế Mặc dù các công ty sẵn sàng đào tạo nhân viên mới, nhưng việc thiếu kinh nghiệm vẫn là yếu tố cản trở lớn đối với nhiều sinh viên khi họ phải cạnh tranh với các ứng viên đã có kinh nghiệm làm việc Thêm vào đó, sự thiếu kinh nghiệm cũng khiến sinh viên cảm thấy thiếu tự tin, gây khó khăn trong quá trình phỏng vấn và hội nhập vào môi trường làm việc chuyên nghiệp

Trang 9

Điều trên cũng dẫn đến một vấn đề là hiện nay các sinh viên “fake” CV khá là nhiều, nhằm qua mắt các nhà tuyển dụng và nâng cao cơ hội được trúng tuyển của bản thân Có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác tuyển dụng, bà Vi Nguyễn, Trưởng phòng nhân sự, Công ty trách nhiệm hữu hạn Endress + Hauser Vietnam cho rằng, ngày càng có nhiều người trẻ khi đi xin việc, làm tốt kỹ năng viết CV Tuy nhiên, có một số người chỉ vì để CV được “mười phân vẹn mười”

mà tô vẽ hồ sơ quá đà, thổi phồng bản thân không đúng với thực lực Việc ứng viên thổi phồng CV quá mức có thể gây khó khăn và mất thời gian cho cả hai bên trong quá trình tuyển dụng

Thiếu kỹ năng thực tế

Việc cạnh tranh trở nên khó khăn một phần cũng là do thiếu kỹ năng thực

tế ở sinh viên Mặc dù sinh viên có nền tảng kiến thức lý thuyết vững vàng, nhưng nhiều bạn lại thiếu các kỹ năng thực tế cần thiết để đáp ứng yêu cầu công việc, như kỹ năng giao tiếp, quản lý thời gian, làm việc nhóm, hay kỹ năng sử dụng các công cụ và phần mềm chuyên môn Điều này khiến họ khó có thể hòa nhập vào công việc ngay sau khi ra trường Đánh giá về tình trạng sinh viên khó xin việc hiện nay, Tiến sĩ Nguyễn Trung Dũng, Tổng giám đốc BK-Holding, giảng viên Đại học Bách Khoa Hà Nội cho biết, “Nhiều sinh viên tốt nghiệp cũng gặp hạn chế khi tìm kiếm việc làm tại các doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hoặc công ty đa quốc gia vì trình độ ngoại ngữ chưa tốt, thiếu

kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản biện…”,

“Ngoài việc thiếu kinh nghiệm ra, bọn mình cần phải trau dồi kiến thức về giao tiếp xã hội, riêng mình thì vẫn đang gửi các hồ sơ tại các showroom, đại lý

để tìm việc phù hợp với mình”

(Đ.H.T, Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, 21 tuổi) Các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay cũng chưa làm tốt chuyên môn của mình khi các chương trình học đại học còn nhiều bất cập như học dàn trải, không trọng tâm vào chuyên ngành, thực hành, thực tập quá ít (trừ ngành y là được thực hành nhiều), và do chương trình học ko bắt kịp đúng với nhu cầu thực

tế của doanh nghiệp Hầu hết các trường vẫn tập trung chủ yếu vào việc giảng dạy kiến thức lý thuyết, trong khi đó các kỹ năng thực hành và ứng dụng trong công việc chưa được chú trọng đầy đủ Sinh viên thường không có nhiều cơ hội

để thực tập hoặc tham gia vào các dự án thực tế trong suốt quá trình học, điều này khiến họ không thể rèn luyện và phát triển các kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian hay giải quyết vấn đề Thêm vào đó, một số ngành học cũng không có sự kết nối chặt chẽ với các doanh nghiệp, khiến sinh viên không được tiếp xúc với môi trường làm việc thực tế trong suốt thời gian học Mặc dù

Trang 10

có thể tham gia các khóa học ngoại khóa hay chương trình tình nguyện, nhưng những cơ hội này vẫn chưa đủ để giúp sinh viên trau dồi các kỹ năng thực tế cần thiết Kết quả là khi ra trường, sinh viên gặp khó khăn trong việc thích ứng nhanh chóng với công việc, từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh và gia nhập thị trường lao động

Tiểu kết: Từ những phân tích về các nguyên nhân dẫn đến những bất cập

trong vấn đề việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, có thể thấy rằng vấn đề này không chỉ xuất phát từ một yếu tố duy nhất mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố Thiếu kinh nghiệm thực tế, sự chênh lệch giữa kiến thức lý thuyết và yêu cầu công việc, cùng với sự thiếu định hướng nghề nghiệp và kỹ năng thực tế là những yếu tố chính tạo ra khó khăn cho sinh viên khi bước vào thị trường lao động Bên cạnh đó, sự thiếu kết nối giữa các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp cũng khiến sinh viên không có đủ cơ hội tiếp xúc với môi trường làm việc thực tế, từ đó không thể phát triển được những kỹ năng cần thiết Để giải quyết những vấn đề này, cần

có sự thay đổi từ cả phía các cơ sở giáo dục lẫn doanh nghiệp, nhằm giúp sinh viên có sự chuẩn bị tốt hơn, giảm thiểu những bất cập trong quá trình tìm kiếm

việc làm

3 Giải pháp

Tư vấn nghề nghiệp

Nhận thấy nhiều sinh viên sau khi nhập học tại trường nhưng không định hình được chuyên ngành mình đang theo học, không biết bản thân mình thích gì? Ngành nghề nào phù hợp? Do đó, trong những năm gần đây, một số trường đại học đã tổ chức nhiều hoạt động tư vấn nghề nghiệp cho sinh viên, đặc biệt là trong năm thứ nhất Việc tư vấn nghề nghiệp nhắm đến 2 đối tượng, thứ nhất là học sinh trung học phổ thông và thứ hai là sinh viên năm nhất Đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất, việc được tư vấn nghề nghiệp từ khoảng thời gian đầu này giúp sinh viên xác định mục tiêu nghề nghiệp của mình lần cuối và nếu cần thiết,

có thể thay đổi ngay từ giai đoạn học các môn học chung

Với sự kết hợp nhiều hình thức tư vấn khác nhau, trong đó, dần dần chuyển đổi các hoạt động tư vấn trực tiếp sang sự kết hợp giữa tư vấn trực tuyến

và trực tiếp, tận dụng tốt các thế mạnh và nền tảng công nghệ hiện có và tập trung vào các kênh truyền thông xã hội như YouTube hay TikTok Các khoa trong trường phải chủ động phát triển nội dung tư vấn về các ngành đào tạo của mình (đặc điểm, yêu cầu, triển vọng phát triển, nhu cầu xã hội ) Các hình thức truyền tải sáng tạo và phong phú như video clip, kịch, tiểu phẩm…

Giải pháp này để thúc đẩy tốt yêu cầu đầu tư vào nội dung, sự hợp tác của các Khoa dưới sự chủ trì của một đơn vị chuyên môn, và một đội ngũ cộng tác

Ngày đăng: 12/12/2024, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. timviec365.vn. (2024, 3 26). Thực trạng việc làm của sinh viên mới ra trường. Được truy lu ̣c từ timviec365: https://timviec365.vn/blog/thuc-trang-viec-lam-cua-sinh-vien-sau-khi-ra-truong-new1877.html#thuc-trang-viec-lam-cua-sinh-vien-moi-ra-truong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng việc làm của sinh viên mới ra trường
3. Tu, D. T. (2024). Improving Students' Employability in Ho Chi Minh City. Ho Chi Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improving Students' Employability in Ho Chi Minh City
Tác giả: Tu, D. T
Năm: 2024
4. Thảo, M. (2024, 9 27). Khó tìm việc sau tốt nghiệp, điểm yếu của sinh viên nằm ở đâu? Đươ ̣c truy lu ̣c từ Kinh tế Sài Gòn Online: https://thesaigontimes.vn/kho- tim-viec-sau-tot-nghiep-diem-yeu-cua-sinh-vien-nam-o-dau/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó tìm việc sau tốt nghiệp, điểm yếu của sinh viên nằm ở đâu
8. Vuong Phuong Hoa, "Applying Paul A. Samuelson's theory of the state's role in the market in the Socialist-oriented market economy in Vietnam", Grassroots scientific topic, code number T2021-04-10, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applying Paul A. Samuelson's theory of the state's role in the market in the Socialist-oriented market economy in Vietnam
9. Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs: “Report on results of labor and employment survey in 2008 and the first 6 months of 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on results of labor and employment survey in 2008 and the first 6 months of 2010
5. Ho Chi Minh, Complete works, the National Political Publishing House Su That, Hanoi, 2011, tomb 3, p. 458 Khác
6. Ho Chi Minh: On culture, Ho Chi Minh Museum, Hanoi, 1997, p. 11 Khác
7. Presidential statistics (2001-2020), statistical yearbooks 2001, 2010, 2019, 2020, 2021, 2022 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w