1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hàng hóa công nghệ việt nam cạnh tranh và đứng vứng trên thị trường quốc tế

66 262 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 342,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới cả công nghệ và cách quản lý để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra.. + Đối với các doanh

Trang 1

Lời nói đầu

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới hiện nay, nước ta đã có chủ trương mở cửa kinh tế với các nước trên thế giới Các loại hàng hóa đã được xuất khẩu và nhập khẩu nhiều hơn ( kim ngạch xuất nhập khẩu luôn tăng theo các năm) Nước ta là một nước đang phát triển nên thế mạnh xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng nông nghiệp, các sản phẩm của ngành công nghiệp nhẹ như hàng dệt may, giầy dép Và nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp nặng, các mặt hàng

kỹ thuật cao như máy móc, thiết bị, công nghệ mới để phục vụ cho sản xuất, cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Và nhà nước ta có chủ trương đẩy mạnh quá trình hội nhập với nề kinh tế thế giới, thông qua hoạt động xuất nhập khẩu thì chung ta sẽ hiểu biết hơn về các nước mà chung ta giao dịch Trong các mặt hàng nhập khẩu hiện nay của nước ta có một số mặt hàng chúng

ta phụ thuộc quá nhiều vào thị trường nước ngoài Như mặt hàng sắt thép nhập khẩu vừa qua đã tăng lên gấp 1,5 lần, trước đó khoảng một năm chúng ta vẫn còn đang ứ đọng rất nhiều thép trong các nhà máy sản xuất thép Với lý do này em đã quyết định chọn công ty Thanh Bình HTC để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp Công ty Thanh Bình HTC là chuyên nhập khẩu các mặt hàng thép công nghiệp

về để phân phối và chế biến cho thị trường trong nước Như vậy công ty vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại vừa hoạt động sản xuất các sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh Do đó em đã chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là: “một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá tại công ty thanh bình htc.”

Trang 2

Em xin chân thành cám ơn các cô chú, anh chị trong công ty Thanh Bình HTC và thầy giáo Th.s Bùi Huy Nhượng đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài viết này

Sinh viên: Mai Hoàng Tùng

Chương I: Những vấn đề chung về nhập khẩu hàng hoá

1.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của nhập khẩu hàng hoá

1.1.1 Khái niệm nhập khẩu

* Khái niệm: Nhập khẩu là việc mua bán và trao đổi hàng hoá dịch vụ của nước này với nước khác, trong giao dịch dùng ngoại tệ của một nước hay một ngoại tệ mạnh trên thế giới để trao đổi

* Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu:

- Hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua bán quốc tế, nó là một hệ thống các quan hệ mua bán rất phức tạp và có tổ chức từ bên trong ra bên ngoài Vì thế hoạt động nhập khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nó cũng có thể gây những hậu quả do tác động với cả hệ thống kinh tế bên ngoài, mà một quốc gia tham gia nhập khẩu không thể khống chế được

- Hoạt động nhập khẩu được tổ chức, thực hiện nhiều nhiệm vụ, nhiều khâu khác nhau Từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá nhập khẩu, giao dịch, tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng cho đến khi nhận hàng hoá và thanh toán Các khâu, các nhiệm vụ phải được nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng để nắm bắt được những lợi thế và đạt được kết quả mà mình mong muốn

Trang 3

- Hoạt động nhập khẩu là hoạt động giao dịch buôn bán giữa những người

có quốc tịch khác nhau Với đặc điểm thị trường rộng lớn, khó kiểm soát, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một nước hoặc cả hai,và các quốc gia khác nhau khi tham gia vào hoạt động nhập khẩu phải tuân theo những phong tục tập quán của địa phương, và các thông lệ quốc tế

- Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên phậm vi rất rộng cả về không gian và thời gian Nó có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hoặc trên nhiều quốc gia khác trên thế giới, và có thể chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài hàng năm

- Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên moi lĩnh vực, có thể hàng hoá nhập khẩu

là hàng tiêu dùng hay là các tư liệu sản xuất, các máy móc thiết bịvà cả công nghệ kỹ thuật cao Nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia nhập khẩu

1.1.2 Chức năng của nhập khẩu:

- Hoạt động nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân thông qua việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở sử dụng những khả năngvà lợi thế so sánh của phân công lao động quốc tế, năng lực của các quốc gia trên thế giới

- Hoạt động nhập khẩu khai thác năng lực và thế mạnh về hàng hoá, công nghệ, vốn, lao động… của các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất, tiêu dùng trong nước phát triển Trên cơ sở đó nền sản xuất trong nước tiếp thu được tiến bộ về khoa học công nghệ của thế giới, và được sử dụng những hàng hoá, dịch vụ vừa tốt vừa rẻ

Trang 4

- Hoạt động nhập khẩu làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo hướng có lợi cho việc phát triển sản xuất

và nâng cao đời sống cho nhân dân Hoạt động nhập khẩu góp phần làm cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhành, cân đối và đạt tốc độ tăng trưởng cao

- Hoạt động nhập khẩu giúp cho các nước đang phát triển đảy nhanh quá trình liên kết kinh tế, mở rộng thị trường và bạn hàng Góp phần vào sự ổn định nền kinh tế và chính trị trong nước

- Hoạt động nhập khẩu phát triển sẽ giúp cho các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như: thông tin liên lạc quốc tế, tài chính tín dụng quốc tế, du lịch… được mở rộng, các chính sách hợp tác và đầu tư quốc tế cũng phát triển

- Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện các nước khác sẽ chú ý đến làm cho nền sản xuất phát triển, thu hút đầu tư có điều kiện cân đối xuất nhập khẩu, tiến tới xuất siêu

1.1.3 Vai trò của nhập khẩu hàng hoá

Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế, nó tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất, và đời sống nhân dân( thông qua tiêu dùng hàng nhập khẩu) Thông qua nhập khẩu sẽ tăng cường được cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho quá trình sản xuất, và người dân được tiêu dùng các sản phẩm mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu Hoạt động nhập khẩu có những vai trò chủ yếu sau đây: + Đối với nền kinh tế thế giới:

- Thông qua hoạt động nhập khẩu các quốc gia trên thế giới có điều kiện hiểu

rõ về phong tục tập quán, văn hoá chính trị … về nhau hơn Qua đó sẽ góp phần

Trang 5

đẩy nhanh quá trình hội nhập hoá nền kinh tế giữa các nước, khai thác triệt để về lợi thế so sánh của nước mình và sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên một cách hợp lý hơn

- Hoạt động nhập khẩu sẽ kích thích việc sản xuất và tiêu dùng trong mỗi nước phát triển hơn Làm cho khối lượng hàng hoá và nhu cầu trong nề kinh tế thế giới tăng lên, từ đó mức sông của người dân được nâng cao

- Từ hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các nước kém phát triển hoặc đang phát triển có cơ hội học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong quản lý, tiếp thu được các thành tựa khoa học kỹ thuật Phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước

- Hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho quá trình liên kết kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực được đẩy mạnh hơn Làm cho quá trình phân công lao động quốc tế diễm ra trên toàn thế giới Tao uy tín cho mỗi quốc gia thành viên được nâng cao Các hoạt động đối ngoại khác như bảo hiểm, du lịch, dịch vụ thương mại cũng phát triển nhanh chóng

+ Đối với nền kinh tế VIệt Nam:

Nước ta là một nước đang phát triển do đó nhập khẩu hnàg hoá là một tất yếu

để phục vụ cho quá trình phát triển nền kinh tế, và đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Như vậy hoạt động nhập khẩu có một vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam:

- Nhập khẩu các thiết bị xây dựng sẽ giúp cho quá trình xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật được rút ngắn thời gian và công sức Tạo điều kiện phát triển nền kinh tế với các dây truyền trang thiết bị hiện đại, thông qua nhập khẩu các thiết bị hiện

Trang 6

đại sẽ làm cho đội ngũ lao động của nước ta nâng cao tay nghề và kiến thức, các nhà quẩn lý có điều kiện trao dồi những kiến thức về trình độ và công tác quản

- Nhập khẩu hàng hoá sẽ làm đa dạng các mặt hàng và chủng loại hàng hoá, người tiêu dùng sẽ lựa chọn được những hàng hoá phù hợp với thu nhập của mình Qua đó sẽ góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân Thông qua hoạt động nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hoá thiếu hụt trong nước do sản xuất trong nước không đáp ứng đủ hoặc chưa sản xuất được

- Nhờ nhập khẩu mà ngành sản xuất trong nước sẽ đào thải được các đơn vị có năng lực sản xuất yếu kém không có sức cạnh tranh Thông qua hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới cả công nghệ và cách quản lý để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất ra Tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường trong nước và dần dần tiến tới xuất khẩu

- Nhập khẩu sẽ tao cơ hội cho nước ta mở rộng được quan hệ ngoại giao với các nước khác từ đó tranh thủ sự ủng hộ của họ để phát triển kinh tế của mình + Đối với các doanh nghiệp:

- Thông qua hoạt động nhập khẩu các doanh nghiệp phải đổi mới cải tiến công nghệ chất lượng, dịch vụ sản phẩm để tăng sức canh tranh của sản phẩm nội địa Qua đó hiệu quả sản xuất được nâng cao, người lao động tìm đước việc làm, đời sông cán bộ công nhân được nâng cao

- Hoạt động nhập khẩu là hoạt động trên phạm vi quôc tế rất phức tạp vì có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về văn hoá, chính trị, tập quán, ngôn ngữ… Vì vậy, buộc các doanh nghiệp nhập khẩu phải luôn hoàn thiện và đổi

Trang 7

mới công tác quản trị kinh doanh, các cán bộ, các cá nhân luôn phải học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ… Điều đó lam,f nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp

- Hoạt động nhập khẩu hàng hoá có vai trò làm tăng thế lực và uy tín của công

ty cả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế Lợi nhuận do kinh doanh đem lại cho phép công ty xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đòi sống cán bộ công nhân viên, góp phần giải quyết vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện và phát triển mối quan hệ trong kinh doanh

- Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nước một cách tự giác, xuaqát phát từ lợi ích cuảe cả hai bên, tạo ra sức mạnh chủ thể trong doanh nghiệp một cách thiết thực

Như vậy nhập khẩu có ý nghiã quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, nó tồn tại như là một nhu cầu cần thiết

1.2 Các hình thức của hoạt động nhập khẩu

1.2.1 Nhập khẩu thông thường(nhập khẩu trực tiếp)

Khái niệm: Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá dịch vụ mà không qua tổ chức trung giam nào

Đặc điểm:

- Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí và rủi ro, trách nhiệm pháp lý về hoạt động nhập khẩu hàng hoá đó

Trang 8

- doanh nghiệp phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế liên quan đến hàng hoá nhập khẩu về

- Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu dược cao hơn nhiều so với các hình thức nhập khẩu khác doanh nghiệp nhập khẩu là người bán hàng trực tiếp cho khách hàng trong nước, vì vậy hàng hoá nhập khẩu về phải có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp thì doanh nghiệp mới có thu được lãi cao

1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác

Khái niệm: nhập khẩu uỷ thác là hạot động hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gia nhập khẩu trực tiếp, nên phải uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch tiến hành nhập khẩu theo yêu cậu của mình Bên uỷ thác

sẽ tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên đi uỷ thác và nhận được nhận một khoản thu lao gọi là phí uỷ thác.( Nói cách khác nhập khẩu uỷ thác là doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu )

Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác:

- Trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhận uỷ thác không phải bỏ vốn, nghiên cứu thị trường…của hàng hoá nhập khẩu mà chỉ đóng vai trò làm đại diện bên uỷ thác giao dịch với nước ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng Và phải thay mặt bên uỷ thác khiếu nại( nếu có), đòi bồi thường nếu

bị tổn thất

- Bên uỷ thác phải tự nghiên cứu thị trường, lựa chon mặt hàng, đối tượng giao dịch và chịu mọi chi phí liên quan

Trang 9

- Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì doanh nghiệp chỉ được tính phí uỷ thác chứ không được tính doanh thu và không phải chịu thuế doanh thu

- Khi nhập khẩu uỷ tác thị doanh nghiệp nhận uỷ thác phải lập hai hợp đồng

là hợp đồng ngoại thương giữa doanh nghiệp với đối nước ngoài và một hợp đồng giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp uỷ thác

- Hình thức nhập khẩu uỷ thác có ưu điểm là mức độ rủi ro thấ, trách nhiệm

ít, người đứng ra nhập khẩu phải chịu tránh nhiệm cuối cùng, không cần bỏ vốn, nhận tiền phí uỷ thác nhanh và ít thủ tục Nhưng phí uỷ thác không cao

Quy định của chính phủ Việt Nam về nhập khẩu uỷ thác:

- Doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc mã số doanh nghiệp nhập khẩu được uỷ thác nhập khẩu hàng hoá phù hợp với nội dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- việc uỷ thác nhập khẩu và việc nhận uỷ thác nhập khẩu các mặt hàng nhập khẩu phải có điều kiện do bộ thương mại hướng dẫn cụ thể

- Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên uỷ thác nhập khẩu và bên nhận uỷ thác nhập khẩu do các bên tham gia kí kết thoả thuận

1.2.3 Nhập khẩu liên doanh

Khái niệm: nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ năng để giao dịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu,thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãi cung chia lỗ cùng chịu

Đặc điểm:

Trang 10

- So với nhập khẩu thông thường thì nhập khẩu liên doanh giúp cho doanh nghiệp chịu ít rủi ro hơn vì mỗi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên cũng tăng lên theovốn góp Việc phân chi chi phí các loại thuế theo tỷ lệ góp vốn, lỗ lãi tuỳ theo hai bên phân chia

- Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhập hàng về sẽ được tính kim nghạch nhập khẩu nhưng hki dưa hàng về tiêu thụ thì chỉ tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ góp vốn à chịu thuế doanh thu trên số hàng

đó

- Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp phải thực hiện hai hợp đồng một là hợp đồng mua hàng với nước ngoài một là hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác

1.2.4 Nhập khẩu đổi hàng

Khái niệm: nhập khẩu đổi hàng là một phương pháp trao đổi hàng hoá, trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bán cũng đồng thời là người mua,lượng hàng trao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương nhau Mục đích của hoạt động nhập khẩu đổi hàng là không chỉ có lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu mà còn để xuất khẩu hàng có lãi

Trang 11

- Hình thức của hợp đồng nhập khẩu đổi hàng là có thể chỉ lập bằng một hợp đồng với hai danh mục hàng hóa hoặc hai hợp đồng mà mỗi hợp đồng một danh mục hàng hóa

- Trong trường hợp nhập khẩu đổihàng thường có điều kiện đảm bảo đối lưu Sự đảm bảo này có thể được thực hiện bởi một trong những phương pháp: dùng thư tín dụng, dùng một tài khoản đặc biệt tại ngân hàng, dùng người thứ ba…

1.2.5 Nhập khẩu tái xuất

Khái niệm: nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào trong nước nhưng không phả để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước khác nhằm thu được lợi nhuận cao hơn, những hàng nhập khẩu này không qua chế biến ở nước tái xuất Nhưvậy nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia đó là nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất

Trang 12

Khái niệm: nhập khẩu theo đơn đặt hàng là hình thức đơn vị ngoại thương chịu mọi chi phí và rủi ro để nhập khẩu hàng hóa cho đơn vị đặt hàng trên cơ sở đơn đặt hàng của đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền

Đặc điểm:

- Đơn vị ngoại thương phải kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài theo đúng đơn đặt hàng về tên hàng, số lượng,quy cách, chất lượng và điều kiện, thời gian giao hàng

- Đối với hình thức này phương thức thanh toán thường áp dụng là: nhờ thu

có chấp nhận, có cải tiến

Với các hình thức nhập khẩu đa dạng như trên việc pá dụn hình thức nào cho hợp lý còn phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp nhập khẩu, nhu cầu trong nướ

và phù hợp với quy định của pháp luật

1.3 Khái niệm, vai trò và các hình thức cạnh tranh:

-Khái niệm: Ngày nay các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh vầ coi cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sẹ phát triển mà cồn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, tạo động lực phát triển Do đó quan điểm cạnh tranh như sau: cạnh tranh là cuộc đấu gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau

về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển

Cạnh tranh diễn ra ở mọi nơi và ở mỗi nơi một hình thái cạnh tranh lại có đặc điểm riêng và phạm vi riêng Để hiểu được cạnh tranh chúng ta có thể tìm hiểu

về khái niệm lợi thế cạnh tranh và môi trường cạnh tranh:

Trang 13

Lợi thế cạnh tranh : là một khái niệm cơ bản của quản lý chiến lược, việc tạo ra

và giữ được nó là tất cả những gì quản lý chiến lược quan tâm Lợi thế cạnh tranh

là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh Các doanh nghiệp cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh như vậy để thu hút khách hàng Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dễ bị soi mói bởi những hành động bắt chiếc của đối thủ Bởi vì lợi thế cạnh tranh có nghĩa tồn tại những đối thủ cạnh tranh, do vậy chúng ta cần xem xết đến môi trường cạnh tranh để cảm nhận được lợi thế cạnh tranh được phát huy

Môi trường cạnh tranh: có rất ít ngành trên lĩnh vực hoặc doanh nghiệp không phải đương đầu với một hình thức và mức độ cạnh tranh nào đó Thực tế theo một số nhà nghiên cứu quản lý chiến lược đã mô tả môi trường cạnh tranh hiện nay là một môi trường siêu cạnh tranh,đố là một mức độ cạnh tranh rất khốc liệt

và liên tục gia tăng

- Phân loại cạnh tranh

+ Căn cứ vào mức độ tính chất cạnh tranh trên thị trường:

Cạnh tranh hoàn hảo: là có nhiều người mua ngươì bán độc lập với nhau sản phẩm là đồng nhất Doanh nghiệp định giá cao hơn thì không bán được bất cứ thứ gì vì người mua sẽ mua của người khác Vì thế doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hỏa không có sức mạnh thị trường, tức là không có khả năng kiểm soát thị trường đối với sản phẩm của mình bán ra Sản lượng của doanh nghiệp là nhỏ so với cung của thị trường vì thế doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng, giá trên thị trường trong cạnhtỷanh hoàn hảo không có cạnh tranh giá

cả

Trang 14

Cạnh tranh độc quyền chỉ có một người mua và một người bán duy nhất, sản phẩm là độc nhất, chính sách của doanh nghiệp trong cạnh tranh độc quyền và định giá cao là sản lượng sản xuất ra ít Tuy nhiên, không có nghĩa là nhà độc quyền có thểư định giá bao nhiêu cũng được Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của nhà nước mà độc quyền có thể định giá cao hay thấp để cuối cùng có thể thu được lợi nhuận tối đa Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh tranh phi giá để thu hút khách hàng

Độc quyền tập đoàn: Sản phẩm có thể giống hoặc khác nhau và chỉ có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hoặc hầu hết sản lượng Tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh nghiệp này ảnh hưởng đến hành vi của doanh nghiệp khác Nừu một doanh nghiệp giảm giá sẽ dẫn tới tình trạng phá giá,

do đó các doanh nghiệp dễ cấu kết với nhau Vì cạnh tranh bằng giá không có lợi nên người ta chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm

+ Căn cứ vào phạm vi nền kinh tế

Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa và dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh tranh này các doanh nghiệp tìm mọi cách thôn tính lẫn nhau, dành khách hàng về mình Biện pháp canh tranh chủ yếu là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động Giảm chi phí sản xuất nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất thấp hơn giá trị xã hội để thu được nhiều lợi nhuận siêu ngạch Kết quả của cạnh tranh là kỹ thuật sản xuất phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hóa được xác định lại

Trang 15

Cạnh tranh giữa các ngành: Cạnh tranh giữa các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lựo nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư nếu bỏ vào ngành khác Sự cạnh tranh này dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh từ ngành

có tỷ suất lợi nhuận cao hơn hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành

+ Căn cứ vào đối tượng kinh tế tham gia vào thị trường

Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là loại cạnh tránh quyết liệt nhất trên thị trường Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thủ tiêu tranh dành khách hàng và thị trường, khi ấy giá cả sẽ giảm xuống và người mua được lợi Đây là cuộc cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự sống còn của doanh nghiệp

Cạnh tranh giữa người bán với người mua: người bán và người mua cạnh tranh nhau theo quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường Người bán muốn bán sản phẩm của mình vơí giá cao người mua muốn mua với giá thấp Giá cuối cùng chấp nhập được là giá thông nhất giữa người bán và người mua sau quá trình mặc

cả với nhau

Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Cạnh tranh xảy ra trên cơ sở tranh mua khi cung nhỏ hơn cầu Do hàng hóa trên thị trường khan hiếm nên người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần

- Vai trò của cạnh tranh

Mỗi một doanh nghiệp không thể lẩn tránh được cạnh tranh vì như vậy là cầm chắc phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh và sẵn sàng linh

Trang 16

hoạt sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải:

Tối ưu hóa các yếu tố đầu vào cảu sản xuất kinh doanh

Không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

Nhanh chóng tiếp cận với cơ hội kinh doanh mới

Không ngừng phục vụ tốt hơn nhu cầu của ngưiơù tiêu dùng cuối cùng

Cạnh tranh làm cho giá cả phục vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại được nâng cao nên kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưeởng của nền kinh tế

Tòm lại, cạnh tranh là sự vươn lên mạnh m,ẽ của nhà sản xuất để sản xuất một cách dễ dàng các loại sản phẩm hàng hóa, chiếm lĩnh mỏe rộng thị trường và thu được lợi nhuận cao Cạnh tranh làm cho nền kinh tế sản xuất phát triển, là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất tiến bộ khoa học kỹ thuât, giáo dục tính năng độngtháo vát cho các nhà sản xuất kinh doanh Cạnh tranh là cho các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và ngày càng cải tiến cách thức sản xuất để đem lại lợi nhuận tối đa nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những vấn đề còn tồn tại cần phải giải quyết như một số nhược điểm của cạnh tranh độc quyền dẫn đến thiệt hại cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng, những thủ đoạn lừa bịp, hàng giả, hàng lậu

Doanh nghiệp muốn cạnh tranh được thì bên cạnh việc tìm hiểu thực tế thị trường

và những vấn đề liên quan đên đối thủ cạnh tranh, phải có những biện pháp thích hợp trong quá trình phát triển và sản xuất kinh doanh đó là nghiên cứu và ứng dụngcác lý luận về cạnh tranh một cách sáng tạo và phù hợp

- Các công cụ cạnh tranh

Trang 17

+ Giá cả: là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng nhất của bất cứ một doanh nghiệp nào khi đã tham gia vào thị trường Theo lý thuyết kinh tế giá

cả được xác định của sự giao nhau của cung và cầu, nhưng thực tế doanh nghiệp hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình tùy theo mục đích kinh doanh

cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí sản xuất và phải có lãi Do vậy doanh nghiệp có thể chọn giá cả làm công cụ cạnh tranh của mình Trong thương mại để dành được phần thắng trong cuộc chạy đuakinh tế thì các doanh nghiệp thường đưa ra một mức giá thấp hơn của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi cuốn khách hàng, tiêu thụ nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ của mình Các đối thủ có thể phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn Công cụ cạnh tranh này khi đã trở nên gay gắt thì sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả giữa các doanh nghiệp

Giá cả được thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá của sản phẩm: định giá sản phẩm thấp, định giá ngang thị trường, chính sách định giá cao

Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng, nêu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm chi phí thì lợi nhuận thu được sẽ tăng Ngược lại với một mức giá thấp hơn thị trường sẽ thu hút được nhiều khác hàng và tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị trường mới Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn mức giá thị trường chỉ sử dụng được khi các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch

Trang 18

Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng thời kỳ trong chu kỳ sản phẩm hay tùy thuộc đặc điểm của thị trường

+ Chất lượng sản phẩm: Khi thu nhập trong đời sống dân cư ngày càng cao thì cạnh tranh bằng giá xem như không hiệu quả Chất lượng của sản phẩm

và dịch vụ sẽ là mối quan tâm, của khách hàng nên nếu như hàng hóa có chất lượng thấp thì dù có bán rẻ cũng không thể tiêu thụ được Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Chất lượng được thể hiện qua nhiều yếu tố, nếu doanh nghiệp không đủ điều kiện phát triển mọi yếu tố chất lượng thì vẫn có thể đi sâu khai thác thế mạnh một hoặc một số yếu tố nào đó

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khách hàng và kỹ thuật cúng như

sự bành chướng của các công ty đa quốc gia thì vấn đề canỵh tranh bằng chất lượng càng trở nên gay gắt, Khi các sản phẩm đưa ra thị trường đều đảm bảo chất lượng cao Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế sẽ rất khó có khả năng canh tranh trên thị trường quốc tế

+ Dịch vụ khách hàng: Ngoài cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng thì trên thực tế doanh còn phải cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ Đây là công cụ cạnh tranh hết sức phổ biến, đó có thể là:

Dịch vụ trược khi bán hàng: bao gồm các hoạt động chào hàng, các thông tin về mặt hàng, trưng bày hàng…

Dịch vụ trong khi bán hàng: là những hoạt động phục vụ quá trình lựa chọn xem xét quyết định mua hàng của khách hàng Hàng hóa phải được trưng

Trang 19

bày đẹp, hấp dẫn, bán đúng giá liêm yết, giúp đỡ và tư vấn cho khách hàng về cách sử dụng, cung cấp đầy đủ hóa đơn chứng từ, tài liệu cần thiết, giấy bảo hành

và các dịch vụ bổ sung

Dịch vụ sau bán hàng: dịch vụ thông tin kỹ thuật, đưa hàng đến nhà cho khách hàng, hướng dẫn sử dụng, lắp đặt, bảo hành…

Cạnh tranh bằng dịch vụ khách hàng ngày càng được sử dụng rộng rãi và

đa dạng hơn nhất là khi lĩnh vực dịch vụ đang tăng dần tỷ trọng và cơ cấu của nền kinh tế Cạnh tranh bằng dịch vụ có hiệu quả rất cao vì khi đó khách hàng cảm thấy mình được tôn trọng và khi đó sẽ có cảm tình với sản phẩm của doanh nghiệp

+ Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình ản xuất kinh doanh Đây là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận

Việc đầu tiên của việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa chọn các kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các nhu cầu của khách hàng để nhanh chóng giải phóng nguồn hàng

để bù đắp chi phí và thu hồi vốn Kênh phân phối phải tạo được sự phối hợp ăn ý giữa các rthành viênkhông vì quyền lợi của thành viên này mà làm tổn hại đến toàn bộ hệ thống kênh phân phối Kênh dài hay ngắn là phụ thuộc vào mục tiêu phân phối của doanh nghiệp

Thông thường có 3 kênh phân phối sau:

Kênh trực tiếp: người sản xuất – người tiêu dùng cuối cùng

Kênh gián tiếp: người sản xuất- người bán lẻ- người tiêu dùng cuối cùng

Trang 20

Kênh gián tiếp dài: người sản xuất- người bán buôn- người bán lẻ- người tiêu dùng cuối cùng

Việc lựa chọn kênh phân phối phải dựa vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đặc điểm kinh tế kỹ thuất của sản phẩm cần tiêu thụ, đặc điểm về khoảng cách với thị trường, địa hình, hệ thống thông tin của thị trường

và khả năng tiêu thụ của thị trường Từ việc phân tích các đặc điểm trên doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một hệ thống kênh phân phối hợp lý đạt hiệu quả cao

- Các đối thủ cạnh tranh

Để có thể tồn tại và phát triển được trên thương trường thì các doanh nghiệp buộc phải nghiên cưu đối thủ cạnh tranh của mình để từ đó tìm ra được điểm mạn điểm yếu và tìm ra những biện pháp khắc phục nhược điểm của mình Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới 2 góc độ:

+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới góc độ ngành kinh doanh: Đối thủ cạnh tranh được xác định là những doanh nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm giống nhau hoặc cung cấp cùng một loại dịch vụ giống nhau Những đối thủ cạnh tranh trong một ngành sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giống nhau hoặc rất giống nhau Hơn thế nữa những ngành này hoặc ngành khác có thể được mô tả theo số người bán và tiêu chuẩn sản phẩm Lượng người bán và mức

độ khác biệt của sản phẩm, dich vụ sẽ ảnh hưởng đến cường độ cạnh tranh của ngành

+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới góc độ nhóm chiến lược: Trong một ngành có thể thấy ít nhất hoặc một số nhóm chiến lược phụ thuộc và những yếu

Trang 21

tố chiến lược nào là quan trọng đối với những nhóm khách hàng khác nhau Ví

dụ hai nhóm yêu tố chiến lược thường được dùng để phân nhóm các đối thủ cạnh tranh là giá cả và chất lượng bởi vì chúng rất quan trọng đối với khách hàng Các đối thủ cạnh tranh có thể được phân nhóm theo những chiến lược giá cả, chất lượng của họ cùng với những ai tuân thủ những phương pháp giống nhau hoặc tương tự như trong một nhóm chiến lược giống nhau Những yếu tố chiến lược quan trọng sử dụng để xác định các đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp là rất khác nhau đối với mỗi ngành

Theo phương pháp này, khái niện nhóm chiến lược là quan trong để hiểu được ai là đối thủ cạnh tranh và các đối thủ cạnh tranh gần nhất của doanh nghiệp

là những ai ở trong nhóm chiến lược của doanh nghiệp đó Mặc dù cạnh tranh có thể xuất phát từ những doanh nghiệp cùng ở trong nhóm chiến lược, nhưng mức

độ cạnh tranh từ góc độ này phụ thuộc vào việc mỗi đối thủ cạnh tranh có thể xây dựng lợi thế canh tranh bên vững một cách hiệu quả như thế nào vào chiến lược

Cho dù chúng ta có thể định nghĩa đối thủ cạnh tranh như thế nào, sự thực

là có các doanh nghiệp khác đang hoạt động tích cực để giành lấy khách hàng, tài nguyên và những kết quả khác Mỗi doanh nghiệp này đều có những nguồn lực

Trang 22

Sức cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố,tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trường cạnh tranh một cách lâu dài và có ý nghĩa

Sức cạnh tranh của hàng hóa được xác định dựa vào các ưu thế của nó Ưu thế cạnh tranh được hiểu như là những đặc tính hoặc những thông số của sản phẩm nhờ đó mà sản phẩm có được sự ưu việt, sự vượt trội hơn so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trực tiếp Ưu thế cạnh tranh của hàng hóa thể hiện ở sự phân biệt hóa sản phẩm

Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần phải dựa vào một số công cụ sau:

` Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí

` Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

đó là tốt

Trang 23

Cơ cấu sản phẩm của công ty thể hiện sức cạnh tranh ở chỗ sản phẩm có

đa dạng, phong phú về chủng koại hay không? Nếu sản phẩm phong phú và đa dạng thì khả năng cạnh tranh cao hơn nuững sản phẩm yếu kém hơn về cơ cấu

Như vậy, dựa vào sản phẩm và cơ cấu của sản phẩm của công ty chúng ta biết được phần nào tình hình kinh doanh của công ty và biết được khả năng cạnh tranh về sản phẩm của công ty ở mức độ nào Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải thay đổi sản phẩm và cơ cấu sản phẩm của mình một cách thích hợp theo nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để năng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đó

Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường mà lại không có sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm cho snả phẩm của mình thích ứng được với thị trường một cách nhanh chóng thì mới có thể tiêu thụ hết trên thị trường, mở rộng thị trường để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghịêp

Để có thể cạnh tranh với đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải luôn thực hiện đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tụcc duy trì các loại sản phẩm hiện đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu các sản phẩm mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Đa dạng hoía sản phẩm không chỉ để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thị trường, thu được nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh daonh khi mà cuộc cạnh tranh càng trở nên gay gắt và quyết liệt

Trang 24

Đi đôi với việc đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá sản phẩm vào một số loại sản phẩm nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường nhất định của mình Trong phạm vi này, doanh nghiệp có thể phục vụ một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh và như vậy, doanh nghiệp đã tạo được một bước rào chắn, đảm bảo giữ được thị phần của mình trên thị trường

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp hẫn cho khách hàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín doang nghiệp

Như vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm là một trong những yếu

tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

` Chất lượng của sản phẩm:

Chất lượng của sản phẩm cũng là một chỉ tiêu định tính phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm Nếu chất lượng của sản phẩm là tốt chứng tỏ sức cạnh tranh của sản phẩm là cao và ngược lại, chất lượng của snả phẩm xấu thì sức cạnh tranh của sản phẩm thấp Như vậy, việc doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác dịnh bắng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được thoả mãn các diều kiện kỹ thuật

và các yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngay cả sau khi tiêu thụ

Trang 25

hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình đọ tay nghề lao động, trình độ quản lý

Chất lượng sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với một doanh nghiệp Một khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo thì cũng có nghĩa là doanh nghiệp bị mât khách hàng, mất thị trường và nhanh chóng đi đến chỗ suy yếu và

bị phá sản

Hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về chất lượng đã xuất hiện: Chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền, đẹp mà nó ccòn

do khách hàng quyết định Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn

sự đánh giá của kháchhàng mang tính khách quan Đây là một quan niệm mới xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn

Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh chất tranh của doanh nghiệp ở chỗ:

o Nâng cao lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm

o Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, kích thích khách mua hàng và mở rộng thị trường

o Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp

Thực tế cho thấy tất cả các doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh đều

có thái độ tích cực trong quản lý chất lượng sản phẩm Nguyên tắc chung của họ

la đảm bảo chất lượng tuyệt đối với độ tin cậy cao khi sử dụng và lòng trung

Trang 26

thành trong quan hệ buôn bán Để tồn tại và chiến thắng trong cạnh ranh, doanh nghiệp cần phải đảm bảo chất lượng sản phẩm

` Dịch vụ khách hàng:

Bao gồm dich vụ trước, trong và sau khi bán sản phẩm cho khách hàng doanh nghiệp cần phải thức hiện đầy đủ các dịch vụ này ngày càng tốt hơn thì sẽ tạo được lòng tin và uy tín đối với khách hàng và ngày càng nhiềukhách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp hơn Có như thế sản phẩm của doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh trên thị trường

` Hình ảnh của doanh nghiệp:

Được xác định dựa trên uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng Nếu

uy tín của doanh nghiệp đảm bảo chất lượng hang hoá và các dịch vụ khác tốt, khách hàng sẽ tin tưởng chọn mua phẩm của doanh nghiệp Như vậy doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh, các đối thủ khác muốn lôi kéo các khách hàng này của họ cần có thời gian, chi phí Hình ảnh của doanh nghiệp rấtquan trọng trong cạnh tranh, nó giúp doanh nghiệp duy trì và giữ vững thị trường, chống sự lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh, và hình ảnh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh của sẩnhẩm doanh nghiệp Hình ảnh của doanh nghiệp tốt sẽ đồng nghĩa với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng tốt và giá cả vừa phải, thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng

+ Chỉ tiêu định lượng:

` Thị phần của doanh nghiệp:

*Thị trường của công ty so với toàn bộ thị trường

Công thức tính:

Trang 27

Thị phần của công ty Doanh thu của công ty .100%

So với toàn bộ thị trường Doanh thu toàn bộ thị trường

ý nghĩa kinh tế: Thị phần này cho ta biết khả năng chấp nhận của thị trường với mặt hàng doanh nghiệp đang sản suất kinh doanh như thế nào? Thị phần lớn hơn chứng tỏ nó được khách hàng ưa chuộng và đáng giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh Những doanh nghiệp có thị phần lớn ở mặt hàng nào đó là những doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến để sản xuất mặt hàng đó nhằm đảm bảo sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phù hợp, đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng Thị trường của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường mà lớn chứng

tỏ doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn, có khả năng đánh bại đối thủ cạnh tranh

và phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng

*Thị phần của công ty so với phần khúc mà nó phục vụ

Công thức tính:

Thị phần của công ty so Doanh thu của công ty .100%

Với phần mà nó phụcvụ Doanh thu của toàn khúc thi trường

ý nghĩa kinh tế: Xuất phát từ nguồn lực là có hạn và nhu cầu của khách hàng thì đa dạng, nhu cầu của người này không giống nhu cầu của người kia và nhu cầu của nhóm khách hàng ở các quốc gia khác nhau cũng thường không giống nhau do các đặc điểm về văn hoá, thói quen tiêu dùng Nên để có thể cạnh tranh thành công doanh nghiệp không thể phục vụ tất cả người tiêu dùng ở mọi nơi mà doanh nghiệp thường phải xác định cho mình một thị trường mục tiêu phù hợp với tiềm lực ccủa chính mình Trên thị trường mụctiêu của doanh nghiệp đôi khi cũng có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, thị phần của công ty do với phần khúc

Trang 28

mà nó phục vụ cũng phản ánh sức cạnh tranh của sản phẩm công ty so với đối thủ cạnh tranh Nếu thị phần của cong ty lớn hơn chứng tỏ sản phẩm của công ty được khách hàng chấp nhận, được ưa thích hơn so với đối thủ cạnh tranh Bên cạnh đó tốc độ tăng các năm cũng cho thấy khả năng cạnh tranh của sản phẩm của công ty Nếu tốc độ cao chứng tỏ sản phẩm của công ty ngày càng được chấp nhận, có khả năng đánh bại đối thủ cạnh tranh

* Thị phần tương đối:

Công thức tính :

Thị phần tương đối Doanh số của công ty .100%

Doanh số của đối thủ mạnh nhất

ý nghĩa kinh tế: Nó cho biết vị thế của công ty trên thị trường như thế nào

` Giá thành và giá cả của sản phẩm

Đây cũng là một chỉ tiêu định lượng cho biết sứ cạnh tranh của sản phẩm Nếu giá thành và giá cả sản phẩm của công ty mà nhỏ hơn nhiều so với đối thủ cạnh tranh khác thì sản phẩm của công ty có sức cạnh tranh cao hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và ngược lại

` Tỷ lệ doanh thu của công ty so với đối thủ mạnh nhất

Qua chỉ tiêu này cho biết vị thế và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường Thể hiện ở mức độ cạnh tranh của côn ty đến đâu, công ty có thể vượt qua được đối thủ cạnh tranh nào và khả năng trong tương lai tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ có xu hướng như thế nào

- Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh hàng hoá

Trang 29

Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược cạnh tranh là liên hệ công ty với môi trường của nó mặc dù môi trường liên quan là rất rộng, bao gồm cả các lực lượng kinh tế lẫn xã hội thì mảng quan trọng nhất của môi trường đó là ngành kinh tế nơi mà các hoạt động cạnh tranh của công ty đang diễn ra Cấu trúc ngành

có một ảnh hưởng lớn sự việc xác định những điều luật của cuộc chơi cũng như các chiến lược có khả năng có được đối với công ty Các lực lượng bên ngoài nganh cần được kể đến trước hết la ở các mối quan hệ, bởi vì các lực lượng đó thường ảnh hưởng đến toàn bộ các hãng ở trong ngành Chìa khoá thành công nằm ở khả năng khác biệt của hãng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các lực ượng đó Dưới đây ta xem xét các nhân tố ảnh hưởng đén sức cạnh tranh của hàng hoá qua mô hình của Michael E Porter Porter đã đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào 5 lực lượng: các đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng và những đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành Bốn lực lượng đầu được xem như là lực lượng bên ngoài và cuộc cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh trong một ngành được xem là cuộc cạnh tranh quyết liệt nhất

Năm lực lượng cạnh tranh- nguy cơ nhập cuộc đối thủ cạnh tranh mới, mối đe doạ từ sản phẩm thay thế, quyền lực của người mua, quyền lực của người cung ứng và cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ hiện thời- phản ánh thực tế là cạnh tranh rong một ngành liên quan không chỉ các bên đã xác định Khách hàng, người cung ứng, người thay thế, các đối thủ mới tất cả đều là đối thủ cạnh tranh đối với các hãng trong ngành và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể có thể nổi trội

Trang 30

hơn một chút hoặc kém hơn một chút so với các đối thủ khác Cuộc cạnh tranh với nghĩa rộng này có thể được gọi là cạnh tranh mở rộng

+ Nguy cơ nhập cuộc:

Nguy cơ nhập cuộc vào một ngành phụ thuộc vào những nhập cuộc thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới có thể dự đoán được nếu tất cả barie cao hoặc nếu đối thủ mới có thẻ dự đoán sự suy tính trả đũa quyết liệt của các đối thủ hiện thời đang quyết tân phòng thủ thì nguy cơ nhập cuộc sẽ thấp Có 6 nguồn barie nhập cuộc chủ yếu sau:

*Tính kinh tế nhờ quy mô: Tính kinh tế nhờ quy mô sản xuất coi sự giảm xuống về chi phí cho một đơn vị sản phẩm là do sự tăng lên tuỵêt đối trong một thời kỳ về khối lượng sản phẩm Tính kinh tế nhờ quy mô ngăn cản sự nhập cuộc

do bắt những đối thủ mới vào cuộc với quy mô lớn và phải mạo hiểm với những phản ứng mạnh mẽ từ các đối thủ cạnh tranh hiện đang tồn tại hoặc vào cuộc với quy mô nhỏ và chấp nhận sự bất lợi về chi phi, cả hai đều là sự lựa chọn không monh muốn

*Tính dị biệt của sản phẩm: chỉ rằng các hãng tồn tại đã có danh tiếng và

sự tin cậy của khách hàng, công tác quảng cáo trong quá khứ, hoẵ dơn giản vì nó

là hãng đầu tiên của ngành Tính dị biệt tạo nên barie nhập cuộc vì nó bắt buộc các đói thủ mới phải làm nhiều để vượt qua sự trunh thành hiện tại của khách hàng Những nỗ lực này thường kéo theo những khoản lỗ cho việc khởi đầu vì phải kéo dài thời gian Những đầu tư nhằm xây dựng tiếng tăm cho hãng là rất mạo hiểm vì sẽ không có một chút giá trị đền bù nào nếu viêvj nhập cuộc thất bại

Trang 31

*Những đòi hỏi về vốn: Sự cần thiết phải đầu tư những nguồn lực tài chính lớn để cạnh tranh cũng tạo lên một barie nhập cuộc, đặc biệt trong trường hợp vốn đó không giành cho sự mạo hiểm, hoặc cho những chi phí quảng cáo trứơc không bù đắp được, hoặc cho việc nghiên cứu và tạo sản phẩm mới

*Chi phí chuyển mối: Các chi phí đổi mối tạo nên barie nhập cuộc, có nghĩa là chi phí mà người mua phải trả một lần cho việc thay đổi từ việc mua sản phẩm của người cung ứng này sang sản phẩm của người khác Chi phí đổi mối có thể bao gồm các chi phí đào tạo nhân viên, giá của các thiết bị mới kèm theo, chi phí và thời gian để kiểm tra và c ng vị trí thuận lợi, trợ cấp của chính phủ, biểu

đồ kinh nghiệm và học hỏi

+ Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại:

Một số hình thức cạnh tranh, rõ nhất là cạnh tranh vè giá, rất không ổn định và có khảt năng làm giảm lợi nhuận của toàn ngành Các đối thủ cạnh tranh rất nhanh chóng và dễ dàng bắt chớc các hành động giảm giá, và một khi bắt chước theo như vậy chúng đã hạ doanh thu của tất cả các hãng trừ khi độ co giãn của cầu là đủ lớn ngược lại các cuộc chién tranh vè quảng cáo có thể làm tăng nhu cầu và làm tăng mức độ dị biệt của sản phẩm trong ngành có lợi ích cho tất

cả các hãng

Cuộc tranh đua trong một ssố ngành được đặc trưng qua một số giai đoạn như “ Sẵn sàng nghênh chiến”, “chiến đấu”, “tiêu diệt” trong khi ở một số ngành khác nó được gọi là “lịch sự” hoặc “quân tử” Cạnh tranh khốc liệt là kết quả của một loạt các yếu tố tác động lẫn nhau

Trang 32

*Các đối thủ cạnh tranh đông đảo hoặc bằng vai phải lứa: Khi số hãng dông đảo, khả năng có sự lộn xộn là lờn và mọt ssố hãng có thể tin tưởng theo thói quen là họ có thể dich chuyển mà không bi nhận thấy Thậm chí khi có một

số hãng, nếu chung khá là cân bằng với nhau xét về quy mô và thực lực thì vẫn

có sự không ổn định bởi vì chúng có lẽ là thiên hướng đối chọi vói nhau và có các nguồn lực để chống đỡ và trả đũa kịch liệt ngược lại khi ngành có mức tập trung hoá cao, hay bị điều khiển bởi một hoặc một số ít hàng thì có ít sự nhầm tưởng vè sức mạnh, và hãng hoặc những hãng dẫn đầu có thể ấn định trật tự cũng như có thể đảm trách vai trò sắp sếp phối hợp trong ngành quấcc công cụ như vai trò dẫn đầu về giá

*Tốc độ tăng trưởng chậm của ngành: Tốc độ tăng trưởng chậm biến của cạnh tranh của các hãng đang muốn mở rộng thành một cuộc phân chia thị trường Cuộc cạnh tranh về thị trường sẽ sôi động hơn rất nhiều so với trường hợp khi tốc độ tăng trưởng của ngành đảm bảo những kết quả cao hơn trong khi chỉ cần theo kịp tốc độ tăng trưởng của ngành, mà khi các nguồn lực về quản lý

và tài chính sẽ được dùng vào việc mở mang phát triển cùng với toàn ngành

*Chi phí cố định và chi phí lưu kho: Chi phí cố định cao gây áp lực lớn buộc các hãng phải khai thác hết năng lực sản xuất và khi năng lực sản xuất dư thừa thì điều đó thường dẫn đến việc giảm giá một cách mạnh mẽ Chi phí cô định được coi là cao trong trường hợp mà sản phẩm nếu đã sản xuất ra sẽ rất khó hoặc rất tốn kém để lưu kho Khi đó các hãng rất dẽ bị cuốn vào trào lưu giảm giá nhằm tăng lượng bán

Trang 33

*Sự thiếu vắng về tính khác biệt của sản phẩm và các chi phí chuyển mối: Khi một sản phẩn hoặc một dịch vụ nào đó được chấp nhận trên thị trường như một hangf hoá hoặc gần như một loại hàng hoá thì việc lựa chọn của người mua chủ yếu dựa vào giá cả và cách thức phục vụ, kết quả là gây ra một cuộc cạnh tranh sống còn về giá cả cũng như là cung cách phục vụ

*Năng lực sản xuất tăng thêm với mức vốn: Khi tính hiệu quả nhờ quy mô đòi hỏi phải tăng năng lực sản xuất với mức lớn thì phần năng lực sản xuất đểtăng thêm có thể đồng thời phá huỷ sự cân bằng cung cầu, đặc biệt khi có nguy

cơ co cụm của các năng lực sản xuất bổ sung này

*Các đối thủ cạnh tranh đa dạng: Các đổi thủ cạnh tranh đa dạng về chiến lược, về nguồn vốn, về con người Các mỗi quan hệ vơi công ty mẹ của họ có những mục đích khác nhau và chiến lược cạnh tranh khác nhau

*Đặt cược chiến lược cao: Cuộc cạnh tranh trong ngành cành trở nên sôi động hơn nếu một loạt các hãng đặt cược những địnhk mức giá cao váo sự thành công trong cuộc cạnh tranh này

Các Barie bỏ cuộc cao: Các Barie bỏ cuộc là các yếu tố kinh tế , chiến lược và tinh thần có tác dụng giữ các công ty ở lại cạnh tranh trong ngành cho dù

họ có thể kiếm được rất ít lợi nhuận hoặc thậm chí có thể lỗ

+ áp lực từ sản phẩm thay thế

Xét theo nghĩa rộng thì các hãng trong một ngành phải cạnh tranh với các ngành sản xuất ra các sản phẩm thay thế Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối đa cho mức giá mà các hãng trong ngành kinh doanh có lãi Khả năng lựa chọn về giá cả của các sản

Ngày đăng: 30/06/2014, 01:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các báo cáo hàng năm của công ty. (Phòng kế hoạch tài chính cung cấp) 2. Giáo trình: Quản trị dự án FDI của khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế Khác
3. Báo cáo tổng kết công tác năm 2003 của Công ty Khác
4. Giáo trình: Marketing quốc tế của khoa khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế Khác
5. Giáo trình: kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương của trường Ngoại Thương Khác
6. Và các tài liệu liên quan khác. Danh mục bảng biểu Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w