ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA: LỊCH SỬ TIỂU LUẬN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỀ TÀI: Khó khăn và rào cản của học sinh dân tộc thiểu số
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: LỊCH SỬ
TIỂU LUẬN
VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
ĐỀ TÀI: Khó khăn và rào cản của học sinh dân tộc thiểu số trong việc tiếp cận với học tập và
việc làm
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hữu Duy
Lớp : K68 Văn Hóa Học
Mã sinh viên : 23031954
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Trường Giang
Trang 2
HA NOI – 2023
MỤC LỤC: Trang 1 Đặt vấn đề 4
2 Bối cảnh chính sách 4
3 Triển khai nghiên cứu 5
4 Câu chuyện ẩn sau 7
5 Kiến nghị giải pháp 14
6 Phụ lục 17
DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang Bảng 3.1 Tiêu chí chọn mẫu 6
Bảng 4.1 Kết quả thực hiện chính sách cử tuyển của toàn quốc qua các giai đoạn 10
Trang 3Bảng 4.2 Tỷ lệ kết hôn trước 19 tuổi 12
Biểu 3.1 Học sinh các dân tộc thiểu số tại 3 tỉnh năm 2004 6
Biểu 3.2 Học sinh các dân tộc thiểu số tại 3 tỉnh năm 2010 7
Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Nguyễn Trường Giang Trong quá trình học tập và tìm hiểu môn Văn hóa các dân tộc thiểu số, em đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn tâm huyết và tận tình từ thầy Thầy đã giúp em tích lũy thêm nhiều kiến thức về môn học này để có thể hoàn thành được bài tiểu luận về đề tài:
“Khó khăn và rào cản của học sinh dân tộc thiểu số trong việc tiếp cận với học tập và việc làm”
Trong quá trình làm bài chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót Do đó, em kính mong nhận được những lời góp ý của thầy để bài tiểu luận của em ngày càng hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Hữu Duy
Trang 41 Đặt vấn đề
Trước khi đi vào vấn đề cụ thể, tác giả muốn trình bày tóm lược nội dung cơ bản của các khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn, cũng như góc độ phân tích mà báo cáo này hướng đến
Nguồn nhân lực
Theo định nghĩa tổng quan của liên hợp quốc thì “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.” Trong đó, nguồn nhân lực có thể hiểu ở nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội và nguồn lực con người cho sự phát triển Ở góc nhìn hẹp hơn, lực được xem là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động và sản xuất xã hội Nói cách khác, nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao hàm yếu tố thể lực, trí lực và
Trang 5nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định (Võ Xuân Tiến, 2010)
Phát triển nguồn nhân lực
Đi liền với nội hàm nguồn nhân lực chúng ta không thể không nhắc đến khái niệm phát triển nguồn nhân lực, một mảng “thực hành” bấy lâu nhưng mới trở thành một lĩnh vực học thuật Phát triển nguồn nhân lực chứa đựng hai thành tố cốt yếu: 1) đào tạo và phát triển hướng đến phát triển nghiệp vụ nhân lực để nâng cao khả năng thể hiện của cá nhân; 2) phát triển tổ chức nhằm khơi nguồn nhân lực để thay đổi khả năng thể hiện của cá nhân Theo cách suy luận ‘quá trình’ này, phát triển nguồn nhân lực vừa được coi như một hệ thống vừa được xem như một cuộc hành trình trang bị kiến thức, nâng cao kỹ năng thực hành cho người lao động, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa vào trên cơ sở những kỳ vọng và định hướng tương lai của từng tổ chức Có thể nói, phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mối quan hệ giữa giáo dục, đào tạo và phát triển Trong đó, giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp, hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai Xuất phát từ đặc điểm này, chúng tôi tập trung thảo luận khía cạnh giáo dục và đào tạo của phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Dưới đây là vài nét khái quát về hệ thống chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi
2 Bối cảnh chính sách
Thực tế cho thấy có hai nhóm chính sách tác động trực và gián tiếp đến phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi trên phạm vi của nước
Về nhóm chính sách tác động trực tiếp, phải kể đến các chương trình, hoạt động liên quan đến sức khỏe người dân Có thể kể đến:
- Chính sách cấp thẻ bảo hiểm miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số;
- Chương trình phòng, chống sốt rét;
- Chương trình phòng, chống bướu cổ;
- Chương trình phòng chống HIV/ADIS;
- Chương trình tiêm chủng mở rộng;
- Chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em
Tiếp đó là nhóm chính sách (trực tiếp) liên quan đến giáo dục và đào tạo như:
- Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông nội trú;
- Chính sách cử tuyển học sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp;
- Chính sách ưu tiên điểm số đối với học sinh thi đại học, cao đẳng;
Trang 6- Chính sách hỗ trợ học sinh là con hộ nghèo đi học tại các xã đặc biệt khoa khăn;
- Đề án hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên;
Đồng thời, nhà nước cũng ban hành một số chính sách có ảnh hưởng gián tiếp lên tình hình phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc miền núi, điển hình là:
- Chương trình 135 giai đoạn II;
- Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo
Có thể thấy rằng, Nhà nước đã thực thi hàng loạt chính sách ưu tiên, tạo nguồn, xây dựng đội ngũ lao động, trí thức là người dân tộc thiểu số Thế nhưng, theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc thì nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi còn “thiếu về số lượng, yếu kém về chất lượng”, đặc biệt chất lượng giáo dục, đào tạo ở vùng dân tộc và miền núi còn hạn chế (Đề án 2011) Số liệu tính đến năm 2009, tỷ lệ người không biết đọc, biết trong tổng số dân từ 15 tuổi trở lên vùng miền núi phía là 12,7% (trong đó nam 7,99%, nữ 17,19%) Mặt khác, tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học vẫn rất phổ biến ở vùng dân tộc và miền núi
3 Triển khai nghiên cứu
Để góp phần lý giải nguyên nhân dẫn đến tình trạng ‘yếu’ và ‘thiếu’ trong phát triển nguồn nhân lực nói chung và nâng cao chất lượng giáo dực, đào tạo nói riêng, báo cáo tập trung phân tích tình hình học tập của học sinh vùng dân tộc và miên núi Trong đó lấy đối tượng học sinh là chủ thể trước và trên (xem Trương Huyền Chi, 2010), báo cáo không chỉ đưa ra các suy nghĩ và thái độ của học sinh về vấn đề học tập mà còn xem xét những trải nghiệm đó trong mối tương quan với gia đình và cộng đồng xã hội Thông qua cách tiếp cận sinh thái xã hội, nhóm tác giả đi vào tìm hiểu câu chuyện vốn tưởng đơn thuần là cá nhân học sinh -chịu ảnh hưởng như thế nào: 1) từ những hạn chế vật chất và khó khăn học tập, quan trọng hơn là suy nghĩ và thái độ của cha mẹ về sự học và các cơ hội nghề nghiệp trong tương lai; 2)
từ đặc thù văn hóa tộc người và mối quan hệ liên tộc - giữa cộng đồng thiểu số với đa số cũng như các nhóm thiểu số với nhau; 3) từ trải nghiệm và quan sát của chính học sinh về việc thực thi các chính sách ưu tiên, hỗ trợ của nhà nước tại địa phương Bằng phân tích tách lớp, báo cáo muốn lần tìm yếu tố sâu xa sau động thái bỏ sớm của học sinh vùng dân tộc và miền núi
Nhằm tìm lời đáp cho vấn đề trên, trong khuôn khổ thời gian có hạn, nhóm tác giả tiến hành khảo sát kết hợp vận dụng các phương pháp nghiên cứu nhân học đặc thù như thảo luận nhóm, hỏi chuyện sâu tại bốn cộng đồng dân tộc thiểu số thuộc địa bàn các tỉnh Hà Giang, Yên Bái và Điện Biên
Bảng 3.1: Tiêu chí chọn mẫu
Trang 7Địa bàn tỉnh đa dân tộc, tình hình giáo dục phổ thông có nhiều khó khăn điển hình cho vùng dân tộc và miền núi
Cộng đồng thiểu sô ít người (trong đối sánh tỉ lệ dân cư với các nhóm thiểu số đông người khác tại bàn nghiên cứu)
Chính quyền địa phương tạo điều kiện triển khai nghiên cứu trong thời gian hạn hẹp
Mạng lưới cộng tác viên cơ sở
Trên cơ sở các tiêu chí đề ra, nhóm tác giả đã lựa chọn cộng đồng người Thái và người Dao sinh sống ven đường quốc lộ (huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) và cộng đồng người Pà Thẻn (huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang) Với Điện Biên, nhóm tác giả chọn cộng đồng người Hmông sống ở khu vực địa lý cách trở của huyện Điện Biên Đông, đây là cộng đồng sống ở địa bàn có địa hình cao, tương đối biệt lập, khoảng cách từ bản đến xã là 17km, đi lại bằng đường mòn trong rừng Việc lựa chọn ba điểm nghiên cứu với điều kiện tự nhiên và vị trí địa
lý đa dạng nhằm mục đích tìm hiểu xem những khác biệt này có tác dộng như thế nào đến tình hình học tập cũng làm của nguồn nhân lực địa phương
Bên cạnh yếu tố đặc về điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội, vấn giáo dục, đặ biệt là tình trạng bỏ học nổi lên như là thực tế cấp bách tại địa bàn ba tỉnh nghiên cứu Số liệu thống kê cho thấy, tính từ năm 2004, hiện tượng học sinh bỏ học diễn ra rất phổ biến Đáng chú ý là tỉ
lệ học sinh học sinh dân tộc thiểu số qua các bậc học giảm dần khi các cấp học tăng lên Ví
dụ như Điện Biên, từ 64,82% ở bậc tiểu học xuống 27,31% ở bậc trung học cơ sở và chỉ còn 7,87% ở bậc trung học phổ thông Những này cho thấy xu hướng chung ở khu vực miền núi phía Bắc là bậc học càng cao thì tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số lại càng thấp Điều này tương
tự như tình hình giáo dục vùng đa dân tộc khu vực Tây Nguyên (xem Trương Huyền Chi 2010)
Biểu 3.1: Học sinh các dân tộc thiểu số tại 3 tỉnh năm 2004 (%)
Nguồn: Số học sinh phổ thuộc ít người tại thời điểm 31/12 phân theo địa phương năm
2010 Tổng cục thống kê
Trang 8Tỷ lệ này dường như không chuyển biến đáng kể trong suốt mấy năm Đối chiếu với số liệu thống kê tại thời điểm 2010, số lượng học sinh đến trường thậm chí còn giảm đi tại một sô tỉnh như Hà Giang từ 128,955 em (năm 2004) đến năm 2010 giảm xuống còn 120,410 em; Yên Bái từ 93,734 giảm còn 76,064 học sinh Trong đó, tỉ lệ học sinh bậc tiểu học của Hà Giang từ 55,92% xuống 34,24% và giảm tiếp còn 9,84% tại bậc phổng thông trung học Tình hình Yên Bái cung không khả quan hơn là bao, từ 54% xuống 34,40 và đến cấp 3 thì tỉ lệ học sinh chỉ còn 10,61% Con số này thực sự đáng báo động bởi nó dường như không đi đôi với những nỗ lực không ngừng từ phía Nhà nước và các cơ quan ban hành chức năng trong mấy năm trở lại đây Nói cách khác, tình hình học sinh bỏ học có vẻ như không tương thích với mức độ hỗ trợ ngày càng tăng từ các chính sách
Bảng 3.2: Học sinh các dân tộc thiểu số tại 3 tỉnh năm 2010 (%)
Nguồn: Số học sinh phổ thông thuộc các dân tộc ít người tại thời 31/12 phân theo địa phương năm 2010 Tổng cục thống kê.
Quan sát tại các điểm nghiên cứu, trong diễn biến tỉ lệ nghịch giữa bỏ học tại các cấp thì đối tượng học sinh từ các nhóm thiểu số ít người có xu hướng giảm hơn khi so với nhóm thiểu số
áp đảo khác trên cùng một địa bàn nghiên cứu Thêm nữa, nhóm tác giả nhận thấy ngay giữa các địa bàn và nghiên cứu cũng có tỉ lệ học sinh bỏ học ở các cấp tương đối khác nhau Từ đó nhóm tác giả muốn làm bật lên điều gì đã tạo nên độ ‘chênh’ giữa các chính sách ưu đãi phát triển giáo dục của Nhà nước cho vùng dân tộc và miền núi và thực thế bỏ học hết sức phổ biến tại các địa phương nghiên cứu
4 Câu chuyện ẩn sau
Trong lớp
Học sinh, chủ yếu từ cấp 2, cho rằng bản thân học lực kém dẫn đến việc tiếp thu bài gặp nhiều khó khăn Phần đông các học sinh chia sẻ rằng lên lớp cao, chương trình học có thêm nhiều môn mới, như đến lớp 7 bổ sung một số môn Vấn đề ở chỗ, giáo viên (phần đông là người Kinh, nếu không thường là thuộc thiểu số đông người tại phương) thường dạy qua loa, không kỹ, dẫn đến các học sinh không theo kịp Báo cáo về giáo dục vùng đa dân tộc ở Tây
Trang 9Nguyên cũng đề cập đến thực tế nhiều giáo viên người Việt không giao tiếp với tùng cá nhân học sinh trong lớp mà sử dụng cách dạy tập trung, tức là nói với học sinh trong lớp như một khối (Trương Huyền Chi 2010) Điều này thể hiện yếu tố chủ quan của chính bậc giáo viên không ý thức hay cố tình bỏ qua yếu tố đa dạng tộc người, đa dạng văn hóa ngay trong chính không gian lớp/giờ học của mình Rằng với thành phần học sinh từ nhiều nhóm dân tộc khác nhau, đặc biệt với các em từ các nhóm “ít người” hơn, thì cái tâm lý “yếu thế” ấy dường như luôn hiện hữu Cái khoảng cách “vô hình” ấy sẽ càng giãn thêm khi bản thân giáo viên thuộc
về nhóm số đông (hoặc tộc đa số Kinh) hay ý thức và nhạy cảm của giáo viên trước những tương tác với những học sinh trong lớp đa dân tộc Từ sự “yếu thế” về tộc người kéo theo tâm
lí “e ngại”, ít nói, ít phát biểu, trong khi giáo viên dễ cho các học sinh này là “học không khá”, sẽ ít được gọi đến, lâu dần có thể khiến các học sinh cảm thấy bị cô lập Hơn nữa, nhóm giả được nghe câu chuyện về việc đóng học phí muộn hay bị giáo viên nêu tên, nhắc nhở trước lớp khiến một số học sinh xấu hổ bè mà dần bỏ học luôn Phải chăng sự “sự bất đồng giao tiếp” không hoàn toàn nằm ở vấn đề ngôn ngữ mà còn thể ở những sắc thái khác biệt về văn hóa và tâm lí tộc người Điều bất cập nữa là giáo viên người Kinh lên vùng cao “cắm bản”, thường chỉ hai đến ba năm sau được phân công về địa bàn khác hoặc về xuôi Giáo viên
ở ngắn chưa kịp quen học sinh, chưa hiểu rõ phong tục tập quán, chưa hiểu nhiều tiếng địa phương phải chuyển trường, trong khi học sinh bỡ ngỡ, phải làm quen giáo viên mới lại từ đầu
Ngoài trường
Qua hỏi chuyện tại địa phương, khá nhiều học sinh (cả nam và nữ) cho biết từng bị bắt nạt, chặn đánh khi theo học tại các điểm trương xa Có một thực tế rằng lên đến bậc trung học phổ thông, học sinh mới bắt đầu trải nghiệm việc đi học xa trên huyện, còn như một số xã thuộc địa hình vùng xâu hơn thì ngay từ khi học cấp trung học cơ sở, học sinh đã phải vượt một khoảng cách tương đối xa để tới trường với những khó khăn về địa hình, thời tiết và phương tiện di chuyển Gặp trời mưa to, học sinh không đến được trường do đường đất trơn Để giải quyết tình trạng đường xa, nhiều học sinh phải trọ nhà người quen hoặc được phụ huynh dựng mấy ngôi nhà tạm ven đường để tá túc Đó là chưa nói với nhiều gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì việc đầu tư mua xe đạp là một vấn đề nan giải Vấn đề ở chỗ các học sinh đang theo học ở một ngôi trường học gần nhà khi chuyển trường xa, các học sinh thường cảm thấy bỡ ngỡ và “yếu thế” tại nơi học mới Thêm vào đó khá phổ biến hiện tượng ‘ma cũ bắt nạt ma mới,’ nhất là học sinh thuộc các nhóm thiểu số ít người, từ các xã ở xa hoặc sâu trong núi ra học trở thành đối tượng để một số học sinh lớp lớn hơn, thuộc dân tộc đa số hoặc các nhóm thiểu số đông người hơn chèn ép, đánh đập Với nhiều học sinh, bị đánh ở trường nhưng không dám cho gia đình biết vì sợ bị trả thù sau đó Ở đây, cũng phải nhắc đến thái độ
từ phía nhà trường và giáo viên, nhà trường và giáo viên có xu hướng nhìn nhận về hiện tượng bạo lực học đường thiên về các hành vi cá nhân, chứ không xem xét các động thái
Trang 10quyền lực ẩn sau đó Thế nên, với thái độ lảng tránh, thiếu chia sẻ và tin cậy từ phía giáo viên càng nhấn thêm khoảng cách (văn hóa-tộc người) vốn có sẵn giữa ‘thầy-trò.’
Thêm vào đó, là câu chuyện “tệ nạn xã hội” đã thâm nhập học đường như cờ bạc, chơi bi-a, điện tử đều thấy xuất hiện ở các nam sinh cuối cấp 2 người Thái, người Hmông và người pà Thẻn khiến các em sẵn sàng bỏ học, tụ tập theo nhóm đi chơi Nhưng ở đây cũng phải lưu ý rằng việc uống rượu, nghiện hút của học sinh như là “tệ nạn xã hội” theo nhiều cách nói của giáo viên (chủ yếu là người Kinh) cần phải xét đến các đặc thù văn hóa tộc người của của các dân tộc Nhóm tác giả cho rằng hiện tượng thanh niên “chơi bời nhiều”, “bạn bè rủ rê nhiều” cũng xuất phát từ những “khoảng trống” tâm lý và xã hội học sinh thiểu số ít người hay gặp phải trong môi trường học tập
Trở lại với những khó khăn xa xôi, vất vả cũng như trải nghiệm khi bị bạn bè bắt nạt hay bị bạn bè rủ rê trên đường có thể là những nguồn cơn dần tác động lên các học sinh thiểu số ít người, khiến các bạn không còn hứng thú tới trường nữa Nhưng chưa thể coi đây là lý do cốt yếu cấu thành, bởi có lẽ câu chuyện bị đánh, bị trấn có khuynh trở thành một trải nghiệm
“phổ biến”, nếu không muốn nói là “điều kiện cần” trong những năm tháng cắp sách tới trường của các bạn-nhất là những bạn thuộc nhóm dân tộc thiểu số ít người-theo đuổi ước mơ học tập Có vẻ như những vấn đề trên chỉ mới là các yếu tố mang tính “hình thức” chứ chưa phải là những “nội dung” hay “động lực” xoay quanh việc học tập của các bạn dân tộc thiểu
số Để tìm lời đáp cho những “động lực” này, nhóm tác giả đã theo các bạn về ‘nhà’
Từ nhà
Một rào cản cho việc các bạn tiếp tục theo học cao đều được cả học sinh và gia đình đề cập là hoàn cảnh kinh tế eo hẹp của gia đình Câu trả lời thường trực của học sinh lẫn phụ huynh là
“gia đình không có điều kiện” Thực tế, phần lớn các hộ gia đình đều làm nông nghiệp, không có nghề phụ, thu nhập chính chỉ trông vào vụ thu hoạch lúa (nương và ruộng bậc thang một năm thu có một lần), chăn nuôi gia súc gia cầm, thu hái lâm sản trong rừng Một mặt, với nguồn thu như vậy, gia đình không đủ khả năng kinh tế nuôi con học tiếp hết cấp 2 Mặt khác lại thêm hình thức ‘bán trú dân nuôi’ ở bậc phổ thông cơ sở vẫn yêu cầu gia đình đóng góp gạo và cho con thêm tiền khi học xa nhà trên xã, nhiều hộ gia đình không thể kiếm đủ quần
áo, gạo chu cấp cho con, dẫn đến việc phụ huynh cho con nghỉ học sớm Những trường hợp như vậy khá phổ biến Mặc dù nhà nước có chính sách phổ cập giáo dục tại khu vực miền núi rằng học sinh từ mẫu giáo đến hết bậc phổ thông cơ sở không phải đóng học phí, nhưng việc
lo cho con cái đi học trở thành bài toán đau đầu cho nhiều hộ gia đình Có lẽ việc dành thời gian để kiếm đủ ăn trong ngày đã là quá khó khăn với bậc cha mẹ, nên họ không có thời gian quan tâm con cái
Nhóm tác giả cũng nhận được lý do tương tự từ giáo viên, coi kinh tế là yếu tố chính với tình trạng bỏ học Khi lý giải về việc học sinh bỏ học nhiều, giáo viên (phần đa là người Kinh)