1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ HAI CỰC IANTA

22 8K 94
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 54,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ HAI CỰC IANTA 1. Sự hình thành trật tự thế giới hai cực Ianta Tháng 9 năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít và sự thất bại của phe phát xít. Kể từ thời điểm lịch sử trọng đại này, lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều biến chuyển to lớn và chưa từng có tiền lệ. Đầu năm 1945, trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đang truy quét bọn phát xít ra khỏi biên giới đất nước và chuẩn bị tác chiến trên lãnh thổ các nước Đông Âu đang chịu sự chiếm đóng của Đức quốc xã và quân đội Đồng minh Mỹ Anh cũng giành được thắng lợi trong nỗ lực mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu và mặt trận Thái Bình Dương, nguyên thủ của ba cường quốc giữ vai trò nòng cốt trong phe Đồng minh (Liên Xô, Anh, Mỹ) đã gặp nhau tại thành phố IantaYanta (bán đảo Crưm, Liên Xô) để nhằm đưa ra các biện pháp quan trọng nhằm đánh bại nhanh chóng các nước phát xít Đức và Nhật, kết thúc chiến tranh, đồng thời thiết lập một nền hòa bình lâu dài trên trái đất. Cuộc gặp thượng đỉnh tam cường diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945 với sự tham gia của Stalin, Roosevelt và Churchill. Do liên quan đến lợi ích của mỗi cường quốc thắng trận mà hội nghị tại Ianta đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và sự tranh giành quyết liệt. Tuy nhiên, vì lợi ích chung có liên quan trực tiếp tới nền hòa bình, an ninh và trật tự thế giới mới sau chiến tranh nên cuối cùng các bên tham gia hội nghị cũng đã đạt được sự đồng thuận trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Trang 1

SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ HAI

CỰC IANTA

1 Sự hình thành trật tự thế giới hai cực Ianta

Tháng 9 năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít và sự thất bại của phe phát xít Kể từ thời điểm lịch sử trọng đại này,lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều biến chuyển to lớn vàchưa từng có tiền lệ

Đầu năm 1945, trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đang truy quét bọn phát xít ra khỏi biêngiới đất nước và chuẩn bị tác chiến trên lãnh thổ các nước Đông Âu đang chịu sự chiếm đóngcủa Đức quốc xã và quân đội Đồng minh Mỹ - Anh cũng giành được thắng lợi trong nỗ lực mởmặt trận thứ hai ở Tây Âu và mặt trận Thái Bình Dương, nguyên thủ của ba cường quốc giữ vaitrò nòng cốt trong phe Đồng minh (Liên Xô, Anh, Mỹ) đã gặp nhau tại thành phố Ianta/Yanta(bán đảo Crưm, Liên Xô) để nhằm đưa ra các biện pháp quan trọng nhằm đánh bại nhanh chóngcác nước phát xít Đức và Nhật, kết thúc chiến tranh, đồng thời thiết lập một nền hòa bình lâu dàitrên trái đất Cuộc gặp thượng đỉnh tam cường diễn ra từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945với sự tham gia của Stalin, Roosevelt và Churchill Do liên quan đến lợi ích của mỗi cường quốcthắng trận mà hội nghị tại Ianta đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và sự tranh giànhquyết liệt Tuy nhiên, vì lợi ích chung có liên quan trực tiếp tới nền hòa bình, an ninh và trật tựthế giới mới sau chiến tranh nên cuối cùng các bên tham gia hội nghị cũng đã đạt được sự đồngthuận trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Về vấn đề Đức, Liên Xô, Anh và Mỹ đã thống nhất với nhau rằng, cần phải đánh bại hoàntoàn và tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức Sau khi Hitler bị đánh bại, nước Đức sẽ bị lựclượng Đồng minh chiếm đóng Theo thỏa thuận giữa ba cường quốc, Liên Xô sẽ chiếm đóngvùng Đông Đức, Anh chiếm đóng vùng Tây-Bắc, còn Mỹ sẽ chiếm đóng vùng Tây – Nam củanước Đức Do sự ủng hộ của Mỹ nên Pháp cũng có thể tham gia vào việc chiếm đóng nước Đức

( đại diện Mỹ từng cho rằng: “không thể tưởng tượng một châu Âu ổn định mà không có một nước Pháp mạnh và có ảnh hưởng”[1] ) Thủ đô Béclin (Berlin) của Đức cũng bị phân chia

thành những vùng chịu sự chiếm đóng và kiểm soát của bốn cương quốc (Liên Xô, Anh, Mỹ vàPháp) Nhằm phối hợp hành động và thi hành những chính sách đã thỏa thuận áp dụng cho nướcĐức, một Ủy ban kiểm soát Trung ương sẽ được thành lập ở Béclin Cơ quan này đảm nhiệmchức năng là Chính quyền tối cao ở Đức, với sự tham gia của những người đứng đầu các lựclượng vũ trang ba cường quốc (Liên Xô, Anh và Mỹ) trên lãnh thổ Đức Pháp cũng được mờitham gia vào ủy ban này (sau đổi tên thành Hội đồng kiểm soát của Đồng minh)

Tại Hội nghị, Ianta, ba cường quốc giữ vai trò nòng cốt trong phe Đồng minh chống phát xít

đã đạt được thỏa thuận nhiều vấn đề liên quan đến nước Đức phát xít như, nước Đức sau khi bịđánh bại sẽ bị giải giáp vũ trang, thủ tiêu Bộ Tổng tham mưu, thủ tiêu nền công nghiệp chiếntranh, loại bỏ các đảng phái và tổ chức phát xít, trừng trị tội phạm chiến tranh, vấn đề bồi thườngchiến tranh…

Trang 2

Một văn kiện quan trọng liên quan tới châu Âu cũng đã được nguyên thủ Liên Xô, Mỹ và

Anh thông qua tại Ianta, đó là “Tuyên ngôn giải phóng châu Âu” Tuyên ngôn có nội dung cơ

bản là ba cường quốc cam kết phối hợp hành động để giúp tất cả các quốc gia dân tộc bị chủnghĩa phát xít Đức, Italia xâm lược và chiếm đóng tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng Đồngthời, sau khi châu Âu được giải phóng, quân đội của các cường quốc Đồng minh sẽ tiếp tục ở lạitrên lãnh thổ các nước châu Âu theo thỏa thuận nhằm tiến hành giải giáp quân đội phát xít, giúp

đỡ các nước này xây dựng một chế độ mới theo lựa chọn của chính họ

Cũng tại Hội nghị thượng đỉnh tại Ianta, ba cường quốc đã cùng nhau phân chia khu vực ảnhhưởng ở châu Âu và châu Á sau chiến tranh[2] Cụ thể:

Ở châu Âu: Quân đội Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát Đông Đức và Đông Béclin Quân đội

Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng và kiểm soát Tây Đức, Tây Béclin, Italia và một số nước Tây Âukhác; vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnhhưởng của Mĩ, trong đó Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập

Ở châu Á: Do việc Liên Xô chấp nhận tham chiến chống Nhật, Mĩ và Anh đã chấp nhận

những yêu cầu của Liên Xô: duy trì nguyên trạng của CHND Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miềnNam đảo Xakhalin và quần đảo Curin bị Nhật chiếm từ sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905);quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản; trả lại cho Trung Quốc quần đảo Bành Hồ và Mãn Châu bịNhật chiếm từ sau năm 1895; quân đội Liên Xô và Mĩ rút khỏi Trung Quốc; Trung Quốc tiến tớithành lập một chính phủ liên hiệp có sự tham gia của Đảng Cộng sản Trung Quốc; Mĩ có quyềnlợi ở Trung Quốc; Triều Tiên sẽ trở thành một nước độc lập, nhưng trước mắt quân đội Liên Xô

và Mĩ chia nhau kiểm soát Bắc và Nam vĩ tuyến 38; các vùng lãnh thổ còn lại của châu Á (ĐôngNam Á, Nam Á và Tây Á) vẫn thuộc phạm vi truyền thống của các nước phương Tây

Có thể thấy, những kết quả đạt được giữa Liên Xô, Anh và Mỹ tại Ianta vào tháng 2 năm

1945 không chỉ thiết lập một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các nước thuộc phe Đồng minhtrong cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít ở giai đoạn cuối cùng mà còn đặt những cơ

sở có tính chất nền tảng cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh mà lịch sử

gọi là Trật tự hai cực Ianta do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực với các khu ảnh hưởng của mỗi

nước

Sau hội nghị Ianta, cả ba cường quốc đều đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm nhanhchóng đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức Tuy quân đội Đức đã kháng cự điên cuồng song vẫnkhông thể ngăn cản được bước tiến của lực lượng Đồng minh Đến ngày 26 tháng 4 năm 1945,Hồng quân Liên Xô và Mĩ đã gặp nhau ở Torgau trên bờ sông Elbe của Đức Ngày 2 tháng 2năm 1945, quân Đức bảo vệ Béclin đã buộc phải đầu hàng[3] Ngày 8 tháng 5 năm 1945, tạiKarlshorst thuộc ngoại ô Béclin, dưới sự chủ tọa của Nguyên soái Liên Xô Jukov và sự tham dựcủa đại diện các lực lượng vũ trang Liên Xô, Mĩ, Anh và Pháp, tướng Đức là Keitel (người đứngđầu Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang Đức) đã phải ký vào Hiệp ước đầu hàng Đồngminh vô điều kiện Như vậy, với văn kiện quan trọng này, chủ nghĩa phát xít Đức chính thức bịđánh bại hoàn toàn Kể từ đây, sự thất bại của chủ nghĩa phát xít Nhật cũng chỉ còn là vấn đề thờigian

Sau nhiều tranh cãi về địa điểm tổ chức cuộc họp cấp cao giữa ba cường quốc liên quan đếncác vấn đề của nước Đức phát xít và nước Nhật bại trận, cuối cùng Liên Xô và Mĩ cũng đạt đượcthỏa với Anh về việc tiến hành Hội nghị thượng đỉnh Xô - Mĩ - Anh tại thành phố Potsdam

Trang 3

(Đức) Trong các ngày từ 17 tháng 7 đến 25 tháng 7 và từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8năm 1945 đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Potsdam Vấn đề trung tâm của Hội nghị Potsdam là

vấn đề Đức, với các vấn đề chính như: tương lai của nước Đức, về việc chiếm đóng và kiểm soát

nước Đức, trừng trị tội phạm chiến tranh và bồi thường chiến phí chiến tranh

Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, nước Đức phải trở thành một quốc gia thống nhất,dân chủ và hòa bình, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Diện tích khu vực chiếm đóng của Liên

Xô, Mỹ, Anh và Pháp tại Đức đã được công bố vào ngày 6 tháng 6 năm 1945 Theo đó, Liên Xôchiếm đóng khu vực phía đông có diện tích 107.500 km2 với số dân là 18,5 triệu người; Anh phíabắc (98.826 km2, 22 triệu dân); Mỹ phía nam (113.164 km2, 15,7 triệu dân) và Pháp chiếm phíatây giáp với Pháp (39.152 km2, 5,9 triệu dân) Trong khoảng thời gian gần một năm (từ tháng 10năm 1945 đến tháng 8 năm 1946) một Tòa án quốc tế cũng đã được tổ chức tại Nuyrămbe (Đức)

để xét xử và trừng phạt các tội phạm chiến tranh Liên quan đến việc bồi thường chiến tranh củaĐức, Hội nghị Potsdam đã quyết định cả Liên Xô và ba nước đoòng minh phương tây đều đượcnhận tiền bồi thường khấu trừ trong các tài sản tịch thu của Đức ở khu vực chiếm đóng củamình

và trích trong số đầu tư của Đức ở nước ngoài[4]

Về vấn đề Nhật Bản, Tuyên bố Potsdam đã chỉ rõ: Nhật Bản phải đầu hàng không điều kiện;

chủ quyền của Nhật chỉ giới hạn trên đất Nhật chính thống (4 đảo Honshu, Hokkaido, Honshu vàShikoku) và một số đảo phụ lân cận; trừng trị các tội phạm chiến tranh; dân chủ hóa nước Nhật

và thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt; thủ tiêu lực lượng vũ trang của Nhật Bản; Nhật Bảnchỉ được phát triển công nghiệp hòa bình

Có thể thấy, những nghị quyết của Hội nghị Potsdam vừa tiếp tục khẳng định, vừa bổ sung,đồng thời cụ thể hóa những quyết định của Hội nghị thượng đỉnh giữa Liên Xô, Mỹ và Anh tạiIanta về việc phối hợp hành động kết thúc chiến tranh (đánh bại Nhật Bản) và thiết lập một trật

tự thế giới mới sau khi chiến tranh kết thúc Tuy nhiên, điều cần chú ý là đây cũng là hội nghịthượng đỉnh cuối cùng giữa ba cường quốc giữ vai trò nòng cốt trong phe Đồng minh Ở giaiđoạn chót của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, do những lợi ích của mỗi cường quốc, đã nảysinh những mầm mống của sự bất đồng và chia rẽ giữa Liên Xô và Mỹ, Anh Ngày 16 tháng 8năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman đã tuyên bố riêng rẽ rằng chỉ có quân đội Mỹ chiếm đóngNhật Bản[5]

Nhờ sự hợp sức của quân đội các nước Đồng minh, sự sụp đổ của nước Nhật phát xít làkhông thể tránh khỏi Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên thiết giáp hạm Missouri, trong vịnh Tokyo,đại diện Chính phủ Nhật Bản đã gặp tướng Mỹ Mac Arthur và các sĩ quan Đồng minh chính thức

ký văn bản đầu hàng không điều kiện[6] Trong những ngày tiếp theo, các đạo quân của Nhật lầnlượt hạ vũ khí, chiến tranh đã chấm dứt, đánh dấu sự thất bại của chủ nghĩa phát xít Nhật

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới đã có những chuyển biến tolớn, tác động mạnh mẽ tới tất cả các quan hệ quốc tế và trật tự thế giới vừa mới được thiết lập

Trước tiên, từ chỗ là đồng minh, hợp tác với nhau để cùng đối phó và đánh bại chủ nghĩa

phát xít, sau chiến tranh, hai cường quốc Liên Xô và Mỹ đã nhanh chóng chuyển sang đối đầu

Hệ quả là, trên thế giới đã dần hình thành hai phe đối lập – phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốcchủ nghĩa – và mỗi phe đều tập hợp chung quanh một cực siêu cường của mình Sự đối đầu đóbắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân (sự khác biệt về hệ tư tưởng, sự khác nhau về bản chất chế

độ, tham vọng của mỗi cường quốc, những mục tiêu và lợi ích căn bản mà mỗi phe theo đuổi…)

Trang 4

Thực trạng đó đã đưa đến sự ra đời của Chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ và giữa hai phe.Mặc dù vậy, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan, Liên Xô và Mỹ tuy đối đầu vàcạnh tranh quyết liệt với nhau song vẫn phải chung sống hòa bình, tránh nguy cơ đụng đầu trựctiếp giữa hai siêu cường, tránh một cuộc đối đầu mang tình hủy diệt Đúng như Thomas L.

Friedman trong tác phẩm của mình có nhan đề “Chiếc Lexus và cây ô liu” đã nhận xét khá chính

xác về mối quan hệ giữa hai cường quốc vốn là bạn bè và liên minh với nhau trong chiến tranh,

giờ lại là những đối thủ cạnh tranh của nhau: “Khi Mỹ trổi lên từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cưỡi trên lưng thế giới như một siêu cường vô địch, có trọng trách toàn cầu và tham gia tranh giành quyền lực với Liên Xô…Bỗng nhiên, cả thế giới trở thành sân chơi của Hoa Kỳ, và

cả thế giới chỗ nào cũng quan trọng, vì mọi ngõ ngách trên thế giới đều có sự tranh giành với Liên Xô”[7] Có thể nói, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại của trật tự hai cực Ianta, một đặc điểm lớn

của tình hình thế giới là giữa Liên Xô và Mỹ, giữa hai phe vừa đấu tranh gay gắt với nhau lại vừachung sống hòa bình và hợp tác với nhau thông qua diễn đàn của tổ chức quốc tế Liên HợpQuốc Việc Giáo sư Michael Mandelbau, môn Quan hệ đối ngoại, Đại học Hopkins ví Chiếntranh Lạnh giống như môn vật Sumo của Nhật Bản đã khắc họa chính xác mối quan hệ giữa hai

siêu cường Xô – Mỹ: “Sẽ có hai anh béo đứng trên đài, múa may lễ bái đủ đường, giậm chân huỳnh huỵch, nhưng rất ít khi chạm vào nhau… cho tới cuối trận thì có chút ít xô đẩy và có một tay bị thua do bị đẩy ra khỏi đài, nhưng rốt cuộc chẳng có anh nào chết cả”[8].

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ phạm vi một nước (Liên Xô trước trước Chiến tranh thế giới thứ

hai) trở thành một hệ thống thế giới với hơn 10 quốc gia trải rộng từ châu Âu qua châu Á tới khuvực Mỹ latinh Trong thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, với sự tăng trưởng nhanh chóng về mọimặt, hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã trở thành một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tếhùng hậu, và là một nhân tố tác động có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chiều hướng phát triển của tìnhhình thế giới Hệ thống XHCN đã trở thành chỗ dựa tin cậy đối với cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội Một thực tế là, trong các kế hoạchcủa mình, Mỹ và chủ nghĩa tư bản không thể không tính đến nhân tố Liên Xô và hệ thống XHCNthế giới

Thứ ba, cuộc Chiến tranh lạnh (hình thành năm 1947 và kéo dài đến 1989) đã có tác động

mạnh mẽ tới chính sách đối nội, quan hệ đối ngoại và mậu dịch của hầu hết mọi nước trên thế

giới Chiến tranh lạnh “không tạo lập tất cả nhưng lại định hình rất nhiều thứ”[9] Nhà nghiên cứu Mỹ,Thomas L Friedman, đã chỉ ra rằng: “Với vai trò là một hệ thống quốc tế, Chiến tranh lạnh có cấu trúc quyền lực riêng: cán cân lực lượng giữa Hoa Kỳ và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết Chiến tranh lạnh có những luật lệ riêng: trong quan hệ đối ngoại, không một siêu cường nào muốn xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của một siêu cường khác; trong kinh tế, những nước kém phát triển chú tâm vào việc phát triển những ngành công nghiệp quốc gia của riêng họ, các nước đang phát triển chú tâm tăng trưởng trên cơ sở xuất khẩu, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung thắt lưng buộc bụng và phương Tây thì chăm chăm vào việc buôn bán có điều tiết Chiến tranh lạnh có hệ tư tưởng riêng của nó: cuộc chạm chán giữa chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa tư bản, giai đoạn hòa hoãn, không liên kết hay cải tổ (perestroika) Chiến tranh lạnh có khuynh hướng về dân số riêng: di cư từ Đông sang Tây bị bức màn sắt ngăn trở, nhưng

di cư từ miền Nam lên phía Bắc thì đều đặn hơn Chiến tranh lạnh có cái nhìn toàn cầu riêng: thế giới được chia thành phe XHCN, phe TBCN và phe trung lập; nước nào cũng thuộc về một trong những phe này Chiến tranh lạnh sinh ra những công nghệ định hình riêng: chủ đạo là vũ khí hạt nhân và cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai, nhưng đối với dân chúng ở các nước đang phát triển thì búa liềm vẫn là công cụ gần gũi Chiến tranh lạnh có thước đo riêng: số

Trang 5

lượng tên lửa hạt nhân của mỗi bên Và sau cùng, Chiến tranh lạnh tạo ra mối lo riêng: sự hủy diệt hạt nhân”[10] Không chỉ có vậy, Thomas L Friedman đã đúng khi khẳng định: “Trước hết, nói về Chiến tranh lạnh là nói đến sự chia cắt Thế giới bị chia cắt ngang dọc thành nhiều cánh đồng vụn vặt manh mún”[11].

Thứ tư, những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong lúc hầu hết các nước tư bản dù

thắng trận hay thua trận đều bị suy sụp, kiệt quệ thì Mỹ là nước duy nhất được hưởng lợi từ chiếntranh, vươn lên trở thành đế quốc giàu mạnh nhất trong phe tư bản chủ nghĩa Tuy vậy, tình hìnhnày chỉ kéo dài trong hơn một thập niên Kể từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, sức mạnh và địa

vị của Mỹ bắt đầu bị giảm sút, các nước tư bản bại trận như Tây Đức, Nhật Bản đã vươn lên, tìmlại vị thế của mình, cạnh tranh mạnh mẽ với Mỹ Sau cuộc khủng hoảng năng lượng đầu thậpniên 70 của thế kỷ trước, các nước tư bản đều tiến hành tự điều chỉnh để thích ứng với bối cảnhmới của thế giới, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

Thứ năm, ngay vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai sắp sửa kết thúc, cao trào giải

phóng dân tộc đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở hầu hết các châu lục Chính điều này đã giángnhững đòn tấn công mạnh mẽ vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, làm tan rã từngmảng lớn trong thập niên 50 của thế kỷ XX và tới giữa thập niên tiếp theo thì sụp đổ về cơ bản

Sự xuất hiện trở lại trên bản đồ chính trị quốc tế của hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi đã có ảnhhưởng to lớn tới trật tự hai cực Ianta, khiến cho cả Mỹ lẫn Liên Xô không thể bỏ qua vai trò của

họ trong các tính toán chiến lược của mình

Thứ sáu, từ sau năm 1945, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ

trên khắp thế giới Với quy mô to lớn, nội dung toàn diện và sâu sắc, cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, đưa lại nhiều tác động đối với sự phát triển của tất cảcác quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ và thành tựu kỳ diệu, cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật cũng đem lại những hạn chế mà hậu quả lâu dài của nó không dễ gì giải quyết ngày mộtngày hai

Chiến tranh lạnh gần như là một hệ quả tất yếu của tình hình đối đầu, căng thẳng giữa haiphe thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là kết quả tất yếu của trật tự hai cực Ianta

2 Chiến tranh lạnh là kết quả tất yếu của trật tự hai cực Ianta

2.1 Nguồn gốc của Chiến tranh lạnh

Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mĩ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không phảichỉ bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mà nó nảy sinh ngay từ sau Cách mạng thángMười Nga (1917) với sự ra đời của nước Nga Xô viết Lúc bấy giờ, các nước tư bản phương Tây

đã tập trung lực lượng và tìm mọi cách để xóa bỏ sự tồn tại của nước Nga Xô viết: 14 nước tưbản đã đưa quân can thiệp chống nước Nga (1918 – 1920), các nước tư bản đã bao vây kinh tế,

cô lập chính trị nước Nga trong thập niên 20 – 30 của thế kỷ XX, đặc biệt trong cuộc xâm lượcLiên Xô của nước Đức phát xít trong những năm 1941 – 1945 Mặc dù vậy, nhà nước xã hội chủnghĩa đầu tiên vẫn đứng vững, tồn tại và ngày càng phát triển Trong Chiến tranh thế giới thứ

Trang 6

hai, Liên Xô và các nước Mĩ, Anh, Pháp đều là nạn nhân của cuộc xâm lược phát xít và họ đã trởthành đồng minh của nhau để cùng nhau đánh bại chủ nghĩa phát xít Tuy nhiên, do mâu thuẫngiữa Liên Xô và các nước tư bản này vẫn không hề mất đi ngay cả khi họ đã cùng chung mộtchiến hào Ngay khi chiến tranh sắp sửa kết thúc, chủ nghĩa phát xít sắp bị tiêu diệt, thì mâuthuẫn giữa Liên Xô và các nước Mĩ, Anh, Pháp lại nổi lên do lợi ích và tham vọng của mỗi bên.Các nước này từ quan hệ đồng minh chuyển sang quan hệ đối đầu Đó là một trong những nguồngốc sâu xa của cuộc Chiến tranh lạnh Bên cạnh đó, ngay từ Hội nghị Ianta (2/1945), Liên Xô và

Mĩ, Anh đã thỏa thuận với nhau phân chia phạm vi ảnh hưởng đối với các khu vực trên phạm vi

thế giới Cũng vì thế,Chiến tranh lạnh là kết quả tất yếu của các cuộc chiến tranh giành và mở

rộng phạm vi thế lực giữa Liên Xô và Mĩ, mà thường được gọi là hai cực trong trật tự thế giớihai cực được xác định từ Hội nghị Ianta

Tuy nhiên, ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới chuyển biếnmau lẹ ngày càng có lợi cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, bất lợi cho Mĩ và các đồngminh của Mĩ Đầu năm 1947, ở các nước Đông Âu, khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, chínhquyền lần lượt chuyển vào tay nhân dân lao động, ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp phong trào đấu tranh

vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo phát triển mạnh mẽ Ở Pháp, Bỉ và Italia đại diện của ĐảngCộng sản đã tham gia Chính phủ, ở các nước này đã diễn ra một loạt những cải cách kinh tế - xãhội có lợi cho người lao động Còn ở khu vực Đông Âu, với sự trợ giúp tích cực của Liên Xô,các Đảng Cộng sản đã giành được ưu thế trong bộ máy chính quyền, hoàn thành cuộc cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân Ở châu Á, cách mạng Trung Quốc phát triển mạnh, so sánh lực lượngngày càng có lợi cho Đảng Cộng sản Trong bối cảnh như thế, Mỹ đã đẩy mạnh chiến lược toàncầu chống lại phong trào cách mạng thế giới Tổng thống Mỹ Truman đã khẳng định rõ tham

vọng bá chủ của Mỹ: “Dù muốn hay không muốn, chúng ta phải công nhận thắng lợi mà chúng

ta đạt được đã đặt lên nhân dân Mỹ gánh nặng là tiếp tục trách nhiệm lãnh đạo thế giới”[12].

Tháng 3 – 1947, Tổng thống Mĩ Truman đã đọc diễn văn tại Quốc hội Mĩ, chính thức đưa

ra học thuyết của mình Theo Truman thì các nước Đông Âu “vừa mới bị cộng sản thôn tính” vànhững đe dọa tương tự đang diễn ra nhiều nước khác ở châu Âu, ở Italia, Pháp và cả Đức nữa Vì

vậy, Mĩ phải đứng ra “đảm nhận sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do” phải giúp đỡ các dân tộc thế giới chống lại “sự đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản, chống lại sự “bành trướng” của nước Nga,

giúp đỡ bằng mọi biện pháp kinh tế, quân sự Tổng thống Mĩ đã phát động cuộc chiến tranh lạnhchống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Như vậy, học thuyết Truman đã mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranhnày đã diễn ra theo tư tưởng và mục tiêu của Mĩ mà học thuyết Truman đã vạch ra Cuộc chiếntranh này chính là sự đe dọa sử dụng bạo lực quân sự, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, chạyđua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh, làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng Mục tiêucủa chiến tranh lạnh do Mĩ phát động là Mĩ tiến tới lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự đe dọacủa chủ nghĩa cộng sản, chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn chủ nghĩa xãhội không cho lan ra các khu vực khác Từ năm 1947 đến năm 1949, Mỹ và các nước phương

Tây ráo riết đẩy mạnh Chiến tranh lạnh với ba khúc dạo đầu, đó là Chủ nghĩa Truman, Kế hoạch Macsan và Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương.

2.2 Những biểu hiện chính của Chiến tranh lạnh

Mĩ tìm cách lôi kéo các nước đồng minh về phía mình bằng các biện pháp kinh tế, chính

trị và quân sự vừa để thao túng, vừa để tạo ra khối các nước đối lập với Liên Xô và các nước xãhội chủ nghĩa Ngày 05 – 06 – 1947, ngay sau khi học thuyết Truman ra đời, ngoại trưởng MĩMacsan liền đưa ra kế hoạch của mình bằng “Phương án phục hưng châu Âu” Theo Macsan, chỉcần một bộ phận hoặc toàn bộ các nước các nước châu Âu cùng nhau xây dựng một kế

hoạch “phục hưng” thì Mĩ sẽ mở rộng “viện trợ” đến châu Âu Thực hiện kế hoạch của Macsan,

ngày 12 – 07 – 1947, các nước Anh – Pháp triệu tập ở Pari hội nghị bàn về kế hoạch này của Mĩvới 16 nước tư bản châu Âu tham gia Hội nghị đã yêu cầu Mĩ viện trợ hàng chục tỉ đô la cho

châu Âu Tháng 4 – 1948, Quốc hội Mĩ thông qua “Đạo luật viện trợ nước ngoài” với những

quy định: nước nhận viện trợ phải kí với Mĩ hiệp ước tay đôi có lợi cho Mĩ, phải thi hành chínhsách kinh tế tài chính do Mĩ yêu cầu, phải cung cấp nguyên liệu cho Mĩ, phải ngừng buôn bánvới Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, hủy bỏ kế hoạch quốc hữu hóa và gạt bỏ các lựclượng tiến bộ ra ngoài chính phủ… Kế hoạch Macsan được thực hiện từ ngày 9 – 4 – 1948 đếnngày 31 – 12 – 1951, thực tế Mĩ đã bỏ ra khoảng gần 13 tỉ đô la[13] Với kế hoạch này, Mỹ đãgiữ vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi nền kinh tế châu Âu vốn bị chiến tranh tàn phánặng nề, qua đó Mỹ thực thiện thành công mưu đồ khống chế các nước tư bản Tây Âu về chínhtrị, kinh tế, chuẩn bị cơ sở cho sự ra đời một liên minh quân sự ở châu Âu

Phản ứng lại đối với “Học thuyết Truman” và “Kế hoạch Macsan”, Liên Xô cùng các

nước xã hội chủ nghĩa và các đảng cộng sản châu Âu đã xúc tiến thành lập Cơ quan Thông tinCộng sản (KOMINFORM) vào tháng 10 năm 1947 Đại diện của Đảng Cộng sản các nước, Liên

Xô, Ba Lan, Nam Tư, Bungari, Rumani, Hungari, Tiệp Khắc, Italia và Pháp đã tham dự cuộc họpthành lập tổ chức trên tại Vacsava Hội nghị đã ra bản tuyên bố, trong đó phân tích tình hình thế

Trang 8

giới chia làm hai phe, phe đế quốc – tư bản do Mĩ đứng đầu và phe chống đế quốc – tư bản doLiên Xô đứng đầu Cơ quan thông tin cộng sản có nhiệm vụ tổ chức thực hiện thông tin, trao đổikinh nghiệm và phối hợp hành động đấu tranh giữa các đảng cộng sản một cách tự nguyện, nhằmthống nhất về mặt tư tưởng Để trao đổi thông tin, hội nghị đã quyết định xuất bản tạp chí ở

Bêôgrat bằng tiếng Pháp và tiếng Nga mang tên “Vì một nền hòa bình vững chắc, vì nền dân chủ nhân dân” Hơn một năm sau, vào ngày 8 - 1 - 1949, Liên Xô và các nước Anbani Ba Lan,

Bungari, Hungari, Rumani, Tiệp Khắc đã quyết định thành lập tổ chức kinh tế của các nước xã

hội chủ nghĩa: Hội đồng tương trợ kinh tế (gọi tắt theo tiếng Nga là SEV) Như vậy, trên thế giới

đã hình thành một giới tuyến đối lập về kinh tế giữa khối phương Tây tư bản chủ nghĩa và khốiphương Đông xã hội chủ nghĩa

Như một biểu hiện tất yếu của sự đối đầu giữa hai phe trong cuộc Chiến tranh lạnh, cáckhối quân sự đã lần lượt được thành lập, cho thấy tình hình căng thẳng của thế giới khi tồn tạitrật tự hai cực Ianta Với tham vọng bá chủ thế giới, chống lại Liên Xô và các nước XHCN, đẩylùi phong trào giải phóng dân tộc, Mỹ đã ráo riết thành lập các liên minh quân sự, kéo theo sựđáp trả của Liên Xô

Để dọn đường cho việc chuẩn bị liên minh quân sự đầu tiên với các nước Tây Âu, tháng

6 năm 1948, Quốc hội Mỹ đã thông qua quyết định mang tên nghị sĩ Vanđebơ, trong đó cho phépChính phủ Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử được ký kết những liên minh quân sự với các nướcngoài châu Mỹ trong thời bình, đồng thời có thể viện trợ cho các nước liên kết với Mỹ[14]

Gần một năm sau đó, vào tháng 4 năm 1949, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã ra đời dưới sự lãnh đạo của Mỹ, với sự tham gia của 12 nước châu Âu và Bắc

Mỹ.Việc thành lập khối NATO đánh dấu sự khống chế về quân sự của Mỹ đối với các nước Tây

Âu, lập nên một liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây Việc Tây Đứctham gia NATO đã khiến cho khối này thực sự trở thành một công cụ quan trọng của chính sáchChiến tranh lạnh chống phá các nước XHCN Trước nguy cơ đó, tháng 5 năm 1955, Liên Xô và

các nước XHCN Đông Âu đã quyết định thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácxava - một liên minh

quân sự - chính trị mang tính chất phòng thủ của các nước XHCN châu Âu Có thể thấy, từ thờiđiểm này, sự đối đầu về quân sự giữa hai phe do Mỹ và Liên Xô đứng đầu đã khiến cho bầukhông khí trong đời sống quan hệ quốc tế ở châu Âu và thế giới luôn luôn ở trong tình trạng căng

thẳng Sự ra đời của khối NATO và Tổ chức Hiệp ước Vácxava đã “đánh dấu sự xác lập cuối cùng cục diện chiến lược hai cực, với một đặc trưng nổi bật là việc đứng bên này hay bên kia đã

mở rộng và tăng lên từ châu Âu sang các nước khác trên thế giới”[15].

Trang 9

Trong những năm 1947 - 1949, Mĩ thi hành “chính sách ngăn chặn” nhằm ngăn chặn “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”, rồi tiến tới tiêu diệt nó Mĩ cho rằng, Liên Xô bị

suy yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kiệt quệ cả về vật chất và tinh thần, chỉ cần đặt trướcLiên Xô một lực lượng mạnh trong vòng 10 – 15 năm, Liên Xô sẽ tự bị tiêu diệt và sẽ ngăn chặnđược chủ nghĩa cộng sản, ngăn chặn được khuynh hướng xâm lược của người Nga

Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, Mĩ đã xúc tiến việc chia cắt nước Đức và Triều Tiên Mĩ cùng các nước Anh, Pháp tiến hành chia cắt nước Đức, phục hồi chủ

nghĩa quân phiệt Đức, biến Tây Đức thành tiền đồn ngăn chặn chủ nghĩa xã hội không thể lansang phía Tây châu Âu Mĩ đã phá hoại những khóa họp của hội nghị ngoại trưởng Matxcơva (4– 1947) và ở Luân Đôn (12 – 1947) bằng cách bác bỏ mọi đề nghị của Liên Xô trong việc giảiquyết vấn đề kí hòa ước với Đức, vấn đề thành lập một chính phủ chung cho toàn Đức theo nghịquyết Potsdam và vấn đề những biện pháp nhằm tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa quân phiệt Đức.Ngay sau khi Hội nghị Luân Đôn đi đến chỗ bế tắc, các nước phương Tây liền tổ chức một hộinghị riêng rẽ khác ở Luân Đôn để bàn về việc chia cắt nước Đức Hội nghị đã đề cập đến nhữngnội dung sau: Tổ chức chính trị ở Tây Đức, chế độ khai thác vùng Rua, chế độ đóng chiếm ở TâyĐức, cải cách tiền tệ ở Đức Hội nghị cho việc thành lập một quốc gia riêng rẽ ở Tây Đức có ýnghĩa đặc biệt Ngày 2 – 6 – 1948, Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố nêu rõ ý định quyết tâm chiacắt nước Đức của các nước phương Tây Sau hội nghị, ngày 18 – 6 – 1948, tại phía Tây nướcĐức và Tây Béclin, Mĩ, Anh, Pháp tiến hành cải cách tiền tệ riêng rẽ, số tiền cũ họ đưa sang phíaĐông Đức và Đông Béclin, gây rối loạn kinh tế - xã hội khu vực này

Để bảo vệ nền kinh tế Đông Đức khỏi bị tan rã, Ban quân chính Liên Xô ở Đông Đức bắtbuộc phải thi hành hạn chế vận tải trong việc thông thương giữa hai miền Đông và Tây Đức,giữa Tây Béclin và Đông Béclin Sau đó, ở Đông Đức cũng tiến hành cải cách tiền tệ để ổn định

và phát triển nền kinh tế Lúc này, tình hình giữa miền Đông và miền Tây cũng như quan hệ giữaLiên Xô và các nước Mĩ, Anh, Pháp trở nên căng thẳng Các nước phương Tây lập cầu hàngkhông tiếp tế hàng hóa cho Tây Đức và Tây Béclin, họ cũng lợi dụng lý do nhân đạo để đưathêm lực lượng vũ trang và vũ khí vào Tây Đức Tình hình căng thẳng, nhưng xung đột đã khôngxảy ra, do Liên Xô đã chủ động đồng ý hủy bỏ những hạn chế vận tải giữa các khu vực ở nướcĐức (5 – 1949) với điều kiện hội nghị ngoại trưởng phải họp lại để bàn giải quyết vấn đề Đức Sau cuộc khủng hoảng này, phía các nước phương Tây vẫn tích cực xúc tiến việc thànhlập riêng rẽ nhà nước Đức ở phía tây Bộ tư lệnh Mĩ, Anh, Pháp cùng với những lãnh đạo Đức ởphía Tây đã họp Hội nghị Phranphuốc (7 – 1948) đã quyết định triệu tập một quốc hội lập hiến

Trang 10

riêng rẽ vào tháng 9 – 1948 Tiếp theo, Mĩ, Anh, Pháp đã tiến hành hội nghị riêng ở Oasinhtơn (8– 4 – 1949) thông qua nhiều nội dung quan trọng về vấn đề Đức trái với tinh thần của hội nghịPotsdam Tháng 5 – 1949, Hội đồng nghị viện họp ở Bon đã thông qua dự thảo Hiến pháp nướccộng hòa Liên Bang Đức (Tây Đức) Ngày 14 – 9 – 1949, ở các khu vực miền Tây, một cuộcbầu cử riêng rẽ đã được tiến hành Ngày 12 – 9,nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) đã cóThủ tướng đầu tiên.

Như vậy, ở phía Tây Đức đã xuất hiện một quốc gia riêng rẽ, liên minh chặt chẽ vớiphương Tây Đáp lại hành động của Mĩ và các nước phương Tây, ở Đông Đức vào tháng 5 –

1949, được sự giúp đỡ của Liên Xô, các đảng phái và tổ chức dân chủ của hai miền nước Đức đã

họp Đại hội nhân dân, thông qua dự thảo Hiến pháp và bầu ra Hội đồng nhân dân Đức Ngày 7 –

10 – 1949, Hội đồng nhân dân Đức tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Đức Như thế

trên nước Đức cũ đã xuất hiện hai nhà nước Đức đối lập nhau Sự ra đời của Cộng hòa Dân chủĐức là một đòn đánh vào kế hoạch “ngăn chặn” của Mĩ

Ở châu Á, Mĩ cũng tích cực thực hiện chia cắt Triều Tiên, coi đó là việc làm cần thiết để

“ngăn chặn” chủ nghĩa xã hội mở rộng ra khu vực Đông Bắc Á Ngày 10 – 5 – 1948, Mĩ, các lựclượng thân Mĩ đã tổ chức tuyển cử riêng rẽ ở Nam Triều Tiên Ngày 30 – 5 – 1948, Quốc hội

được bầu cử ở phía nam đã họp ở Sơun, cử Lý Thừa Văn lên làm Tổng thống nước Đại Dân quốc (Hàn Quốc).

Để đối phó lại hành động của Mĩ ở bán đảo Triều Tiên, được sự giúp đỡ của Liên Xô,tháng 6 – 1948, các đảng phái và các tổ chức dân chủ ở miền Bắc Triều Tiên đã họp hội nghị liêntịch, quyết định bầu cử Quốc hội để tiến tới thành lập Chính phủ dân chủ Ngày 21 – 8 – 1948,

Quốc hội họp và tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Như vậy, trên bán

đảo Triều Tiên đã xuất hiện hai nhà nước đối lập nhau, đó là hậu quả khác của cuộc chiến tranhlạnh

Đến thập niên 50 của thế kỷ XX, “Chính sách ngăn chặn” của Mĩ cũng thất bại ở nhiềunơi Ở một số nước châu Á sau khi giành được độc lập đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ

nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh Đặc biệt ở châu Á,sự kiện thành lập nước Cộng hòa Nhân dân

Trung Hoa ngày 1 tháng 10 năm 1949 đã góp phần to lớn vào việc tăng cường ảnh hưởng củaphe XHCN trên thế giới, đánh dấu hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành từ từ Âu sang

Á, làm cho so sánh lực lượng giữa hai phe thay đổi có lợi cho phe XHCN Bên cạnh đó,Liên Xôkhông bị suy yếu như Mĩ mong đợi, mà ngày càng hùng mạnh, vững chắc hơn trước Kế hoạch 5năm lần thứ 4 (1946 – 1950) đã hoàn thành khôi phục kinh tế trước thời hạn (4 năm 3 tháng)

Trang 11

Năm 1950, sản lượng công nghiệp Liên Xô tăng 73% so với trước chiến tranh; năm 1949, Liên

Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc quyền thứ vũ khí này của Mỹ

Ở các nước Đông Âu, trong những năm 1947 – 1949, với sự giúp đỡ tích cực của Liên

Xô, nhân dân các nước này lần lượt hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và bướcvào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tất cả các mưu toan ngăn chặn con đường đi lên chủnghĩa xã hội của các nước này đều lần lượt thất bại

Ở châu Á, tình hình cũng biến đổi nhanh chóng, làm thất bại “chính sách ngăn chặn” của

Mĩ Từ năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn mới

và ngày càng thu được thắng lợi to lớn Đến năm 1954 chiến thắng Điện Biên Phủ đã cho thấy

sự thất bại của Mĩ trong “chính sách ngăn chặn” Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” các

nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh từ sau năm 1945,

Mĩ và các nước phương Tây đã tiến hành thành lập các khối quân sự và các căn cứ quân sự khắpnơi trên thế giới

Châu Âu, lúc này, trở thành trọng điển trong chính sách bao vây, ngăn chặn của Mĩ Vì

vậy, Mĩ đã tiến hành đàm phán với Canađa và 5 nước trong tổ chức “Liên hiệp Châu Âu” (Anh,Pháp, Hà Lan, Bỉ, Lucxămbua) để thành lập khối Bắc Đại Tây Dương Mặc dù có những bấtđồng, nhưng cuối cùng Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đã được 12 nước, kí kết ở Washingtonngày 4 – 4 – 1949 Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 4 – 8 – 1949, thời hạn hiệu lực 20 năm (có thểgia hạn thêm) khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời đánh dấu sự khống chế của Mĩ về quân

sự đối với Tây Âu, lập nên một liên minh quân sự lớn nhất phương Tây, một công cụ quan trọngcủa chính sách chiến tranh lạnh của Mĩ chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác.Năm 1955, Tây Đức được kết nạp vào NATO làm cho quan hệ Đông – Tây càng trở nên căngthẳng Trước tình hình đó, tháng 5 – 1955, Liên Xô và các nước Anbani (năm 1961, do bất đồngvới Liên Xô nên Anbani đã rút ra khỏi khối), Bungari, Hungari, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan,Rumani và Tiệp Khắc đã tổ chức Hội nghị ở Vacsava và kí hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tươngtrợ (14 – 5 – 1955) với thời hạn 20 năm, nhằm gìn giữ an ninh của các hội viên, duy trì hòa bình

ở châu Âu… Hiệp ước Vacsava còn quy định rằng khi hiệp ước an ninh tập thể toàn châu Âuđược kí kết thì hiệp ước Vacsava sẽ hết hiệu lực Điều đó nói lên tính chất phòng thủ của hiệp ướcnày

Sự ra đời của hai khối quân sự lớn nhất toàn cầu do Mĩ và Liên Xô đứng đầu, đối địchnhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hiện đại để tăng cường sức mạnh của khốimình, đã làm cho tình hình thế giới càng căng thẳng

Ngày đăng: 29/06/2014, 22:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh phương tiện phóng hạt nhân của Liên Xô và Mĩ - SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ HAI CỰC IANTA
Bảng so sánh phương tiện phóng hạt nhân của Liên Xô và Mĩ (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w