1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Why did vietnam have to implement stimulus policies in 2009

15 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Why Did Vietnam Have To Implement Stimulus Policies In 2009? Comparison Of Stimulus Policies Of Vietnam, China And The US.
Người hướng dẫn Trần Mạnh Kiện
Trường học University
Chuyên ngành Macroeconomics
Thể loại Essay
Năm xuất bản 2009
Thành phố City
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 646,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước bối cảnh suy thoái của nền kinh tế thế giới, tại sao Việt Nam lại phải thực hiện các chính sách kích cầu trong giai đoạn 2009?. “Cơn địa chấn” khủng hoảng tài chính toàn cầu đ

Trang 1

MACROECONOMICS ESSAY

Topic: Why did Vietnam have to implement stimulus policies

in 2009? Comparison of stimulus policies of Vietnam, China

and the US Why didn't Vietnam implement the 2nd stimulus

package at that time?

Lecturer: Tran Manh Kién Section Class Code:

Student:

Student code:

Trang 2

I Mo dau (Introduction)

Năm 2008, toàn thế giới đã rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính vô cùng trầm

trọng và được đánh giá là sự kiện quan trọng nhất trong thế kỷ XXI Khủng hoảng bắt

đầu từ khi bong bóng tài chính của Mỹ vỡ tung khiến cho 10.000 tỷ USD bị cuốn trôi,

30 triệu người bị mất việc, 50 triệu người quay lại chuẩn dưới nghèo Cuộc khủng

hoảng bắt đầu lan rộng từ thị trường tài chính sang thị trường sản xuất, gây suy thoái

cho nền kinh tế toàn cầu, Mỹ, châu Âu và Nhật Bản lần lượt suy thoái

Đứng trước bối cảnh suy thoái của nền kinh tế thế giới, tại sao Việt Nam lại phải thực

hiện các chính sách kích cầu trong giai đoạn 2009? Các chính sách kích cầu của Việt

Nam, Mỹ và Trung Quốc có gì khác và giống nhau? Và tại sao Việt Nam lại không thực

hiện gói kích cầu lần 2? Bài tiểu luận dưới đây sẽ nghiên cứu những vấn đề đó

(In 2008, the whole world fell into an extremely serious financial crisis and was

considered the most important event in the 21st century The crisis began when the

US financial bubble burst, causing $10,000 billion to be swept away, 30 million people

lost their jobs, and 50 million people returned to the poverty line The crisis began to

spread from financial markets to manufacturing markets, causing a recession in the

global economy, with the US, Europe and Japan in turn in recession

Faced with the world economic recession, why did Vietnam have to implement

stimulus policies in 2009? What are the differences and similarities between the

stimulus policies of Vietnam, the US and China? And why didn't Vietnam implement

the second stimulus package? The essay below will study those issues.)

II Những vấn đề cơ bản (The basic problems)

1 Các khái niệm cơ bản (The basic notions)

1.1 Khai niém kích cầu (Notion of Stimulus)

Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chỉ tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi là tiêu dùng

công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế Kích cầu đôi khi còn

được gọi là chính sách Keynes vì biện pháp này tác động đến tổng cầu

1.2 Biện pháp kích cầu (Stimulus measures)

Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chỉ tiêu hoặc thực hiện cả

hai Kích cầu thường chỉ được sử dụng khi nền kinh tế đang lầm vào tình trạng trì trệ

hay suy thoái và đang cần vực dậy Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh

tế rơi vào trạng thái bẫy thanh khoản, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu

lực vì lãi suất đã quá thấp

Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì việc thực

hiện phải đảm bảo 3 yếu tố: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ

Trang 3

Thứ nhất, Đúng lúc tức là khi thực hiện phải kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng Nếu thực hiện sớm quá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng hơn và tăng áp lực lạm phát Ngược lại, nếu thực hiện chậm quá, hiệu quả của kích cầu sẽ giảm Việc thực hiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp Thường thì chính phủ phải đệ trình Quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được cơ quan lập pháp tối cao này thông qua Và sẽ không phải lúc nào công việc này cũng diễn ra được suôn sẻ

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là sự thiếu chính xác trong xác định thời điểm chuyên pha của chu kỳ kinh tế (là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng

thịnh (bùng nổ)) Đã có trường hợp khi kinh tế đã chuyển sang pha suy thoái một thời

gian rồi mà công tác thu thập và phân tích số liệu thống kê không đủ khả năng để phán đoán ra

Thứ hai, Trúng đích tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác động lan toả tới tổng cầu hơn, đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn

cả bởi suy thoái kinh tế Thường thì đó là những chủ thể kinh tế nào có thu nhập thấp hơn Người có thu nhập cao thường ít giảm tiêu dùng hơn so với người có thu nhập thấp trong thời kỳ kinh tế quốc dân gặp khó khăn Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng sẽ tạo ra hiệu ứng lan toả, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động

Để kích cầu trúng địch, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các mô hình kinh tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịch bản khác nhau tương ướng với các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêu hợp lý nhất

Thứ ba, Vừa đủ tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nên kinh tế đã trở nên tốt hơn Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên Điều này càng được chú ý nếu ngân sách nhà nước và dự trữ ngoại hối nhà nước

không dư dật

Trong hai loại biện pháp kích cầu là giäm thuế và tăng chỉ tiêu ngân sách nhà nước thì biện pháp thứ hai được cho rằng có hiệu suất kích thích tổng cầu cao hơn

1.3 Ý nghĩa của kích cầu (Meaning of stimulus)

Trang 4

Theo Keynes, khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ sản xuất dư thừa, lãng phí nguồn tài

nguyên và lao động, tức là có sự thiếu hụt tổng cầu so với tổng cung Vậy để đưa nền

kinh tế trở lại ổn định cần phải kích cầu (là làm tăng lượng cầu cân bằng với lượng cung) bao gồm kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng Trong khi nền kinh tế đang khủng hoảng thì chỉ có nhà nước là có khả năng đẩy mạnh chỉ tiêu bởi vì các doanh nghiệp và các hộ gia đình trong thời kì này thường có xu hướng tiết kiệm không muốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng sinh lời cao Vì vậy vai trò điều tiết của nhà nước trong trường hợp này là cực kỳ quan trọng Mức độ can thiệp của nhà nước phải tuỳ thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, việc can thiệp quá mức của nhà

nước có thể dẫn tới lạm phát cao hơn

Keynes gợi ý 4 nhóm chính sách chống khủng hoảng như sau:

- Bam bao dau tư nhà nước và kích thích đầu tư tư nhân

-_ Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá để điều tiết nền kinh tế Nhà

nước có thể dùng các công cụ như lãi suất, thuế, đầu tư nhà nước để kiểm

soát lạm phát mục tiêu, khuyến khích đầu tư tư nhân,

- _ Tạo việc làm để người dân có thêm thu nhập, từ đó làm tăng tổng cầu của nền

kinh tế

- _ Kích thích tiêu dùng để tăng tổng chỉ tiêu

1.4 Kích cầu khi nào? (When to stimulate demands?)

Nền kinh tế dư thừa hàng hoá, năng lực sản xuất vượt quá yêu cầu của thị trường Nguyên lý “Cầu hữu hiệu” của Keynes khẳng định rằng, lượng cung hàng hoá là do lượng cầu quyết định Do đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng tổng cầu thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp nền kinh tế thoát ra khỏi thời kỳ suy thoái

Nền kinh tế không còn khả năng kích thích qua chính sách tiền tệ nới lỏng Chính sách tiền tệ nới lỏng là công cụ đầu tiên mà chính phủ các quốc gia thực hiện nhằm đưa một lượng vốn lớn vào thị trường nhằm đưa nền kinh tế đi lên Tuy nhiên chính sách

nới lỏng tiền tệ có thể không đủ sức để kéo tổng cầu lên Ví dụ nếu việc giảm lãi suất

là liên tục và xuống thấp quá mức thì theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán Hậu quả

là tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi và cũng không thể cho các xí nghiệp vay, chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc

day đầu tư tư nhân và bất lực trong kích thích tổng cầu

2 Tại sao Việt Nam lại thực hiện chính sách kích cầu trong giai đoạn 2009? (Why did Vietnam have to implement stimulus policies in 2009?)

Trang 5

II.1 Kinh tế thế giới (The world economy)

Khủng hoảng kinh tế năm 2008 được đánh giá là “tồi tệ nhất trong lịch sử, hàng trăm năm mới có một lần” Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh

tế để chống chọi với "bão" Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn

từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm Tất cả những diễn biến này xuất phát từ một công cụ tài chính phái sinh với tên gọi CDO (Collateralized Debt Obligation) - Nợ thế chấp, được phát triển Từ công cụ này, "bong bóng" bất động sản và các khoản vay dưới

chuẩn đã bùng nổ, không thể kiểm soát chỉ trong bốn năm, từ 2002 - 2006

Trước đây, khi một người cần khoản tiên để mua nhà, quan hệ tài chính sẽ được hình thành giữa người đi vay và người cho vay - chỉ duy nhất hai chủ thể này Tuy nhiên với

sự xuất hiện của CDO, sẽ có thêm những cái tên khác xuất hiện Những khoản nợ vay thế chấp sẽ được bên cho vay bán lại cho các ngân hàng đầu tư Các ngân hàng này đưa những khoản nợ gộp lại thành các CDO và bán ra thị trường Người mua CDO sẽ

là người cuối cùng hưởng khoản thanh toán từ người vay thế chấp ban đầu Các công

ty bảo hiểm tham gia với vai trò bảo đảm rủi ro, sau khi các CDO này được các tổ

chức đánh giá tín nhiệm xếp hạng

Nói cách khác, tất cả thành phần trong ngành công nghiệp tài chính đều có thể tham gia vào "chuỗi thức ăn chứng khoán" được định giá hàng nghìn tỷ USD này Tuy nhiên, đó cũng là lúc những lỗ hổng xuất hiện Các ngân hàng cho vay thế chấp bất động sản không còn quan tâm tới khả náng chỉ trả của khách hàng, những khoản vay trở nên rủi ro với tiêu chuẩn dễ dãi hơn Tỷ lệ cho vay trên giá trị căn nhà lên tới 99% khiến người mua nhà sẵn sàng bỏ lại tài sản khi không còn khả năng thanh toán Số lượng bất động sản nhà ở bị thu hồi để siết nợ tăng lên con số hàng triệu, thị trường đóng băng, giá trị những căn nhà bốc hơi từng ngày

Khi những người cuối cùng của "chuỗi thức ăn chứng khoán" không còn nhận được

lợi tức từ những CDO, sự sụp đổ dây chuyền đã diễn ra Các công ty bảo hiểm không

đủ khả năng chỉ trả những CDO bị mất khả năng thanh toán, ngân hàng đầu tư bị nghỉ

đã bán những sản phẩm tài chính "ở mức rác” cho khách hàng mà không cảnh báo trước những rủi ro, những công ty xếp hạng tín nhiệm được cho đã thông đồng để đưa xếp hạng tín nhiệm quá cao so với thực tế

Sự đình trệ của dòng chảy vốn, "bong bóng" bất động sản vỡ khiến kinh tế thế giới bị tổn thương nghiêm trọng Thế giới lúc này phải đối mặt với một mối de doa mdi la giảm phát, nghiêm trọng không kém gì lạm phát Thị trường hàng hoá trên thế giới

Trang 6

đạt đỉnh và tuột dốc, nhất là vàng và dầu thô đều đạt đỉnh cao trong năm này, sau đó

cả hai mặt mặt hàng đều trượt dốc dài

II.2 Kinh tế thế giới tác động đến nền kỉnh tế Việt Nam (World economy

impacts Vietnam economy) Cuộc khủng hoảng nổ ra ở Mỹ và lan rộng ra toàn cầu ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Mặc dù hệ thống tài chính vẫn chưa bị ảnh hưởng nhưng sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư, kiều hồi đã bị tác động tương đối rõ Kinh tế Việt Nam hiện nay chịu tác động chủ yếu thông qua 02 kênh: Xuất khẩu giảm cả về lượng lẫn giá do kinh tế thế giới suy thoái; nhu cầu giảm sút và đầu

tư nước ngoài sụt giảm GDP quý I⁄2009 chỉ tăng 3,1% mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ từ năm 2000 đến nay Dự báo đến 2009 tăng trưởng GDP chỉ ở khoảng 4,8% đến 5,6% “Cơn địa chấn” khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động đến kinh tế Việt Nam qua một số mặt sau đây:

- _ Đối với hệ thống tài chính - ngân hàng: Mặc dù chưa chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên; nên hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm

- Đối với hoạt động xuất khẩu: Thị trường xuất khẩu bị thu hẹp Tác động của

khủng hoảng tài chính đến xuất khẩu là nhanh nhất bởi vì đây là lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với biến động trên thị trường thế giới Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ giảm do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà

“trượt dốc”, mặt khác cạnh tranh trong xuất khẩu vào thị trường Mỹ khốc liệt

hơn do một số nhà xuất khẩu giảm giá hàng xuất khẩu để tiêu thụ lượng hàng hoá xuất khẩu bị tồn đọng Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam hiện nay, chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu

vào thị trường Mỹ suy giảm sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của Việt Nam trong năm 2008, năm 2009 và cả năm 2010 (nếu nền kinh

tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi)

Xuất khẩu giảm kéo theo nhập khẩu giảm Việt Nam phải nhập khẩu 70-80%

nguyên nhiên vật liệu để sản xuất, chế biến hàng hoá xuất khẩu, suy giảm kinh

tế toàn cầu làm cho giá các yếu tố đầu vào như dầu mỏ, phôi thép, thép xây dựng, các thiết bị công nghệ bị giảm mạnh kéo theo kim ngạch nhập khẩu giảm

- Đối với vốn đầu tư nước ngoài: Với tình hình khủng hoảng như hiện nay chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuất khẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam bị giảm sút Thêm vào đó, với hầu hết các dự

án đầu tư nói chung và FDI nói riêng, phần vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn

Trang 7

trong tổng số vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính, các ngân hàng gặp khó khăn, nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được ký kết hoặc không thể giải ngân

được Với các dự án FDI đang triển khai có thể bị chững lại do các nhà đầu tư

phải cân đối lại khả năng nguồn vốn, đảm bảo tài chính an toàn trong cuộc khủng hoảng này Các dự án FDI mới được cấp phép sẽ gặp khó khăn nếu nhà đầu tư bị tổn thương lớn từ khủng hoảng Nếu như năm 2008 Việt Nam đã thu hút gần ó3 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn đăng ký), giải ngân

12 tỷ USD, thì năm 2009 tình hình thu hút FDI đã trở nên khó khăn hơn, nhiều

dự án đăng ký vốn hàng chục tỷ USD nhà đầu tư nước ngoài đã xin rút lui Trong 5 tháng đầu năm 2009, vốn FDI chỉ đạt ó,3 tỷ USD

- Đối với thị trường hàng hoá, dịch vụ: Sức cầu giảm cả trong sản xuất và tiêu dùng Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam mặc dầu đã được cải thiện nhưng nói chung vẫn còn khó khăn Nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy

mô do chỉ phí sản xuất tăng đặc biệt là lãi vay ngân hàng Năm 2008 các ngân hàng tăng lãi suất để phục vụ mục tiêu thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát, các doanh nghiệp rất khó khăn khi phải vay ngân hàng với lãi suất cao

Bước sang năm 2009 với chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất ngân hàng đã giảm đáng kể, Chính phủ lại có chủ trương bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp đối với những khoản vay ngắn hạn, điều đó phần nào đã giúp doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh doanh giảm chỉ phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay đối với doanh nghiệp lại là thị trường tiêu thụ sản phẩm Chừng nào kinh tế thế giới chưa phục hồi thì thị trường tiêu thụ (XK) vẫn còn khó khăn Trong lúc đó thị trường nội địa sức cầu đang hạn chế vì sức mua chưa tương xứng

Trước tình hình này, Chính phủ phải đưa ra các biện pháp để giải quyết Một là kích cầu và đối mặt với lạm phát gia tăng, hai là không làm gì cả nhưng sự chờ đợi hồi phục sẽ rất lâu mà có thể sẽ không xảy ra Chính sách kích cầu được đánh giá nhanh

và phù hợp nhất với thời điểm hiện tại

II.3 Chính sách kích cầu của Việt Nam và tác động của chính sách kích cầu

trong giai đoạn 2009 (Vietnam's stimulus policy and impact of stimulus policy in 2009)

11.3.1 Chinh sach kich cau ctia Viét Nam (Vietnam’s stimulus policy)

Trong năm 2009, chính phủ Việt Nam đã thực hiện biện pháp kích cầu thông qua chính sách hỗ trợ lãi suất 4% đối với các doanh nghiệp, các chương trình miễn, giảm

và giãn thuế, bảo lãnh cho các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại Ngày

12/5/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố chính thức về gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ USD) của Chính phủ, sau đó tăng lên 1ó0 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD) Theo đó, gói kích cầu tương đương 8 tỷ USD được

Trang 8

chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:

- Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng

- Tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng

- Ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng 37.200

tỷ đồng

- Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng

30.200 tỷ đồng

- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng

- Thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng

- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ đồng

- Các khoản chỉ kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng

2.3.2 Tác động của chính sách kích cầu đối với Việt Nam (The Impact of stimulus

policy on Vietnam)

a) Tác động tích cực (Positive impacts):

Các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn; trong đó có những chính sách mới được ban hành Tuy nhiên, có thể nhận thấy việc thực hiện các giải pháp chính sách kích cầu đã mang lại nhiều kết quả tích cực

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng (từ 3,14% trong quý I tăng lên ó,9% vào quý IV năm 2009, ước tính cả năm là 5,32%)

- _ Nhờ tác động của các gói kích cầu, trong từng ngành, từng lĩnh vực đều có chuyển biến rõ nét GDP khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2009 tăng 5,4%; khu vực dịch vụ tăng ó,5% so với thời kỳ trước khủng hoảng

- _ Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng ó8,8 tỷ USD, giảm

14,7% so với năm 2008 Trong đó khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đạt 24,87 tỷ USD, chiếm 3ó,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước,

giảm 10,8% so với năm 2008, khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt khoảng 43,9ó tỷ USD, chiếm tỷ trọng ó3,9%, giảm 1ó,8% so với năm 2008

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2009 đạt khoảng 5ó,ó tỷ USD bằng

87,6% so với kế hoạch Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn giữ vị trí quan trọng Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàng chủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu nhiều mặt hàng, đặc biệt là nhóm hàng công nghiệp chế biến

Trang 9

- _ Với việc hỗ trợ lãi suất ở mức 4% năm, đã giúp cho doanh nghiệp giảm bớt

khó khăn, phục hồi sản xuất và hỗ trợ cho việc phát triển ổn định và an toàn

của hệ thống các tổ chức tín dụng Việc thực hiện các chính sách miễn, giảm, giãn thuế đã giảm bớt một phần khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, góp phần phục hồi và từng bước đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, kích thích cầu đầu tư tiêu dùng

- _ Đặc biệt, việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, nhất là hướng vào công tác xóa đói, giảm nghèo; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh đã được tiến hành sâu rộng; góp phần bảo đảm đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo, đồng bào dântộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Qua đó, công tác xóa đói, giảm nghèo có nhiều chuyển biến quan trọng, theo tính toán, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2009 ước còn khoảng 11%

b) Tác động tiêu cực (Negative impacts):

Bên cạnh những hiệu quả tích cực, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế của gói kích cầu thứ nhất:

-_ Mục tiêu và định hướng chính sách kích cầu là không rõ ràng, không có phân định giữa khái niệm kích cầu và kích cung hay giải cứu Những chính sách đưa

ra đều được đặt dưới cái tên kích cầu trong khi tác động thực tế của nó chưa chắc làm tăng tổng cầu của nền kỉnh tế

-_ Gói hỗ trợ lãi suất có một số hạn chế tiềm tàng có thể nhận thấy, cụ thể là:

chính sách này không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể

hỗ trợ nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp, dẫn tới việc nhiều doanh nghiệp chưa hưởng chính sách hỗ trợ từ Nhà nước Tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất đối với các tổ chức, cá nhân vay

vốn trung dài hạn thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất, kinh doanh

cũng rất hạn chế

- _ Với mức hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm là khá lớn, đối tượng thụ hưởng thuộc nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, nếu kéo dài sẽ phát sinh tâm lý ÿ lại vào

sự hỗ trợ của nhà nước, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% có thể tạo ra sự bất bình đẳng, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp do khả năng tiếp cận nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của các doanh nghiệp không đồng đều

- Toan bé qui trình kiểm tra, giám sát, theo dõi và đánh giá việc thực hiện các giải pháp kích cầu đã không được thiết kế và vận hành một cách đồng bộ Do thiếu sự giám sát chặt chẽ dẫn đến các hành vi trục lợi có thể xảy ra ngay tại

các tổ chức tài chính

Từ những tác động trên, ta thấy gói kích cầu không đáp ứng hoàn toàn 3 yêu cầu: kịp thời, đúng đối tượng và vừa đủ (ngắn hạn) Mặc dù gói kích cầu được chính phủ kịp

Trang 10

thời đưa ra nhưng tình hình triển khai còn chậm do vấn đề thủ tục hành chính Việc chậm triển khai gói kích cầu có thể làm giảm hiệu quả của gói kích cầu Mặt khác, việc duy trì gói kích cầu trong dài hạn có thể làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nền kinh tế

3 So sánh chính sách kích cầu của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ (Comparison of stimulus policies of Vietnam, China and The US)

3.1 Chinh sách kích cầu clia My (Stimulus policy of the US)

Gói kích cầu Anh - Mỹ ra đời sau gói cứu trợ ngân hàng Nguyên nhân xuất phát từcuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn ở khu vực các nước phát triển Đặc điểm của gói kích cầu này có mục tiêu nhằm vào nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng miễn giảm nhiều loại thuế như: thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tang

-_ Gói lần 1 (Bush 2/2008)

Nền kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu suy thoái từ cuối năm 2007, và nhiều dự

đoáncho rằng năm 2008 là một năm vô cùng khó khăn với Mỹ, và trên thực tế đã diễn

ra nhưvậy Đầu năm 2008 khi phải đối mặt với nên kinh tế có chiều hướng đi xuống, Chính phủBush đã đưa ra gói kích cầu trị giá 152 tỷ USD

Nội dung gói kích cầu 1:

+ Hoàn thuế cho các cá nhân người nộp thuế ở mức thu nhập thấp (khoảng

300USD/người)

+ Trợ cấp cho trẻ em dưới 17 tuổi (300 USD/trẻ em)

+ Ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp

+ Ưu đãi cho phép khấu hao nhanh đối với doanh nghiệp

+ Hỗ trợ người gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn

-_ Gói lần 2 (Obama - 2009)

Ngay từ khi chưa nhậm chức, Tổng thống đắc cử Obama đã đưa ra đề xuất gói kích cầu để giúp nền kinh tế Mỹ thoát khỏi khủng hoảng, và gói kích cầu trị giá gần 825 tỷ USD đó đã được Quốc hội Mỹ phê duyệt

Nội dung gói kích cầu 2:

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm 2,5 triêu công việc làm thông qua một số biện pháp như cho các doanh nghiệp nợ thuế khoảng 3000 USD đối với mỗi lao động thuê mới; xóabỏ thuế đối với lãi trên vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)

+ Đầu tư vào công trình công cộng (công nghệ cao, y tế, đường xá, các tiện ích công cộng, )

Ngày đăng: 09/12/2024, 17:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w