Ngoài những biến động về tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình sản xuất kinh doanh cũngnhư khả năng tài chính của bản thân, thì ngay cả yếu tố tâm lý cùng với những rủi ro từnhân tố bên ngo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán: Trường hợp các nhà đầu tư thuộc thế hệ GenZ
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Hồng Thái
Họ và tên: Đỗ Thị Hoài Linh
Mã sinh viên: 19050678
Lớp: QH2019E TCNH CLC 1
Hà Nội, tháng 5/2023
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp là do cá nhân tôi nghiên cứu và dưới sự
hướng dẫn của TS Lê Hồng Thái Các số liệu có trong luận văn đều đảm bảo được thu
thập thực tế Có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy nhất để xử lý trung thực và kháchquan nhất Tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm về nghiên cứu của chính mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2023
Sinh Viên
Đỗ Thị Hoài Linh
Trang 31.4 Câu hỏi nghiên cứu
1.5 Bố cục của bài khóa luận
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CUU
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU +22 2E+E+E‡EvEzE+EzErxrxvrrrrrzesree 18
3.1 Phương pháp nghiên CỨU - - <1 11 E St nọ ve 18
3.2 Phương pháp phân tích - - - - SH TH kh 18
3.2.1 Thống kê mô tả - - - - - cence ceeeeeeeeeeaeeceaeeceeeesaeeceaeeenaeeseeeeseeeseatessaeesseeseaees 18 3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu - - c5 BĐS HH ven 19
3.3 Thu thap 2 0 22
CHƯƠNG IV: KET QUA NGHIÊN COU 0.0 cccscsccecececescsesescscscececececscecscecscsesssseeseesecevavstsneesees 23
4.1 Thống kê mô tẢ - - - - - 5E eee eeeeeeeeeeceaeesaeeeeeescaeeseeeeseneeeaeeseaeessaeesneeseaeeneas 23 4.2 Phân tích Cronbach’s Alpha 229 S SE 9 1 xxx vv vvvg 24
4.3 302/0 28 4.4 Phân tích tương quan - - - c3 TH nh 33
4.5 Phân tích hồi quy - c1 tn TT TH Hkp 34
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ, 2E SE 1S EEEk TS kg rêt 39
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên CỨu - 2 22+ 2222322321338 3 28321 E32 3 E3 E3 E1 g1 xay 39
5.2 Khuyến nghị chính sách - - - - 1 ST TT TT ng kg 39
5.2.1 Khuyến nghị với Nhà nướcC - - - cece cece cece SH kg TT 39 5.2.2 Khuyến nghị đối với nhà đầu tư cá nhân GenZ - +55 c‡<+ccs++ecrsxeess 40
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển trong tương lai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHU LỤC - + =5s5s5+ 45
Trang 4DANH MỤC BANG BIỂU, SƠ ĐỒ
STT Tên bảng biểu, sơ đồ Trang
1 | Bảng 4.1: Thống kê mô tả 22
2 | Bang 4.2: Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 23
3 | Bảng 4.3: Bảng phân tích KMO and Barlett’s Test 24
4_ | Bảng 4.4: Bang phân tích Total Variance Explained 27
5_ | Bảng 4.5: Ma trận xoay 29
6_ | Bảng 4.6: KMO and Barlett’s Test 32
7 | Bảng 4.7: Kiểm định tương quan Correlations 32
Trang 5CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại kinh tế toàn cầu hóa, thị trường chứng khoán đã trở thành một kênh
đầu tư hấp dẫn và phổ biến Không nằm ngoài đó, thị trường chứng khoán Việt Nam nổi
lên một cách mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử pháttriển từ ngày ra đời đến bây giờ Năm 2000, sàn giao dịch chính thức ra đời với tên gọiHOSE (Hồ Chí Minh Stock Exchange), tuy nhiên lượng giao dịch và số lượng cổ phiếu còn
rất hạn chế Năm 2006, chứng khoán Việt Nam bắt đầu thu hút sự quan tâm của các nhà
đầu tư nước ngoài, khi quy định cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu của các
công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đạt
đỉnh điểm khi chỉ số VN-Index vượt ngưỡng 1,1770 điểm Sang tới năm 2008, thị trườngtrải qua một đợt sụp đổ mạnh mẽ khi chỉ số VN-Index giảm hơn 60% so với đỉnh điểm
năm 2007 Đến năm 2018, chỉ số VN-Index thiết lập một kỷ lục mới khi vượt ngưỡng 1,200
điểm Và liên tục có những cột mốc đáng chú ý vào năm 2022 khi VN-Index đạt ngưỡng1502.14 điểm một cột mốc lịch sử và thu hút sự quan tâm đông đảo của các nhà đầu tư.Nhưng niềm vui chả được bao lâu khi chỉ số này lại liên tục trượt dốc và hiện nay đangxoay quanh 1070 điểm tại ngày 12/04/2023 Trải qua bao nhiêu thăng trầm, có thể thấy
rằng thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường đầy biến động, đòi hỏi các nhà
đầu tư phải có kiến thức và kinh nghiệm đầu tư.
Trước một thị trường đầy biến động như vậy, có rất nhiều những yếu tố tác động
đến nhà đầu tư trong việc đưa ra những quyết định cá nhân của mình khi thực hiện đầu
tư Ngoài những biến động về tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình sản xuất kinh doanh cũngnhư khả năng tài chính của bản thân, thì ngay cả yếu tố tâm lý cùng với những rủi ro từnhân tố bên ngoài cũng là một trong những yếu tố tác động đến quyết định đầu tư chứng
khoán của nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán ngày nay đã trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn và phổ
biến, đặc biệt đối với thế hệ GenZ Các yếu tố tác động đến việc ra quyết định đầu tư có ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu quả đầu tư của GenZ trên thị trường chứng khoán Việt Nam vàngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh sự biến động của thị trường và nhữngthách thức của nền kinh tế
Trang 6Nhận thấy sự cấp thiết và quan trọng của vấn đề nêu trên, bài khóa luận thực hiệnnghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư cá nhân trênthị trường chứng khoán: Trường hợp nhà đầu tư thuộc thế hệ GenZ".
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nhiệm vụ trọng tâm của nghiên cứu là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư thuộc đối tượng GenZ, từ đó đưa ra
những khuyến nghị phù hợp với tình hình thực tiễn và giúp các nhà đầu tư nâng cao hiệu
quả trong quyết định đầu tư.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là các nhân tốảnh hưởng tới quyết định của nhà đầu tư cá nhân GenZ trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhà đầu tư cá nhân thuộc thế hệ Gen7
- Về không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Từ tháng 3/2023 đến tháng 5/2023
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Bài khóa luận tập trung trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân GenZ trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
- Tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến quyết định đầu tư chứngkhoán của nha đầu tư thế hệ GenZ trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Làm thế nào để phòng ngừa trước những rủi ro trên thị trường chứng khoán
1.5 Bố cục của bài khóa luận
Bài khóa luận có bố cục 5 chương như sau:
CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TONG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YEU TO ANH
HUONG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOAN CUA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 7CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 8CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán
2.1.1.1 Các nhân tố bên ngoài
a) Rui ro đầu tư
Các nhà đầu tư đưa ra quyết định dựa trên xu hướng hành vi có thể dẫn đến kết quả tiêu cực Bloomfield (2010) chỉ ra rằng lỗi nhận thức mà các nhà đầu tư mắc phải có
thể được phân loại thành các nhóm khác nhau Ví dụ, một nhà đầu tư có thể chọn bánnhững cổ phiếu mà anh ta biết sẽ hoạt động tốt để có được cảm giác tốt hoặc có thể nói
với người khác rằng anh ta biết cách chọn cổ phiếu tốt Nhà đầu tư cũng có thể chọn không
bán các cổ phiếu hoạt động kém trong nỗ lực không thừa nhận rằng họ đã không đưa ra
quyết định đầu tư tốt nhất (Shefrin và Statman, 1985) Odean (1998) thừa nhận rằng các
nhà đầu tư thà thừa nhận lãi hơn là lỗ Cổ phiếu sinh lời tốt trong quá khứ thường xuyên được mua như được thấy từ tiền gửi trong quỹ tương hỗ vốn cổ phần (Belsky và Gilovich,
1999).
Subrahmanyam (2007) đã chỉ ra, sự tự tin thái quá kết quả từ các dấu hiệu thị
trường tư nhân dẫn đến phản ứng chưa trưởng thành dẫn đến các hiệu ứng như vậy như
sự đảo chiều dài hạn và hiệu ứng sổ sách/thị trường Mặt khác, tự quy kết dẫn đến tự tin thái quá hơn và giá cổ phiếu tiếp tục đi lên, dẫn đến nhiều động lực và thậm chí là một hiệu
suất tồi tệ hơn Tuy nhiên, nghiên cứu đã thất bại trong việc xem xét các tác động của sự
tự tin quá mức đối với hiệu suất danh mục đầu tư của một nhà đầu tư cá nhân, đó là những
gì nghiên cứu này tìm cách suy luận.
Đầu tư vào thị trường chứng khoán ở những thị trường đang phát triển có thể nói
là rủi ro hơn so với đầu tư vào thị trường chứng khoán ở các thị trường phát triển Một
nghiên cứu được thực hiện bởi Lim (2018) cho thấy ra rằng các nhà đầu tư vào thị trường
Anh ngại rủi ro hơn so với các nhà đầu tư vào thị trường châu Á Những rủi ro cao hơn là
một phần của thị trường chứng khoán châu Á có thể là lý do khiến hầu hết các nhà đầu tư
ngại đầu tư vào các thị trường này Theo Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) điềuthận trọng là các nhà đầu tư xem xét các rủi ro nhận thức được và lợi nhuận của toàn bộdanh mục đầu tư của họ thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận hoặc rủi ro chỉ được liên kết
với một nội dung.
Trang 9Một yếu tố tinh thần khác tác động đến tâm ly e ngại rủi ro là tổng hợp kết quả quacác dịp, loại, tài sản hoặc các tình huống Điều cần thiết là thái độ của nhà đầu tư đối vớirủi ro được biết đến đặc biệt nếu cố vấn tài chính và các tổ chức phải cung cấp dịch vụ tốt
nhất cho các nhà đầu tư này Nó có đã được phát hiện ra rằng thái độ của một người đối
với rủi ro quyết định mức độ thoải mái của họ với các lựa chọn đầu tư khác nhau và thậmchí mức độ không hài lòng của họ với các lựa chọn đầu tư mà không mang lại lợi nhuận
như mong đợi.
b) Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị được cho là rủi ro không thích các tác động tiêu cực của các hoạt
động chính trị không có kế hoạch phản ứng tình huống (Diamonte và cộng sự, 2015) Điều
quan trọng cần lưu ý là những gì dẫn đến rủi ro đầu tư gia tăng không phải là bản thân sự
kiện mà là kỳ vọng về một sự kiện chính trị bất ổn xảy ra Vì vậy, các sự kiện chính trị dự
kiến sẽ xảy ra không dẫn đến rủi ro cao hơn Hơn nữa, các nhà đầu tư rất lo ngại về tác
động của kết quả của rủi ro chính trị sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ (Brewer,
2014).
Aisen và Veiga (2010) lưu ý rằng các nhà kinh tế cho rằng rủi ro chính trị được coi
là một vấn đề nghiêm trọng và hiện tượng có hại ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của
nền kinh tế Rủi ro chính trị sẽ làm gián đoạn các diễn biến kinh tế bình thường và cũng
gây khó khăn hơn cho các nhà hoạch định chính sách tận dụng các chính sách đã được
thông qua Theo Lim (2011), có ba yếu tố tạo nên rủi ro chính trị, bao gồm các yếu tố chủ
quyền, các yếu tố vi mô và các yếu tố vĩ mô Các yếu tố vĩ mô của rủi ro chính trị được cấuthành từ những rủi ro tác động đến một quốc gia cụ thể Rủi ro này có tác động tiêu cựcđến các công ty đa quốc gia nước ngoài muốn đầu tư vào quốc gia đó Như ghi nhận củaLing và Hoang (2010) rủi ro chính trị vĩ mô có thể bao gồm đình công, xung đột dân sự,các cuộc cách mạng, thu hồi đất đai hàng loạt hoặc bạo loạn
Rủi ro chính trị thường xảy ra khi chính phủ nước sở tại thay đổi các quy tắc hiện hành trong môi trường kinh doanh bằng cách can thiệp vào nền kinh tế Chính phủ có thể
dựng rào cản khi nói đến thuế, vốn hay có sự trao đổi bất hợp lý kiểm soát (Diamonte và
cộng sự, 2015) Hơn nữa, các can thiệp thường dẫn đến những cú sốc đối với nền kinh tế của đất nước dẫn đến những thay đổi tiêu cực trong quan hệ thương mại và nhu cầu đối
với các sản phẩm của đất nước Ngoài ra còn có phản ứng từ công dân trong nước donhững thay đổi này có thể bao gồm những thay đổi trong đảng cầm quyền hoặc thậm chí
bạo loạn.
Trang 10Rủi ro đầu tư cũng có thể tăng lên do nguồn gốc của rủi ro chính trị Ví dụ, điều này
đã được quan sát thấy ở Thái Lan, Hàn Quốc và Indonesia, nơi mà trong những năm trước
đã có thị trường đóng cửa ở các quốc gia này nhưng thị trường phải đưa ra những cải cách
và thỏa thuận về cách mở cửa các thị trường này bằng cách giảm thuế và các nhà đầu tư
nước ngoài những hạn chế trong nỗ lực vay tiền từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (Eichholtz
và cộng sự, 2015) Những quốc gia như vậy cần những khoản vay này để giúp họ khi họ
gặp khó khăn về tài chính Những vấn đề như vậy đã dẫn đến sự cải thiện trong các quy
định chi phối khả năng đầu tư của nha đầu tư nước ngoài vào các quốc gia đó Ví dụ, HanQuốc đã phải bỏ qua những hạn chế mà họ đã đưa ra để ngăn chặn nước ngoài các khoảnđầu tư Các tổ chức trong nước đã có thể vay vốn và cung cấp vốn cho cả các doanh nghiệp
nước ngoài và không phải nước ngoài Điều này đã dẫn đến một lĩnh vực bình đẳng khi nói
đến kinh doanh trong nước cho các công ty nước ngoài và địa phương (Greenwood, 2017)
c) Rủi ro thể chế
Nhận dạng rủi ro thể chế được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất củaquá trình quản lý do thực tế là nó cung cấp một giải thích có tổ chức và mô tả tất cả các rủi
ro tài chính tiềm ẩn có thể phát sinh từ hoạt động kinh doanh của một tổ chức Quá trình
xác định rủi ro được hỗ trợ bởi tổ chức kinh nghiệm rút ra từ các sự kiện trong quá khứ;
do đó nó cung cấp đánh giá về tương lai quan trọng kết quả trong khi xem xét các chiến lược kinh doanh được thiết lập ban đầu và mục tiêu Hơn nữa, nó cho phép tổng hợp các
rủi ro tài chính tiềm ẩn và cấu trúc chúng ở mọi cấp độ tổ chức Phân nhóm các rủi ro tiềm
ẩn và sự không chắc chắn cho phép một trụ cột quản lý rủi ro vững chắc cho bất kỳ doanh
nghiệp nào để đảm bảo hành động chủ động liên quan đến rủi ro (Horcher, 2005)
Tuy nhiên, xác định rủi ro đóng một vai trò quan trọng trong việc ưu tiên rủi ro bởi
vì nó làm sáng tỏ tầm quan trọng của các loại rủi ro nhất định và cũng như sự phụ thuộc
lẫn nhau của bộ phận tổng hợp của chúng Theo khuôn khổ, giai đoạn nhận dạng là một
trong những khâu quan trọng nhất nên việc phân loại nguồn gốc rủi ro là điều tất yếu
Guerts và Jaffe (2010) gợi ý rằng rủi ro thể chế nên là một lĩnh vực quan trọng để
xem xét khi nào các nhà đầu tư muốn tham gia đầu tư chứng khoán nhiều hơn trong việcphát triển các quốc gia nơi có thể tồn tại những thách thức pháp lý Những thách thức
pháp lý như được chỉ ra bởi D'Arcy và Keogh (2015) và Guerts và Jaffe (2015) có thể dẫn
đến sự khác biệt về hàng tồn kho hiệu suất thị trường ở các quốc gia khác nhau Điều này
có nghĩa là một nhà đầu tư mới không biết rằng sự khác biệt về thể chế quan trọng ở các
thị trường và phân khúc ngành khác nhau là có khả năng gặp bất lợi không giống như
Trang 11những nhà đầu tư nhận thức được những mối quan tâm này và đưa chúng vào xem xéttrước khi đầu tư vào các thị trường mới.
2.1.1.2 Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp
a) Yếu tố Ảnh hưởng của Doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
Ngành của công ty đề cập đến các lĩnh vực trong đó các công ty tham gia vào các
hoạt động tương tự hoạt động kinh doanh Các công ty trong một ngành có những đặc
điểm giống nhau, chẳng hạn như công nghệ, giúp họ tạo ra những sản phẩm độc đáo Họ
cũng phụ thuộc vào sức lao động tương tự và nguyên vật liệu cho sản xuất Do đó, các yếu
tố ngành có khả năng đóng vai trò quan trọng, vai trò quyết định đầu tư trên thị trường
chứng khoán (Al-Shami và Ibrahim, 2013) Vì chẳng hạn, Al-Shami và Ibrahim (2013) cho
thấy tỷ lệ đòn bẩy thay đổi đáng kể khác nhau giữa các ngành do cách sử dụng vốn nợ cụ
thể của chúng và bản chất của các hoạt động
Bala và Idris (2015) đã xem xét các đặc điểm của một công ty cụ thể là lợi nhuận cổ
phiếu, thu nhập trên mỗi chia sẻ, nợ-vốn chủ sở hữu, và quy mô của công ty và những đặc
điểm này ảnh hưởng như thế nào đến quyết định đầu tư vào cổ phiếu của công ty Nghiên
cứu được thực hiện ở Nigeria đã sử dụng chín công ty làm mẫu Các tổ chức này nằm trong
số thực phẩm và đồ uống được các tổ chức trong thị trường chứng khoán Nigeria Dữ liệu
được sử dụng được thu thập từ năm 2007 và 2013 Phân tích được thực hiện với sự trợ
giúp của mô hình hồi quy bội
Theo kết quả, quy mô của tổ chức ảnh hưởng đáng kể đến cổ phiếu lợi nhuận của
các công ty này Tác động của tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và thu nhập trên mỗi cổ phần
là không chỉ tích cực nhưng cũng có ý nghĩa khi nói đến quyết định của nhà đầu tư Cổ Tức
cũ là không phải là một yếu tố bao gồm trong biện pháp này, đặc biệt là trong lợi nhuận cổphiếu được tạo thành từ tăng vốn và tỷ suất cổ tức
b) Yếu tố Thông tin cổ phiếu
Maginn và cộng sự (2017) khi nghiên cứu về quản lý đầu tư danh mục đầu tư thiết
lập rằng sự hiểu biết về hiệu suất trong quá khứ của các tài sản có liên quan quan trọng để
giúp các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định đầu tư của họ Nghiên cứu cũng lưu ý
rằng cần phải xem xét mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư bằng cách xem xét cá tính
và trách nhiệm của nhà đầu tư trước khi lựa chọn danh mục đầu tư với rủi ro cao Nghiên
cứu cho thấy rằng các quyết định đầu tư cá nhân về số tiền nhà đầu tư cá nhân muốn cam
Trang 12kết mỗi tháng nên dựa trên số tiền dự kiến một khi các khoản đầu tư đáo hạn Nghiên cứu tiếp tục khẳng định rằng một nhà đầu tư muốn đầu tư vào cổ phiếu nước ngoài nên xem
xét tốc độ phát triển kinh tế của đất nước và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán
Nó cũng tốt để nhìn và tăng vốn của quốc gia, các quy định về thuế và cơ chế giải quyết
tranh chấp được sử dụng tốt như thế nào Ngoài ra, nhà đầu tư nên đảm bảo rằng sự bảo
vệ dành cho các nhà đầu tư nước ngoài tồn tại và trung ương ngân hàng có đủ dự trữ
Lam (2014) chứng minh rằng các xu hướng thị trường trong quá khứ, khẩu vị rủi
ro, hiểu biết về quá khứ hiệu suất của những thay đổi trong các loại tài sản khác nhautrước khi lập kế hoạch tài chính đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro khác nhau giữa các
cá nhân Lam cũng lưu ý rằng khả năng chịu rủi ro phụ thuộc vào các yếu tố như nghĩa vụ
tài chính, đặc điểm tính cách điều này làm cho việc hiểu biết về khả năng chịu đựng rủi ro
là một cân nhắc quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư Nghiên cứu cũng quan sát thấy rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng là một yếu tố quan trọng khi nói đến ảnh hưởng của nó đối
với sự lựa chọn của nhà đầu tư Lợi nhuận kỳ vọng có thể thấy nhà đầu tư bỏ rất nhiều tiềnhoặc rất ít tiền vào một danh mục đầu tư nhất định
c) Yếu tố kinh nghiệm của nhà đầu tư
Kimeu và cộng sự (2016) định nghĩa heuristic là các quy tắc ngón tay cái đơn giản
mà mọi người sử dụng để đưa ra quyết định, đặc biệt là trong môi trường phức tạp và rủi
ro đặc trưng bởi thông tin cần thiết không đầy đủ Agrawal (2012) cho rằng các nhà đầu
tư thường thực hiện quyết định phi lý và thiên vị Thay vì suy nghĩ chín chắn, họ thường
sử dụng các phím tắt vì họ có thời gian giới hạn để đưa ra lựa chọn đúng đắn và cũng bởi
vì họ có giới hạn các năng lực tư duy Nếu họ đang ở trong một tình huống mà họ cần phải
tạo ra một sự phức tạp quyết định, họ sẽ áp dụng quy tắc ngón tay cái và kinh nghiệm để
đưa ra quyết định.
Theo Qawi (2010) quyết định đầu tư không dễ thực hiện và trung bình người đó
cũng có thể tìm thấy dữ liệu về các cổ phiếu khác nhau và các lựa chọn đầu tư khác phứctạp để xử lý
Kengatharan và Kengatharan (2014) đã xem xét các yếu tố hành vi ảnh hưởng đếnđầu tư như thế nào quyết định và hiệu suất của các cổ phiếu trong thị trường chứng khoánColombo nghiên cứu xem xét các yếu tố bầy đàn, triển vọng, thị trường và kinh nghiệm vàtác động của những yếu tố này về các lựa chọn đầu tư của các nhà đầu tư ở Colombo, SriLanka Các nhà nghiên cứu sử dụng phân tích mô tả, nhân tố và hồi quy để phân tích dữ
Trang 13liệu Theo nghiên cứu kết quả, các yếu tố heuristic có ảnh hưởng đáng kể đến các quyếtđịnh đầu tư được thực hiện.
Theo những phát hiện từ mô hình hồi quy, có một ý nghĩa nghịch đảo mối liên hệ
giữa sự tự tin thái quá và các quyết định của nhà đầu tư trong khi neo và quyết định đầu
tư đã được chứng minh là có một hiệp hội đáng kể thuận lợi
Ojwang (2015) đã phân tích các yếu tố hành vi và quyết định đầu tư của các nhà
giao dịch trong Chợ Kibuye, thị tran Kisumu, nơi ông áp dụng phương pháp thiết kế khảo
sát mô tả trong việc học của anh ấy Kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng và lấy mẫu có mục đích đã giúp ích cho việc chọn mẫu và xác định những người trả lời khác nhau tương ứng Các công cụ nghiên cứu là bảng câu hỏi và dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô
tả và phân tích nhân tố, kết quả cho thấy quyết định đầu tư của các nhà giao dịch tại Kibuyethị trường bị ảnh hưởng đáng kể bởi: sự tự tin thái quá và thông tin thị trường (có nghĩa
là 4,01 mỗi điểm), sự sẵn có/thiên vị neo đậu (trung bình 3,72), ác cảm mất mát và tỉnh
thần kế toán (trung bình 3,60), thiên vị đại diện (3,37), ác cảm rủi ro (3,06) và bầy đàn
hành vi (3,00) theo thứ tự đó.
Huberman (2015) đã phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hành vi đến hiệu suất của
nhà đầu tư trong Sở giao dịch chứng khoán Tehran, nơi một mẫu gồm 148 nhà đầu tư được chọn làm mẫu và bảng câu hỏi đã được sử dụng Mô hình phương trình cấu trúc đã
được sử dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu cho thấy tính khảdụng và neo đậu là yếu tố chính phương pháp heuristic hiệu quả về hiệu suất của nhà đầu
tư Hayat (2016) đã phân tích tác động của 24 xu hướng hành vi đối với quyết định đầu
tư, với vai trò điều tiết của hiểu biết về tài chính ở Pakistan, nơi sử dụng cỡ mẫu là 220 và
158 bảng câu hỏi được thu thập để phục vụ cho nghiên cứu Phương pháp lấy mẫu phi xác
suất đã được dùng Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tự tin thái quá có tác động tiêu cực về
quyết định đầu tư vào Sàn giao dịch chứng khoán Karachi và Islamabad bởi vì khi nhà đầu
tư thể hiện sự tự tin thái quá về việc chọn cổ phiếu, chủ yếu là anh ta đưa ra quyết định
sai lầm.
Kiến thức tài chính cũng có mối quan hệ không có ý nghĩa thống kê với quyết địnhđầu tư vì hầu hết các nhà đầu tư ở Pakistan đều mù chữ về tài chính Nó cũng có ý nghĩahiệu ứng kiểm duyệt của xu hướng tự tin thái quá trong việc đưa ra lựa chọn đầu tư Cáckết luận được đưa ra là các nhà đầu tư tích cực có khả năng quá tự tin trong khi nhữngngười những người không quá kinh nghiệm đã được quan sát để thể hiện hành vi ra quyết
định.
Trang 142.1.1.3 Các nhân tố hành vi
‹» Định nghĩa về tài chính hành vi
Ra quyết định đầu tư là nhiệm vụ rất khó khăn Theo Kannadhasan (2010), nhà đầu tưphải luôn cập nhật cho mình các lĩnh vực đa chiều để đạt được mục tiêu mong muốn trong
kinh doanh Theo hầu hết các lý thuyết tài chính và kinh tế, cá nhân hành động hợp lý và
suy nghĩ về tất cả các thông tin có thể truy cập để ra quyết định đầu tư Nhưng tài chính
hành vi tin rằng nhà đầu tư hành động phi lý trí trên thị trường chứng khoán Tâm lý,
thành kiến hành vi và cảm xúc của nhà đầu tư dẫn đến lỗi hệ thống trong cách họ xử lý thông tin của mình Các nghiên cứu được thực hiện bởi Kahneman (1979) cũng chỉ ra rằng
quyết định của các nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hành vi, cảm xúc và tâm lý
Những phát hiện thực nghiệm của các nghiên cứu được thực hiện bởi Chen và cộng sự cho
thấy các nhà đầu tư đưa ra quyết định giao dịch và đầu tư kém vì những thành kiến vềhành vi Ricciardi (2000) xác định nhiều yếu tố hành vi khác nhau có ảnh hưởng đến việc
ra quyết định đầu tư Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện bởi Hunjra và cộng sự (2012)
minh họa rằng các yếu tố hành vi có tác động tích cực đến việc ra quyết định đầu tư Theo
Waweru và cộng sự (2008) nhân tố hành vi có ảnh hưởng nhiều hơn đến quyết định củanhà đầu tư hơn là lý thuyết triển vọng
“* Tâm lý đám đông
Hiệu ứng đám đông là tại đó các nhà đầu tư cá nhân theo xu hướng của thị trường Do
đó, thay vì sử dụng thông tin của chính họ khi đưa ra quyết định, họ chỉ cần làm theo những
gì các nhà đầu tư khác làm Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có thể không phản hồi tức thìvới thông tin mới mà có thể dựa trên hành động của họ đối với hoạt động giao dịch của
những nha đầu tư được cho là có nhiều thông tin Bakar và Yi (2016) lập luận rằng hiệu
ứng đám đông xảy ra khi các nhà đầu tư tìm đến hành vi của các nhà đầu tư khác vì họ tin
rằng những người khác sở hữu nhiều thông tin hơn Ông lập luận rằng, trong một môi
trường ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông, thì một đoạn tin tức có thể dẫn đến một sự thay
đổi lớn về giá Điều này có thể khiến tất cả những người tham gia vào thị trường chứng
khoán đưa ra quyết định sai lầm Chiang và Zheng (2010) thấy rằng hiệu ứng đám đông
có tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán, vì nó có thể gây ra biến động, bong bóng
và chứng khoán bị đánh giá quá thấp Tác động của hiệu ứng đám đông cũng có thể ảnh
hưởng tiêu cực đến cơ chế cung và cầu của thị trường Abul (2019) phát hiện ra rằng các
nhà đầu tư nhỏ tham gia vào thị trường chứng khoán có xu hướng tuân theo hiệu ứng đám
đông.
10
Trang 15+ Tam lý bầy dan
Banerjee (1992) cho rằng tâm lý bầy đàn là "mọi người đều làm những gì người khác
đang làm ngay cả khi thông tin cá nhân của họ gợi ý làm việc khác” Tâm lý bầy đàn có khả
năng bắt chước các hành động trong quá khứ, hợp lý hoặc phi lý trí (Devenow &; Welch, 1996) Fernández et al (2011) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư có xu
hướng chấp nhận lý tưởng và quyết định của người khác khi họ dựa vào thông tin khôngchính xác Việc tuân theo tâm lý bầy đàn thường ảnh hưởng đến các nhà đầu tư cá nhânkhi thu thập thông tin và phân tích các vấn đề tài chính Họ thiếu khả năng đánh giá thị
trường Herding giả định rằng các chuyên gia tài chính tổ chức là những nhà đầu cơ cá
nhân, những người có thể kích động sự khác biệt của việc nhóm trên thị trường khách
quan (Ouarda et al., 2013).
*,
s* Tâm lý lạc quan
Tâm lý lạc quan phản ánh rằng mọi thứ đều tốt hơn phân tích Sự lạc quan quá mức
bắt nguồn từ sự tự tin thái quá và niềm tin rằng các sự kiện trong tương lai sẽ tốt hơn thực
tế Lạc quan có thể giúp mọi người có cảm xúc tích cực, nhưng lạc quan quá mức hoặc lạcquan không thực tế có thể phải trả giá Nếu mọi người không thể đạt được kết quả đầu tư
mục tiêu, họ có thể trở nên thất vọng, mất lòng tự trọng và uy tín trong xã hội Quan trọng
hơn, nó có thể gây ra sự miễn cưỡng theo đuổi các mục tiêu khác trong tương lai mà họ có
thể đạt được thực sự Ngoài ra, thời gian và tiền bạc có thể bị lãng phí nếu họ theo đuổi
các mục tiêu không thực tế Một nghiên cứu lý thuyết điển hình được thực hiện bởi Gervais
et al (2002) cho thấy sự lạc quan quá mức thường gây ra tác động tích cực vì nó khuyếnkhích các nhà quản lý đầu tư vào Hiệu ứng này là tích cực vì nhận thức về rủi ro thườngảnh hưởng tiêu cực đến giá trị công ty Tuy nhiên, sự lạc quan quá mức có thể gây ra nhữngtác động tiêu cực vì nó có thể khiến các công ty hoặc nhà đầu tư chấp nhận đầu tư vào các
dự án có NPV âm hoặc tài sản có rủi ro cao Không có ranh giới rõ ràng giữa sự tự tin thái
quá và sự lạc quan quá mức Nhiều nghiên cứu cho thấy quá lạc quan là một hình thức của
sự tự tin thái quá vì ảo tưởng về sự kiểm soát (những người đánh giá quá cao khả năngkiểm soát một vấn đề nào đó của họ) cũng được coi là biểu hiện của sự tự tin thái quá hoặc
lạc quan quá mức.
k2
+» Tâm lý bi quan
Trái ngược với sự lạc quan thái qua Các nhà đầu tư bi quan tin rằng các sự kiện trong
tương lai sẽ tồi tệ hơn và tiêu cực hơn Họ sẽ đánh giá rủi ro của các khoản đầu tư cao hơn
là cơ hội lợi nhuận Những người có tâm lý bi quan thường sợ mất tiền và thường quá cảnh
I1
Trang 16giác với các khoản đầu tư tiềm năng, thậm chí có thể bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt do sợ rủi ro.
Tâm lý bi quan có thể dẫn đến quyết định đầu tư không đúng mức độ rủi ro và tiềm năng lợi nhuận, dẫn đến lỗ hoặc không đạt được lợi nhuận như kỳ vọng mong muốn.
2.2 Tổng quan nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Masomi và Ghayekhloo (2011) đã chỉ ra vai trò của hành vi tài
chính và tâm lý nhà đầu tư có tác động sâu sắc đến việc ra quyết định đầu tư Với các yếu
tố hành vi được đề cập đến: Tính đại diện, sự tự tin, neo quyết định, sai lầm của nhà đầu
tư, cảm giác mất mát, cảm giác hối tiếc, và tính toán tỉnh thần ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư.
Al-Tamimi (2006) đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư
UAE, nơi người ta thấy rằng Sáu yếu tố là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất: dự kiến thu nhập
của công ty, làm giàu nhanh chóng, thị trường chứng khoán, hiệu suất trong quá khứ của
cổ phiếu của công ty, nắm giữ của chính phủ, việc tạo ra thị trường tài chính có tổ chức
(tức là Thị trường tài chính Dubai &; Thị trường chứng khoán Abu Dhabi) Năm yếu tố đã
được tìm thấy là các yếu tố ít ảnh hưởng nhất là tổn thất dự kiến trong các khoản đầu tưđịa phương khác giảm thiểu rủi ro, tổn thất dự kiến trên thị trường tài chính quốc tế, ý
kiến của thành viên gia đình và cảm giác trực giác về nền kinh tế Nhóm ảnh hưởng nhiều
nhất là theo thứ tự thông tin kế toán quan trọng, sự trùng hợp hình ảnh bản thân / hìnhảnh công ty, thông tin trung lập, khuyến nghị ủng hộ và nhu cầu tài chính cá nhân Hai yếu
tố có ảnh hưởng ít nhất đến hành vi của nhà đầu tư UAE, đó là lý do tôn giáo và yếu tố ýkiến của thành viên gia đình
Volpe và Kotel (2002) lập luận rằng các nhà đầu tư trực tuyến nên có nhiều kiến
thức hơn các nhà đầu tư bình thường để thành công trên thị trường chứng khoán, bởi vì
họ có nhiều khả năng bị bao vây bởi thông tin sai lệch và thao túng tài chính Do đó, cáctác giả đã kiểm tra kiến thức đầu tư của 530 nhà đầu tư trực tuyến và sự khác biệt về trình
độ biết chữ giữa các nhóm người tham gia khác nhau sử dụng tuổi tác, thu nhập, giới tính,
giáo dục và kinh nghiệm giao dịch trực tuyến trước đây làm biến Nghiên cứu đã chứng
minh rằng mức độ hiểu biết về tài chính thay đổi theo trình độ học vấn, kinh nghiệm, tuổi
tác, thu nhập và giới tính của mọi người Đặc biệt, phụ nữ có hiểu biết về tài chính thấphơn nhiều so với nam giới và những người tham gia lớn tuổi thực hiện tốt hơn nhữngngười tham gia trẻ tuổi Đồng thời, các nhà giao dịch trực tuyến có kiến thức cao hơnnhững người khác Hơn nữa, các nhà đầu tư có thu nhập cao hơn có nhiều kiến thức về
12
Trang 17đầu tư hơn những người có thu nhập thấp hơn và các nhà đầu tư có trình độ đại học trởlên thực hiện tốt hơn những người có trình độ học van thấp.
Rekik và Boujelbene (2013), nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư Tunisia không
phải lúc nào cũng hành động hợp lý trong khi đưa ra quyết định đầu tư Nghiên cứu kết
luận rằng thái độ bầy đàn, tính đại diện, neo quyết định, ác cảm thua lỗ và tính toán tỉnh
thần đều ảnh hưởng đến nhận thức của các nhà đầu tư Tunisia về quá trình ra quyết định
của họ nhưng không có sự thiên vị quá tự tin trên thị trường chứng khoán Tunisia Trên
thực tế, các nhà đầu tư Tunisia dường như thiếu tự tin, do dự và rất nhạy cảm với phảnứng và ý kiến của người khác Phát hiện khác liên quan đến sự tương tác giữa các biến số
nhân khẩu học và các yếu tố hành vi tài chính đặc biệt cung cấp rằng các biến số như giới
tính, tuổi tác, phạm trù nghề nghiệp xã hội và kinh nghiệm dường như có ảnh hưởng đếnhành vi của các nhà đầu tư hoạt động trên thị trường Tunisia Nghiên cứu này cung cấp
rằng những người ở độ tuổi nhất định, ít bị thiên vị tâm lý hơn khi họ trở nên có kinh
nghiệm hơn trong khi là những nhà đầu tư lớn tuổi, những người tương đối ít hiểu biết và
có thu nhập thấp hơn phải chịu những thành kiến về hành vi
Somil (2007) quan sát thấy rằng người đề xuất lý thuyết về nhà đầu tư hợp lý cho rằng một cá nhân đưa ra quyết định trên cơ sở các nguyên tắc tối đa hóa, lợi ích cá nhân
và lựa chọn nhất quán Theo ông, tính hợp lý cũng giả định rằng một nhà đầu tư có thông
tin hoàn hảo về môi trường xung quanh va đưa ra quyết định với mục tiêu duy nhất là tối
đa hóa lợi nhuận Lý luận xuất phát từ nguyên tắc hợp lý này là thị trường vốn phải hiệu quả Hiệu quả thị trường vốn ngụ ý rằng tất cả các thông tin liên quan đến thị trường được phản ánh đầy đủ và tức thời trong giá chứng khoán và có sẵn cho tất cả các nhà đầu tư.
Nhưng hầu hết các thị trường vốn hoạt động trong điều kiện không hiệu quả, khiến các
quyết định hợp lý là không thể
Alleyne và Broome (2010) đã kiểm tra các quyết định đầu tư giữa các sinh viên
bằng cách sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch và xu hướng rủi ro giữa các nhà đầu
tư trong tương lai Họ nói rằng lý thuyết về hành vi có kế hoạch là một yếu tố dự báo quan
trọng về ý định đầu tư Các phát hiện tiếp tục cho thấy thái độ và các nhóm giới thiệu (đồngnghiệp, gia đình và những người quan trọng khác) và niềm tin về những trở ngại và cơ hội
tiềm ẩn dự đoán đáng kể ý định đầu tư Họ cũng phát hiện ra rằng ảnh hưởng của bạn bè
và người thân, và dễ dàng tiếp cận với các quỹ là những yếu tố dự báo quan trọng về ý
định đầu tư của sinh viên
13
Trang 18Kabra và cộng sự (2010) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư
và kết luận rằng tuổi tác và giới tính của nhà đầu tư là những yếu tố chính quyết định khả
năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư và nhà đầu tư hiện đại là một người trưởng thành
và được chăm sóc đầy đủ Mặc dù có sự tăng trưởng phi thường trong thị trường chứng
khoán và các đợt chào bán công khai ban đầu (IPO) chất lượng trên thị trường, các nhàđầu tư cá nhân thích đầu tư theo sở thích rủi ro của họ Ví dụ: Những người không thíchrủi ro chọn chính sách bảo hiểm nhân thọ, tiền gửi cố định với ngân hàng và bưu điện, PPF
và NSC Các trường hợp đầu tư mù quáng rất khan hiếm, vì phần lớn các nhà đầu tư đượctìm thấy đang sử dụng một số nguồn và nhóm tham khảo để đưa ra quyết định Mặc dù họ
đang ở trong cái bẫy của một số loại ảo tưởng nhận thức như quá tự tin và khung hẹp, họ
xem xét nhiều yếu tố và tìm kiếm thông tin đa dạng trước khi thực hiện một số loại giaodịch đầu tư
2.2.2 Nghiên cứu trong nước
Võ Thị Hiếu, Bùi Hữu Phước và Bùi Nhất Vương (2020) đã nghiên cứu các nhân tố
hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân 411
nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP.HCM cung cấp số liệu khảo sát Theophân tích được tạo ra bởi việc sử dụng chương trình SPSS 20.0, Neo đã quyết định, Sự tự
tin thái quá, Tính khả dụng, Hiệu ứng đám đông và Tình hình có liên quan rất lớn đến các
quyết định đầu tư Tuy nhiên, những yếu tố này có tác động bất lợi đến hiệu quả đầu tư,
tuy nhiên, lại ngăn cản các quyết định đầu tư Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các nhà
đầu tư lớn tuổi có xu hướng đầu tư kém thành công hơn các nhà đầu tư trẻ tuổi và các nhàđầu tư nam có kinh nghiệm thường có lợi tức đầu tư cao hơn các nhà đầu tư nữ thiếu kinh
nghiệm Các kết luận chính của nghiên cứu có sự phân nhánh hiệu suất cho các nhà đầu tư
cá nhân.
Nguyễn Đình Toàn và cộng sự (2022), dựa trên khảo sát 525 người quan tâm và
quan tâm, nghiên cứu này đề cập đến các biến số ảnh hưởng đến ý định đầu tư vào cổphiếu của nhà đầu tư cá nhân trong bối cảnh dịch COVID-19 Để kiểm tra các lý thuyết, mô
hình cấu trúc tuyến tính (SEM) đã được sử dụng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, theo thứ
tự giảm dần, tác động của đại dịch COVID-19, xu hướng chấp nhận rủi ro, thái độ đối vớiđầu tư chứng khoán, hiệu quả tự tài trợ và định mức đầu tư chủ quan đều có tác động cólợi đến ý định tài chính của mọi người Tuy nhiên, yếu tố cơ bản của sự hiểu biết về tài
chính có tác động bất lợi đến ý định đầu tư Nghiên cứu cũng đưa ra một số chỉ trích về nỗ
lực của các công ty chứng khoán trong việc thu hút các nhà đầu tư thông thường
14
Trang 19Lê Minh Lộc và Nguyễn Thu Hiền (2011) dự đoán rằng các biến cơ bản ảnh hưởng
đến giá cổ phiếu và thay đổi giá sẽ được tiết lộ Để kiểm định mức giá trị có thể chấp nhậnđược đối với cổ phiếu trong các quyết định đầu tư, nghiên cứu này sẽ là cơ sở tham khảo
cho các nhà phân tích và đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu, phần
lớn các nhà đầu tư Việt Nam hiện nay đã quen thuộc với các nguyên tắc cơ bản của nghiên
cứu đầu tư chứng khoán và có thể áp dụng hiệu quả các lý thuyết này để xác định giá cổphiếu Báo cáo cũng đưa ra năm loại yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cho các nhàđầu tư Các nhân tố kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ, nhóm biến số liên quan đến kinh tếquốc tế và nhóm nhân tố liên quan đến cổ phiếu và thông tin giao dịch của cổ phiếu
Cuối cùng, tác động của các hoạt động của nhà đầu tư và các yếu tố đóng góp khác
ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư được xem xét trong nghiên cứu của Chu Nguyễn
Mộng Ngọc và Vương Văn Thuận (2015) Họ không lựa chọn tài chính dựa trên cảm xúc
hay tình cảm Những nhà đầu tư này đưa ra quyết định với mục tiêu tối đa hóa tỷ suất lợinhuận kỳ vọng Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường hiệu quả thể hiện một tỷ lệ nhỏ nhà đầu
tư có hành vi kỳ quặc, đôi khi được gọi là nhà đầu tư khó chịu hoặc bất thường Những nhàđầu tư này đưa ra quyết định về các khoản đầu tư của họ độc lập với các giả định, mô hình
hoặc phương pháp được sử dụng bởi hệ thống truyền thông kinh tế Các nghiên cứu tài
chính ngày nay chứng minh sự hiện diện của các yếu tố thành công về mặt cảm xúc trongcác khoản đầu tư
2.2.3 Khoảng trống nghiên cứu
Từ việc xem xét các nghiên cứu trên, có thể kết luận rằng có rất nhiều yếu tố quyết
định ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Một sốyếu tố ảnh hưởng lớn trong khi các yếu tố khác có vai trò nhỏ trong việc ảnh hưởng đếnhành vi của một nhà đầu tư cá nhân Các yếu tố có thể được nhóm lại thành nhân khẩu học,kinh tế, xã hội và tâm lý trong tự nhiên Các yếu tố quyết định phổ biến nhất có tác độngđáng kể đến hành vi của nhà đầu tư là bầy đàn, phản ứng thái quá, thiên vị nhận thức, suynghĩ phi lý, tự tin (trên hoặc dưới), giới tính, tuổi tác, thu nhập, giáo dục, yếu tố rủi ro, cổtức, ảnh hưởng của ý kiến của mọi người (bạn bè hoặc gia đình), hiệu suất trong quá khứcủa công ty, thông tin kế toán, cơ cấu sở hữu, thanh toán tiền thưởng, thu nhập công ty dựkiến, làm giàu nhanh chóng Mặt khác, có một số yếu tố quyết định được tìm thấy khôngphổ biến trong các nghiên cứu khác nhau được thực hiện trên các quốc gia khác nhau Đó
là thị trường chứng khoán, tổn thất dự kiến trên thị trường tài chính quốc tế, đạo đức nhậnthức của công ty, mục đích đa dạng hóa, hậu quả thuế của đầu tư, lạm phát, cơ hội giao
15
Trang 20dịch, công khai, thành phần hội đồng quản trị của các công ty, nhận thức về thương hiệu,
trách nhiệm xã hội, kỳ vọng kinh tế và định hướng kiểm soát
2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Rủi ro đầu tư
Rủi ro thể chế H3 ` của các nhà đầu
Nhân \ tu GenZ tai
tố nôi „ „ „ H4 \ thành phố Hà
tại củ Ảnh hưởng của doanh nghiệp ` Nôi
ại của ` :
doanh H5 NN anghiép ⁄ ¬
— — /
Thông tin cổ phiéu H6
N ⁄
Kinh nghiệm của nhà đầu tư
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Các giả thuyết nghiên cứu đề xuất:
HI: Rủi ro đầu tư ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà
đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
H2: Rủi ro chính trị ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà
đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
H3: Rui ro thể chế ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà
đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
H4: Ảnh hưởng của doanh nghiệp ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng
khoán của các nhà đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
16
Trang 21H5: Thông tin cổ phiếu ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng khoán của cácnhà đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
Hồ: Kinh nghiệm của nhà đầu tư ảnh hưởng thuận chiều đến quyết định đầu tư chứng khoán
của các nhà đầu tư GenZ tại thành phố Hà Nội
17
Trang 22CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được sử dụng vì
phương pháp nghiên cứu này có thể phát triển các dữ kiện có thể áp dụng chung về một
chủ đề Dữ liệu của nghiên cứu này được thu thập bằng bảng câu hỏi dành cho những
người được hỏi Phương pháp được áp dụng với sự trợ giúp của thống kê mô tả và kỹ thuật
phân tích thống kê.
Phương pháp định tính
Thông qua tham khảo các tài liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu ban đầu dựa trên co sở
lý thuyết và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Phương pháp này được sử
dụng nhằm hiệu chỉnh các thang đo, xây dựng bảng khảo sát phù hợp với điều kiện đặc
thù với khu vực khảo sát Tác giả tiến hành phỏng chuyên gia để xây dựng thang đo nháp,
đề xuất mô hình nghiên cứu, lập bảng câu hỏi điều tra sơ bộ và tiến hành nghiên cứu định
lượng
Xây dựng thang đo
Thang đo được sử dụng gồm 5 câu hỏi được đo bằng thang Likert 5 điểm từ (1) Rất
không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Không có ý kiến, (4) Đồng ý, đến (5) Rất đồng ý Thang
đo này được xây dựng dựa trên các công trình nghiên cứu của Bhattacherjee (2001); Davis
cùng nhau, đồng thời xác định các mẫu và mối quan hệ trong hệ thống.
Phân tích hệ thống mô tả thường được sử dụng để phát triển sự hiểu biết chỉ tiết về
một hệ thống nhằm cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định hoặc để xác định các lĩnh vực cần cải thiện Đây là một phương pháp không quy định, nghĩa là nó không nhằm mục đích quy định các giải pháp hoặc biện pháp can thiệp cụ thể cho hệ thống, mà nhằm
cung cấp sự hiểu biết toàn diện về cách thức hoạt động của hệ thống
18
Trang 23Bản chất của phân tích hệ thống mô tả là định tính cao và thường liên quan đến sự kết
hợp của các phương pháp thu thập dữ liệu, chẳng hạn như phỏng vẫn, quan sát và phân
tích tài liệu Phương pháp này thường sử dụng trên các mô hình khái niệm hoặc sơ đồ để
giúp trực quan hóa các mối quan hệ giữa các thành phần khác nhau của hệ thống.
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
“> Kiém định độ tin cậy Cronbach’s Alpha
Cronbach's alpha là thước đo thống kê độ tin cậy nhất quán nội tại thường được sử
dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội để đánh giá độ tin cậy hoặc tính nhất quán của một
thang đo hoặc bảng câu hỏi Nó được đặt theo tên của nhà tâm lý học người Mỹ Lee
Cronbach, người đã phát triển phương pháp này vào những năm 1950
Cronbach's alpha đo lường mức độ mà các mục trong thang đo hoặc bảng câu hỏi
có liên quan hoặc tương quan với nhau Nó nằm trong khoảng từ 0 đến 1, với các giá trị
cao hơn cho thấy tính nhất quán hoặc độ tin cậy bên trong lớn hơn Giá trị 0 cho biết không
có tính nhất quán bên trong, trong khi giá trị 1 cho biết tính nhất quán bên trong hoàn hảo.
Tuy nhiên, khi hệ số của Cronbach's Alpha lớn hơn 0.95 thì xảy ra trường hợp đa
cộng tuyến - nhiều câu trong thang đo không có gì khác nhau hoặc chúng cùng đo lườngmột nội dung nào đó trong khái niệm nghiên cứu Hệ số Cronbach’s Alpha từ 07 đến 0.8 là
thang đo này được, còn nếu từ 0.8 đến 1 thì là thang đo tốt (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2008).
Hệ số tương quan biến tổng là hệ số tương quan của một biến với mức trung bìnhcủa biến khác trong cùng một thang do, cho nên hệ số nay đồng biến với sự tương quancủa biến này với các biến khác trong nhóm Theo Nunnally & Burnstein (1994), hệ sốtương quan các biến sẽ có các mức độ phân loại theo các mức sau:
+0.01 đến +0.1: Mối tương quan quá thấp, không đáng kể+0.2 đến +0.3: Mối tương quan thấp
+0.4 đến +0.5: Mối tương quan trung bình+0.6 đến +0.7: Mối tương quan cao
+0.8 trở lên: Mối tương quan rất cao
Trong đó các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 được coi là biến
không có sự tương quan và sẽ bị loại khỏi thang đo.
s%* Phân tích nhân tố khám phá EFA
19
Trang 24Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) dùng để rút gọnmột tập hợp k biến quan sát thành một tập F (với F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn Mụctiêu của EFA là xác định các yếu tố tiềm ẩn, hoặc các cấu trúc không thể quan sát được,
chịu trách nhiệm về mối tương quan giữa một tập hợp các biến quan sát EFA hoạt động
bằng cách phân tích mối tương quan giữa các biến quan sát và xác định các nhóm biến có
tương quan cao với nhau Các nhóm biến này sau đó được hiểu là đại diện cho các yếu tố
tiềm ẩn cơ bản Mức độ thích hợp của phân tích nhân tố được thể hiện bằng hệ số KMO
(Kaiser - Mever - Olkin) Trị số KMO trong khoảng giữa 0.5 và 1 là điều kiện đủ để kết luận
nhân tố là thích hợp, còn nếu trị số này nhỏ hon 0.5 thì nhân tố không khả nang không
thích hợp với dữ liệu tổng quan
Thang tiêu chuẩn Kaiser (1974) đề nghị:
KMO <0 50: không chấp nhận được
Kiểm định Bartlett xác định xem liệu mối tương quan giữa một tập hợp các biến có
đủ khác nhau không Giả thuyết khống của kiểm định Bartlett là ma trận tương quan của
các biến là một ma trận đồng nhất, chỉ ra rằng không có mối tương quan đáng kể nào giữa
các biến Nếu thống kê kiểm định có ý nghĩa ở mức ý nghĩa đã chọn (thường là 0,05), thì
giả thuyết không bị bác bỏ, chỉ ra rằng mối tương quan giữa các biến không bằng 0 và phân
tích nhân tố có thể phù hợp Kiểm định Bartlett được sử dụng phổ biến trong phân tíchnhân tố khám phá (EFA) và thường được thực hiện trước khi tiến hành phân tích để đảmbảo dữ liệu đáp ứng các giả định của kỹ thuật Điều quan trọng cần lưu ý là thử nghiệm
của Bartlett nhạy cảm với kích thước mẫu và có thể tạo ra kết quả quan trọng ngay cả khi
mối tương quan giữa các biến yếu
s* Phương pháp kiểm định mô hình nghiên cứu
Hệ số tương quan Pearson (Pearson correlation coefficient, kí hiệu r) là một phép đothống kê định lượng cường độ và hướng của mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến liên tục
Tương quan tuyến tính giữa hai biến là mối tương quan mà khi biểu diễn giá trị quan sát của hai biến trên mặt phẳng Oxy, các điểm dữ liệu có xu hướng tạo thành một đường thẳng.
20
Trang 25Hệ số tương quan Pearson dao động từ -1 đến 1, với các giá trị càng gần -1 biểu thị mốitương quan âm mạnh, giá trị càng gần 1 biểu thị mối tương quan dương mạnh và giá trị
gần 0 biểu thị không có tương quan Hệ số tương quan bằng 0 cho thấy không có mối quan
hệ tuyến tính giữa các biến Để tính hệ số tương quan Pearson, các nhà nghiên cứu thườngthu thập dữ liệu về hai biến liên tục và sau đó tính toán hiệp phương sai giữa chúng, đo
lường mức độ biến thiên của chúng cùng nhau Hệ số tương quan sau đó được tính bằng
cách chia hiệp phương sai cho tích của độ lệch chuẩn của hai biến
r <0 cho biết một sự tương quan nghịch giữa hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến naytăng thì sẽ làm giảm giá trị của biến kia Giá trị “r’ = -1 chỉ ra sự tương quan tuyến tính
ngược mạnh nhất giữa hai biến số.
r = 0 cho thấy không có sự tương quan
r > 0 cho biết một sự tương quan thuận giữa hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này
tăng thì sẽ làm tăng giá trị của biến kia Giá trị “r’ = 1 chỉ ra sự tương quan tuyến tính thuậnmạnh nhất
+ Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết
Phân tích hồi quy đa biến là một phương pháp được sử dụng để phân tích mối quan hệgiữa một biến phụ thuộc với nhiều biến độc lập Phương trình hồi quy đa biến có dạng:
Y = Bo + B1X1+ B2X2 + B3X3 + + BnXn + e
Trong đó:
« Y: biến phụ thuộc, là biến chịu tác động của biến khác
e X,X1, X2, Xn: biến độc lập, là biến tác động lên biến khác
« Bo: hằng số hồi quy, hay còn được gọi là hệ số chặn Đây là chỉ số nói lên giá trị của
Y sẽ là bao nhiêu nếu tất cả X cùng bằng 0 Nói cách khác, chỉ số này cho chúng ta biết giá trị của Y là bao nhiêu nếu không có các X Khi biểu diễn trên đồ thị
Oxy, Bo là điểm trên trục Oy mà đường hồi quy cắt qua
° 61, Bz Bn: hệ số hồi quy, hay còn được gọi là hệ số góc Chỉ số này cho chúng ta biết
về mức thay đổi của Y gây ra bởi X tương ứng Nói cách khác, chỉ số này nói lên cóbao nhiêu đơn vị Y sẽ thay đổi nếu X tăng hoặc giảm một đơn vị
« e: sai số Chỉ số này càng lớn càng khiến cho khả năng dự đoán của hồi quy trở
nên kém chính xác hơn hoặc sai lệch nhiều hơn so với thực tế Sai số trong hồi
21
Trang 26quy tổng thể hay phần dư trong hồi quy mẫu đại diện cho hai giá trị, một là các biến độc lập ngoài mô hình, hai là các sai số ngẫu nhiên.
3.3 Thu thập dữ liệu
Trong thời gian khảo sát, tổng số câu hỏi khảo sát gửi đi qua email và các mạng xã
hội là 200 mẫu trong đó có 49 mẫu không hợp lệ do điền thiếu thông tin và không trung thực, có 151 mẫu hợp lệ, điền đầy đủ thông tin và thể hiện rõ quan điểm của nhà đầu tư Như vậy, số mẫu đưa vào nghiên cứu là 151 mẫu, và đảm bảo điều kiện chọn mẫu cho
phép.
22