1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền tây nghệ an nghiên cứu Điển hình tại huyện tương dương, tỉnh nghệ an

95 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Mô Hình Truyền Thông Cho Khu Dự Trữ Sinh Quyển Miền Tây Nghệ An: Nghiên Cứu Điển Hình Tại Huyện Tương Dương, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Đặng Hoàng Hà
Người hướng dẫn GS.TSKH Trương Quang Học
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Biến Đổi Khí Hậu
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền tây nghệ an nghiên cứu Điển hình tại huyện tương dương, tỉnh nghệ an

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

ĐẶNG HOÀNG HÀ

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG

CHO KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN MIỀN TÂY NGHỆ AN: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: 8900201.01QTD

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Trương Quang Học

(Chữ kí của GVHD)

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực

hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Trương Quang Học Luận văn không

sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn

là trung thực, chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn

đầy đủ và đúng qui cách Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên

bản của luận văn

Tác giả

Đặng Hoàng Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TSKH Trương

Quang Học - Viện Tài nguyên và Môi trường, ĐHQG Hà Nội - người đã tận tình định

hướng, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận

văn

Tôi xin cảm ơn các quý thầy cô và cán bộ thuộc Khoa Các khoa học liên ngành

– Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện và bảo vệ luận

văn

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới chị Hoàng Thị Ngọc Hà – Giám

độc và tập thể cán bộ nhân viên Trung tâm Phát triển Cộng đồng Sinh thái (ECODE)

đã cho phép tôi tham gia vào đề tài khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở lý luận,

thực tiễn và đề xuất khung hướng dẫn quản lý khu dự trữ sinh quyển thế giới được

UNESCO công nhận tại Việt Nam” do Trung tâm điều phối, được thừa hưởng những

báo cáo, nghiên cứu của đề tài phục vụ cho hoàn thiện luận văn

Tôi xin cảm ơn Ủy ban Con người và Sinh quyển Việt Nam, Văn phòng Ban

quản lý Khu dự trữ sinh quyển Miền Tây Nghệ An, Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn tỉnh Nghệ An, Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Phòng Văn hóa

– Thông tin huyện Tương Dương, Vườn Quốc gia Pù Mát cùng người dân huyện

Tương Dương đã nhiệt tình ủng hộ, hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn

thành luận văn này

Cuối cùng, tôi chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp,

những người luôn ở bên tôi và là nguồn động lực giúp tôi hoàn thành luận vän đúng

tiến độ

Mặc dù luận văn đã hoàn thành tốt nhất có thể, song tôi nhận thức được rằng

vẫn còn những thiếu sót và hạn chế trong luận văn của tôi Do đó, tôi rất mong sẽ

nhận được các đóng góp ý kiến và hướng dẫn của các quý thầy cô để hoàn thiện luận

văn tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 2023

Đặng Hoàng Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Giới thiệu cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Các nghiên cứu về truyền thông cho các khu dự trữ sinh quyển 6

1.1.1 Thế giới 6

1.1.2 Việt Nam 9

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 9

1.2.1 Tổng quan về khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 9

1.2.2 Tổng quan về huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Các thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu 23

2.1.1 Các thuật ngữ 23

2.1.2 Các loại mô hình truyền thông 29

2.1.3 Mô hình truyền thông phát triển 31

2.2 Khung phân tích, cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và số liệu 33

2.2.1 Khung phân tích 33

2.2.2 Cách tiếp cận 34

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2 Cơ sở xây dựng mô hình 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức cộng đồng về biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học tại khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 39

3.1.1 Kết quả tham vấn với các đơn vị quản lý 39

3.1.2 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi 41

Trang 6

3.2 Xây dựng mô hình truyền thông cho cộng đồng tại khu dự trữ sinh quyển miền

Tây Nghệ An 55

3.2.1 Các nguyên tắc về việc xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 55

3.2.2 Những kiến thức cần truyền thông về khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 57

3.2.3 Thông điệp truyền thông và phương thức truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An 57

3.2.4 Đề xuất xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An trên địa bàn huyện Tương Dương 62

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1

Trang 7

Khu Dự trữ sinh quyển Kinh tế - xã hội

Liên Hợp Quốc Chương trình Con người và Sinh Quyển (Man and Man and Biosphere Program) Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phát triển bền vững

Tài nguyên – Môi trường Tài nguyên thiên nhiên

Ủy ban nhân dân Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme)

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc

(United Nations Environment Programme) Văn hóa – Thông tin

Vườn quốc gia Ngân hàng Thế giới (World Bank)

Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê một số tai biến thiên nhiên tại khu DTSQ miền Tây Nghệ An 19

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Logo biểu tượng KDTSQ miền Tây Nghệ An 10

Hình 1.2 Bản đồ KDTSQ miền Tây Nghệ An 10

Hình 1.3 Bản đồ KDTSQ huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An 16

Hình 1.4 Ước tính tổng thiệt hại bằng tiền do thiên tai (tỷ VNĐ) năm 2016 19

Hình 1.5 Mức độ tác động đến sản xuất do lũ lụt gây ra của một số huyện thuộc lưu vực sông Lam 20

Hình 1.6 Xu thế biến đổi của nhiệt độ không khí trung bình tại trạm khí tượng Tương Dương 21

Hình 2.1 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 33

Hình 3.1 Tỉ lệ độ tuổi tham gia khảo sát 41

Hình 3.2 Thành phần dân tộc của nhóm tham gia khảo sát 42

Hình 3.3 Thành phần nghệ nghiệp của nhóm đối tượng tham gia khảo sát 42

Hình 3 4 Tỉ lệ người tham gia biết số lượng KDTSQ của Nghệ An 43

Hình 3.5 Tỉ lệ người tham gia nhận biết vệ khu vực sinh sống thuộc KDTSQ 43

Hình 3.6 Tỉ lệ người khảo sát từng nghe qua KDTSQ miền Tây Nghệ An 44

Hình 3.7 Tỉ lệ người khảo sát biết KDTSQ miền Tây Nghệ An giáp biên giới 45

Hình 3.8 Tỉ lệ người khảo sát biết KDTSQ miền Tây Nghệ An nằm trên mấy huyện 45

Hình 3.9 Tỉ lệ lựa chọn các vùng lõi của KDTSQ miền Tây Nghệ An 46

Hình 3.10 Tỉ lệ người khảo sát biết số lượng phân khu sinh thái của KDTSQ miền Tây Nghệ An 46

Hình 3.11 Tỉ lệ người khảo sát biết các đặc điểm tự nhiên không thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An 47

Hình 3.12 Tỉ lệ hiểu biết về đơn vị trao danh hiệu KDTSQ 48

Hình 3.13 thể hiện hiểu biết về chức năng của KDTSQ 48

Hình 3.14 thể hiện nhận thức của người dân về các loại hình thiên tai tại địa phương 49

Hình 3.15 Tỉ lệ nhận biết của người dân về lợi ích từ KDTSQ 50

Hình 3.16 Nhận thức của người dân về các nguồn lợi ở KDTSQ miền Tây Nghệ An 50

Trang 10

Hình 3.17 Nhận thức của người dân về những hoạt động có thể gây tác động tiêu cực đến KDTSQ miền Tây Nghệ An 51 Hình 3.18 Nhận thức của người dân về những hoạt động nào có thể tác động tích cực đến KDTSQ Miền Tây Nghệ An 52 Hình 3.19 Nhận thức về các hoạt động mà những người khảo sát đã tham gia để bảo tồn các giá trị của KDTSQ Miền Tây Nghệ An 52 Hình 3.20 Tỉ lệ ý kiến người dân về lý do chưa tiếp cận được các thông tin liên quan đến KDTSQ miền Tây Nghệ An 53 Hình 3.21 Tỉ lệ ý kiến người dân về đơn vị tiên phong tổ chức hoạt động truyền thông tại KDTSQ miền Tây Nghệ An 54 Hình 3.22 Tỉ lệ ý kiến người dân về phương thức truyền thông hiệu quả với người dân tại KDTSQ miền Tây Nghệ An 54 Hình 3.23 Tỉ lệ ý kiến người dân về việc có sẵn sàng tham gia vào các hoạt động truyền thông về KDTSQ Miền Tây Nghệ An 55 Hình 3.24 Mô hình truyền thông cho KDTSQ miền Tây Nghệ An 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ năm 2000 đến nay, UNESCO đã công nhận 10 KDTSQ Thế giới tại Việt Nam Trong số đó, KDTSQ miền Tây Nghệ An là một trong những KDTSQ có giá trị văn hóa, tài nguyên thiên nhiên và tính đa dạng sinh học rất cao

Miền Tây Nghệ An với lợi thế có tiềm năng lớn về diện tích rừng nguyên sinh với nhiều loại động thực vật đặc hữu, quý hiếm, là điều kiện tốt để phát triển du lịch sinh thái, với 3 vùng lõi bao gồm VQG Pù Mát (diện tích hơn 94.000 ha), KBTTN

Pù Huống và KBTTN Pù Hoạt với diện tích gần 83.000 ha, đã được UNESCO công nhận là vùng lõi quan trọng của KDTSQ thế giới miền Tây Nghệ An Đây là khu vực bảo tồn thiên nhiên còn gìn giữ được như nguyên vẹn vẻ nguyên sinh, với thảm thực vật phong phú, đa dạng cùng nhiều loại động vật quý, hiếm và đó là những yếu tố quan trọng đối với mục tiêu phát triển du lịch sinh thái

Tuy nhiên, KDTSQ miền Tây Nghệ An là một trong những khu vực xảy ra thiên tai và thời tiết bất lợi như lũ, lũ quét – lũ bùn đá, trượt lở, xói lở bờ sông, gió tây khô nóng (gió Lào), dông, mưa phùn và mưa lớn do hoàn lưu sau bão Trong đó các dạng thiên tai như lũ, lũ quét – lũ bùn đá, trượt lở diễn ra với tần suất thường xuyên và có mức độ nghiêm trọng với nguy cơ thiên tai cao, thường xảy ra ở vùng đồi núi ở Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quế Phong và một phần diện tích ở Quỳ Hợp

Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, tính ĐDSH tại KDTSQ miền Tây Nghệ An đang có chiều hướng suy giảm Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng làm thay đổi thế cân bằng tự nhiên, suy giảm tính ĐDSH, ảnh hưởng chất lượng và suy giảm trữ lượng tài nguyên

Đơn cử như các hoạt khai thác gỗ, khai thác tre nứa bất hợp pháp, ngoài ra tre nứa còn dùng cho sản xuất giấy Đánh bắt cá vẫn xảy ra, thậm chí có cả hiện tượng đánh cá bằng mìn, điện, thả chất độc trên sông suối làm ô nhiễm, phá huỷ môi trường sống bằng hình thức huỷ diệt trong các khu rừng đặc dụng Hiện tượng phát nương, làm rẫy, dẫn đến cháy rừng trong những mùa khô nóng đã tác động đến rừng, đe doạ làm mất nơi cư trú của nhiều loài Các hoạt động khai thác lâm sản như: lấy trầm, lấy măng, cây thuốc, mật ong, làm ảnh hưởng lớn tới rừng, tác động đến vùng sống của các loài động vật Các hoạt động này đã dẫn đến tỷ lệ rừng bị thay đổi và suy thoái môi trường sống gia tăng Tình trạng săn bắn, đánh bẫy các loài động vật, gây suy

Trang 12

giảm số lượng cá thể một số loài, đe doạ tuyệt chủng một số loài khác là mối nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với tài nguyên ĐDSH của Nghệ An

Để khắc phục các tình trạng trên, Chính phủ Việt Nam nói chung và UBND tỉnh Nghệ An nói riêng đã có những biện pháp cụ thể, cùng với các chính sách kèm theo nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ tài nguyên ĐDSH Tuy nhiên, thực tế cần

sự tham gia và đóng góp từ nhiều bên để giải quyết mối mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển

Một trong các giải pháp góp phần vào công cuộc bảo tồn các giá trị của KDTSQ

là các hoạt động truyền thông Truyền thông giúp nâng cao nhận thức và tri thức của cộng đồng bản địa về vai trò của KDTSQ và ý nghĩa, các giá trị khi KDTSQ được gìn giữ và phát triển, thúc đẩy sự tham gia chủ động trong công tác ứng phó và bảo tồn, truyền thông giúp cộng đồng trong nước và quốc tế có những hiểu biết và phương

án hỗ trợ tác động đến sinh kế và phát triển bền vững các giá trị thiên nhiên, văn hóa

và kinh tế - xã hội cho cộng đồng thuộc KDTSQ Trong UNESCO Guidelines for Biosphere Reseves của UNESCO có nhận định, phần lớn sự thành công của Chương trình MAB và riêng các khu dự trữ sinh quyển phụ thuộc vào truyền thông [36] Một trong năm Lĩnh vực Hành động Chiến lược của Chiến lược MAB (2015-2025) là: 'Chia sẻ dữ liệu và truyền thông toàn diện, hiện đại, cởi mở và minh bạch' Theo đó, Hành động A2.4 của Kế hoạch Hành động Lima (2016–2025) bao gồm chỉ thị sau:

"Đảm bảo rằng các khu dự trữ sinh quyển có các kế hoạch và cơ chế truyền thông rõ ràng để thực hiện những điều này" [34]

Hiện nay, tại các khu vực thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An chưa đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, do các cản trở về địa hình, địa bàn sinh sống, điều kiện kinh

tế - xã hội – văn hóa của vùng chưa tạo được tính kết nối và đồng bộ Trong khi đó, chưa có một nghiên cứu, báo cáo hay hoạt động truyền thông điển hình cụ thể nào ở KDTSQ miền Tây Nghệ An hoặc các KDTSQ khác ở Việt Nam khiến công tác truyền thông của địa phương và cộng đồng còn manh mún, mang tính hình thức và chưa tương xứng với vai trò của vùng

Các nghiên cứu và mô hình truyền thông về biến đổi khí hậu hiện nay đã được quan tâm và triển khai ở nhiều lĩnh vực như các tổ chức đoàn thể xã hội, các trường học, các địa bàn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai,… tuy nhiên với các khu DTSQ như khu DTSQ miền Tây Nghệ An, khu vực đặc biệt quan trọng khi phải chống chịu

Trang 13

với nhiều loại hình thiên tai khắc nghiệt, cũng như các tác động gây suy giảm tính đa dạng sinh học

Với các vấn đề trên, trong khuôn khổ luận văn, học viên lựa chọn địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, đơn vị hành chính có diện tích lớn, có

cả ba phân khu chức năng của KDTSQ miền Tây Nghệ An chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học để đánh giá nhận thức xã hội và hiệu quả của các hoạt động truyền thông cộng đồng hiện có, nghiên cứu các đề xuất phù hợp với đặc điểm địa bàn và xây dựng mô hình truyền thông phù hợp cho địa bàn và KDTSQ miền Tây Nghệ An Từ lý do đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài luận văn

“Xây dựng mô hình truyền thông cho Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An: nghiên cứu điển hình tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất mô hình truyền thông cho KDTSQ miền Tây Nghệ An về ứng phó với BĐKH, suy giảm ĐDSH, PTBV nhằm đảm bảo cộng đồng dân cư thuộc KDTSQ được cung cấp kiến thức, thông tin về KDTSQ với các tác động của BĐKH, suy giảm ĐDSH, gắn liền với tăng trưởng xanh, PTBV trong bối cảnh mới

Mục tiêu chung:

Nâng cao nhận thức cho cộng động thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An về vai trò của KDTSQ trong bối cảnh BĐKH toàn cầu và Việt Nam, dựa trên cơ sở mô hình truyền thông và lồng ghép các vấn đề BĐKH, suy giảm ĐDSH và PTBV vào các hoạt động khác tại địa phương

Mục tiêu cụ thể:

 Đánh giá được thực trạng nhận thức về BĐKH, suy giảm ĐDSH, PTBV và năng lực truyền thông về các vấn đề trong KDTSQ của cộng đồng dân cư tại KDTSQ miền Tây Nghệ An, thông qua điển hình tại huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

 Xác định được nội dung và thông điệp truyền thông, hình thức và phương tiện truyền thông phù hợp với đối tượng nghiên cứu là cộng đồng dân cư thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An

 Đề xuất được mô hình truyền thông tại KDTSQ miền Tây Nghệ An

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: mô hình truyền thông tại KDTSQ miền Tây Nghệ

An

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: KDTSQ miền Tây Nghệ An (nghiên cứu điển hình tại

huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)

- Phạm vi thời gian: tháng 9/2007 – tháng 8/2023

- Phạm vi chuyên môn: Các đặc trưng của KDTSQ miền Tây Nghệ An (đặc

điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa – cộng đồng, công tác ứng phó với BĐKH, bảo tồn ĐDSH, hoạt động truyền thông)

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng tại KDTSQ miền Tây Nghệ An được nâng cao thì sẽ hỗ trợ cho công tác bảo tồn KDTSQ, nâng cao ứng phó với BĐKH, bảo tồn ĐDSH, PTBV tại địa phương

Nếu mô hình truyền thông cho KDTSQ miền Tây Nghệ An định hướng được các hoạt động, thông điệp và kênh truyền thông phù hợp thì sẽ giúp phát huy hiệu quả vai trò của truyền thông giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng và thay đổi hành vi góp phần ứng phó với BĐKH, suy giảm ĐDSH, PTBV tại địa phương

Nếu Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An và các khu dự trữ sinh quyển khác

ở Việt Nam được bảo tồn và phát huy các giá trị thì sẽ đóng góp các giá trị to lớn từ

hệ sinh thái trong hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, điều hòa khí hậu, giảm phát thải các-bon, góp phần tăng dự trữ các-bon trong rừng, đặc biệt là rừng nguyên sinh, của địa phương và trên cả nước

5 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra cho nghiên cứu này bao gồm:

Người dân sống trong KDTSQ miền Tây Nghệ An có nhận thức như thế nào về các giá trị của KDTSQ miền Tây Nghệ An?

Vai trò của KDTSQ miền Tây Nghệ An đã được phát huy tốt hay chưa?

Các cơ quan quản lý KDTSQ miền Tây Nghệ An và chính quyền địa phương đã có những chính sách gì để nâng cao giá trị của KDTSQ miền Tây Nghệ An với cộng đồng dân cư?

Hoạt động truyền thông ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức của người dân đối với các giá trị của KDTSQ miền Tây Nghệ An?

Trang 15

Các giải pháp đề xuất như thế nào để nâng cao nâng cao nhận thức của cộng đồng và thay đổi hành vi góp phần ứng phó với BĐKH, suy giảm ĐDSH, PTBV tại KDTSQ miền Tây Nghệ An?

6 Giới thiệu cấu trúc luận văn

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về truyền thông cho các khu dự trữ sinh quyển

1.1.1 Thế giới

Trên thế giới, khái niệm Sinh quyển được đề cập lần đầu bởi nhà địa chất Eduard Suess vào năm 1875, định nghĩa là nơi trên bề mặt Trái Đất có sự sống tồn tại [30] Tuy nhiên, khái niệm về Sinh quyển nói chung bao hàm rất nhiều các thành tố tạo nên các hệ sinh thái riêng biệt đặc trưng cho các khu vực địa lý khác nhau Năm 1971, Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) của UNESCO ra đời với mục đích thiết lập một cơ sở khoa học để cải thiện mối quan hệ giữa con người và môi trường

từ vùng núi đến vùng biển, ven biển và hải đảo; từ rừng nhiệt đới đến vùng đất khô

và đô thị MAB kết hợp khoa học tự nhiên và xã hội, kinh tế và giáo dục để cải thiện sinh kế của con người và chia sẻ lợi ích công bằng, và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên

và được quản lý, do đó thúc đẩy các cách tiếp cận đổi mới để phát triển kinh tế phù hợp với văn hóa và bền vững về môi trường Chính từ cột mốc đó, khái niệm KDTSQ xuất hiện để chỉ rõ những khu vực có hệ sinh thái bờ biển hoặc trên cạn có vai trò thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực có giá trị nổi bật, được quốc tế công nhận

Hơn 50 năm MAB có mặt, Mạng lưới các KDTSQ từ năm 1976 đến nay đã có

738 khu tại 134 quốc gia trên toàn thế giới Với một mạng lưới rộng khắp, trải dài trên nhiều hệ sinh thái khác nhau và tiếp tục sẽ có nhiều khu vực được tiếp cận, đánh giá và công nhận trong tương lai, các KDTSQ cần phải làm tốt vai trò và được nhìn nhận để hỗ trợ từ chính quyền các quốc gia và cộng đồng phụ thuộc để nâng cao giá trị mà các KDTSQ sẵn có và có tiềm năng Trong đó, công tác truyền thông đóng vai trò quan trọng như nhận định được đưa ra trong Technical guidelines for Biosphere Reserves của UNESCO [35] Đây được coi như tài liệu cô đọng, đầy đủ và rõ ràng nhất phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, bảo tồn KDTSQ, tuy nhiên tiếp cận tại Việt Nam còn ít, chủ yếu nội dung tập trung vào diễn giải các khái niệm và quy định trên thế giới, chưa có nhiều đánh giá, liên kết chặt chẽ với các KDTSQ tại Việt Nam Tuy nhiên hiện nay, các hoạt động truyền thông dẫu đã xuất hiện nhưng chưa mang tính thống nhất thành hệ thống và làm rõ được các giá trị cốt lõi Các nghiên cứu có đề cập có thể kể đến như:

Trang 17

Tại Thụy Điển, báo cáo nghiên cứu của Kristina Börebäck, Đại học Stockholm

có đề cập tiềm năng truyền thông tại các KDTSQ Các KDTSQ trong MAB có tiềm năng để phát triển thành có mô hình sinh kế bền vững Quá trình truyền thông cần tuân thủ các nguyên tắc thông qua các quy phạm pháp luật và các quy định của từng địa phương, từ đó sẽ hình thành các đầu ra hoặc kết quả kiến thức khác nhau ở từng KDTSQ Nghiên cứu này thảo luận về cách diễn đạt của hai quy trình giao tiếp khác nhau và cách thức xây dựng các hoạt động khác nhau tại hai KDTSQ sẽ được hình thành bởi các tác nhân khác nhau, nhưng mục tiêu là tạo ra hệ thống thông tin có tính liên kết và bền vững Quá trình giao tiếp được phân tích của KDTSQ Thụy Điển được nghiên cứu chỉ ra rằng các hành động được diễn đạt khác nhau, thể hiện qua các hoạt động độc lập đã hình thành các cơ hội và khả năng phát huy các cơ hội đó Từ đó, các

cơ chế chính sách, các hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là về truyền thông cần phát huy thế mạnh đặc trưng của từng KDTSQ để nâng tầm giá trị của từng khu [21]

Hay tại Canada, trong luận án của James Sik Yin Law, Đại học Waterloo, có đề cập về nghiên cứu định hướng cung cấp thông tin chi tiết từ cộng đồng bản địa để truyền thông về vai trò của KDTSQ Oak Ridges Moraine Nghiên cứu chỉ ra rằng, các chiến lược truyền thông khả thi Để đáp ứng các chủ đề này, các chiến lược truyền thông khả thi bao gồm khả năng phối hợp và kết nối các nhóm trong mạng lưới Các KDTSQ thông qua việc tạo mạng lưới nghiên cứu và mạng lưới giám sát Điều này

sẽ cung cấp các giải pháp và kinh nghiệm để cải thiện chất lượng trong hoạt động truyền thông, chia sẻ kiến thức và cho phép mạng lưới kết nối đồng bộ, tạo ra những hiệu quả truyền thông mang tính chiến lược và phổ rộng hơn Các nhóm truyền thông triển vọng có thể phát huy như chính quyền, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức học thuật và cơ quan bảo tồn Các kênh này đã có sẵn phương tiện truyền thông để tiếp cận với các nhóm cộng đồng địa phương (như cơ quan bao tồn), hoạt động nông nghiệp, di sản thiên nhiên/cảnh quan (chính quyền) và các giá trị văn hóa, giáo dục,

y tế của cộng đồng (các tổ chức học thuật và các tổ chức phi chính phủ) Trong nghiên cứu có đề cập đến các ví dụ về các phương tiện truyền thông hiệu quả như với dự án bảo tồn đất và giám sát nước và chương trình thì có tài liệu quảng cáo thông tin và tờ rơi (Hướng dẫn Công dân về Moraine) và các sự kiện cộng đồng thông qua các buổi

tư vấn, hội nghị chuyên đề và hội thảo [28]

Trang 18

Bản thân UNESCO và MAB cũng đã có những chiến lược cụ thể như Kế hoạch hành động Lima với 1 trong 5 lĩnh vực hành động chiến lược được đề cập là Truyền thông, thông tin và chia sẻ dữ liệu toàn diện, hiện đại, cởi mở và minh bạch Mục tiêu của kế hoạch là đảm bảo duy trì, phát triển mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới thành những mô hình hoạt động hiệu quả về phát triển bền vững tại cấp độ địa phương; chú trọng xây dựng các cộng đồng dân cư thịnh vượng, hài hòa với sinh quyển nhằm góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc Vì vậy, cho đến nay, Kế hoạch LIMA được triển khai và tập trung thực hiện trên nhiều KDTSQ đã tạo ra những thay đổi tích cực, góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát triển các giá trị mà chiến lược truyền thông cũng góp phần quan trọng [33]

Nổi bật nhất trong các hoạt động truyền thông cho các KDTSQ trên thế giới là

nỗ lực của các Ủy ban MAB tại từng khu vực và quốc gia: [39]

+ Châu Phi:

o Dự án Trường đào tạo sau đại học khu vực về quản lý tổng hợp rừng nhiệt đới

và đất đai (ERAIFT)

o Dự án Bảo tồn Sinh quyển và Di sản của Hồ Chad (BIOPALT)

o Chương trình Định giá kinh tế các dịch vụ hệ sinh thái trong Khu dự trữ con người và sinh quyển (EVAMAB)

o Dự án Kinh tế Xanh tại các Khu Dự trữ Sinh quyển ở Ghana, Nigeria và Tanzania - GEBR

o Dự án truyền thông Không Nhựa - Một cử chỉ nhỏ trong tay chúng ta ở Sao Tomé & Principé

+ Các nước Ả Rập:

o Củng cố Khu Dự trữ Sinh quyển Argan (SABR) - Ma-rốc

+ Châu Á và Thái Bình Dương:

o Chương trình đô thị hóa nông thôn tổng hợp sinh quyển (BIRUP)

+ Châu Âu và Bắc Mỹ

o Dự án Chuyển giao kiến thức và đào tạo trong lưu vực Địa Trung Hải

o Dự án Các địa điểm mô hình phục hồi đa dạng sinh học và giảm thiểu biến đổi khí hậu ở Tây Ban Nha, Đức, Ba Lan

+ Khu vực Mỹ La-tinh và vùng biển Ca-ri-bê:

Trang 19

o Dự án Phục hồi rừng ngập mặn như một giải pháp dựa vào thiên nhiên trong các khu dự trữ sinh quyển ở Châu Mỹ Latinh và Ca-ri-bê (MangRes)

o Nghiên cứu Khu dự trữ sinh quyển - Một công cụ để quản lý vùng biển và hải đảo ở khu vực Đông Nam Thái Bình Dương (BRESEP)

o Dự án Phục hồi hệ sinh thái để phát triển bền vững ở Haiti

o Dự án Quản trị và quản lý tốt hơn các khu dự trữ sinh quyển ở Châu Mỹ Latinh

bộ Hướng dẫn kĩ thuật cho Khu dự trữ sinh quyển được biên dịch dành cho các cán

bộ bảo tồn, cán bộ quản lý chính quyền và những ai quan tâm và hoạt động sinh quyển.[35] Do đó, có thể đánh giá hoạt động truyền thông cho các KDTSQ còn manh mún, chưa được chú trọng, chưa có tính hệ thống

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

a Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và ĐDSH KDTSQ Tây Nghệ An

Trang 20

Hình 1.1 Logo biểu tượng KDTSQ miền Tây Nghệ An [12]

Hình 1.2 Bản đồ KDTSQ miền Tây Nghệ An [12]

KDTSQ miền Tây Nghệ An không thay đổi về tọa độ địa lý kể từ thời điểm xây dựng hồ sơ đề cử cho đến nay, cụ thể: Kinh độ Đông: 103.874663 - 105.502067; Vĩ

độ Bắc: 18.578815 - 19.995825

Trang 21

KDTSQ miền Tây Nghệ An có địa giới hành chính thuộc 9 huyện miền núi với

182 xã, thị trấn, 2.125 xóm, bản Cụ thể: huyện Tương Dương (18 đơn vị cấp xã với

154 xóm, bản); huyện Con Cuông (13 đơn vị cấp xã với 127 xóm, bản); huyện Anh Sơn (21 đơn vị cấp xã với 252 xóm, bản); huyện Kỳ Sơn (21 đơn vị cấp xã với 193 xóm, bản); huyện Thanh Chương (40 đơn vị cấp xã với 504 xóm, bản); huyện Quỳ Châu (12 đơn vị cấp xã với 146 xóm, bản); huyện Tân Kỳ (22 đơn vị cấp xã với 268 xóm, bản); huyện Quỳ Hợp (21 đơn vị cấp xã với 287 xóm, bản) và huyện Quế Phong (14 đơn vị cấp xã với 194 xóm, bản)

KDTSQ miền Tây Nghệ An có vị trí thuộc phần phía Tây tỉnh Nghệ An theo trục Bắc – Nam, bao gồm toàn bộ lưu vực đầu nguồn sông Cả với 3 chi lưu quan trọng là sông Hiếu, sông Nậm Nơn và sông Nậm Mộ, nằm trong phạm vi vùng sinh thái dãy Trường Sơn Điểm cực Tây là đỉnh núi Pù Xơi, xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn Điểm cực Bắc là đỉnh núi Bản Liên, xã Thông Thụ, huyện Quế Phong Cực Đông - Nam là tận cùng của huyện Thanh Chương giáp ranh ngã 3 với huyện Nam Đàn và tỉnh Hà Tĩnh [12]

b Đặc điểm về KT-XH Khu DTSQ miền Tây Nghệ An

Xu hướng thay đổi cơ cấu các ngành kinh tế chính từ năm 2007 tới nay của 9 huyện miền Tây Nghệ An là theo hướng nông - lâm nghiệp giảm, công nghiệp, xây dựng và thương mại, du lịch tăng Lâm nghiệp có xu hướng tăng trưởng khá, thể hiện

ở diện tích rừng sản xuất tăng, giá trị và sản lượng tăng Du lịch có tăng trưởng tích cực và tăng đều, đặc biệt tại 3 vùng lõi của KDTSQ Sinh kế của cộng đồng ở các huyện vùng đệm và vùng chuyển tiếp thay đổi mạnh mẽ Sau khi BQL KDTSQ miền Tây Nghệ An được thành lập, đã có nhiều sáng kiến phát triển sinh kế cộng đồng cộng đồng theo hướng giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, thân thiện với môi trường và thích ứng với BĐKH Các mô hình được triển khai trực tiếp và gián tiếp bởi sự liên kết, phối hợp giữa các VQG, KBTTN và chính quyền địa phương, một vài nơi có các dự án quốc tế Chương trình Nông thôn mới đạt được những thành công quan trọng, giúp cải thiện hạ tầng nông thôn tại các xã nghèo và do đó tạo thuận lợi cho cải thiện sinh kế cộng đồng Đã có nhiều sáng kiến cộng đồng với hàng chục mô hình sinh kế được triển khai, trên 50 mô hình sản xuát kinh doanh điển hình thành công trong kết hợp bảo tồn ĐDSH (cây, con quý hiếm) với tạo thu nhập cho người

Trang 22

dân trên cơ sở kết hợp kiến thức bản địa với khoa học – công nghệ đã được phát huy hiệu quả

Mô hình quản lý rừng cộng đồng (hình thức giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn/ bản) với vai trò làm chủ của cộng đồng (sở hữu, quản lý, giám sát và hưởng lợi

từ rừng theo các quy ước chung) đã cho thấy những kết quả tích cực nổi bật và đóng góp đáng kể cho bảo tồn và phát triển rừng Theo đó, thúc đẩy phát triển sinh kế dựa vào rừng, sản phẩm cây dược liệu, du lịch – dịch vụ và nghiên cứu khoa học tại các phân vùng chức năng của KDTSQ

Đồng quản lý rừng (cộng đồng, chính quyền, doanh nghiệp): rừng được giao cho các hộ gia đình và/hoặc cộng đồng quản lý Chính quyền địa phương, người dân, lực lượng kiểm lâm, cán bộ VQG, KBT cùng tham gia quản lý và bảo vệ rừng Hiện tại, phần lớn diện tích rừng của 3 vùng lõi đã được giao khoán cho người dân bảo vệ Kinh phí cho hoạt động này từ các nguồn như chi trả DVMTR, Nghị quyết 30a, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế theo Quyết định 57/2011/QĐ-TTg và Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ Việc tham gia của các hộ dân vào công tác quản lý, bảo vệ rừng đã đóng góp đáng kể cho cải thiện sinh kế, thu nhập của người dân, nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ bảo vệ cũng như tăng độ che phủ rừng

Điển hình trong hoạt động bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH gắn với phát triển kinh

tế là mô hình Cộng đồng tham gia bảo vệ rừng đặc dụng Săng lẻ tại huyện Tương Dương Ngoài ra còn có mô hình du lịch cộng đồng - Du lịch sinh thái tại huyện Con Cuông và nhiều mô hình trồng rừng, nông lâm kết hợp tại huyện Thanh Chương [12]

- Tiềm năng du lịch

Các đặc trưng về sự giàu có, phong phú của đa dạng sinh học và tính đa dạng, độc đáo về văn hoá là nguồn lực tự nhiên, văn hoá nổi bật nhất của KDTSQ miền Tây Nghệ An và là tiềm năng, lợi thế lớn cho phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, cộng đồng Các loại hình du lịch hiện nay đang được khai thác

và có nhiều triển vọng phát triển, bao gồm: 1) Du lịch sinh thái, tham quan thắng cảnh: Tham quan hệ sinh thái VQG Pù Mát, thác Khe Kèm (Con Cuông); 2) Du lịch văn hoá – cộng đồng, tham quan hệ sinh thái làng, bản xen lẫn các suối nước, ruộng bậc thang của người Thái, người Đan Lai ở Con Cuông, Quỳ Châu, Quế Phong; 3)

Du lịch mạo hiểm – khám phá rừng VQG Pù Mát, KBTTN Pù Hoạt, KBTTN Pù

Trang 23

Huống; 4) Du lịch nghiên cứu khoa học: Quan sát và chụp ảnh động, thực vật… Các sản phẩm bản địa như các bài thuốc quý, thủ công mỹ nghệ được khai thác nguyên liệu từ tự nhiên (thổ cẩm, hàng đan lát thủ công ), các sản vật đặc thù (Chanh leo, Thảo đậu khấu, Cam ) có tính hấp dẫn cao đối với du khách [4]

- Các dịch vụ hệ sinh thái

KDTSQ miền Tây Nghệ An có đầy đủ bốn loại dịch vụ hệ sinh thái gồm: i) dịch

vụ cung cấp (gỗ, lâm sản ngoài gỗ, nước,…), ii) dịch vụ hỗ trợ (chu kỳ dinh dưỡng, ĐDSH), iii) dịch vụ điều hòa (điều hòa nguồn nước, chất lượng không khí), và iv) dịch vụ văn hóa (cảnh quan, không gian văn hóa) Tại các huyện trong KDTSQ, dịch

vụ chi trả môi trường rừng được thực hiện từ 2011 và việc giao khoán bảo vệ rừng thực hiện trước đây đã góp phần phát triển kinh tế của người dân địa phương, từ đó

có nguồn vốn tái đầu tư vào trồng rừng phục hồi diện tích chuyển đổi Các nguồn thu chính do các dịch vụ HST cung cấp cho đến nay chủ yếu từ thuỷ điện, nước sạch, … Trong KDTSQ, cho đến tháng 7/2018 đã có đến 15 nhà máy thủy điện đã phát điện (và 12 nhà máy thuỷ điện khác đang xây dựng) và 5 nhà máy nước đang vận hành trong đó tổng thu từ thủy điện giai đoạn 2011 – 2016 là khoảng 240 tỷ đồng Bên cạnh đó, hiện tỉnh đang áp dụng thí điểm dịch vụ môi trường rừng với các đơn vị sử dụng nước công nghiệp Như vậy, các nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng là nguồn thu ngoài ngân sách đã hỗ trợ đáng kể trong công tác bảo vệ và phát triển rừng ở KDTSQ [1]

Theo Báo cáo của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, đến tháng 6/2018 đã có 29 hợp đồng cung cấp dịch vụ môi trường rừng với tổng nguồn thu 36.874.196.461 đồng Trong đó có 15 thủy điện, 4 cơ sở sản xuất nước sạch và 10 cơ sở sản xuất công nghiệp [1]

Tỉnh Nghệ An đã có chủ trương phát triển đô thị theo hướng sinh thái và dự kiến thí điểm tại huyện Con Cuông cũng như định hướng cho các huyện, thị khác Theo đó, du lịch sinh thái và các mô hình kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh sẽ là điểm nhấn quan trọng trong phát triển bền vững ở KDTSQ [1]

c Phân vùng chức năng Khu DTSQ Tây Nghệ An

Thực hiện mục đích bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn lợi thiên nhiên, KDTSQ miền Tây Nghệ An được phân thành 3 phân khu chức năng như sau: [12]

Trang 24

- Vùng lõi: Diện tích 241.985 ha, bao gồm: VQG Pù Mát và 2 KBTTN Pù Huống và Pù Hoạt thuộc các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp

- Vùng đệm: Diện tích 503.270 ha, dân số 200.926 người, thuộc các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Anh Sơn, Thanh Chương

- Vùng chuyển tiếp: Diện tích khoảng 558.030 ha, dân số 272.896 người, thuộc địa giới hành chính các huyện: Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương

Việc phân chia KDTSQ thành 3 khu chức năng là cơ sở để thực hiện các chính sách quản lý, biện pháp tác động khác nhau nhưng đồng thời có sự hỗ trợ nhau giữa các phân khu, hay đúng hơn là “điều phối liên ngành” trong thực hiện các chức năng chung KDTSQ: [1]

- Chức năng bảo tồn: Đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng cảnh quan, hệ sinh thái, loài và di truyền;

- Chức năng phát triển: Thúc đẩy phát triển kinh tế trên cơ sở bảo đảm phát triển bền vững môi trường và thực nghiệm bảo tồn nghiên cứu khoa học

- Chức năng trợ giúp: Nghiên cứu, giám sát, đào tạo và giáo dục cộng đồng về bảo tồn và phát triển bền vững ở phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế

d Vai trò của KDTSQ miền Tây Nghệ An trong thích ứng với biến đổi khí hậu

Lợi ích mà KDTSQ mang lại là rất lớn, và khu dự trữ tác động mạnh đến môi trường sống hiện nay KDTSQ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên như rừng, đầm lầy, … Nhờ việc duy trì và khôi phục các hệ sinh thái này, đã giúp duy trì sự cân bằng môi trường và giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, các mảng xanh trong KDTSQ miền Tây Nghệ An có nhiều khu vực ít có sự tác động của con người nên giữ được tính đa dạng cao, trở thành các mảng đệm giảm bớt các đợt mưa lớn, dự trữ nước ngầm,… Bên cạnh đó, KDTSQ cũng đóng góp rất lớn trong việc bảo tồn và quản lý các loài động và thực vật quý hiếm, việc này nhằm cân bằng sinh thái và ngăn chặn suy thoái của các loài quan trọng trong việc ổn định hệ sinh thái

Ngoài ra, KDTSQ còn đóng góp vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu khí thải carbon và hấp thụ carbon từ không khí Các hệ sinh thái trong khu vực này, như

Trang 25

rừng nguyên sinh, có khả năng hấp thụ CO2 và lưu giữ carbon, giúp làm giảm hiệu ứng nhà kính và ổn định khí hậu

Trong nghiên cứu đăng trên Tạp chí Môi trường có báo cáo kết quả phân tích khả năng lưu trữ và hấp thụ carbon ở miền Tây Nghệ An (chủ yếu vùng địa lý thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An) theo 02 kịch bản: Kịch bản 1 (Quy hoạch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 tiếp tục thực hiện như hiện nay, không có sự điều chỉnh quy hoạch phát triển trong tương lai) - Tổng lượng carbon lưu trữ và hấp thụ của vùng Tây Nghệ An là khoảng 352.174.799 tấn, bao gồm lượng carbon lưu trữ, dự trữ trên đất, dự trữ dưới đất và lượng carbon lưu trữ bị mất đi Lượng carbon chủ yếu phân bổ xung quanh khu vực có diện tích rừng lớn thuộc VQG Pù Mát với diện tích 91.113 ha, KBTTN Pù Huống với diện tích 50.000 ha với nhiều nét điển hình của thảm thực vật Việt Nam, với hơn 150 họ, 500 chi và gần 1000 loài cây thân

gỗ, chưa kể đến các loại cây thân thảo, thân leo và tầng thấp; Kịch bản 2 (Lựa chọn theo kịch bản phát triển của tỉnh Nghệ An, đã được UBND Tỉnh đề xuất (kịch bản tăng trưởng nhanh) giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050) - Tổng lượng carbon lưu trữ và hấp thụ của vùng Tây Nghệ An là khoảng 350.360.038 tấn/năm, bao gồm lượng carbon lưu trữ, dự trữ trên đất, dự trữ dưới đất và lượng carbon lưu trữ bị mất đi Theo

đó, có khoảng 19.506 ha diện tích rừng (18.896 ha rừng sản xuất, 33 ha rừng đặc dụng và 577 ha rừng phòng hộ) sẽ bị chuyển sang mục đích khác Do vậy, lượng carbon bị mất đi nếu thực hiện kịch bản này là khoảng 1.814.761 tấn [20]

Còn theo nghiên cứu về ước tính sinh khối rừng, giá trị ước tính sinh khối trên mặt đất phần lớn là trên 200 Mg/ha với diện tích 352.145,91 ha, chủ yếu tập trung ở kiểu Rừng gỗ tự nhiên núi đất là rộng thường xanh (233.850,09 ha) và Rừng hỗn giao

gỗ - tre nứa tự nhiên (6.317,02 ha), phần còn lại thuộc về kiểu Rừng gỗ tự nhiên núi

đá lá rộng thường xanh (11.978,80 ha) Diện tích 268.628,28 ha với giá trị sinh khối trên mặt đất từ 150-200 Mg/ha tập trung chủ yếu ở Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh (206.270,81 ha) và Rừng hỗn giao gỗ - tre nửa tự nhiên (54.639,34 ha) Không gian trong rừng hỗn giao hẹp hơn so với rừng gỗ tự nhiên bởi cây trưởng thành

và cây tre nứa xếp chồng lên nhau Sinh khối trên mặt đất có sự phân bố không đều, với một phần lớn tập trung ở vùng gốc cây gỗ và các vùng có sự tương tác giữa cây

gỗ và cây Điều đó cho thấy sinh khối trên các cánh rừng thuộc KDTSQ miền Tây Nghệ An còn rất lớn, thông qua bản đồ ước tính sinh khối trên mặt đất có thể giám

Trang 26

sát rừng, suy thoái rừng và các ngành liên quan đến rừng khác, chẳng hạn như bảo tổn, quản lý bền vững và tăng cường lưu trữ Carbon Trong đó, sự tích lũy Carbon trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên chịu ảnh hưởng của mật độ cây, loài cây và tuổi cây Vì vậy, việc bảo vệ khu dự trữ Carbon rộng lớn trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên tại KDTSQ miền Tây Nghệ An, Việt Nam nói riêng và hệ sinh thái rừng nhiệt đới khắp châu Á nói chung, là rất quan trọng để giảm thiểu việc phát thải khi Carbon vào khí quyển [15]

Ngoài ra, KDTSQ cung cấp một môi trường thuận lợi cho nghiên cứu và giáo dục về môi trường và biến đổi khí hậu Việc tiến hành các nghiên cứu khoa học trong khu vực này giúp hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu và phát triển các biện pháp ứng phó hiệu quả Đặc biệt, KDTSQ còn cung cấp cơ hội phát triển kinh tế địa phương bền vững qua các hoạt động du lịch sinh thái, khai thác bền vững các nguồn tài nguyên tạo thêm thu nhập cho người dân ở khu vực này

1.2.2 Tổng quan về huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An

a) Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình

Hình 1.3 Bản đồ huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An [36]

Trang 27

Huyện Tương Dương là một huyện miền núi thuộc phần phía Tây của tỉnh Nghệ

An, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời [36]

Trước năm 1945, huyện Con Cuông và huyện Kỳ Sơn cũng thuộc địa giới huyện Tương Dương Đến năm 1945, huyện Con Cuông tách ra Vào ngày 17/5/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 65/CP, tách huyện Kỳ Sơn ra khỏi Tương Dương, khẳng định địa giới hành chính của huyện cho đến bây giờ [36] Tương Dương là 1 trong 4 huyện miền núi cao của tỉnh Nghệ An

- Phía Bắc và Tây Bắc: Giáp huyện Quế Phong và nước bạn Lào

- Phía Tây: Giáp huyện Kỳ Sơn

- Phía Nam và Tây Nam: Giáp nước bạn Lào

- Phía Đông và Đông Nam: Giáp huyện Con Cuông

Trong đó tổng chiều dài đường biên với nước bạn Lào là 57,93 km

Địa hình huyện Tương Dương rất hiểm trở, với nhiều núi cao, tạo nên dạng địa hình nhiều thung lũng nhỏ hẹp, đồi núi bị cắt xẻ mạnh bởi 3 dòng sông chính (Nậm Nơn, Nậm Mộ, sông Cả) và nhiều khe suối lớn nhỏ, tạo nên nhiều lớp gợn sóng cao dần, hình thành 2 mái núi lớn nghiêng về sông Cả (sông Lam) và thấp dần về phía hạ lưu sông Lam [37]

b) Đặc điểm tự nhiên

Huyện Tương Dương chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu Tây Nam Nghệ

An, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rệt Trong đó thời gian mùa mưa: từ tháng 4 đến tháng 10, thời gian mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình biến động từ 230C-250C, trung bình có 6 tháng nhiệt độ vượt quá 230C; tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7: dao động từ 39-410C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1: 80C

Lượng mưa đo được bình quân là 1.450 mm, tuy nhiên lại phân bố không đều theo không gian và thời gian (trong đó khu vực thượng nguồn sông Cả, từ Cửa Rào trở lên, mùa mưa bắt đầu và kết thúc trong 3 tháng là: tháng 8, 9, 10; lượng mưa bình quân năm chỉ đạt 1.350 mm Còn khu vực hạ lưu sông Cả từ Cửa Rào trở xuống, mùa mưa bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 9, với lượng mưa bình quân nhiều năm lớn trên 2.000 mm)

Khu vực này cũng chịu ảnh hưởng một phần gió Tây Nam (thường gọi là gió Lào) thường xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 8, có đặc điểm khô, nóng, dễ cảm nhận

Trang 28

nhất sự khắc nghiệt ở một số vùng trong huyện (như khu vực Cửa Rào, xã Xá Lượng được đánh giá là khu vực nóng nhất vùng Đông Dương) [37]

c) Đặc điểm kinh tế - xã hội

Năm 2022, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện duy trì tốc độ phát triển

ổn định, an ninh trật tự được giữ vững; có 20/28 chỉ tiêu UBND tỉnh và 20/23 chỉ tiêu HĐND huyện giao đạt và vượt

Tổng giá trị sản xuất năm 2022 (giá so sánh năm 2010) ước đạt 5.884.011 triệu đồng, đạt 98,3% Nghị quyết HĐND; Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất năm 2022 tăng 9%; cả 3 lĩnh vực kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao hơn cùng

kỳ năm 2021 (nông - lâm - thủy sản tăng 5,7%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,2%; thương mại - dịch vụ tăng 6,1%)

Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 34,02 triệu đồng, đạt 100,1% so Nghị quyết HĐND huyện, tăng 11,9% so với cùng kỳ

Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2022 ước đạt 814.460 triệu đồng, đạt 125,8%

dự toán tỉnh giao, đạt 127% dự toán HĐND huyện giao Trong đó, thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 39.158 triệu đồng, đạt 152,4% dự toán tỉnh giao, đạt 130,3% dự toán HĐND huyện giao, tăng 0,9% so với cùng kỳ

Năm 2022, đón khoảng 10.000 lượt khách, với tổng doanh thu hơn 8 tỷ đồng Nhiều mô hình dịch vụ du lịch sinh thái, cộng đồng bước đầu đã được hình thành và phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân như cụm du lịch sinh thái Tam Quang (khu du lịch sinh thái Nậm Xán) - Tam Đình (rừng săng lẻ, khe Cớ, Quang Phúc) - đền Vạn, khe Ngậu, xã Xá Lượng - thác Nha Vang, xã Nhôn Mai - rừng săng

lẻ, cọn nước, bản Coọc, xã Yên Hòa…

Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 39,38% xuống còn 34,88% Số lao động qua đào tạo là 4.000 lao động, đạt 160% KH, 266,7% so Nghị quyết HĐND huyện, tăng 100% so với cùng kỳ; trong đó đã đào tạo nghề cho 1.025 lao động, đạt 53,2% KH, 128,1% so Nghị quyết HĐND huyện; giải quyết việc làm cho 6.000 lao động, đạt 428,6% KH, 600% so Nghị quyết HĐND huyện, tăng 140% so với cùng kỳ [38]

d) Các vấn đề môi trường, thiên tai, BĐKH, suy giảm ĐDSH của địa phương

Thiên tai và thời tiết bất lợi

Trang 29

Là huyện miền núi cao ở phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, Tương Dương chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm thường xuất hiện lốc, sét, mưa đá với sức tàn phá hết sức nặng nề [38] Lượng mưa trung bình nhiều năm trên địa bàn huyện dao động từ 1.300 - 1.900mm, đây được xem là chất xúc tác gây nên lũ, lụt, lũ ống, lũ quét Thiên tai nơi đây thường càn quét theo 4 dạng chính: Ảnh hưởng hoàn lưu Bão hoặc áp thấp nhiệt đới, trung bình ghi nhận hơn 2 cơn/ năm; hoàn lưu bão hoặc áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh; nhiều cơn bão đổ bộ liên tiếp trong một thời gian ngắn; không khí lạnh kết hợp với loại hình thời tiết khác

Bảng 1.1 Thống kê một số tai biến thiên nhiên tại khu DTSQ miền Tây Nghệ

Hình 1.4 Ước tính tổng thiệt hại bằng tiền do thiên tai (tỷ VNĐ) năm 2016 [7]

* Lũ: Tại KDTSQ miền Tây Nghệ An, một trong những hiện tượng thời tiết cực

đoan nguy hiểm là lũ Nguyên nhân chủ yếu là do lượng mưa tăng đột biến trong 4 tháng mùa mưa với mức trung bình hơn 200 mm/tháng, tiếp theo là 8 tháng với lượng mưa thấp

Trang 30

Theo kết quả điều tra trong nghiên cứu của Lại Văn Mạnh (2021), với các ý kiến trả lời khảo sát cho thấy huyện Tương Dương có tần suất lũ lụt trung bình xảy

ra là 2,38 lần/ năm và đây cũng là huyện chịu tác động tiêu cực nhiều nhất [17]

Hình 1.5 Mức độ tác động đến sản xuất do lũ lụt gây ra của một số huyện

thuộc lưu vực sông Lam [13]

* Gió Lào

Gió Lào là hiện tượng được tạo ra khi khối khí nhiệt đới Ấn Độ Dương vượt qua dãy Trường Sơn và tràn xuống vùng Bắc Trung Bộ Đây là hiện tượng thời tiết cực đoan đặc trưng dễ dàng nhận thấy ở vùng Trung Bộ và KDTSQ miền Tây Nghệ

An không nằm ngoài ảnh hưởng của loại hình thời tiết này, đặc biệt là huyện Tương Dương Gió Lào thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8, hoạt động mạnh ở KDTSQ vào tháng 7 Gió khô và nóng khiến cho khí hậu các địa phương trong khu vực trở nên khắc nghiệt, độ ẩm không khí có thời điểm xuống dưới 30%, trong khi nền nhiệt tăng mạnh, lên tới 43⁰ C Khu vực huyện Tương Dương chịu ảnh hưởng của các đợt gió Lào mạnh trong năm trung bình trên 10 ngày [17]

* Một số loại hình tai biến khác

Dông xuất hiện nhiều ở KDTSQ miền Tây Nghệ An vào các tháng 6, 7

Bão tuy không ảnh hưởng trực tiếp nhưng cũng gây tác động bởi hoàn lưu sau bão, gây mưa lớn sau khi bão đổ bộ

Hạn hán ít xảy ra, nhưng vẫn gây ảnh hưởng nặng nề khi xuất hiện

Trang 31

Băng giá chỉ xảy ra ở một số Tương Dương với tần suất 1 đến 3 lần/ năm và mức tác động trung bình hoặc thấp ở khu vực miền núi

đ) Xu thế BĐKH

Xu hướng thay đổi các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, bốc hơi giai đoạn 1961-2010 thể hiện BĐKH diễn ra rõ rệt ở KDTSQ miền Tây Nghệ An Số liệu quan trắc của các trạm khí tượng cơ bản trong vùng đều cho thấy xu hướng gia tăng của nhiệt độ trong khi bốc thoát hơi nước và diễn biến mưa phức tạp hơn

- Xu hướng biến đổi nhiệt độ: Kết quả tính toán số liệu quan trắc cho thấy xu thế biến đổi của nhiệt độ tăng 0.160C ở trạm khí tượng Tương Dương từ 1961-2010

- Xu thế biến đổi lượng mưa: Lượng mưa hàng năm của các trạm quan trắc KDTSQ miền Tây Nghệ An có xu thế tăng dần:

Hình 1.6 Xu thế biến đổi của nhiệt độ không khí trung bình tại trạm khí tượng

Tương Dương [13]

e) Suy giảm ĐDSH tại KDTSQ miền Tây Nghệ An

Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho tính ĐDSH đang có chiều hướng suy giảm Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội đã ảnh hưởng làm thay đổi thế cân bằng tự nhiên, suy giảm tính ĐDSH, ảnh hưởng chất lượng và suy giảm trữ lượng tài nguyên Cụ thể:

Các hoạt khai thác gỗ, khai thác tre nứa bất hợp pháp, ngoài ra tre nứa còn dùng cho sản xuất giấy Đánh bắt cá vẫn xảy ra, thậm chí có cả hiện tượng đánh cá bằng mìn, điện, thả chất độc trên sông suối làm ô nhiễm, phá huỷ môi trường sống bằng hình thức huỷ diệt trong các khu rừng đặc dụng Hiện tượng phát nương, làm rẫy, dẫn đến cháy rừng trong những mùa khô nóng đã tác động đến rừng, đe doạ làm mất nơi

Trang 32

cư trú của nhiều loài Các hoạt động khai thác lâm sản như: lấy trầm, lấy măng, cây thuốc, mật ong, làm ảnh hưởng lớn tới rừng, tác động đến vùng sống của các loài động vật Các hoạt động này đã dẫn đến tỷ lệ rừng bị thay đổi và suy thoái môi trường sống gia tăng Tình trạng săn bắn, đánh bẫy các loài động vật, gây suy giảm số lượng

cá thể một số loài, đe doạ tuyệt chủng một số loài khác là mối nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với tài nguyên ĐDSH của Nghệ An

Một số nguyên nhân khác ảnh hưởng đến công tác bảo tồn ĐDSH miền Tây Nghệ An:

- Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết: Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến hành lang ĐDSH nối liền KBTTN Xuân Liên (Thanh Hóa) – KBTTN Pù Hoạt – KBTTN Pù Huống – VQG Pù Mát và VQG Vũ Quang (Hà Tĩnh) thành một dải Tuy nhiên, đến nay hành lang này vẫn chưa được quy hoạch cụ thể, hệ thống các khu bảo tồn chưa liên kết mạnh nên ảnh hưởng đến các hoạt động bảo tồn trên phạm vi toàn vùng;

- Ranh giới phân cách khu vực các khu rừng đặc dụng đa phần vẫn chưa được phân định rõ ràng trên thực địa, vì thế các hoạt động xâm lấn, vi phạm trong các khu bảo tồn còn xảy ra

- Nguồn ngân sách cho công tác bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, các khu bảo tồn thuộc địa phương quản lý có nguồn ngân sách còn hạn chế hơn và chưa có chính sách cụ thể để xã hội hóa công tác bảo tồn

- Một số chính sách về khu bảo tồn còn thiếu như chính sách đầu tư, quản lý vùng đệm, v.v

- Năng lực chuyên môn của cán bộ còn nhiều hạn chế, nhất là cán bộ nghiên cứu khoa học về bảo tồn, các hướng dẫn viên phục vụ giáo dục môi trường, v.v [8]

Trang 33

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Các thuật ngữ

a Biến đổi khí hậu

Một trong những định nghĩa đầu tiên về BĐKH nằm trong Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (1992) có đề cập "BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người" [32]

Tại Việt Nam, trong Chương trình mục tiêu Quốc Gia ứng phó với BĐKH có định nghĩa "BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất" [5]

b Phát triển bền vững

Năm 1980 là dấu mốc đánh dấu sự xuất hiện của thuật ngữ "phát triển bền vững" lần đầu tiên trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [27] Vào năm 1987, khái niệm này được phổ biến rộng rãi nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này định nghĩa: PTBV

là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nội dung của PTBV phải nhấn mạnh vào 3 vấn đề là: (1) PTBV về kinh tế; (2) PTBV về xã hội; (3) PTBV về môi trường [22]

c Đa dạng sinh học

Từ ĐDSH (tiếng Anh là "Biodiversity") thường được dùng thông dụng để thay thế cho những thuật ngữ được định nghĩa cụ thể hơn và lâu đời hơn như đa dạng

Trang 34

loài và mức độ đa dạng của loài Các nhà sinh học Tor-Björn Larsson (2001) và Davis định nghĩa ĐDSH là "tổng thể của đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái của một khu vực" [30] Ưu điểm của định nghĩa này là nó có khả năng mô tả hầu hết các trường hợp và đưa ra một cái nhìn thống nhất về những dạng sinh học truyền thống từng được định nghĩa trong quá khứ:

 Đa dạng loài (thường là thước đo mức độ đa dạng của loài)

 Đa dạng hệ sinh thái (thường nhìn từ góc độ đa dạng sinh thái)

 Đa dạng hình thái (bắt nguồn từ đa dạng di truyền và sinh học phân tử)

 Đa dạng chức năng (thường là thước đo số lượng các loài có chức năng khác nhau trong một quần thể, ví dụ như cơ chế nuôi ăn khác nhau, khả năng hoạt động khác nhau, loài săn mồi vs con mồi )

Một định nghĩa cụ thể và phù hợp với cách diễn giải nói trên được đưa ra lần đầu trong một bài báo của tác giả Bruce A Wilcox do Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) ủy thác trong Hội thảo VQG Thế Giới 1992 Theo định nghĩa của Wilcox: " ĐDSH là tính đa dạng của các dạng sống ở tất cả cấp độ của hệ thống sinh học (bao gồm phân tử, quần thể, sinh vật, loài và hệ sinh thái )" Về mặt di truyền, ĐDSH có thể được định nghĩa là tính đa dạng của các alen, gen và sinh vật Chúng nghiên cứu xoay quanh những quá trình như đột biến và chuyển gen ngang, thúc đẩy

sự tiến hóa [31]

Vào năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất của LHQ đưa ra định nghĩa mà sau này được sử dụng rộng rãi trong Công ước về ĐDSH là "tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thủy vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học." [32]

Còn Gaston và Spicer trong tác phẩm Biodiversity: an introduction (Đa dạng sinh học: phần giới thiệu) có định nghĩa ĐDSH là "sự biến đổi của sự sống ở mọi cấp

độ tổ chức sinh học" [26]

d Truyền thông

Định nghĩa truyền thông

Trong Sổ tay truyền thông môi trường có định nghĩa truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ, chia sẻ kinh nghiệm giữa hai

Trang 35

hoặc một nhóm người; là một quá trình thông tin nhằm đạt được sự hiểu biết chung giữa hai hay nhiều người; là quá trình liên kết các bộ phận của thế giới sống với nhau.[18]

Truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người, theo sách Xã hội học báo chí.[16]

Còn trong giáo trình Truyền thông: lý thuyết và kĩ năng cơ bản của Nguyễn Văn Dững, quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của

cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và хã hội chính là truyền thông [9]

Trong giáo trình Truyền thông về Biến đổi khí hậu của Nguyễn Đức Ngữ, truyền thông là một quá trình trong đó con người làm công tác truyền thông (tuyên truyền viên) truyền đạt các thông tin (thông điệp truyền thông) tới người nhận thông tin (đối tượng truyền thông) nhằm mục đích nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ

và hành vi của người nhận thông tin thông qua các cách tiếp cận, hình thức và phương tiện khác nhau [14]

Mục đích truyền thông: Thông tin; giới thiệu các điển hình; trao đổi ý tưởng;

làm rõ mong đợi; hạn chế những hoài nghi; tránh hiểu nhầm; huy động sự hỗ trợ; cải thiện hiểu biết; nâng cao nhận thức; thay đổi thái độ và chấp nhận giá trị; thay đổi hành vi; tăng cường năng lực [18]

Các phương thức truyền thông

Theo Nguyễn Đức Ngữ, có 3 phương thức truyền thông thường được sử dụng [14]

Truyền thông một chiều: Phương thức này mô tả quá trình gửi thông điệp truyền

thông từ người truyền thông đến người nhận thông điệp truyền thông qua kênh truyền thông mà không có điều kiện nhận được sự phản hồi của đối tượng truyền thông

Truyền thông 2 chiều: Ở phương thức này, kênh truyền thông là công cụ trao

đổi thông điệp truyền thông giữa người gửi và người nhận thông điệp Người gửi thông điệp có điều kiện thu thập các thông tin phản hồi từ phía người nhận Quá trình này có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần

Trang 36

Truyền thông nhiều chiều (đa chiều): Khác với hai phương thức trên, truyền

thông nhiều chiều đòi hỏi người gửi thông điệp truyền thông cần hiểu biết đối tượng truyền thông (người nhận) trước khi gửi thông điệp truyền thông Vì thế, người làm truyền thông (người gửi) phải thu thập thông tin từ phía đối tượng truyền thông (người nhận) Quá trình truyền thông nhiều chiều có 3 bước là thu thập thông tin về đối tượng truyền thông, gửi thông điệp truyền thông tới đối tượng truyền thông, phản hồi thông tin từ phía đối tượng truyền thông [14]

đ Truyền thông phát triển

Truyền thông phát triển là khái niệm truyền thông hiện đại, xuất hiện trong vài thập niên gần đây, nhưng đang tạo sức hút lớn, và là một xu hướng của truyền thông thế giới Đồng thời, nếu được ứng dụng tốt ở Việt Nam sẽ đem tới những hiệu quả tốt đẹp [39]

Về cơ bản, truyền thông phát triển là sự kết hợp của: Truyền thông nhằm phổ biến kiến thức/truyền bá cái mới Lý thuyết phổ biến kiến thức/truyền bá cái mới được phát triển dựa trên những giả thuyết cho rằng, việc thiếu các ý tưởng mới sẽ dẫn đến

sự kém phát triển và truyền thông được sử dụng như một công cụ để thuyết phục các nhóm công chúng mục tiêu (thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và phi đại chúng, như người lãnh đạo dư luận, ) Tuy nhiên, truyền thông phát triển phê phán lý thuyết phổ biến kiến thức ở tính một chiều, áp đặt và không xem xét đến các yếu tố địa phương, văn hóa

Như vậy, truyền thông phục vụ phát triển (hay truyền thông phát triển) là một kiểu truyền thông, trong đó tất cả những chủ thể tham gia đều được tự do đối thoại

và có quyền tiếp cận các kênh truyền thông, tham gia vào quá trình quảng bá tiếp nhận thông tin những kiến thức mới của mỗi chủ thể Do đó, nội dung cơ bản của truyền thông phát triển gồm:

Thứ nhất, truyền thông phát triển là truyền thông gắn với thay đổi xã hội theo

hướng tiến bộ Truyền thông ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội; đóng vai trò nhân rộng những thay đổi của sự phát triển Truyền thông thay đổi xã hội là quá trình chia sẻ kiến thức nhằm đạt được sự nhất trí trong hành động đáp ứng các mối quan tâm, nhu cầu và năng lực của tất cả các bên liên quan

Trang 37

Thứ hai, truyền thông phục vụ phát triển xã hội, Ngân hàng Thế giới (WB), một

trong những tổ chức phục vụ phát triển mạnh mẽ nhất toàn cầu nhận định: “Truyền thông phát triển là sự kết hợp truyền thông một cách chiến lược trong các dự án phát triển Truyền thông một cách chiến lược là một công cụ mạnh mẽ có thể cải thiện cơ hội thành công của dự án phát triển Nó cố gắng để thay đổi hành vi chứ không chỉ là phổ biến thông tin, giáo dục, hoặc nâng cao nhận thức” Cũng như các khái niệm khác, truyền thông phát triển có nhiều cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều chia sẻ ý tưởng chung của khái niệm này là sử dụng truyền thông để thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Thứ ba, truyền thông phát triển là được thực hiện một phương pháp tiếp cận đặc

biệt là phương pháp tham gia (participatory method) Theo đó, trước khi nhà truyền thông quyết định sản xuất bất kì chương trình nào hoặc truyền bá bất kì thông điệp nào, cần phải nghiên cứu và tham khảo ý kiến của công chúng Vai trò của truyền thông phát triển bình xét ở khía cạnh những thay đổi đối với văn hóa - xã hội, đối với phát triển chung của xã hội theo hướng bền vững, thể hiện qua hai luận điểm quan trọng: truyền thông phát triển hoàn toàn có thể tạo ra những thay đổi về văn hóa xã hội; để có thể tạo ra/phát huy vai trò đó, báo chí truyền thông cần lưu ý đến một loại hình báo chí mới - báo chí công chúng.[39]

e Mô hình truyền thông

Theo khái niệm cơ bản, giao tiếp là quá trình gửi và nhận thông điệp hoặc chuyển thông tin từ người này (sender) đến người khác (receiver) Mô hình truyền thông (Communication Model) đề cập đến loại mô hình khái niệm được sử dụng để giải thích quá trình giao tiếp của con người.[9]

Mô hình truyền thông là một dạng thức biểu hiện cụ thể, cô đúc lý thuyết truyền thông, phản ánh mối quan hệ của các yếu tố trong quá trình truyền thông

Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự tuyến tính thời gian, trong

đó bao gồm, các yếu tố tham dự chính sau đây:

Nguồn: Là yếu tố mang thông tin tiềm năng và thường khởi xướng quá trình

truyền thông Nguồn phát là một người, một nhóm người hay tổ chức, mang nội dung thông tin (thông điệp) trao đổi (hoặc với mục đích lan truyền) với người khác hay nhóm xã hội khác Có nguồn chính thức và phi chính thức

Trang 38

Thông điệp: Là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng

tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp

Kênh truyền thông: Là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông

điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Dựa vào tính chất, đặc điểm đặc trưng,

có thể chia truyền thông thành các loại hình khác nhau như: truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp, truyền thông cá nhân, truyền thông nhóm, truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện

Người nhận: Người nhận hay công chúng nhóm đối tượng truyền thông là cá

nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp Hiệu quả của truyền thông được đánh giá dựa trên cơ sở những biến đổi về mặt nhận thức, thái độ và hành vi xã hội của công chúng cùng những hiệu ứng xã hội do truyền thông đem lại Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông

Phản hồi/Hiệu lực, hiệu quả: Là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp

từ công chúng nhóm đối tượng tác động trở về nguồn phát Mạch phản hồi là thước

đo hiệu quả của hoạt động truyền thông Trong một số trường hợp, mạch phản hệ: bằng không hoặc không đáng kể Điều đó có nghĩa là thông điệp phát ra không hoặc

ít tạo được sự quan tâm của công chúng nhóm đối tượng truyền thông Dòng phản hồi càng lớn về quy mô và cường độ thì năng lực, hiệu lực truyền thông càng cao và càng dễ tạo hiệu quả truyền thông cao

Nhiễu: Là yếu tố gây ra sự sai lệch khó được dự tính trước trong quá trình truyền

thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật ) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị tiếp nhận sai lệch

Có thể thấy, truyền thông là một hiện tượng phức tạp, bao gồm nhiều thành tố trong sự tác động qua lại lẫn nhau, đặt trong môi trường và bối cảnh cụ thể Vì vậy, kết nối các thành tổ đó một cách lôgíc trong mô hình cụ thể, để nhận thức một cách

Trang 39

tổng quát hiện tượng truyền thông, theo mô hình cụ thể Có thể gọi đó là những mô hình, lý thuyết truyền thông

Mô hình truyền thông là những lược đồ, sơ đồ, bản vẽ, các bảng, các biểu đồ, các hình tượng được sử dụng để diễn đạt những ý kiến phức tạp bằng phương pháp

có tính chất đồ hoạ, gia tăng hiệu quả nhận biết và nhận thức sâu sắc hơn

2.1.2 Các loại mô hình truyền thông

Những khái niệm sơ khai nhất về mô hình truyền thông trong lịch sử bắt đầu manh nha xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, trong đó nổi bật nhất là hai loại mô hình truyền thông do Triết học gia lừng danh Aristotle (384-322 B.C.) đưa ra, bao gồm Thuật hùng biện (Rhetoric) và Mô hình bằng chứng (Model of Proof) Tuy nhiên, phải đến năm 1949, mô hình truyền thông đầu tiên mới chính thức xuất hiện, nhờ công của Claude Elwood Shannon và Warren Weaver

Mô hình truyền thông của Shannon-Weaver, 1949

Mô hình truyền thông này được Claude Shannon, cùng Warren Weaver thiết kế với mục tiêu mô phỏng lại quá trình hoạt động của các loại công nghệ vô tuyến và điện thoại Mô hình Shannon-Weaver ban đầu gồm ba phần chính: Người gửi thông điệp (sender), kênh chuyển tải thông điệp (channel) và người nhận thông điệp (receiver) Shannon và Weaver cũng nhận ra rằng trong cuộc trò chuyện trao đổi giữa người gửi và người nhận thông điệp thông qua kênh chuyển tải, thưởng xuất hiện những tín hiệu gây nhiễu (static) cuộc trò chuyện Những tín hiệu nhiễu đó được gọi

là tiếng ồn (noise) Tiếng ồn là nguyên nhân khiến thông điệp truyền tải bị mất hoặc gián đoạn

Đây là mô hình truyền thông cơ bản, đơn giản nhất và thưởng được xem là mô hình chuẩn của truyền thông Theo đó, thông tin hoặc nội dung được gửi dưới một số dạng nhất định (chẳng hạn như ngôn ngữ hoặc ký tự mã hóa) từ một người này tới một người khác Có thể nói, truyền thông chính là phương tiện để gửi và nhận thông tin

Mô hình tương tác của Schramm, 1954

Wilbur Schramm (1954) quan niệm mã hóa thông điệp (decoding) và giải mã thông điệp (encoding) là các hoạt động được duy trì đồng thời bởi cả người gửi (Sender) và người nhận (Receiver) Ông cũng là một trong những người đầu tiên đề cập đến khái niệm truyền thông đa chiều

Trang 40

Schramm cho rằng truyền thông không chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin mà còn bao gồm các hành vi như truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, đưa ra lời khuyên, mệnh lệnh và đặt câu hỏi Do đó, truyền thông, theo Schramm, là sự tương tác mang tính xã hội giữa ít nhất hai đối tượng tương tác cùng sử dụng chung một nhóm các biểu tượng và các quy tắc ký hiệu học Dĩ nhiên, định nghĩa này không áp dụng cho các hình thức truyền thông tự động hoặc các hình thức tự truyền thông như nhật ký,

tự nói chuyện

Mô hình xoắy ốc của Dance, 1967

Năm 1967, Frank Dance đã đề xuất một mô hình truyền thông gọi là Mô hình Xoáy ốc nhằm mô hình hóa tốt hơn quá trình truyền thông Khái niệm truyền thông xoáy ốc được Dance mô tả là một quá trình mạnh mẽ và phi tuyến tính

Dance cho rằng truyền thông là một quá trình diễn ra thường xuyên liên tục và ngày càng lớn hơn, mạnh hơn theo thời gian Dựa trên lý thuyết này, Dance cho rằng khởi đầu của quá trình truyền thông cũng rất nhỏ Chẳng hạn, khi một đứa trẻ được sinh ra, ngôn ngữ giao tiếp duy nhất của nó là tiếng khóc Tiếng khóc đó đại diện cho mọi thứ mà đứa bé muốn thể hiện: Đói, đau, lạnh, buồn, giận dữ Chỉ đến khi đứa trẻ lớn lên, các công cụ truyền thông của nó mới được mở rộng hơn và đa dạng hơn: Cười, nói, cử chỉ, nét mặt tương ứng với các vòng tròn của Xoáy ốc cũng lớn hơn Điều này cũng đúng cả trong các mối quan hệ xã hội Khi bắt đầu một mối quan

hệ, các đối tượng truyền thông chỉ truyền đạt cho nhau một khối lượng thông tin nhỏ

và hạn chế Nhưng khi mối quan hệ phát triển mạnh hơn, khối lượng thông tin truyền đạt cho nhau cũng nhiều và lớn hơn Có thể nói, tư tưởng của Dance thực sự là một cuộc cách mạng trong khoa học truyền thông

Mô hình chức năng của Ruesch và Bateson, 1951

Mô hình chức năng được ra đời năm 1951 bởi Ruesch và Bateson với mục tiêu

lý giải hoạt động truyền thông ở bốn cấp độ phân tích Ở cấp độ 1 là quá trình tự truyền thông cơ bản Cấp độ 2 là quá trình truyền thông giữa các cá nhân đồng thời tập trung vào khía cạnh trải nghiệm của những người tham gia tương tác Ở cấp độ 3,

mô hình truyền thông phân tích quá trình tương tác của nhiều nhóm người Và cuối củng, cấp độ 4, là cấp độ kết nối văn hóa của các cộng đồng người Mỗi cấp độ lại bao gồm 4 chức năng giao tiếp: Đánh giá, gửi thông điệp, nhận thông điệp và truyền thông điệp

Ngày đăng: 08/12/2024, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An (2016). Cẩm nang Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Nghệ An: NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An
Tác giả: Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2016
6. Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2022). Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2021. Hà Nội: NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2021
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2022
9. Nguyễn Văn Dững (2006). Truyền thông: lý thuyết và kỹ năng cơ bản. Hà Nội: NXB Lý luận chính trị, 271 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông: lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
10. Trương Quang Học (2014). Tiếp cận liên ngành/dựa trên hệ sinh thái trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong Sách “25 năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành. Hà Nội: NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách “25 năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2014
13. Lại Văn Mạnh (2021). Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn và đề xuất xây dựng mô hình kinh tế xanh cấp xã lưu vực sông Lam. Báo cáo tổng hợp đề tài, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn và đề xuất xây dựng mô hình kinh tế xanh cấp xã lưu vực sông Lam
Tác giả: Lại Văn Mạnh
Năm: 2021
14. Nguyễn Đức Ngữ (2020). Truyền thông về biến đổi khí hậu. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông về biến đổi khí hậu
Tác giả: Nguyễn Đức Ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2020
16. Trần Hữu Quang (2006). Xã hội học báo chí. Hà Nội: NXB Trẻ, 502 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học báo chí
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
18. Tổng cục Môi trường Việt Nam và Viện Rosa Luxemburg (2011). Sổ tay truyền thông môi trường. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay truyền thông môi trường
Tác giả: Tổng cục Môi trường Việt Nam và Viện Rosa Luxemburg
Năm: 2011
20. Tô Ngọc Vũ, Lại Văn Mạnh và Ngô Đăng Trí (2023). Phân tích đánh đổi dịch vụ hệ sinh thái và chất lượng cảnh quan phục vụ phân bổ nguồn lực đất đai trong xây dựng quy hoạch tại vùng Tây Nghệ An. Tạp chí Môi trường, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đánh đổi dịch vụ hệ sinh thái và chất lượng cảnh quan phục vụ phân bổ nguồn lực đất đai trong xây dựng quy hoạch tại vùng Tây Nghệ An
Tác giả: Tô Ngọc Vũ, Lại Văn Mạnh và Ngô Đăng Trí
Năm: 2023
23. Cobley, P. and Schulz, P. J. (2013). Theories and Models of Communication, De Gruyter Mouton, ISBN 978-3-11-024045- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theories and Models of Communication
Tác giả: Cobley, P. and Schulz, P. J
Năm: 2013
24. David Mortensen, C. (1972). Communication: The Study of Human Communication - Chapter 2, Communication Models, New York: McGraw-Hill Book Co.;(http://www.shkaminski.com/Classes/Handouts/Communication%20Models.htm#_What _is_a_Model) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Communication Models
Tác giả: David Mortensen, C
Năm: 1972
25. European Commission (2001). Understanding Biodiversity. A research agenda prepared by the European Working Group on Research and Biodiversity (EWGRB) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding Biodiversity
Tác giả: European Commission
Năm: 2001
26. Gaston, Kevin J. and Spicer, John I. (2004). Biodiversity: An Introduction. Wiley. ISBN 978-1-4051-1857-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biodiversity: An Introduction
Tác giả: Gaston, Kevin J. and Spicer, John I
Năm: 2004
28. James Sik Yin Law (2012). Towards a Strategic Communications Plan: Providing Community-Informed Insight into the Role of the Biosphere Reserve on the Oak Ridges Moraine. A thesis for the degree of Master of Environmental Studies in Environment and Resource Studies, University of Waterloo, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards a Strategic Communications Plan: "Providing Community-Informed Insight into the Role of the Biosphere Reserve on the Oak Ridges Moraine
Tác giả: James Sik Yin Law
Năm: 2012
29. Larsson, T. (2001). Biodiversity evaluation tools for European forests. Wiley- Blackwell. p. 178. ISBN 978-87-16-16434-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biodiversity evaluation tools for European forests. Wiley-Blackwell
Tác giả: Larsson, T
Năm: 2001
30. Suess, E. (1875) Die Entstehung Der Alpen [The Origin of the Alps]. Vienna: W. Braunmuller Sách, tạp chí
Tiêu đề: Die Entstehung Der Alpen
31. Wilcox, Bruce A. 1984. In situ conservation of genetic resources: determinants of minimum area requirements. In National Parks, Conservation and Development, Proceedings of the World Congress on National Parks, J.A.McNeely and K.R. Miller, Smithsonian Institution Press, p. 18–30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In situ conservation of genetic resources: "determinants of minimum area requirements
32. UN (1992). United Nations Framework Convention on Climate Change. London Sách, tạp chí
Tiêu đề: United Nations Framework Convention on Climate Change
Tác giả: UN
Năm: 1992
35. UNESCO, MAB, SDGs (2021). Technical guidelines for Biosphere Reserves. Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical guidelines for Biosphere Reserves
Tác giả: UNESCO, MAB, SDGs
Năm: 2021
36. Cổng thông tin huyện Tương Dương (2011). Giới thiệu tiềm năng. Truy cập tại trang web https://tuongduong.nghean.gov.vn/gioi-thieu-tiem-nang-6300537.Cổng thông tin huyện Tương Dương (2011). Điều kiện tự nhiên. Truy cập tại Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê một số tai biến thiên nhiên tại khu DTSQ miền Tây Nghệ - Xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền tây nghệ an nghiên cứu Điển hình tại huyện tương dương, tỉnh nghệ an
Bảng 1.1. Thống kê một số tai biến thiên nhiên tại khu DTSQ miền Tây Nghệ (Trang 29)
Hình 3.24. Mô hình truyền thông cho KDTSQ miền Tây Nghệ An - Xây dựng mô hình truyền thông cho khu dự trữ sinh quyển miền tây nghệ an nghiên cứu Điển hình tại huyện tương dương, tỉnh nghệ an
Hình 3.24. Mô hình truyền thông cho KDTSQ miền Tây Nghệ An (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm