1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh

95 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Của Người Thái Ở Tây Bắc Trong Phát Triển Du Lịch Tại Huyện Vân Hồ, Tỉnh Sơn La Theo Hướng Tăng Trưởng Xanh
Tác giả Vũ Việt Cường
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hiền
Trường học Đại học quốc gia hà nội
Chuyên ngành Di sản học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

VŨ VIỆT CƯỜNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI

Ở TÂY BẮC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN VÂN HỒ,

TỈNH SƠN LA THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DI SẢN HỌC

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

VŨ VIỆT CƯỜNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI

Ở TÂY BẮC TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN VÂN HỒ,

TỈNH SƠN LA THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DI SẢN HỌC Chuyên ngành: DI SẢN HỌC

Mã số: 8900201.06 QTD

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HIỀN

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi thực hiện, được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Hiền Luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ nghiên cứu khoa học nào dưới tên của một người khác Các thông tin được sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn trung thực và chú thích đầy đủ, đúng quy cách

Tôi xin cam kết chịu mọi trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận

văn này

Tác giả

Vũ Việt Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin được bày tỏ cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa học trực tiếp là PGS.TS Nguyễn Thị Hiền đã nhận lời hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Nhờ sự chỉ bảo tận tâm, chi tiết và khoa học của cô trong cả quá trình thực hiện đề tài, tôi đã hoàn thành nghiên cứu với kết quả mong muốn Ngoài ra, chính từ những chỉ dẫn và góp ý đó khiến cho tôi hiểu rõ hơn việc tìm hiểu và nghiên cứu di sản văn hóa dân tộc Thái nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đòi hỏi không chỉ kiến thức chuyên môn, sự đam mê mà còn cần kỹ năng nghiên cứu thích hợp để giúp cho nghiên cứu đạt được kết quả và chất lượng tốt

Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các thầy, các cô của khoa Các khoa học liên ngành Đại Học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, trang bị thêm nhiều kiến thức bổ ích và thú vị cho tôi trong suốt thời gian học tập cả trên lớp và qua những chuyến nghiên cứu điền dã thực địa Nhân đây, tôi cũng xin được bày tỏ sự biết ơn tới các cán bộ văn phòng đào tạo của khoa vì tất cả sự hỗ trợ quan trọng và kịp thời

Xin gửi lời cảm ơn tới những thành viên trong lớp cao học Di sản học QH2021, những người bạn đã động viên tôi lúc khó khăn, giúp đỡ và chia sẻ cho tôi những thông tin, tài liệu, kiến thức trong suốt quá trình học tập và sau khi nhận đề tài nghiên cứu, qua đó góp phần cho tôi củng cố thêm những ý tưởng, nội dung cần thiết cho đề tài nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những cán bộ địa phương, chủ các homestay, khách du lịch và những người dân ở 2 bản Chiềng Đi 1 và bản Phụ Mẫu huyện Vân

Hồ, tỉnh Sơn La, đã tạo điều kiện cho tôi phỏng vấn, chụp ảnh và thu thập thông tin cho việc nghiên cứu

Và sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè của tôi đã luôn động viên phía sau, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập

Tác giả

Vũ Việt Cường

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC BẢNG VI DANH MỤC HÌNH VII

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 8

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 8

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa của người Thái 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào di sản văn hóa của người Thái 13

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về tăng trưởng xanh và phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh 16

1.1.4 Đánh giá những công trình nghiên cứu 21

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 22

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 22

1.2.2 Một số quan điểm lý luận 24

1.3 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÂN HỒ 28

1.3.1 Khái quát về địa lý, dân cư 28

1.3.2.Khái quát về văn hóa ở huyện Vân Hồ 32

CHƯƠNG 2 35

PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN VÂN HỒ 35

2.1 PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN VÂN HỒ 35

2.1.1 Phát triển du lịch tại bản Phụ Mẫu và Chiềng Đi 1 36

2.1.2 Du lịch nghỉ dưỡng và du lịch cộng đồng 37

2.1.3 Hình thức quản lý vận hành, quảng bá và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch 38

2.2 DI SẢN VĂN HÓA TIÊU BIỂU NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN VÂN HỒ 42

Trang 6

2.3 PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRONG PHÁT TRIỂN DU

LỊCH TẠI VÂN HỒ 49

CHƯƠNG 3 54

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 54 3.1 SẢN PHẨM DU LỊCH DỰA VÀO DI SẢN VĂN HÓA THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH 54

3.2 DU LỊCH THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA 56

3.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ DI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH 61

3.3.1 Những lợi ích từ việc phát triển du lịch 61

3.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với bảo vệ di sản văn hóa 64

3.4 NHỮNG BIỆN PHÁP HỖ TRỢ BẢO VỆ DI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH DI SẢN THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH 66

3.4.1 Nâng cao năng lực và nhận thức cho các chủ thể người làm du lịch 66

3.4.2 Sự quan tâm của nhà nước đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 67

3.4.3 Phát huy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản 69

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

DSVHPVT Di sản văn hóa phi vật thể

ĐHQGHN Đại học quốc gia Hà Nội

ĐHKHXHNV Đại học khoa học xã hội và nhân văn

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Sản phẩm du lịch theo hướng tăng trưởng xanh ở 2 bản

Chiềng Đi 1 và Phụ Mẫu……….………54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ đánh giá thích nghi phát triển du lịch sinh thái ở huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La……… 31

Hình 2.1: Rau rừng mới hái tại bản Phụ Mẫu……… 44

Hình 2.2: Món luộc rau rừng kết hợp với cà vườn nhà người Thái ở bản phụ Mẫu……… 44

Hình 2.3: Họa tiết con rùa (tô táu) ……… 45

Hình 2.4: Họa tiết con chim (tô nộc).……… … 45

Hình 2.5: Hoa văn trên tấm thổ cẩm Thái……… 45

Hình 2.6: Nếp nhà sàn Thái truyền thống của một gia đình bản Phụ Mẫu được dùng tầng dưới bán hàng, tầng trên để ở bản Phụ Mẫu đã dựng hơn 20 năm….……… 47

Hình 2.7 Một Nếp nhà sàn Thái được bố trí đấu 2 hồi vuông góc tại bản Phụ Mẫu……… 47

Hình 2.8 Xưởng mộc làm nhà của người Thái tại bản Phụ Mẫu………… 47

Hình 3.1 Cây Mít gần 200 tuổi giữa bản Phụ Mẫu……… 64

Hình 3.2 Nội quy hometay Hạnh Khanh……… 67

Hình 3.3 Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học trao cho các homestay tham dự lớp học về du lịch cộng đồng……… 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vùng Tây Bắc Việt Nam trở thành điểm đến được lựa chọn của nhiều khách du lịch Nơi đây có lợi thế là vùng đất có tiềm năng du lịch, bao gồm phong cảnh thiên nhiên kì vĩ và sự đa dạng văn hóa của các dân tộc Khi nói đến văn hóa Tây Bắc, mọi người nghĩ ngay đến sự đa dạng của các loại hình di sản văn hóa vốn được tạo nên từ những sắc thái của 21 dân tộc tại chỗ Trong đó, văn hóa của người Thái có thể coi là điểm nhấn, thể hiện những nét đặc trưng của vùng Tây Bắc

Huyện Vân Hồ là huyện mới được chia tách từ huyện Mộc Châu thuộc tỉnh Sơn La kể từ năm 2013, thời điểm mà du lịch Sơn La nhìn chung còn chưa thực sự phát triển Vân Hồ là vùng đất cổ, nằm ở vị trí cửa ngõ tỉnh Sơn La, thuộc khu du lịch quốc gia Mộc Châu Đây được xem là vùng đất có tiềm năng và lợi thế về du lịch bởi cảnh quan tự nhiên và hệ thống di sản văn hóa phong phú, đa dạng của nhiều dân tộc Người Thái là một nhóm dân tộc với số dân chiếm khoảng hơn 40% số lượng dân cư bản địa Một số bản làng ở trong huyện Vân Hồ hiện nay còn lưu giữ nhiều văn hóa đặc trưng của người Thái Văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Tây Bắc bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, bao gồm nhiều loại hình thức tiêu biểu như kiến trúc nhà cửa, ẩm thực, trang phục, lễ hội, phong tục

Nhằm phát huy hiệu quả giá trị cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc Tây Bắc, huyện Vân Hồ đề ra mục tiêu phát triển du lịch trở thành một động lực phát triển kinh tế của huyện và của tỉnh Sơn La cũng như vùng trung du miền núi phía Bắc Theo kế hoạch, Vân Hồ sẽ trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn với du khách

cả trong nước lẫn quốc tế trong tương lai Năm 2014, quy hoạch khu du lịch quốc gia Mộc Châu đã được phê duyệt bao gồm quy hoạch du lịch huyện Vân Hồ và huyện Mộc Châu giai đoạn đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Theo quy hoạch này, phát triển du lịch sẽ đáp ứng nhu cầu định hướng chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, phù hợp công cuộc chuyển dịch nền kinh tế từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế xanh” Điều này còn góp phần đặc biệt cho nỗ lực của quốc gia

Trang 11

về thúc đẩy công bằng xã hội và gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Việc phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh còn được hiểu là phát triển du lịch xanh Du lịch xanh hiện nay tại Việt Nam là một hình thức du lịch đã được tích hợp các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa đã được nêu trong luật du lịch năm 2017 Việc phát triển các loại hình du lịch vì sự phát triển bền vững, sự hài hòa kinh tế và xã hội, cũng như góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên di sản đang hình thành và phát triển ở nhiều địa phương, trong đó có huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La

Sự phát triển các loại hình du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa mang tính tự phát và đang ngày càng được chuyên nghiệp hóa và được sự quan tâm của các ban ngành, các tổ chức và hiệp hội du lịch Du lịch phát triển, một mặt đem lại thu nhập, quảng

bá hình ảnh của vùng đất, đồng thời cũng là điểm đến hấp dẫn, mang tính nghỉ dưỡng, trải nghiệm của du khách

Du lịch dựa vào tài nguyên di sản theo hướng tăng trưởng xanh, như là một phần của phát triển bền vững, vì một môi trường xanh, sạch, đồng thời dựa trên tài nguyên di sản và hướng tới bảo vệ di sản cho cộng đồng, làm lợi cho cộng đồng Nghiên cứu việc phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh nhằm chỉ ra những mối quan hệ hài hòa giữa tài nguyên di sản và phát triển du lịch một cách bền vững

Việc xây dựng các sản phẩm du lịch dựa vào tài nguyên văn hóa theo hướng tăng trưởng xanh không chỉ là phát huy, làm lợi từ di sản, mà còn không làm tổn hại đến sự tồn tại của di sản đối với cộng đồng Hơn nữa, những lợi ích từ phát triển du lịch có thể quay trở lại góp phần bảo vệ di sản, đồng thời tạo ra những bối cảnh cho

thực hành di sản Trên cơ sở này, học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát huy giá trị di sản văn hóa của người Thái ở Tây Bắc trong phát triển du lịch tại huyện Vân

Hồ, tỉnh Sơn La theo hướng tăng trưởng xanh” Đề tài này là luận văn tốt nghiệp

Thạc sĩ Di sản học, được thực hiện dựa trên trường hợp nghiên cứu thực tế tại khu vực 2 bản ở Tây Bắc là bản Chiềng Đi 1 và bản Phụ Mẫu, thuộc huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

- Di sản văn hóa là một loại tài nguyên văn hóa gắn với đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng Việc phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, vừa có lợi cho cộng đồng, nhưng không làm tổn hại đến di sản, và vẫn đảm bảo những chức năng, giá trị của di sản đối với cộng đồng

- Luận văn đưa đến những nhận thức về việc phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, hướng tới một môi trường xanh, sạch và tạo thêm nguồn lực trong bảo vệ di sản

- Luận văn hướng tới việc phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh nhằm nâng cao nhận thức của người dân và du khách về bảo vệ di sản, thích ứng với môi trường và phát triển bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu việc phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh từ hai loại hình du lịch: Du lịch dựa vào cộng đồng và du lịch nghỉ dưỡng Du lịch cộng đồng kiểu homestay, ở cùng nhà người dân, vừa đáp ứng các nhu cầu nghỉ ngơi, lại vừa được trải nghiệm di sản văn hóa, tìm hiểu đời sống sinh hoạt văn hóa, xã hội của người Thái tại Tây Bắc Khách du lịch có thể tham gia tìm hiểu những phong tục tập quan, tri thức dân gian về nhà sàn, ẩm thực, trải nghiệm cùng bà con trong bản hái chè, dệt vải, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ như Xòe Thái, múa sạp, tham dự các lễ hội truyền thống của người Thái như Kin Pang Then, Xên Bản Xên Mường, v.v Còn đối với du lịch nghỉ dưỡng, hình thức lưu trú có thể

ở tại các biệt thự, villa được xây dựng đơn lẻ hoặc các khu resort nghỉ dưỡng Tại đây, du khách có thể nghỉ ngơi, thư giãn, hòa mình vào thiên nhiên trong lành Họ

có thể trị liệu bằng các hình thức tắm nước lá, tắm nước khoáng nóng chữa bệnh, hoặc thiền định, hoàn toàn nghỉ ngơi trong không gian thiên nhiên trong lành Họ cũng tham gia các tour trải nghiệm văn hóa, tham dự và trải nghiệm các thực hành

di sản của các dân tộc tại chỗ

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về không gian: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn giới hạn phạm

vi nghiên cứu ở 2 bản huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Học viên lựa chọn bản Chiềng Đi

Trang 13

1 thuộc xã Vân Hồ và bản Phụ Mẫu thuộc xã Chiềng Yên Đây là hai bản có số nhà nghỉ homestay và du lịch nghỉ dưỡng nhiều nhất Đồng thời, các chủ kinh doanh dịch

vụ du lịch có nhiều chiến lược trong việc thu hút khách tham quan, phát huy những tiềm năng, tài nguyên di sản của cộng đồng bản địa

- Phạm vi về thời gian: học viên tìm hiểu thu thập số liệu cho hướng nghiên

cứu đề tài từ khi sau giai đoạn hình thành huyện Vân Hồ (2013) đến khoảng 5 năm sau khi có sự ổn định nhất định, tập trung vào giai đoạn từ 2018-2023 Đây là là khoảng thời gian kinh doanh dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng và homestay phát triển ở huyện Vân Hồ

- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu phát huy giá trị di sản

văn hóa của người Thái ở Vân Hồ trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh bao gồm nhà sàn, trang phục truyền thống, ẩm thực ăn uống, lễ hội, trình diễn dân gian, Xòe, hát Then, chợ phiên, hay các hình thức trình diễn di sản tại cộng đồng cho khách du lịch

4 Câu hỏi nghiên cứu

Việc phát huy các giá trị của di sản cho khách du lịch không phải mục tiêu của Công ước 2003 và 1972, Luật Di sản văn hóa Phát huy giá trị di sản để khai thác du lịch được khuyến cáo cần có những biện pháp bảo vệ hữu hiệu để không làm ảnh hưởng đến di sản và không “tước đoạt” di sản ra khỏi cộng đồng chủ nhân Câu hỏi của luận văn đưa ra là việc phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh có thể làm lợi cho cộng đồng, mà không làm tổn hại đến giá trị, chức năng và sức sống của di sản đối với cộng đồng chủ nhân hay không?

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tài liệu liên quan đến phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng, kinh tế xanh, du lịch xanh

- Tìm hiểu những vấn đề mang tính lý luận về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh và mối quan hệ giữa phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch

- Nhận diện các loại hình di sản văn hóa của người Thái ở Tây Bắc để từ đó

có thể xây dựng các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch dựa vào cộng đồng

Trang 14

- Đánh giá các sản phẩm tài nguyên di sản trong các loại hình dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng, du lịch dựa vào cộng đồng tại hai bản nghiên cứu là Phụ Mẫu và Chiềng

Đi 1 trong huyện Vân Hồ, Sơn La

- Nghiên cứu việc phát huy các giá trị di sản văn hóa như là sản phẩm du lịch, phục vụ cho khách tham quan, người ngoài cộng đồng Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra những cách thức để phát triển du lịch cũng đồng thời góp phần quay trở lại bảo

vệ di sản, tạo thêm nguồn lực để thực hành di sản

- Phân tích những lợi ích và hệ quả của phát triển du lịch dựa vào cộng đồng,

du lịch nghỉ dưỡng đối với việc bảo vệ di sản Từ đó, LV đưa ra những biện pháp hỗ trợ để không làm tổn hại đến di sản của cộng đồng bản địa

6 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp: các tài liệu đã xuất bản như sách chuyên khảo, bài viết khoa học, bài báo, một số điều khoản của công ước UNESCO về bảo

vệ di sản, luật di sản văn hóa, văn bản pháp lý nhà nước và địa phương; các chương trình về phát triển kinh tế gắn với du lịch và những nghiên cứu khác liên quan đến

du lịch xanh, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

- Phương pháp điền dã dân tộc học: Học viên thu thập số liệu về sản phẩm du lịch dựa trên tài nguyên di sản tại các homestay, các villa nghỉ dưỡng tại hai bản Chiềng Đi 1 và Phụ Mẫu Trong các chuyến thực địa, học viên quan sát, cùng khách

du lịch tham dự trải nghiệm thực tế về ẩm thực, về thực hành di sản, tham dự chợ phiên, tìm hiểu về tri thức bản địa liên quan đến nhà sàn, trồng trọt, nghề thủ công, hoa văn, trang phục Học viên đã thực hiện các chuyến điền dã gần nhất là tháng 2 năm 2023 và tháng 5 năm 2023 Ngoài ra, học viên còn có nhiều cuộc điện thoại trao đổi với các đối tượng phỏng vấn là các chủ homestay ở huyện Vân Hồ, các nhà quản

lý văn hóa ở địa phương

- Phỏng vấn sâu: Học viên tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn sâu dựa trên câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn để tìm hiểu về việc hình thành hai loại hình du lịch tại Vân

Hồ Đối tượng phỏng vấn là những chủ homestay, người dân bản, khách du lịch, người đại diện chính quyền là bí thư, công an, hội phụ nữ Học viên khai thác các dữ liệu về hoạt động du lịch, về việc người dân phát huy giá trị di sản trong các sản phẩm du lịch Đặc biệt, học viên quan tâm tới việc phát triển du lịch theo hướng tăng

Trang 15

trưởng xanh, nghĩa là việc khai thác du lịch vì một môi trường xanh, sạch, về việc người dân làm du lịch dựa trên tài nguyên di sản, nhưng có những hình thức, và biện pháp hỗ trợ để không làm tổn hại đến di sản Trong quá trình tìm hiểu tại địa bàn, bên cạnh những lợi ích của du lịch, học viên cũng nắm được những thôn tin về những tác động, những ảnh hưởng không mong muốn của du lịch đối với di sản

- Phương pháp nghiên cứu từ cách tiếp cận của khoa học du lịch: tập trung nghiên cứu về điểm đến, sự trải nghiệm về di sản văn hóa của khách du lịch khi đến trải nghiệm nghỉ dưỡng tại hai bản Chiềng Đi 1 và Phụ Mẫu Học viên cũng tìm hiểu

về các hình thức, dịch vụ du lịch và sản phẩm du lịch dựa trên điểm đến dựa vào tài nguyên di sản Những số liệu này sẽ là nguồn tài liệu để học viên phân tích mối quan

hệ giữa phát huy giá trị di sản và du lịch theo hướng tăng trưởng xanh

- Ngoài ra, học viên còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sảnh, thống kê trên cơ sở xử lý số liệu thu thập từ các chuyến nghiên cứu điền dã Những phân tích dựa trên số liệu thu thập tại địa bàn điền dã là những đúc kết quan trọng về mối quan hệ giữa phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh

7 Ý nghĩa của luận văn

7.1 Ý nghĩa khoa học:

Luận văn là một nghiên cứu đóng góp cho ngành di sản học, bàn luận vấn đề phát huy giá trị di sản của một dân tộc bản địa cho phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh Việc phát triển ngành công nghiệp không khói, góp phần cho phát triển kinh tế bền vững của địa phương dựa trên nguồn lực văn hóa Luận văn đóng góp những nhận định về việc di sản được sử dụng và phát huy một cách hài hòa và trong không gian tự nhiên, không gian sống của di sản, không chỉ là bối cảnh để duy trì, thực hành di sản, mà cộng đồng còn hưởng lợi từ di sản Qua đó, du lịch cũng góp phần tăng thêm nguồn lực, và quay trở lại góp phần bảo vệ di sản trong phát triển bền vững

7.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc triển khai các chương trình, đề án xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên tài nguyên di sản theo hướng tăng trưởng xanh

Trang 16

- Luận văn là một tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu về việc phát huy giá trị di sản cho khách du lịch, cho người ngoài cộng đồng, như là một sản phẩm du lịch, nhưng không làm tổn hại đến di sản

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu Chương 2: Phát triển du lịch và di sản văn hóa của người Thái ở huyện Vân Hồ Chương 3: Mối quan hệ giữa phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN

NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa của người Thái

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa vùng Tây Bắc, văn hóa của người Thái có

nhiều loại hình phong phú và lâu nay đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nội dung của các nghiên cứu thường hay tập trung vào lĩnh vực có liên quan đến phong tục, tập quán, trang phục, lễ hội, kiến trúc, xây dựng nhà cửa, thẩm mỹ, y học dân tộc, ẩm thực Quá trình khảo cứu và thu thập tài liệu làm luận văn, học viên đã lựa chọn trong số đó một số công trình giá trị, có nội dung liên quan phù hợp với đề tài

để khai thác phục vụ cho nghiên cứu này

Trong số những nghiên cứu trước đó về văn hóa người Thái, cuốn sách

“Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của nhà Thái học Cầm Trọng (2005)

là công trình nghiên cứu về nếp sống sinh hoạt, gia đình người Thái, qua đó hình dung được không gian văn hóa Thái trong mỗi gia đình Về cội nguồn lịch sử văn hóa của cộng đồng Thái ở Việt đã có từ rất lâu Nghiên cứu phân tích chiều dài lịch

sử văn hóa của người Thái tới cả ngàn năm hình thành và phát triển Nghiên cứu còn

đi sâu phân tích các chủ đề về ngôn ngữ, văn học dân gian truyền miệng và văn học ghi chép thành văn của người Thái, một số nghệ thuật trang trí tiêu biểu trong nhà sàn, họa tiết trên vải thổ cẩm, cách dệt vải, các điệu múa và âm nhạc truyền thống, tín ngưỡng thờ cúng, lễ hội lớn của người Thái Có thể nói, cuốn sách này có phạm

vi tương đối rộng, đi sâu vào nghiên cứu những văn hóa truyền thống của người Thái, trong đó có những thực hành di sản mà khách du lịch có thể tham quan và trải nghiệm Một công trình nghiên cứu khác trước đó của tác giả Cầm Trọng có tên là

“Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” (1978) Đây là công trình giúp cho tác giả đạt giải thưởng cấp nhà nước năm 2012 Nội dung công trình khá bao quát, đề cập chủ yếu về những đặc trưng cơ bản của lịch sử, văn hóa, kinh tế, ruộng điền, bản mường, văn học nghệ thuật, tôn giáo của người Thái ở Tây Bắc và vai trò của họ trong thời

kỳ cách mạng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Công trình cho thấy người Thái

có chung một tâm lý về biểu hiện các mặt văn hóa vật chất và tinh thần thống nhất

Trang 18

như ở nhà sàn, y phục truyền thống, cần cù, dũng cảm trong lao động và đấu tranh Tình cảm của người đồng tộc thể hiện rõ rệt trong sinh hoạt, tập tục, gắn bó mọi người trong bản, trong mường Về lĩnh vực nghệ thuật của người Thái cho thấy âm nhạc, múa, họa tiết thổ cẩm khá phát triển Nghệ thuật chính là sản phẩm văn hóa tinh thần, mang nhiều sắc thái của tâm lý, tình cảm cổ truyền của tộc người Công trình là một bước tiến, đẩy mạnh nghiên cứu về dân tộc học của người Thái nói riêng

và các dân tộc khác nói chung Mặc dù vẫn có một vài hạn chế, nhưng đây được xem

là một tác phẩm tốt, đóng góp nhiều bổ ích cho nghiên cứu khoa học

Tác giả Lò Vũ Vân với nghiên cứu “Văn hóa dân gian người Thái vùng Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La” (2010) Công trình này đề cập nguồn gốc của người Thái ở Việt Nam từ thời xa xưa thông qua những làn điệu dân ca cổ nhất của người Thái như là “Mương páu pú, chủ ha phụ dú cá hụa nẳm Mé phong nhớ, tá nẳm nhớ phong luộng, nghĩa là “tổ tiên chúng tôi ở tận đầu nguồn sông Mẹ sóng to, bến nước lớn sóng cả” Và “Phụ ma té pạng phú Cháo Chí téng mượng lại lán, té pạng pụa Lý óc ma khắm tán lại sính…”, nghĩa là ”Chúng tôi đến từ thời người Giao Chỉ khai đất, lập mường rộng lớn, thời vua Lý ra chăn dắt muôn mường nhiều họ” Tác giả đã nghiên cứu sâu vào phương pháp canh tác nông nghiệp theo hướng tự cung tự cấp từ xa xưa của người Thái ở Mộc Châu, Phù Yên và Bắc Yên cũ Ngoài việc điểm danh các giống lúa nước phổ biến ở đây, tác giả đã nghiên cứu cả lịch thời vụ canh tác, sinh trưởng phát triển của các loại giống lúa, các loại hoa màu (như là khoai, kê,

y dĩ, dong riềng, sắn, đậu tương…) Ngoài ra trong nghiên cứu này khắc họa bức tranh chủ đề văn hóa, văn học nghệ thuật của người Thái thông qua những tập tục truyền thống và vòng đời con người Thái từ lúc sinh đẻ, đến nuôi dưỡng, trưởng thành, cưới hỏi, và xây nhà mới, ốm đau, cầu cúng, cho tới lúc chết đi và tiễn đưa, chôn cất Từ những bài ca lễ tiêu biểu có khối lượng từ lớn nêu trong nghiên cứu, cho thấy sự sinh động trong những hoạt động văn hóa của người Thái mỗi dịp Tết năm mới, lễ cúng cơm mới, lễ cầu hồn vía, và các bài hát hay lời ca tang lễ Những thực hành văn hóa mang đậm bản sắc của người Thái có thể là tài nguyên cho du lịch trải nghiệm

Một tập hợp nghiên cứu khác tương đối công phu kéo dài cả chục năm là đề tài chương trình Thái học Việt Nam tên là “Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam”

Trang 19

(1998) Đây là tập hợp nhiều công trình nghiên cứu, những ý kiến chuyên môn đi sâu tìm hiểu đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể của người Thái khắp Việt Nam của nhiều tác giả Các chủ đề nghiên cứu trong công trình này thực sự phong phú và đa dạng tập trung vào từng đối tượng như về chữ viết Thái và các hệ chữ tương đương như Lai Pao, Tày Nùng Trong công trình này, có bài viết về những lời khuyên truyền thống trong lao động nông nghiệp thông qua tục ngữ Thái của tác giả Cẩm DZịn Bài viết về ruộng đất của dân tộc Thái ở Sơn La của tác giả Hà Văn Thu Bài viết về mỹ thuật dân gian Thái trong trang trí kiến trúc của họa sĩ Phan Ngọc Khuê, hay tính đặc trưng trong múa Thái Tây Bắc của tác giả Dương Minh Sơn Bài viết về mỹ thuật ứng dụng đặc sắc của người Thái là chiếc khăn Piêu được nghiên cứu sâu bởi tác giả Chu Quang Trứ nói lên không chỉ vẻ đẹp mà còn ẩn chứa những bí ẩn không diễn tả được hết bằng lời liên quan đến mối quan hệ với thổ cẩm của nhiều dân tộc miền núi Một tác giả khác là Vương Toàn đã điểm qua các kỳ hội thảo về Chương trình Thái học Việt Nam kể từ khi thành lập chương trình (7/9/1989) cho tới nay qua bài

“Ba mươi năm Chương trình Thái học Việt Nam: Thành tựu, các chủ đề và định hướng nghiên cứu” (2020) Thái học Việt Nam nghiên cứu về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Thái ở Việt Nam thuộc hệ Thái Kadai, bao gồm những lĩnh vực như dân tộc học, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, nói chung trên các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, lĩnh vực môi trường, sinh thái Các nghiên cứu về Thái học đã được in trong 8 tập kỷ yếu vào các năm 1992, 1998, 2002, 2006, 2009, 2012, 2015 và 2017 Trong hơn 30 năm qua, Thái học Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu thành công nhờ tập hợp nhiều nhà khoa học và những nhà sưu tầm ở các địa phương Đặc biệt là dấu

ấn năm 2016 có kỷ yếu Hội nghị Quốc gia Thái học Việt Nam, là sản phẩm của Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát huy vai trò của cộng đồng dân tộc Thái trong phát triển bền vững vùng Tây Bắc” Bên cạnh đó, qua 8 kỳ hội thảo

và tổng kết, Thái học Việt Nam đã tập trung nghiên cứu vào 10 chủ đề chính là: Quá trình tộc người với lịch sử hình thành và phát triển quốc gia (i), kinh tế truyền thống (ii), xã hội và môi trường (iii), kiến thức bản địa (iv), văn hóa truyền thống (v), đời sống tâm linh (vi), văn nghệ dân gian (vii), ngôn ngữ (viii), những biến đổi trong hội nhập và phát triển (ix), gắn với sự phát triển của ngành Thái học Việt Nam và thế giới Đáng chú ý ở mảng kiến thức bản địa, nhiều công trình đã cho thấy kiến thức

Trang 20

của đồng bào về y học dân gian rất phong phú và hiện đã có thể tự gieo trồng nhiều loại dược liệu có nguồn gốc tự nhiên quý giá Mảng kiến thức văn hóa cho thấy các công trình nghiên cứu tập trung vào đặc trưng ẩm thực, đáp ứng cho nhu cầu phát triển du lịch Trang phục truyền thống luôn được người Thái trân trọng và thường xuyên xuất hiện ở các dịp lễ hội thường nhật Nhiều nghiên cứu chỉ ra những lễ hội dân gian của người Thái vẫn còn được bảo tồn khá tốt, định hướng trong tương lai

sẽ nghiên cứu chiều sâu để chỉ ra những đặc trưng thực sự làm nên bản sắc tộc người

và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập

Ngoài ra, còn có những tác giả khác đã nghiên cứu chuyên sâu về một khía cạnh trong kiến trúc - trang trí nhà cửa của người Thái Tây Bắc Có thể kể công trình của các tác giả Hoàng Nam và Lê Ngọc Thắng về “Nhà sàn Thái” xuất bản năm 1984 Công trình nghiên cứu này đề cập ngoại hình “nếp” nhà sàn Thái, xem xét ở cả 2 góc

độ là ngôi nhà sàn Thái là “sản phẩm văn hóa dân tộc” vừa là “nơi hội tụ những sinh hoạt văn hóa dân tộc” Qua kỹ thuật làm nhà có thể hiểu được trình độ hiểu biết sâu sắc tự nhiên, môi trường sống bản địa của đồng bào Thái Bên trong nếp nhà sàn còn tập trung diễn ra những sinh hoạt sống động, nhiều hoạt động văn hóa dưới trong một ngày, trong một đời người ở mọi lứa tuổi khác nhau, từ sinh hoạt đời thường mang tính vật chất cho đến sinh hoạt tinh thần văn hóa văn nghệ Ngôi nhà cùng với cuộc sống của chủ nhân ngôi nhà được xem như là nơi bảo vệ, thừa kế, phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc Thái

Công trình nghiên cứu “Dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại” xuất bản năm 2003 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã đi sâu về hoạt động của nghề dệt ở người Thái đã và đang góp phần quan trọng vào việc đảm bảo và nâng cao đời sống cư dân góp phần phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa truyền thống tộc người Qua nghiên cứu này, có thể thấy trong kho tàng di sản thủ công nghiệp Việt Nam, cùng với nghề gốm, luyện kim, nghề dệt đã trở thành nghề thủ công không thể thiếu trong đời sống dân cư Việc nghiên cứu nghề dệt cổ truyền của người Thái dưới góc độ dân tộc học không thể dừng lại ở việc khai thác các tri thức dân gian về kỹ thuật mà còn phải phân tích, lý giải những giá trị nhân văn, tâm thức dân gian, thẩm

Trang 21

mỹ của người Thái ở Tây Bắc Những giá trị cốt lõi về tri thức dân gian và giá trị nhân văn cho thấy di sản nghề dệt thổ cẩm của người Thái mang đậm bản sắc dân tộc

Về các nghiên cứu chủ đề sự biến đổi nhà cửa truyền thống của người Thái ở Tây Bắc gần đây còn có các tác giả Phạm Hùng Cường, Vũ Thị Diệu Các nghiên cứu trong các giai đoạn 2015-2016 đi sâu vào phân tích hiện trạng những căn nhà sàn truyền thống của người Thái có từ trước đó đang dần biến đổi theo thời gian, phụ thuộc vào quá trình di dân tái định cư, sự hòa nhập các dân tộc trong bản mới, và nhu cầu cơ sở vật chất của nhiều gia đình người Thái Đó là những nguyên nhân khiến một số công năng ngôi nhà sàn truyền thống không còn được giữ lại, ví dụ cầu thang hai phía thì bỏ một bên, tầng nhà dưới nâng lên cao hơn truyền thống, vật liệu xây dựng bê tông gạch thay gỗ, tôn thép thay ngói

Nghiên cứu về Sạp Thái ở Tây Bắc xưa và nay của tác giả Đào Viết Phúc, năm

2015 với phạm vi nghiên cứu ở huyện Điện Biên Xét về nội dung chính trong đề tài, nghiên cứu này cho thấy sự hình thành phát triển của “Xòe sạp” ban đầu gắn với hoạt động kinh tế, các lễ hội của ba dân tộc Thái, Mường, Khơ Mú, đã phản ánh tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Đông Nam Á Nghệ thuật Xòe sạp này là điệu múa có tính lịch sử, mang tính chất biểu diễn bắt buộc kèm theo đạo cụ, nhạc cụ, đội hình được biên đạo, thường diễn ra với số lượng một vài cho đến từ 8-10 người nên Xòe sạp là hình thức văn hóa cộng đồng Theo sự biến đổi, sạp ngày nay chính là hình thành từ Xòe sạp, với các động tác nhảy sạp vỗ tay được tái hiện từ múa Xòe Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Oanh về “Văn hóa Thái những tri thức dân gian” năm 2014 Với góc nhìn sâu và rất riêng, vừa mang tính khoa học lại giàu chất thơ của tác giả cho thấy những tri thức dân gian truyền thống của tộc người Thái trong ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội…Thông qua nghiên cứu về hoa Ban, loài hoa độc đáo rất đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho Tây Bắc, nơi mà loài hoa diệu kì này đã gắn bó từ xa xưa, cùng đời sống văn hóa con người Thái nơi này, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo cho người Thái và cả vùng Tây Bắc Người Thái truyền thống có rất nhiều phong tục, tập quán lễ hội gắn với loài hoa này Tâm thức của họ về hoa Ban còn tượng trưng cho cuộc sống sinh sôi nảy nở, về tình yêu đôi lứa mãnh liệt tự do, về ước mơ trường thọ với thiên nhiên, về lòng biết ơn hiếu

Trang 22

thảo với ông bà cha mẹ, về vẻ đẹp nhân ái chính nghĩa đầy tính nhân văn…Người Thái xem trọng hoa Ban và rất thường dùng hoa trong lễ nghi cúng tổ tiên hay các vị thần linh Vẻ đẹp của hoa Ban còn thường được dùng làm trang trí nhà cửa trong các ngày lễ tết, đám cưới, ngày vui Trên những xà gỗ các nếp nhà sàn hay bức ván cửa

sổ, thường được người thợ mộc chạm khắc hình bông hoa Ban tươi thắm sinh động Trong nghiên cứu của tác giả này còn đề cập đến một số truyền thống văn hóa tiêu biểu của người Thái ở Tây Bắc như là về tập quán cư trú, canh tác nông nghiệp, dệt may thổ cẩm, tín ngưỡng lễ hội, nghệ thuật biểu diễn dân gian, hay món ăn - ẩm thực, đều là những đặc trưng văn hóa tiêu biểu của người Thái

Thông qua việc phân tích các công trình về văn hóa truyền thống, di sản văn hóa của người Thái ở Tây Bắc, chúng ta thấy người Thái có một hệ thống các di sản vật thể và phi vật thể khá đa dạng, phong phú Những di sản này là một phần đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng và luôn được duy trì, trao truyền Người Thái cũng là dân tộc nhanh nhạy với bối cảnh và môi trường sinh Thái Một mặt, họ biết cách phát huy những giá trị di sản vô giá trong phát triển, mặt khác họ cũng biết cách giữ gìn và bảo vệ di sản của tổ tiên để lại Tiếp theo, luận văn sẽ phân tích một số nghiên cứu liên quan đến việc người Thái phát triển du lịch homestay và du lịch nghỉ dưỡng gắn với di sản văn hóa

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào di sản văn hóa của người Thái

Tác giả Nguyễn Kim Lê có nghiên cứu “Văn hóa Thái với hoạt động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ) Yên Bái (2012) Nghiên cứu đi sâu tìm các giá trị văn hóa của tộc người Thái thông qua một số dạng thức của văn hóa vật chất như nhà cửa, trang trí nhà cửa, một số món ăn ẩm thực, một số nghề thủ công truyền thống Ngoài ra về tinh thần có một số lễ hội…nhằm phân tích, nhận diện, đánh giá khai thác giá trị văn hóa Thái trong phát triển du lịch ở Mường lò

Nghiên cứu của tác giả Quản Minh Phương về “Văn hóa tộc người trong quá trình phát triển du lịch ở Tây Bắc (trường hợp người Thái ở Mộc Châu, người H’Mông ở Sa Pa) năm 2022” Nghiên cứu này cho thấy những tài nguyên du lịch ở Tây Bắc như là cảnh quan, lễ hội, văn hóa các dân tộc thiếu số…có thể tạo nên những sản phẩm du lịch có tiềm năng Và để phát triển Tây Bắc theo hướng bền vững, đồng

Trang 23

thời giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người, nguồn tài nguyên quý giá phong phú của vùng thì cần phát triển tập trung cho du lịch Nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp cho du lịch phát triển bền vững, tuy nhiên chưa thể đánh giá những biến đổi của yếu tố văn hóa dưới tác động của du lịch

Tác giả Nguyễn Thị Hảo với công trình nghiên cứu “Nghệ thuật Xòe của người Thái gắn với phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc” trích trong sách Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế về: “Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật Xòe Thái trong

xã hội đương đại” (2020) do Viện VHNTQG liên kết xuất bản cùng NXB Thế Giới Trong nghiên cứu này, tác giả đã cho rằng một trong những phương thức tiếp cận quan trọng cho mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật Xòe Thái khi gắn với phát triển du lịch chính là việc tăng cường tham gia của cộng đồng, vì đây là yếu tố quan trọng giúp cho DSVH này được bảo tồn và phát huy đầy đủ nhất Báo cáo kiểm kê của Viện VHNTQGVN (2018) cho thấy Xòe Thái đang được thực hành tại 28 huyện/thị tại Tây Bắc và DSVHPVT này thực sự có tiềm năng rất lớn để tham gia vào phát triển du lịch văn hóa ở Tây Bắc nếu biết phát huy giá trị đúng cách những thế mạnh của nó mà không bị thương mại đơn thuần Và du lịch cộng đồng chính là phương pháp bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH dân tộc hiệu quả bởi huy động được nguồn lực tại chỗ, phát huy tính chủ động của người dân bản địa và khơi dậy tiềm năng phát triển du lịch Thông qua du lịch, việc khám phá sự đa dạng của các truyền thống văn hóa, lễ hội, trình diễn nghệ thuật, kỹ năng nghề thủ công truyền thống và nhiều lĩnh vực khác của DSVHPVT là đòn bẩy mạnh mẽ thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

Tác giả Dương Văn Sáu với công trình nghiên cứu “Bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị của Xòe Thái qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay” trích trong sách Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế về: “Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật Xòe Thái trong xã hội đương đại” (2020) do Viện VHNTQG liên kết xuất bản cùng Nhà xuất bản Thế Giới Thông qua nghiên cứu, tác giả nhận định DSVH Xòe Thái

là tài nguyên văn hóa cho ngành du lịch tại các địa phương có Xòe Thái Từ nhu cầu đòi hỏi của du khách được hưởng thụ nhiều những giá trị văn hóa trong quá trình tham gia hoạt động du lịch, tác giả đã đưa ra những giải pháp phát triển du lịch vừa bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị tài sản văn hóa quan trọng này đó là: Xây dựng

Trang 24

Xòe Thái trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của Tây Bắc: từ vốn cổ là 6 điệu Xòe, nay đã phát triển hơn 30 điều Xòe, đa dạng hơn và phong phú hơn Tổ chức ở trong những không gian và thời gian nhất định tạo ra những hàng hóa văn hóa mang đậm bản sắc của người Thái, khi đó Xòe Thái trở thành sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng của miền Tây Bắc Xây dựng các mô hình khai thác, phát huy giá trị của Xòe Thái qua con đường du lịch trên miền Tây Bắc hiện nay thông qua nhiều hoạt động VH-XH như tổ chức thành hoạt động trình diễn dân gian nổi bật vào thời điểm lễ hội văn hóa của người Thái ở Tây Bắc Xây dựng các đội nhóm trình diễn chuyên nghiệp tại các điểm du lịch cộng đồng của người Thái Tổ chức nhóm biểu diễn nghệ thuật lưu động đường phố có thể biểu diễn Xòe Thái Những nhận định của tác giả có thể làm lợi cho việc phát triển du lịch, nhưng từ góc độ di sản học, cách ứng xử của du lịch khai thác văn hóa một cách triệt để, thiếu tính bền vững, và còn mang tính “tước đoạt” văn hóa, phi đạo đức theo 12 nguyên tắc đạo đức bảo vệ di sản của cộng đồng

mà UNESCO đã khuyến cáo

Tác giả Điêu Văn Thuyển với nghiên cứu “Một số lễ hội trong dịp tết Nguyên Đán của người Thái trắng ở Lai Châu xưa và nay” trích trong sách “Văn hóa lễ hội” (2016) Nxb Khoa học và xã hội Nghiên cứu này cho thấy trong các DSVH vật thể

và phi vật thể của người Thái trắng ở Lai Châu, thì ở Chăn Nưa, Sìn Hồ, Lai Châu

đã từng có hơn mười lễ, hội dân gian tiêu biểu như: lễ hội tết nguyên đán gồm có lễ gội đầu tết, lễ cúng giao thừa, lễ cúng họ ngoại; hội Xòe tết, chơi ném còn, chơi đánh

cù, chơi Tó mak lẹ, lễ hội nàng Han, lễ Một Kin Pang Trong số đó, Xòe tết đã từng được đồng bào nơi đây say mê, ưa chuộng Họ Xòe từ mồng một tết đến rằm tháng giêng, vừa Xòe vừa hát giao duyên, một người hát cả vòng Xòe hò đệm theo Ngày nay, lớp trẻ không còn chơi Xòe tết nữa và nó sắp bị quên lãng vì bị các thể loại nhạc nhảy lấn át Và một số lễ hội nay cũng đã bị bãi bỏ, thất truyền và đang được một số nơi phục dựng lại như là: lễ hội nàng Han ở Chăn Nưa (địa điểm tổ chức lễ hội này hiện đã chìm sâu dưới lòng hồ thủy điện Sơn La) hiện nay Quỳnh Nhai và Phong Thổ đang phục dựng lễ hội nàng Han nhờ sự quan tâm của lãnh đạo và tâm huyết của nghệ nhân

Các địa điểm du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng ở vùng Tây Bắc khá phổ biến, đặc biệt ở các vùng trung tâm của dân tộc Thái tập trung sinh sống như ở Nghĩa

Trang 25

Lộ, Mường Lò, Vân Hồ Tuy nhiên, những công trình về việc phát triển du lịch dựa vào tài nguyên di sản theo hướng tăng trưởng xanh không có nhiều Đây sẽ là khoảng trống để luận văn có thể tiếp cận, khai thác và nghiên cứu chuyên sâu

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về tăng trưởng xanh và phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh

- Nhóm công trình nghiên cứu về tăng trưởng xanh:

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Hương về “Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU và gợi mở cho Việt Nam” năm 2012 Nghiên cứu này tóm lược cho người đọc thấy một quá trình diễn biến lịch sử hình thành và phát triển của

lý thuyết kinh tế xanh, kể từ năm 1962 khi nữ giáo sư sinh thái học Mỹ là Rachel Louise Carson là người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự phát triển bền vững và lý thuyết

về kinh tế xanh thông qua tác phẩm nổi tiếng “The Silent Spring -Mùa xuân im lặng”

và nhận định của bà về việc “Mọi người đang phá hủy thế giới” Trải qua hơn 50 năm, nhận định này đang trở thành sự thật Nhiều hội thảo quốc tế, hội nghị đã diễn

ra trong hàng chục năm sau đó về vấn đề phát triển bền vững Năm 1972 thành lập

ủy ban môi trường và phát triển thế giới WCED, tiền thân của ủy ban Bruntland hiện nay Báo cáo Brundtland 1987 lần đầu tiên đã định nghĩa: “Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai” Và phát triển bền vững là quan điểm xuyên suốt của nhiều quốc gia trong quản lý, điều hành nền kinh tế bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Phát triển bền vững bao gồm các vấn đề chủ yếu là: Bảo vệ môi trường sinh thái; Bảo vệ tính đa dạng sinh học; An ninh lương thực; Chống tội phạm và tệ nạn xuyên quốc gia; Giao lưu văn hóa và gìn giữ bản sắc dân tộc Nghiên cứu của tác giả đã đưa

ra quan điểm kinh tế xanh và tăng trưởng xanh là nội dung chủ chốt của phát triển bền vững

Tác giả Võ Thanh Sơn với nghiên cứu “Đánh giá giám sát tăng trưởng xanh thực tiễn trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam” (2015) Nghiên cứu này hướng tới lượng giá mức độ “xanh” của sự tăng trưởng, qua đó có biện pháp để giám sát sự tăng trưởng xanh Nghiên cứu này đề cập trong quan hệ với phát triển bền vững thì tăng trưởng xanh chủ yếu sẽ tập trung ở 2 lĩnh vực chủ chốt là kinh tế và

Trang 26

môi trường/tài nguyên thiên nhiên Và tại Việt Nam, chiến lược tăng trưởng xanh (năm 2012) gồm sản xuất xanh, tiêu dùng xanh, kinh tế cacbon thấp Tăng trưởng xanh trên thế giới hướng tới sự phát triển bền vững, thông qua việc thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế thân thiện với môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, giảm ô nhiễm và nâng cao sức chống chịu tác động của biến đổi khí hậu Nghiên cứu đề xuất đề giám sát tăng trưởng xanh thông qua kết quả của 4 nội dung sau: Hiệu suất tài nguyên và môi trường (environmental and resource productivity); Nền tảng tài sản thiên nhiên (natural asset base); Chất lượng môi trường sống (environmental quality of life); Cơ hội kinh tế và phản hồi chính sách (economic opportunities and policy response)

Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang với bài nghiên cứu “Một số vấn đề về tăng trưởng xanh ở Việt Nam” đăng tạp chí khoa học ĐHQGHN năm 2015 Nội dung nghiên cứu một số vần đề thảo luận về việc phát triển bền vững ở Việt Nam thời điểm năm 2015 đó là tăng trưởng xanh, thông tin tình hình tăng trưởng xanh tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thực trạng tăng trưởng xanh ở Việt Nam và một vài giải pháp xử lý vấn đề

Tác giả Đỗ Phú Hải với công trình nghiên cứu “Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam” (2018) Nội dung chính là nghiên cứu

về sự tương đồng và khác biệt trong lý luận phát triển bền vững và tăng trưởng xanh Thông qua phương pháp so sánh tổng hợp, rà soát, đóng góp cho thúc đẩy việc giảng dạy và nghiên cứu tiếp về phát triển bền vững, kinh tế xanh, kèm với ứng phó biến đổi khí hậu

Nhóm tác giả Trần Bình Minh và Trần Xuân Ban với công trình nghiên cứu

“Tăng trưởng xanh, khuôn khổ nghiên cứu và thực tiễn triển khai” năm 2020 Trong nghiên cứu này, điểm chủ yếu cần quan tâm là thông qua dữ liệu nghiên cứu tập hợp của 5 quốc gia và vùng lãnh thổ là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp, Châu

Âu, nhóm tác giả đã thống kê các điểm giống nhau của tăng trưởng xanh tại các quốc gia đó cơ bản gồm: Tăng trưởng xanh hướng đến sử dụng hiệu quả tài nguyên, tăng năng suất lao động, giảm các tác động môi trường; Tăng trưởng xanh lấy hoạt động giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu làm động lực phát triển kinh tế; Tăng trưởng xanh đồng thời giảm nghèo, giảm bất bình đẳng;

Trang 27

Tăng trưởng xanh là phương thức phát triển bền vững, là một bộ phận của phát triển bền vững, không đồng nghĩa và không thay thế phát triển bền vững

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn An Thịnh về chính sách tăng trưởng xanh của Việt Nam và Đức phát hành trong kỷ yếu năm 2020 nhân

kỷ niệm 45 quan hệ ngoại giao 2 nước Nội dung nghiên cứu cho thấy Đức là quốc gia phát triển, kinh tế xanh - tăng trưởng xanh là kế hoạch hành động quốc gia về sử dụng năng lượng hiệu quả Đức đã có nhiều sáng kiến cho tăng trưởng xanh và đưa

ra hàng loạt chính sách về phát triển bền vững Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Đức cho rằng tăng trưởng xanh chính là nội dung trọng tâm trong phát triển bền vững trong bối cảnh cạn kiệt dần nguồn tài nguyên như suy thoái rừng, suy giảm

đa dạng sinh học

- Nhóm công trình nghiên cứu về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh:

Tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy với đề tài nghiên cứu khoa học là “Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên văn hóa cho phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh” năm

2022 Thông qua nghiên cứu tại 2 địa bàn cụ thể là di sản đô thị cổ Hội An và di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới quần thể danh thắng Tràng An Nghiên cứu cho thấy những thực trạng, chung về quản lý sử dụng tài nguyên tại từng nơi Dùng công cụ SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và nguy cơ Những khó khăn và thách thức trong quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên văn hóa Đề xuất tiêu chí, mô hình về quản lý sử dụng nguồn tài nguyên văn hóa trong du lịch theo hướng tăng trưởng xanh Nghiên cứu cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn về

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên văn hóa cho phát triển du lịch theo hướng du lịch xanh Nghiên cứu này là một tài liệu quan trọng cho luận văn tham khảo và sử dụng

về những nội dung liên quan đến phát huy giá trị di sản văn hóa trong du lịch theo hướng tăng trưởng xanh

Nhóm tác giả Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương (2015) với nghiên cứu phát triển DLCĐ vùng Tây Bắc đã phác họa khái quát về tình hình phát triển du lịch tại một số điểm đến du lịch tiềm năng ở Tây Bắc trong giai đoạn từ những năm 2000 đến khoảng 2015 như là bản Dền ở Sa Pa Lào Cai, bản Lác và bản Văn ở Mai Châu Hòa Bình, bản Áng ở Mộc Châu Sơn La, bản Mến, Phiêng Lợi Điện Biên…Với số liệu trong nghiên cứu đưa ra cho thấy DLCĐ thực sự góp phần xóa đói giảm nghèo,

Trang 28

tạo nguồn sinh kế mới cho người dân khá nhanh so với trước khi làm du lịch (như ở bản Dền) Một số nơi có nguồn thu du lịch cao gấp 5-10 lần so với nơi không làm du lịch Các điểm DLCĐ cũng tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động, phát triển nhiều nghề thủ công Tuy nhiên dù đạt được một số kết quả, các điểm DLCĐ tại đây vẫn gặp nhiều hạn chế, và du khách không muốn quay trở lại Một phần là vì sự bắt chước giống nhau về các sản phẩm du lịch khiến du khách mất hào hứng vì tâm lý đoán biết trước Và để phát triển DLCĐ hiệu quả, nghiên cứu đã đưa ra kiến nghị cần có quy hoạch du lịch bài bản, tránh làm ồ ạt tràn lan, tự phát, kém chất lượng

Du lịch cần khác biệt, độc đáo dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên Khai thác tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của du khách, thu hút đông đảo khách tham gia Cần cơ chế chính sách đặc thù cho DLCĐ, như cho bà con vay vốn làm du lịch, ưu đãi nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đưa khách đến vùng DLCĐ như giảm thuế…cơ chế phối hợp, phân chia nguồn lợi công bằng trong cộng đồng Cần thiết có sự tham gia của các nhà tư vấn và khoa học trong kinh doanh du lịch, kết hợp chặt chẽ cũng người dân, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước để phát triển du lịch bền vững

Nghiên cứu của tác giả Đoàn Mạnh Cương (2020) về “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững” Nghiên cứu này tổng hợp khái niệm và xu hướng tăng trưởng xanh từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới Những giải pháp - khuyến nghị liên quan đến chính sách và thực thi chính sách được tác giả phân tích và tổng hợp lại trong nghiên cứu này, bao gồm 9 giải pháp : (i) phát triển năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong hoạt động du lịch; (ii) kiểm soát phát thải khí nhà kính từ các cơ sở du lịch; (iii) kiểm soát phát sinh rác thải, chất thải và tái sử dụng cho sản xuất du lịch xanh hơn; (iv) khuyến khích các hệ thống sử dụng đất bền vững và thông minh với biến đổi khí hậu; (v) bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nước và đa dạng sinh học, tài nguyên văn hóa; (vi) tăng cường tiếp cận thị trường và nâng cao chất lượng các sản phẩm hàng hóa du lịch chính và sản phẩm du lịch thay thế; (vii) phát triển du lịch xanh và bền vững; (viii) khuyến khích hình thành lối sống xanh và tiêu dùng bền vững trong

du lịch; (ix) tạo môi trường thuận lợi để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, trong đó

có du lịch xanh Công trình đưa ra nhiều góc độ và giải pháp về mối quan hệ giữa du

Trang 29

lịch dựa vào cộng đồng theo hướng tăng trưởng xanh Luận văn chỉ quan tâm đến khía cạnh bảo vệ tài nguyên văn hóa trong du lịch theo hướng tăng trưởng xanh Phóng sự “Quảng Nam-Điểm đến du lịch xanh” của đài truyền hình VTV4 nói

về phát triển du lịch di sản tại những DSVHTG như đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn và trải nghiệm DSVHPVT đại diện của nhân loại như Nghệ thuật bài chòi, Cù Lao Chàm là khu dự trữ sinh quyển thế giới cũng là nơi thu hút rất đông lượng khách

du lịch Với phong cảnh đẹp, môi trường không khí trong lành, sự đa dạng về văn hóa là ba yếu tố quan trọng khiến du khách muốn quay trở lại đây Bên cạnh những làng rau xanh hàng trăm năm tuổi cùng với những sản phẩm du lịch thân thiện với môi trường, mang đậm dấu ấn văn hóa xứ Quảng Phát triển du lịch xanh là xu hướng

ở Quảng Nam, với các sản phẩm thân thiện với môi trường là điều mà du khách cảm nhận được Những làng quê Quảng Nam còn rất thoáng đãng, giàu giá trị văn hóa truyền thống mà các thành phố lớn không thể có được Đó đây những ngôi nhà cổ bằng gỗ trong làng Lộc Yên tồn tại từ 80-150 năm với đường ngõ bằng đá rêu phong

cổ kính Bờ những căn nhà cạnh lối đi men theo con đường dốc núi được xếp bằng những viên đá tự nhiên là nguyên liệu sẵn có nơi đây và không hề dùng xi măng xây dựng Đá được xếp chồng lên nhau và dùng chất kết dính tự nhiên là đất sét, chất oxid trong đất sét khiến cho thời gian càng lâu thì các viên đá kết dính càng bền chặt

Và những cây cỏ dại mọc lên từ những bờ đá này, do khi xây không dùng xi măng bịt kín nên khả năng thoát nước trong mùa mưa cũng như giữ ẩm về mùa khô qua kẽ

lý luận di sản học, luận văn giới hạn nội dung nghiên cứu về mối quan hệ giữa du lịch theo hướng tăng trưởng xanh và phát huy giá trị di sản, nhưng không làm tổn hại, ảnh hưởng tới việc thực hành và giá trị của di sản đối với cộng đồng chủ nhân

Trang 30

1.1.4 Đánh giá những công trình nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu liên quan đến tài nguyên văn hóa, tài nguyên di sản khá rộng Đó là nhóm công trình về văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của người Thái khá phong phú, phân tích kho tàng văn hóa của người Thái Các công trình mô tả và phân tích về chiều sâu những giá trị văn hóa truyền thống từ nhà sàn, không gian sinh sống trong nhà sàn, đến các tập tục như lễ hội, nghi lễ, trang phục

và tập quán khác Thông qua việc phân tích các công trình về văn hóa truyền thống,

di sản văn hóa của người Thái ở Tây Bắc, chúng ta thấy người Thái có một hệ thống văn hóa đa dạng, được cộng đồng sáng tạo và duy trì hàng trăm năm Những giá trị cốt lõi về tri thức dân gian, về tâm thức của người Thái, về giá trị chức năng của các

di sản vật thể và phi vật thể là một phần đời sống cộng đồng của người Thái hiện nay Mặc dù, có nhiều trung tâm, nhiều điểm du lịch cộng đồng, homestay, du lịch nghỉ dưỡng dựa vào sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, cũng như nguồn tài nguyên di sản của người Thái, nhưng những công trình về du lịch dựa vào di sản chưa có nhiều Đặc biệt là chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về về mối quan hệ giữa

du lịch, di sản văn hóa, tăng trưởng xanh của người Thái ở Tây Bắc, cụ thể phát huy giá trị di sản và cộng đồng được hưởng lợi từ di sản quá mỏng

Những công trình nghiên cứu về tăng trưởng xanh và du lịch theo hướng tăng trưởng xanh đã cho thấy nhận thức của toàn xã hội về sự tác động của du lịch và định hướng cho việc phát triển du lịch thân thiện với môi trường Phát triển du lịch theo hướng tăng triển xanh rất rộng, bao hàm cả lĩnh vực môi trường, khí hậu, kinh tế và văn hóa Du lịch theo hướng này cần phải đảm bảo thân thiện với môi trường, hạn chế rác thải, kiểm soát khí thải phát triển năng lượng tái tạo, kiểm soát phát thải khí nhà kính, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nước và đa dạng sinh học, tài nguyên văn hóa, v.v Nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh chưa có nhiều nghiên cứu Theo hướng này, việc bảo vệ và phát huy di sản cần phải đặt lên hàng đầu trong chiến lược kinh tế xanh, du lịch xanh Dựa trên thực thế hoạt động du lịch của người Thái ở Tây Bắc, cụ thể ở huyện Vân Hồ, luận văn tìm hiểu việc phát triển các dịch vụ du lịch cộng đồng, nghỉ dưỡng vừa đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, nhưng vẫn phải đảm bảo bảo vệ giá trị, chức năng ý nghĩa của di sản Do vậy, luận văn này tập trung vào

Trang 31

một lĩnh vực cụ thể là du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng dựa trên di sản văn hóa theo hướng tăng trưởng xanh, nghĩa là những vấn đề về bảo vệ di sản, phát huy di sản, và đạo đức liên quan

Hiện nay, cả DSVHVT và DSVHPVT đều được sử dụng như một chất xúc tác cho sự tăng trưởng bền vững và có thể đóng góp mạnh mẽ vào sự gắn kết xã hội và nâng cao ý thức về bản sắc, khuyến khích cộng đồng địa phương và thế hệ trẻ tham gia Hơn nữa, DSVH có thể được coi là nguồn lực quan trọng trong phát triển, đóng góp mạnh mẽ vào sự phát triển bền vững chung của kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường (Nguyễn Thị Hiền, 2023)

Di sản văn hóa của các cộng đồng dân tộc Tây Bắc ở Sơn La rất phong phú, đa dạng Nhiều di sản đã được ghi danh trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Lễ Hết Chá ở xã Đông Sang huyện Mộc Châu và Nghệ thuật Xòe Thái, chữ viết của người Thái cổ, nghệ thuật chế tác và múa khèn của người H’Mông, lễ cúng dòng họ người H’Mông, lễ cấp sắc của người Dao đỏ, lễ Pang a (cầu an) của người

La Ha, nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Dao tiền, nghệ thuật tạo hoa văn trên trang phục của người H’Mông Hoa, nghi lễ gội đầu của người Thái trắng

Trang 32

Có thể nói rằng DSVH là những tài sản vô giá, gắn kết các cộng đồng dân tộc

ở Sơn La, là cốt lõi của bản sắc dân tộc Chúng có thể là một nguồn tài nguyên quan trọng trong phát triển kinh tế bền vững ở địa phương theo hướng tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và có lợi cho cộng đồng bản địa

- Du lịch dựa vào cộng đồng:

Trên thế giới, thuật ngữ “du lịch dựa vào cộng đồng” (tiếng Anh là Community Based Tourism) hay thường gọi là du lịch cộng đồng (DLCĐ), là một trong những hình thức du lịch trải nghiệm văn hóa của các dân tộc bản địa tại các làng bản từ những năm 70 của thế kỉ XX, và phát triển tại các quốc gia Mỹ La Tinh, Châu Úc, Châu Phi, Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012): “DLCĐ là loại hình du lịch mà ở

đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý các hoạt động du lịch, và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại cho cộng đồng” (Bùi Thị Hải Yến, 2012, tr.34)

DLCĐ là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi (Luật du lịch 2017, điều 3)

Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESRT) thông qua tài liệu “Sổ tay du lịch cộng đồng Việt Nam, Phương pháp tiếp cận thị trường” cũng đưa ra định nghĩa về du lịch cộng đồng là: “DLCĐ mang lại cho du khách những trải nghiệm về cuộc sống địa phương, trong đó các cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch và thu được các lợi ích kinh

tế - xã hội từ các hoạt động du lịch và chịu trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,

Trang 33

môi trường và văn hóa địa phương” (Liên minh Châu Âu và Quỹ bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2013)

Như vậy, khái quát lại du lịch cộng đồng là mô hình phát triển du lịch mà cộng đồng dân cư tại địa phương sẽ chịu trách nhiệm tổ chức và cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch Và cũng chính cộng đồng dân cư địa phương có trách nhiệm tham gia vào việc gìn giữ và bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Họ là người được chia sẻ, hưởng các lợi ích được tạo ra nhờ việc phát triển dịch vụ du lịch và bảo

vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường Từ đó, hình thức du lịch này trở nên phổ biến trên toàn thế giới nhờ những sản phẩm du lịch dựa trên nền tảng văn hóa của người dân bản địa, mang lại nhiều trải nghiệm thú vị và hiểu biết về văn hóa địa phương mà nó mang lại cho cả du khách Còn người dân bản địa được hưởng lợi từ phát triển du lịch Song song với điều đó, du lịch cộng đồng có nhiều khả năng tác động phá vỡ cảnh quan môi trường, văn hóa bản địa bị lai tạp, và nhiều vấn đề về xã hội khác DLCĐ là một hoạt động du lịch đưa du khách đến gần hơn và kết nối với cộng đồng tại địa phương Tại đây, du lịch cộng đồng tạo cơ hội để du khách trải nghiệm cuộc sống thực tế của dân cư địa phương, có những hiểu biết về phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng, được hòa mình vào một nền văn hóa mới lạ Cộng đồng dân cư địa phương sẽ trực tiếp tham gia vào khai thác, cung cấp dịch vụ, quản lí và bảo tồn

mô hình du lịch và thu được lợi ích từ các hoạt động du lịch

1.2.2 Một số quan điểm lý luận

- Quan điểm phát huy giá trị di sản văn hóa dựa vào cộng đồn:g

Phát huy giá trị là khuyến khích điều tốt, điều hay, có tác dụng và mang lại hiệu quả tích cực cho đời sống con người, bao gồm cả hàm ý kích thích tiếp tục và sản sinh thêm những giá trị tốt đẹp khác trong xã hội

Đối với di sản, đặc biệt là DSVHPVT không thể tồn tại và phát triển, phát huy nếu không có sự tham gia chủ động tích cực của cộng đồng Việc phát huy giá trị di sản cho phát triển du lịch còn phải đảm bảo tính bền vững của di sản và những vấn

đề đạo đức liên quan Có nghĩa là, di sản của cộng đồng không đơn giản là đem trình diễn cho khách du lịch và khách du lịch đến trải nghiệm, tận hưởng một cách vô lối, với quan điểm như là dịch vụ, có cầu có cung, có dùng có trả

Trang 34

Vấn đề phát huy di sản văn hóa mang tính khoa học của ngành di sản, dựa vào các quan điểm của các văn kiện quốc tế và quốc gia về di sản Vấn đề sử dụng các quan điểm bảo vệ và phát huy di sản từ góc độ cộng đồng tại trường hợp nghiên cứu

2 bản ở huyện Vân Hồ Đó là các vấn đề về ai làm du lịch, ai được hưởng và việc thực hành, phát huy giá trị di sản nơi đây cho phát triển du lịch nên như thế nào để vẫn đảm bảo di sản không bị hủy hoại vì sự có mặt của người ngoài cộng đồng, cũng như di sản vẫn được bảo vệ một cách bền vững Hơn nữa, kết hợp với quan điểm du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, luận văn tập trung cả vào vấn đề đạo đức trong việc khai thác di sản và việc cộng đồng hưởng lợi từ việc khai thác giá trị di sản

- Quan điểm phát triển du lịch xanh và du lịch theo hướng tăng trưởng xanh:

Du lịch xanh: Theo hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế (TIES) thì DLX là hình

thức du lịch có trách nhiệm với môi trường, các khu tự nhiên, khu bảo tồn Ngoài ra DLX dựa vào tự nhiên và văn hóa, giáo dục bảo vệ môi trường, góp phần duy trì văn hóa bản địa và bảo tồn tự nhiên Theo định nghĩa trong cuốn Bách khoa toàn thư về

du lịch như sau: “DLX là một hình thức thay thế thường liên quan đến du lịch nông thôn, là một hình thái của du lịch thiên nhiên, thân thiện với môi trường và hầu như không tạo ra tác động về sinh thái tại điểm đến du lịch.” (Martin Oppermann 2001,

tr xxxvii) Còn theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) du lịch xanh bao gồm các hoạt động du lịch có thể được duy trì lâu dài hoặc được thực hiện bền vững trong xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường

Hiện nay, trong nhiều bài viết truyền thông và tài liệu của cơ quan quản lý nhà nước thường dùng thuật ngữ “du lịch xanh” như là cách nói ngắn gọn với nội hàm của khái niệm du lịch tăng trưởng xanh Cần lưu ý rằng thuật ngữ “du lịch xanh” có thể nhầm lẫn là tương đồng với DLST và du lịch dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Một cách nói khác đó là chỉ tập trung vào yếu tố “xanh” của môi trường mà giảm chú ý đến các khía cạnh khác của chiều kích phát triển bền vững Việc sử dụng cụm từ “du lịch xanh, bền vững” đầy đủ hơn và truyền tải gần hơn hàm

ý đầy đủ của du lịch tăng trưởng xanh

Du lịch theo hướng tăng trưởng xanh:

Du lịch theo hướng tăng trưởng xanh là loại hình du lịch tập trung vào tính bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời thúc đẩy bảo tồn và

Trang 35

hỗ trợ cộng đồng địa phương Mặt khác, du lịch theo định hướng tăng trưởng xanh

đề cập đến việc sử dụng du lịch bền vững như một công cụ để tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Viện nghiên cứu phát triển du lịch: “Phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh là sự phát triển dựa trên cơ sở điều chỉnh mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, chất lượng, nhằm khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên

và các nguồn lực cho phát triển du lịch; thúc đẩy phát triển dịch vụ du lịch xanh, phục vụ tiêu dùng du lịch xanh; giảm thiểu phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển du lịch; đồng thời, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, với mục tiêu phát triển du lịch cho con người

và vì con người”(Phan Thanh Vinh, 2022)

Trong bối cảnh hiện nay, DSVH được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng trong phát triển bền vững, được sử dụng trong phát triển kinh tế xã hội và trong phát triển du lịch Khu vực Tây Bắc vốn sẵn tài nguyên du lịch, trong đó DSVH người Thái là nguồn tài nguyên văn hóa phong phú và giàu bản sắc, thân thiện với môi trường, hoàn toàn phù hợp với phát triển du lịch xanh

Du lịch xanh khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường

và bảo tồn đa dạng sinh học, vừa phát huy thế mạnh văn hóa bản địa và góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống của nhiều người dân địa phương, đồng thời thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, tăng cường đối thoại, góp phần phát triển kinh tế xã hội Du lịch xanh là hình thức phát triển cao nhất, hiệu quả nhất và toàn diện nhất so với các hình thức du lịch khác Nhận thấy phát triển du lịch xanh hoàn toàn phù hợp phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, gắn kết chặt chẽ với tài nguyên di sản, đem lại những tác động tích cực về kinh

tế, văn hóa, xã hội và môi trường, với điều kiện phải được tổ chức và có các biện pháp quản lý tốt (Quỹ Châu Á và Viện nghiên cứu và phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, 2012, tr 28)

Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” (2020) đã cho rằng phát triển du lịch bền vững trên nền tảng tăng trưởng xanh được xem là hướng

đi chính hiện nay và trong tương lai Chiến lược nêu rõ rằng du lịch theo định hướng tăng trưởng xanh gồm có: Gắn phát triển du lịch với bảo vệ, phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc; Quản lý, khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên

Trang 36

nhiên và bảo vệ môi trưởng, bảo vệ đa dạng sinh học, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội (Văn phòng Chính phủ, 2020) Di sản văn hóa là một loại hình tài nguyên phát triển du lịch trong mối quan hệ với môi trường dưới mọi hình thức

Một số học giả trong cuốn “Tourism in the Green Economy” do United Nations Environment Programme (UNEP) và World Tourism Organization (UNWTO) (2012) xuất bản đã nhận diện mối quan hệ giữa du lịch và di sản Du khách càng ngày càng có những sở thích, trải nghiệm những thực hành văn hóa của các tộc người bản địa và sự đa dạng văn hóa Điều này hàm ý về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh: (1) Tôn trọng sự đa dạng văn hóa; (2) Bảo vệ văn hóa truyền thống, di sản văn hóa; (3) góp phần giảm nghèo của các cộng đồng địa phương, v.v

Du lịch theo định hướng tăng trưởng xanh được coi là: “loại hình hoặc phương thức du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Nguyễn Văn Đính 2021) Tác giả Nguyễn Anh Tuấn cho rằng “Phát triển

du lịch theo hướng tăng trưởng xanh là phương thức phát triển dựa trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ, phát huy hiệu quả các giá trị tài nguyên; thực hiện các hoạt động quản

lý, kinh doanh và tiêu dùng du lịch xanh; tiêu thụ ít năng lượng, phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; đồng thời, tạo việc làm, cải thiện sinh kế và mang lại hạnh phúc cho người dân, góp phần xây dựng nền kinh tế xanh và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững” (Nguyễn Anh Tuấn, 2022)

Theo tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy, bản chất nội hàm khái niệm, “du lịch tăng trưởng xanh cũng chính là một phần du lịch bền vững, nhưng đặt trọng tâm nhận thức vào vấn đề môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, trong khi không bỏ

qua các khía cạnh bền vững khác về kinh tế, xã hội và văn hóa Từ “xanh” ở đây

mang hàm nghĩa không chỉ xanh về sinh thái, mà còn có nghĩa là chất lượng, đạo đức

và bền vững.” (Đỗ Thị Thanh Thủy, 2022, tr 44)

Hiện nay thuật ngữ “du lịch xanh” là một cách nói khác, ngắn gọn, nhưng cũng với sắc thái ý nghĩa của du lịch tăng trưởng xanh Du lịch xanh cũng khác với du lịch sinh thái ở chỗ du lịch sinh thái chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên, không quan tâm đến các khía cạnh phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, đạo đức, v.v Theo Đỗ Thị

Trang 37

Thanh Thủy, du lịch theo hướng tăng trưởng xanh được nhìn nhận là con đường, là phương thức đúng đắn để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam và các nước trên thế giới, qua đó vừa nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ du lịch vừa góp phần bảo vệ tài nguyên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo sự phát triển dài hạn, cân bằng về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và đóng góp cho sự phát triển

bền vững (Đỗ Thị Thanh Thủy, 2022, tr 44)

Tác giả Lê Hanh Thông đưa ra 7 yêu cầu cơ bản cho du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, bao gồm: Bảo đảm hệ sinh thái (i), hiệu quả (ii), công bằng (iii), giữ vững bản sắc văn hóa (iv), tính cộng đồng (v), cân bằng (vi), phát triển (vii) Bảy yêu cầu này quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển (Đỗ Thị Thanh Thủy, 2022)

Tổng kết các quan điểm về du lịch tăng trưởng xanh trong các nghiên cứu nước ngoài, tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy thấy rằng du lịch tăng trưởng xanh thường được

đề cập bằng cụm từ du lịch vì một nền kinh tế xanh Du lịch tăng trưởng xanh hướng tới việc đảm bảo đáp ứng các mục tiêu tổng thể và hài hòa về kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường Trong đó, về môi trường, du lịch tăng trưởng xanh chú trọng việc bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên, sử dụng tài nguyên một cách cân bằng,

hài hòa, chọn lọc Về kinh tế, du lịch tăng trưởng xanh đóng góp phát triển kinh tế bền vững Về xã hội, du lịch tăng trưởng xanh góp phần xây dựng một xã hội công

bằng, hòa nhập, tạo công ăn việc làm, sinh kế bền vững, xóa đói giảm nghèo, chi sẻ

lợi ích cho các cộng đồng địa phương Về văn hóa, du lịch theo hướng tăng trưởng

xanh góp phần việc bảo vệ, duy trì và tái tạo các di sản văn hóa (Đỗ Thị Thanh Thủy

2022, tr 44-45) Dựa trên quan điểm về du lịch theo hướng tăng trưởng xanh này, luận văn sẽ chỉ tập trung khai thác và phân tích công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh tại 2 trường hợp nghiên cứu ở Chiềng Đi 1 và Phụ Mẫu, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La

1.3 Khái quát về huyện Vân Hồ

1.3.1 Khái quát về địa lý, dân cư

Vân Hồ là huyện vùng cao nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Sơn La, được chính thức thành lập vào ngày 10 tháng 6 năm 2013, theo Nghị quyết số 72/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh 97.984 ha diện tích tự nhiên và 55.797 nhân khẩu

Trang 38

(2013), gồm 14 xã: Chiềng Khoa, Chiềng Xuân, Chiềng Yên, Liên Hòa, Lóng Luông, Mường Men, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Suối Bàng, Tân Xuân, Tô Múa, Vân Hồ và Xuân Nha thuộc huyện Mộc Châu trước đây Theo số liệu mới nhất của

kế hoạch sử dụng đất huyện Vân Hồ năm 2023 thì diện tích tự nhiên toàn huyện là 98.288,91 ha

Về vị trí và mối liên hệ trong vùng trung du miền núi Bắc Bộ, Vân Hồ là khu vực có những lợi thế tiềm năng được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, huyện Vân Hồ là cửa ngõ kết nối các tỉnh vùng Tây Bắc với Hà Nội

và vùng đồng bằng sông Hồng thông qua tuyến đường huyết mạch là quốc lộ 6 Từ Vân Hồ có thể đi qua huyện Mộc Châu, kết nối thuận lợi tới thành phố Sơn La, tới tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu hoặc đi qua tỉnh Hòa Bình

Thứ hai, Vân Hồ có độ cao trung bình so với mặt biển không đồng đều và nghiêng theo hướng Tây Nam-Đông Bắc cũng là hướng chảy chính của sông lớn trong vùng Thực tế địa hình huyện bị chia cắt tự nhiên theo các dạng chính như sau: các xã ven sông Đà địa hình tương đối thấp trung bình cao độ từ 400-600m, đất dốc như các xã Mường Tè, Quang Minh, Liên Hòa, Song Khủa, Suối Bàng Còn các xã men theo quốc lộ 6 có cao độ trung bình từ 800-1000m, địa hình đồi bát úp lẫn vùng bằng phẳng như là các xã Vân Hồ, Lóng Luông, Chiềng Yên, Chiềng Khoa, Mường Men và Tô Múa

Nhìn chung về địa hình huyện Vân Hồ tương đối phức tạp và nằm trên cao nguyên đá vôi với con sông Đà chảy qua 5 xã Độ cao trung bình khoảng 700 m đến

800 m so với mặt nước biển; địa hình nghiêng theo hướng Tây Nam - Đông Bắc tạo hướng chảy chính cho sông, suối trong vùng và bị chia cắt phân làm các dạng địa hình chính sau: Tại các xã dọc sông Đà với địa hình thấp, độ cao trung bình khoảng

400 m - 600 m so với mặt nước biển, bị chia cắt mạnh, phần lớn là đất dốc (gồm các

xã Suối Bàng, Song Khủa, Liên Hòa, Mường Tè và Quang Minh) Các xã men theo quốc lộ 6 có độ cao trung bình khoảng 800 m - 1000 m so với mặt nước biển, địa hình tương đối bằng phẳng, đồi kiểu bát úp xen lẫn phiêng bãi chạy dài (gồm các xã Vân Hồ, Lóng Luông, Chiềng Yên, Mường Men, Chiềng Khoa và Tô Múa) Các xã giáp biên gồm Tân Xuân và Chiềng Xuân có địa hình cao, với độ cao trung bình so với mực nước biển từ 900 m đến 1300 m

Trang 39

Sự đa dạng về địa hình cùng với yếu tố khí hậu đặc trưng và nền nhiệt độ huyện thấp và ẩm là điều kiện tự nhiên thuận lợi để Vân Hồ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa đa dạng, tạo ra lợi thế phát triển kinh tế Theo các chuyên gia trong ngành, với quỹ đất rộng và diện tích đất chưa sử dụng còn tương đối lớn chính là những điều kiện thuận lợi để Vân Hồ có thể khai thác phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và

du lịch, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội

Khí hậu Vân Hồ phân thành hai tiểu vùng chính đó là vùng khí hậu lạnh: xã Vân Hồ, Lóng Luông, Tô Múa và vài bản vùng núi cao; và vùng khí hậu nóng ẩm: các xã ven sông Đà Vân Hồ là nơi đón gió mùa đông bắc sớm ở nước ta do địa hình cánh cung mở Còn là vùng chịu ảnh hưởng của bão nên mùa khô thường khá lạnh nên hay xuất hiện sương muối, sương mù trung bình là 80 ngày / năm Nhiệt độ trung bình từ 18-23 độ C Ngày và đêm thường chênh lệch 8 độ C Độ ẩm trung bình khoảng 85%, lượng mưa khá nhiều, trung bình 1.560mm/năm và trung bình có 185 ngày mưa/năm Những năm gần đây, thời tiết biến đổi nên xuất hiện gió lốc nhiều hơn, sương muối và mưa đá xuất hiện nhiều hơn trong năm gây thiệt hại kinh tế cho

bà con (Cổng thông tin điện tử huyện Vân Hồ tỉnh Sơn La, 2023)

Sự phân bố cảnh quan huyện Vân Hồ ở mức độ tương đối thích hợp cho phát triển du lịch, phân bổ chủ yếu ở khu vực Đông Nam và Đông Bắc huyện, một phần

ở trung tâm huyện (xem thêm hình 1.1) Các khu vực có giá trị cảnh quan được đánh giá cao cho phát triển du lịch lại nằm xen lẫn với khu vực có giá trị trung bình, chủ yếu là phía Đông Bắc huyện Khu vực cảnh quan có giá trị thấp hơn và cực thấp nằm men theo triền núi từ phía Bắc đến trung tâm huyện, và các dãy núi cao phía Tây Nam của huyện Nhiều thắng cảnh đẹp và có giá trị khai thác du lịch như thác Tạt Nàng ở xã Chiềng Yên, suối nước nóng ở bản Phụ Mẫu, thác Nàng Tiên ở xã Chiềng Khoa, hang Tạng Mê xã suối Bàng, hệ thống hang động ở xã Xuân Nha…

Trang 40

Hình 1.1: Bản đồ đánh giá thích nghi phát triển du lịch sinh thái ở

huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Nguồn: Vũ Kiều Hưng (2021)

-Khái quát về xã Vân Hồ và bản Chiềng Đi 1:

Xã Vân Hồ là xã ở trung tâm của huyện Vân Hồ với tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 7.641 ha Theo số liệu báo cáo về dân cư đến ngày 31/12/2020, xã Vân Hồ

có 2.298 hộ; 10.241 nhân khẩu, mật độ dân số 111 người/km2 Có 6 dân tộc trong

đó dân tộc Thái chiếm 1,5%; dân tộc H’Mông chiếm 51,16%; dân tộc Kinh chiếm 17,1%; dân tộc Dao chiếm 15,1%; dân tộc Mường chiếm 15,1%; dân tộc Tày chiếm 0,04% (Chi cục Thống kê khu vực Mộc Châu - Vân Hồ, 2020) Bản Chiềng Đi 1 hiện có 174 hộ dân tương ứng với lượng dân cư là 710 người, đa số là người Mông, Dao và người Thái sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp

Ngày đăng: 07/12/2024, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Sơn La điện tử (2023). Phát triển du lịch huyện Vân Hồ. Truy cập ngày 10/5/2023 tại trang web https://baosonla.org.vn/moc-chau-diem-den-hap-dan/phat-trien-du-lich-huyen-van-ho-52580.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch huyện Vân Hồ
Tác giả: Báo Sơn La điện tử
Năm: 2023
2. Chương trình Thái học Việt Nam (1998). Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam. NXB Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam
Tác giả: Chương trình Thái học Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
3. Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Sơn La (2017). Vân Hồ bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa. Truy cập ngày 10/5/2023 tại trang web https://vhttdl.sonla.gov.vn/di-san/van-ho-bao-ton-phat-huy-gia-tri-di-tich-lich-su-van-hoa-copy-420509 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Hồ bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Sơn La
Năm: 2017
4. Đoàn Mạnh Cương (2020). Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững . Cục Du lịch QGVN, truy cập ngày 15/2/2023 tại trang web https://vietnamtourism.gov.vn/post/32779 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững
Tác giả: Đoàn Mạnh Cương
Năm: 2020
5. Phạm Hùng Cường (2015). Những biến đổi trong kiến trúc nhà ở dân tộc Thái (tỉnh Yên Bái), từ truyền thống đến hiện đại. Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 3 tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi trong kiến trúc nhà ở dân tộc Thái (tỉnh Yên Bái), từ truyền thống đến hiện đại
Tác giả: Phạm Hùng Cường
Năm: 2015
6. Vũ Thị Diệu (2016). Biến đổi nhà cửa của người Thái đen ở xã Bình Sơn từ khi đổi mới đến nay. Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi nhà cửa của người Thái đen ở xã Bình Sơn từ khi đổi mới đến nay
Tác giả: Vũ Thị Diệu
Năm: 2016
7. Nguyễn Văn Đính (2021). Phát triển du lịch xanh Việt Nam. Tạp chí Môi trường số 1/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch xanh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đính
Năm: 2021
8. Đỗ Phú Hải (2018). Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học số 2 năm 2018, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững và kinh tế xanh ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2018
9. Nguyễn Thị Hảo (2020). Nghệ thuật Xòe của người Thái gắn với phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc. NXB Thế giới và Viện Văn hóa nghệ thuật QG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Xòe của người Thái gắn với phát triển du lịch cộng đồng vùng Tây Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Hảo
Nhà XB: NXB Thế giới và Viện Văn hóa nghệ thuật QG
Năm: 2020
10. Nguyễn Thị Hiền (2023) Biến đổi khí hậu dưới góc độ tiếp cận văn hóa. Tạp chí môi trường, số 10 năm 2023 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu dưới góc độ tiếp cận văn hóa
11. Lê Thị Thu Hương (2012). Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU và gợi mở cho Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tế, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU và gợi mở cho Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thu Hương
Năm: 2012
12. Nguyễn Kim Lê (2012). Văn hóa Thái với hoạt động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ) Yên Bái. Luận văn thạc sĩ, trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thái với hoạt động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ) Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Kim Lê
Năm: 2012
13. Liên minh châu Âu và Quỹ bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (2013). Sổ tay du lịch cộng đồng Việt Nam, Phương pháp tiếp cận thị trường. Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (ESRT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay du lịch cộng đồng Việt Nam, Phương pháp tiếp cận thị trường
Tác giả: Liên minh châu Âu và Quỹ bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
Năm: 2013
14. Phạm Trung Lương (2011). Tài liệu giảng chuyên đề du lịch cộng đồng. Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Tổng cục du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng chuyên đề du lịch cộng đồng
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2011
15. Trần Bình Minh và Trần Xuân Ban (2020). Tăng trưởng xanh, khuôn khổ nghiên cứu và thực tiễn triển khai. Trích kỷ yếu “Hội thảo khoa học quốc gia, hình thành và phát triển Hệ thống tài chính xanh, Những luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm”, tr.7-17, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng xanh, khuôn khổ nghiên cứu và thực tiễn triển khai." Trích kỷ yếu “Hội thảo khoa học quốc gia, hình thành và phát triển Hệ thống tài chính xanh, Những luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Trần Bình Minh và Trần Xuân Ban
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2020
17. Nguyễn Thị Thanh Nga (2003). Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại. NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
18. Đặng Thị Oanh (2014). Văn hóa Thái những tri thức dân gian. NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thái những tri thức dân gian
Tác giả: Đặng Thị Oanh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2014
20. Quản Minh Phương (2022). Văn hóa tộc người trong quá trình phát triển du lịch ở Tây Bắc (trường hợp người Thái ở Mộc Châu, người H’Mông ở Sa Pa).Luận án tiến sĩ, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tộc người trong quá trình phát triển du lịch ở Tây Bắc (trường hợp người Thái ở Mộc Châu, người H’Mông ở Sa Pa)
Tác giả: Quản Minh Phương
Năm: 2022
25. Hữu Quyết (2023). Đánh thức tiềm năng du lịch Vân Hồ, Sơn La. Bộ Thông tin và Truyền thông, truy cập ngày 10/10/2023 tại trang web https://mic.gov.vn/pages/tintuc/printpage.aspx?tintucID=160414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh thức tiềm năng du lịch Vân Hồ, Sơn La
Tác giả: Hữu Quyết
Năm: 2023
21/5/2023 tại trang web https://www.youtube.com/watch?v=s5Fy_6QQrjk Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ đánh giá thích nghi phát triển du lịch sinh thái ở  huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 1.1 Bản đồ đánh giá thích nghi phát triển du lịch sinh thái ở huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La (Trang 40)
Hình 2.2. Món luộc rau rừng kết hợp với cà  vườn nhà người Thái ở bản phụ Mẫu. - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.2. Món luộc rau rừng kết hợp với cà vườn nhà người Thái ở bản phụ Mẫu (Trang 53)
Hình 2.5. Hoa văn trên tấm thổ cẩm Thái. - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.5. Hoa văn trên tấm thổ cẩm Thái (Trang 54)
Hình 2.4. Họa tiết con chim (tô nộc). - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.4. Họa tiết con chim (tô nộc) (Trang 54)
Hình 2.6. Nếp nhà sàn Thái truyền thống của một gia đình bản Phụ Mẫu được  dùng tầng dưới bán hàng, tầng trên để ở bản Phụ Mẫu đã dựng hơn 20 năm - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.6. Nếp nhà sàn Thái truyền thống của một gia đình bản Phụ Mẫu được dùng tầng dưới bán hàng, tầng trên để ở bản Phụ Mẫu đã dựng hơn 20 năm (Trang 56)
Hình 2.8. Xưởng mộc làm nhà của người Thái tại bản Phụ Mẫu. - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.8. Xưởng mộc làm nhà của người Thái tại bản Phụ Mẫu (Trang 56)
Hình 2.7. Một Nếp nhà sàn Thái được bố trí 2 hồi vuông góc tại bản Phụ Mẫu. - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 2.7. Một Nếp nhà sàn Thái được bố trí 2 hồi vuông góc tại bản Phụ Mẫu (Trang 56)
Hình 3.1. Cây Mít gần 200 tuổi giữa bản Phụ Mẫu. - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 3.1. Cây Mít gần 200 tuổi giữa bản Phụ Mẫu (Trang 73)
Hình 3.2. Nội quy - Phát huy giá trị di sản văn hóa của người thái Ở tây bắc trong phát triển du lịch tại huyện vân hồ, tỉnh sơn la theo hướng tăng trưởng xanh
Hình 3.2. Nội quy (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w