1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh

154 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến Đổi Văn Hoá Trong Thực Hành Di Sản Tín Ngưỡng: Trường Hợp Thực Hành Thờ Neak Tà Của Người Khmer Ở Huyện Duyên Hải, Tỉnh Trà Vinh
Tác giả Kiên Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Thị An
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Di sản học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 6,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

KIÊN HẠNH

BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ TRONG THỰC HÀNH DI SẢN TÍN NGƯỠNG: TRƯỜNG HỢP THỰC HÀNH THỜ NEAK TÀ CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Biến đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng: trường hợp thực hành thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh” là công trình nghiên cứu của chính cá nhân tôi

Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn được thu thập tư thực tế, có nguồn góc rõ ràng, được xử lí một cách trung thực và khách quan Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi cam đoan hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của nghiên cứu này

Trà Vinh, ngày 14 tháng 9 năm 2023

Tác giả

Kiên Hạnh

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã mở lớp Di sản, khóa học 2021 – 2023, để tôi có cơ hội tham gia học tập Từ đây, tôi được trang bị những kiến thức chuyên sâu hơn về khoa học liên ngành chuyên ngành di sản học; những khối tài sản vật thể phi vật thể vô giá của tiền bối

xa xưa để lại và con cháu vẫn bảo tồn tốt đẹp trên đất nước Việt Nam nói riêng và

cả thế giới nói chung, đặc biệt biết được cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học Ngoài việc được học những kiến thức chuyên sâu về mã ngành Di sản học, bản thân còn được chia sẻ những câu chuyện đời thường đầy ý nghĩa và bổ ích trong cách làm người tử tế làm người có ích cho xã hội từ sự tích lũy dày dặn của giảng viên Qua các bài các bài giảng, các giảng viên đã giúp cho tôi có một cái nhìn sâu sắc hơn, khách quan hơn, đặc biệt hiểu được giá trị các di sản của dân tộc, khu vực

và thế giới vừa mang đặc điểm phát triển chung vừa có đặc điểm riêng của mình, để bản thân có ý thức bảo tồn phát huy, để tuyên truyền mọi người cùng chung tay gìn giữ di sản để nó là tài nguyên cần thiết cho sự tự hào, phát triển phồn thịnh của tổ quốc nay và mai

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều các nhân tập thể Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa, Phòng Đào tạo Khoa các khoa học liên ngành, Tổ bộ môn Di sản học – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi xin trân trọng cám ơn sự hướng dẫn tận tình của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Trần Thị An Tôi xin gởi lời cảm ơn đến các thầy cô giảng viên trường Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô trong hội đồng bảo vệ đề cương đã giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá tình thực hiện luận văn

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các quý vị lãnh đạo trên địa bàn nghiên cứu, các kru, các vị Achar, phật tử, lương giáo, các vị cao niên người Kinh, người Khmer, người Hoa đã cung cấp nhiều tư liệu quý giá

Cuối cùng tôi xin gởi lời cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Bảng chữ viết tắt v

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Vấn đề nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 3

4.1 Vấn đề nghiên cứu 3

4.2 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

8 Cấu trúc luận văn 5

Nội dung 7

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận 7

1.1 Tổng quan tình nghiên cứu 7

1.2 Cơ sở lý luận 10

1.2.1 Một số khái niệm 11

1.2.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 17

Tiểu kết chương 1 21

Trang 6

Chương 2: Biến đổi trong cách thức thờ cúng Neak Tà trong cộng đồng người

Khmer ở Duyên Hải 22

2.1 Biến đổi về cách thức thực hành di sản 22

2.1.1 Biến đổi về không gian thực hành tín ngưỡng 22

2.1.2 Biến đổi về thời gian thực hành tín ngưỡng 29

2.1.3 Biến đổi về số lượng nghi thức và lễ vật trong thực hành tín ngưỡng 32

2.2 Biến đổi về cộng đồng chủ thể thực hành tín ngưỡng 39

2.3 Biến đổi về quản lý di sản 42

Tiểu kết chương 2 44

Chương 3: Những ảnh hưởng đến thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer ở Duyên Hải 45

3.1 Ảnh hưởng của các cộng đồng tham gia thực hành tín ngưỡng 45

3.1.1 Ảnh hưởng của cộng đồng người Việt 46

3.1.2 Ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa 47

3.2 Ảnh hưởng của Phật giáo nam tông 50

3.3 Ảnh hưởng của chính sách di sản, quản lý di sản tới di sản hóa 54

3.3.1 Chính sách di sản, thực hành di sản và di sản hóa 54

3.3.2 Quản lý di sản và di sản hóa 56

Tiểu kết chương 3 58

Kết luận 60

PHỤ LỤC -1-

Tài liệu tham khảo -2-

Phụ lục 1 -9-

Phụ lục 2 -40-

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

1 H1 Thala Neak Tà, ấp Rọ Say (thuộc chùa Chrey Tà Sô) -40-

2 H2

Thala Neak Tà, ấp Cây Xoài (thuộc chùa Chrey Tà Sô)

-40-

3 H3 Thala Neak Tà, ấp Trà Khúp (thuộc chùa Pro Khúp) -40-

4 H4 Thala Neak Tà, ấp Đường Liếu (thuộc chùa Pro Khúp) -40-

5 H5 Thala Neak Tà, ấp Thốt Lốt (thuộc chùa Thum) -41-

6 H6 Thala Neak Tà, ấp Trà Khúp (thuộc chùa Thum) -41-

7 H7 Thala Neak Tà, ấp Sóc Ruộng (thuộc chùa Thum) -41-

10 H10 Thala Neak Tà, ấp La Bang (thuộc chùa Sla Păng) -42-

11 H11 Thala Neak Tà, ấp La Bang (thuộc chùa Sla Păng) -42-

12 H12 Thala Neak Tà, ấp Tà Rom B (thuộc Chùa Tà Rom) -43-

13 H13 Thala Neak Tà, ấp Cốc Lách (thuộc Chùa Tà Rom) -43-

14 H14 Thala Neak Tà, ấp Tà Rom A (thuộc Chùa Tà Rom) -43-

15 H15 Thala Neak Tà, ấp Sa Văng (thuộc Chùa Tà Rom) -43-

16 H16 Thala Neak Tà, ấp Mồ Côi (thuộc Chùa Đom Bon Bak) -44-

17 H17 Thala Neak Tà, ấp Bào Môn (thuộc Chùa Đom Bon -44-

Trang 9

25 H25 Thala Neak Tà, ấp Bà Sát (thuộc Chùa Chrey Pra Sat) -46-

26 H26 Thala Neak Tà, ấp Bà Giam A (thuộc Chùa Bà Giam) -46-

27 H27 Thala Neak Tà, ấp Bà Giam B (thuộc Chùa Bà Giam) -46-

Trang 10

Thala Neak Tà Pnô Tà Nồt Thê, ấp Lộ Sỏi A (thuộc

38 H38

Thala Neak Tà Somrong Pnô Tà Nồt, ấp Lộ Sỏi B

39 H39

Thala Neak Tà Pnô Tà Nồt Kờt, ấp Lộ Sỏi B (thuộc

Thala Neak Tà Chrey Trò Yồng Kờt, ấp Lộ Sỏi B

43 H43 Thala Neak Tà, Khóm 1 (thuộc Chùa Tro Păng Chhuk) -51-

44 H44 Thala Neak Tà Kờt Vòt, ấp Cái Cối (thuộc Chùa Tà -51-

Trang 11

48 H48 Thala Neak Tà, ấp Kinh Đào (thuộc Chùa Âng Kôl) -52-

49 H49 Thala Neak Tà, ấp Cái Cỏ (thuộc Chùa Âng Kôl) -52-

50 H50 Thala Neak Tà, ấp Cái Đôi (thuộc Chùa Âng Kôl) -53-

Miếu Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu, ấp La Di, xã Long

55 H55

Thala Neak Tà, Chùa Săm Bua Răng Sey, ấp Trà Kháo,

56 H56

Bằng Xếp hạng Miếu Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu, ấp La

57 H57

Thala Neak Tà, Chùa Pồ Phí Rum Răng Sey, ấp Thông

58 H58 Linh vật Bà la môn giáo, Chùa Săm Bua Răng Sey, ấp -55-

Trang 12

Trà Kháo, Hòa Ân, Cầu Kè

59 H59

Thala Neak Tà, ấp Quy Nông B, xã Hòa Lợi, huyện

60 H60

Hiện tượng Neak Tà nhập xác, Chùa Pồ Phí Rum Răng

61 H61 Thala Neak Tà, QL60 K5, P8, TP Trà Vinh -56-

62 H62

Chuẩn bị Lờn Neak Tà, Chùa Pồ Phí Rum Răng Sey,

Bà con diễu hành bắt ác nhân giao Neak Tà xử sự ở ấp

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết

Thờ Neak Tà là một hình thức tín ngưỡng phổ biến và thiết thân đối với người Khmer Nam Bộ Dù chưa được ghi danh nhưng việc thực hành và trao truyền tín ngưỡng này đã khiến nó trở thành một di sản quan trọng trong cộng đồng người Khmer

Bà con dân tộc Khmer ngoài mộ đạo Phật: thực hành các hoạt động trong tôn giáo như đi chùa vào các ngày bát quan trai mùng tám, rằm, hai mươi ba và hai mươi chín hay ba mươi; tham gia các lớp học giáo lý pháp Phật; tham gia các khóa tu thiền; tham gia các thiện nguyện hay công quả tạo tích phước đức; tham gia các lễ Magabuja, lễ Visakhabuja, lễ dâng y tắm, lễ dâng y Kathina, lễ xuất gia, lễ an vị Phật hay các lễ khánh thành các công trình trong chùa Phật giáo Bà con Khmer còn thực hiện các tín ngưỡng dân gian tại phum sóc nơi mà mình đang sinh sống và trong đó phải kể đến là tín ngưỡng thờ Neak Tà Lễ thờ cúng Neak Tà thường diễn ra một năm một lần Mặc dù là một năm chỉ diễn ra một lần nhưng bà con Khmer sẽ cảm thấy thiếu thốn hay bất an dẫn đến không chuyên tâm làm ăn Và họ đã thực hành tín ngưỡng này từ rất lâu và cho đến tận bây giờ

Hiện nay, do cuộc sống có nhiều thay đổi do sự thay đổi kinh tế và sự giao lưu văn hoá với các tộc người khác trong quá trình cộng cư, tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer Nam Bộ cũng đã có nhiều thay đổi Duyên Hải là một huyện ven biển của tỉnh Trà Vinh Người Khmer ở huyện Duyên Hải có ít điều kiện giao lưu với các tộc người khác nên tín ngưỡng thờ Neak Tà đã được giữ gìn tốt trong một thời gian dài Tuy nhiên, khi quá trình tìm vùng đất mới để sinh sống, người từ các nơi về đây sống ngày một nhiều hơn, các điều kiện về đời sống kính tế xã hội cũng chịu ảnh hưởng và thay đổi Chính vì thế, việc thực hành tín ngưỡng này đang dần dần thay đổi

Trang 15

Khảo sát việc thực hành một di sản văn hoá phi vật thể mang tính bản sắc tộc người để nhận diện những biến đổi văn hoá đã diễn ra thế nào trong quá trình sống của họ là một điều hết sức thú vị vừa để hiểu thêm về tộc người, vừa để hiểu thêm

về những biến đổi văn hoá nói chung Đó là lí do mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề

tài Biến đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng: trường hợp thực hành thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

2 Mục đích nghiên cứu

Từ việc khảo tả việc thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, luận văn sẽ thảo luận để làm rõ về biến đổi văn hoá trong thực hành tín ngưỡng này, chỉ ra sự trao truyền tín ngưỡng này qua thời gian và lí giải thực tế là: sự tồn tại của tín ngưỡng này hiện nay đã trải qua những dung hợp, giao thoa văn hoá nào để có được diện mạo hôm nay Đồng thời, việc phân tích các yếu tố của biến đổi văn hoá và lý giải các nguyên nhân tạo nên sự biến đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer

ở Trà Vinh để góp phần chỉ ra vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể

Về mặt chính sách, luận văn này nhằm mong muốn có đóng góp các cứ liệu khoa học cho việc bảo tồn di sản tín ngưỡng đặc trưng của người Khmer nói riêng, cộng đồng cư dân Tây Nam Bộ nói chung Đồng thời nó còn làm tư liệu cho các cơ quan quản lý văn hoá tham khảo để có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hoá phi vật thể này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tương nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ việc thực hành một di sản văn hoá phi vật thể của người Khmer là tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Luận văn không đi vào mô tả cách thực hành tín ngưỡng này mà tập trung vào phân

Trang 16

tích biến đổi văn hoá qua thực hành tín ngưỡng này

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

- Phạm vi thời gian: hai thập niên đầu thế kỷ XXI, có so sánh với các giai đoạn trước qua thư tịch và phỏng vấn hồi cố

Trong giai đoạn này, huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh đã có sự thay đổi địa lí hành chính hai giai đoạn: giai đoạn năm 2000 – 2015 và giai đoạn 2015 – 2020 Luận văn nghiên cứu theo địa lí hành chính giai đoạn 2015 – 2020, vì phạm vi không gian địa điểm có rộng thêm nhưng phạm vi hoạt động của thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà ở đây không có sự khác biệt nhiều

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: biến đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà

4 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Vấn đề nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu của luận văn là biến đổi văn hoá trong quá trình thực hành

di sản thờ cúng Neak Tà, đồng nghĩa với quá trình di sản hoá tín ngưỡng thờ Neak

Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải (Trà Vinh)

Vấn đề “biến đổi văn hoá” sẽ được phân tích từ góc độ “thực hành di sản”, cụ thể là những thay đổi trong cách thức thực hành di sản này trong các mối tương tác với các nhân tố: i) các cộng đồng chủ thể tham gia, ii) cách quản lý di sản và iii) chính sách di sản qua thời gian

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời cho vấn đề trên, chúng tôi đưa ra giả thuyết là văn hoá thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer sinh sống đang biến đổi, và sự biến đổi này chịu ảnh hưởng của những biến đổi trong việc thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà trên địa bàn huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

Trang 17

Các nguyên nhân của sự biến đổi của thực hành tín ngưỡng được phỏng đoán là: i) sự biến đổi của chủ thể thực hành di sản gồm cộng đồng người Khmer và các tác động qua quá trình cộng cư với người Việt, Hoa; ii) cách quản lý di sản; và iii) chính sách về di sản

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu của mình, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Hệ thống hoá tài liệu thứ cấp về thực hành di sản thờ Neak Tà của người Khmer ở Tây Nam Bộ nói chung, ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nói riêng

- Khảo sát thực trạng thực hành di sản thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (thông qua quan sát tham gia, phỏng vấn sâu) Mục tiêu của khảo sát là để xem xét các thực trạng tín ngưỡng, đồng thời việc phỏng vấn sâu

về thực hành tín ngưỡng trong những năm đầu của thế kỉ XXI và thời gian gần đây

để thấy được biến đổi của thực hành di sản tín ngưỡng

- Phân tích các biến đổi văn hoá thể hiện qua việc thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

- Từ việc nghiên cứu những biến đổi trong cách thực hành thờ Neak Tà, Luận văn sẽ lý giải quá trình di sản hoá một hiện tượng văn hoá phi vật thể thông qua các cách thức thực hành đã tác động đến và gây ra những biến đổi văn hoá Các tác nhân dẫn đến biến đổi thực hành di sản tín ngưỡng sẽ được soi chiếu từ nhiều khía cạnh (cộng đồng, quản lý, chính sách); từ đó, nhận diện các các mặt tích cực nhằm bảo vệ

và phát huy giá trị di sản đối với đời sống cộng đồng

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích tài liệu thứ cấp: sưu tầm và đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, note hay trích các ý quan trọng để làm luận cứ khoa học

Trang 18

- Điền dã: quan sát, phỏng vấn sâu, thu thập tư liệu tại địa bàn huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

- Thảo luận nhóm: thảo luận nhóm được thực hiện với sự tham gia của người dân, các nhà quản lý địa phương về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

Để có cơ sở thảo luận, tác giả luận văn đã xây dựng bộ câu hỏi cần thiết, đi đến nhà dân ở các phum srok, hay cơ quan địa phương để phỏng vấn, trao đổi và ghi chép làm tài liệu cho đề tài

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Đóng góp về mặt khoa học:

Luận văn sẽ có đóng góp cho việc hiểu sâu hơn về di sản của người Khmer, góp phần vào việc hiểu sâu hơn về tập tục tín ngưỡng của đồng bào Khmer nhằm hướng tới xây dựng đời sống hài hoà các tộc người ở Duyên Hải

Kết quả của Luận văn là một trong những tài liệu cho các bạn đọc cũng như các học giả muốn nghiên cứu tìm hiểu về dân tộc Khmer nói chung, tín ngưỡng thờ Neak Tà và cụ thể là những ảnh hưởng, tác động qua lại của thực hành di sản của các cộng đồng dân tộc ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh

- Đóng góp về mặt thực tiễn:

Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học cho việc quản lý về thực hành di sản

ở địa phương

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, phần nội dung chính đề tài gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận

CHƯƠNG 2: Biến đổi trong cách thức thờ cúng Neak Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải

Trang 19

CHƯƠNG 3: Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hành tín ngưỡng thờ Neak

Tà của người Khmer ở huyện Duyên Hải

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tín ngưỡng và thực hành là một phần quan trọng trong đời sống của con người nói chung, người Khmer Tây Nam Bộ và người Khmer sinh sống ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nói riêng Vấn đề này đã thu hút dược sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Năm 1993, nhóm tác giả do Trường Lưu chủ biên xuất bản cuốn Văn hóa

người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (NXB Văn hóa Dân tộc) Công trình

này đã trình bày nhiều khía cạnh: tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình Tác giả có cái nhìn khái quát lớn

về văn hóa người Khmer, nhưng tác giả chưa đi sâu và làm sáng tỏ cách thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải

Năm 2004, công trình Một số vấn đề dân tộc và phát triển của tác giả Lê Ngọc

Thắng (NXB Chính trị Quốc gia) được xuất bản Trong công trình này, bên cạnh nội dung vai trò của người già, trưởng phum, sóc và sư sãi trong xã hội truyền thống dân tộc Khmer với việc phân tích vai trò của người già, trưởng phum, sóc và sư sãi trong

xã hội, tác giả cũng đã đề cấp đến các vấn đề đời sống văn hóa tín ngưỡng, trong đó,

có bàn đến lễ cúng Neak Tà Tuy nhiên, tác giả không nghiên cứu sâu về tín ngưỡng này và đề cập đến tín ngưỡng với tư cách là một di sản cần được bảo tồn

Năm 2011, nhóm tác giả do Phạm Thị Phương Hạnh chủ biên đã công bố công

trình Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắt văn hóa Việt Nam (NXB Chính

trị Quốc gia Sự thật) Tác giả đã mô tả một bức tranh toàn diện về văn hóa Khmer Nam Bộ qua các mặt: tín ngưỡng – tôn giáo, lễ hội, văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, nghề ngành truyền thống…Trong công trình này, tác giả chưa phân ranh giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo

Năm 2012, công trình “Diện mạo văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian Trà

Trang 21

Vinh” của nhóm tác giả Trần Dũng và tác giả Đặng Tấn Đức được xuất bản Công trình này gồm ba phần, phần một là vấn đề chung, phần hai là văn hóa dân gian làng ven biển Mỹ Long và phần ba là lễ hội cúng biển Mỹ Long Trong phần một, khi trình bày tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Việt, tộc người Hoa, tác giả dành khoảng 33 trang để nói về tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Khmer Trong 33 trang này, tác giả dành khoảng 15 trang để bàn về tín ngưỡng thờ Neak Tà ở tỉnh Trà Vinh Theo các tác giả của công trình này, tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Trà Vinh được kế thừa từ Bà la môn giáo qua thực hành tín ngưỡng của tín đồ phật tử

Ở đây, tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer cũng đã được phân tích trong so sánh với tín ngưỡng thờ thần thành hoàng của người Việt Đây là một công trình có

sự phân tích khá cặn kẽ tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer ở Trà Vinh, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của công trình là ở toàn tỉnh Trà Vinh, chưa tập trung vào tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải Tài liệu này có ý nghĩa hết sức quan trọng cho chúng tôi tham khảo khi thực hiện luận văn này

Năm 2013, Nguyễn Văn Lượm đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ Tín ngưỡng

dân gian của người Khmer ở huyện Trà cú, tỉnh Trà vinh và sự biến đổi của nó trong cuộc sống đương đại (Đại học Trà Vinh) Luận văn tập trung nghiên cứu về tín

ngưỡng dân gian Khmer từ góc độ văn hoá học, phạm vi nghiên cứu là huyện Trà

Cú Kết quả nghiên cứu của luận văn này có những gợi ý hữu ích cho luận văn của chúng tôi

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ với đề tài: “Văn hóa Phum Sóc – Truyền thống và biến đổi (qua trường hợp

xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long)” Trong luận văn, tác giả nghiên cứu

về các vấn đề đời sống văn hóa như: nhà ở, phương tiện đi lại, các loại thực phẩm

ẩm thực và trang phục của người Khmer Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh, các phong tục và lễ hội của bà con Khmer Trong phần tín ngưỡng, tác giả có nghiên cứu tín ngưỡng Neak Tà về tha la Neak

Trang 22

Tà, tên các thần Neak Tà, cách thực hành nghi lễ tại xã Loan Mỹ huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long Tuy nhiên, Luận văn này không đề cập đến các vấn đề biến đổi di sản trong việc thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải Tuy vậy, nó được xem là tài liệu hữu ích cho luận văn này

Năm 2015, hai tác giả Lâm Quang Vinh và Tiền Văn Triệu đã biên soạn công

trình Lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ (Nhà xuất bản Khoa học xã hội)

Trong công trình của mình, tác giả đã khái quát về người Khmer Nam Bộ trên các bình diện như: số lượng dân cư, người gốc tộc người, đặc trưng dân trú, trang phục, nhà ở, tiếng nói và chữ viết, hôn nhân và gia đình, sân khấu, nghệ thuật dân gian của người Khmer Nam Bộ Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề cập đến đặc trưng văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ trên những khía cạnh như: tín ngưỡng tôn giáo, chùa trong văn hóa Khmer Nam Bộ và văn hóa lễ hội Tác giả cũng đi sâu vào việc mô tả lễ hội truyền thống của người Khmer Nam Bộ từ cái nhìn lý luận qua những luận điểm lớn và dưới góc nhìn văn hóa Đặc biệt trong chương hai, tác giả

có đề cập đến lễ cúng Neak Tà là lễ hội đặc trưng của người Khmer Nam Bộ Tác giả nêu lên được sự khác biệt, sự biến đổi Neak Tà xưa và nay của người Khmer toàn vùng Nam bộ Tác giả không nghiên cứu sâu về cách thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh Nhưng tài liệu này thật sự

có giá trí và có ý nghĩa quan trọng cho việc làm luận cứ nghiên cứu luận văn này

Năm 2018, tác giả Thạch Thị Rọ Mu Ni hoàn thành khóa luận thạc sĩ với đề tài “Lễ Vật Sla-tho Của Người Khmer Nam Bộ (qua khảo sát tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)” Ngoài việc nghiên cứu về cách thức chế tác các loại sla-tho, cách

sử dụng và ý nghĩa của nó, tác giả còn đề cập đến các tín ngưỡng dân gian Từ trang

16 đến trang 18, tác giả có miêu tả cách tổ chức lề thờ Neak Tà một cách chung chung Nhưng tác giả không đề cập đến sự thay đổi trong cách thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà ở huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh Tài liệu này cũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện luận văn này

Trang 23

Năm 2020, Trần Thiện Thiên Thanh đã hoàn thành luận văn thạc sĩ văn hóa học về “Tín ngưỡng thờ Néak Tà của cư dân ấp Ba Se B, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, Tỉnh Trà Vinh” Trong luận văn này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề hiện nay của cộng đồng cư dân Ba Se B như về niềm tin và sự thực hành tín ngưỡng thờ Néak Tà, bên cạnh đó tác giả còn nói lên những biến đổi trong việc thực hành thờ Néak Tà và nguyên nhân biến đổi ấy Đồng thời tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Néak Tà của cư dân ấp Ba Se Tài liệu này nghiên cứu trong phạm vi ấp Ba Se xã Lương Hòa huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, không phải trong huyện Duyên Hải Đây cũng là tài liệu có ý nghĩa khá quan trọng đối với luận văn trong việc tham khảo về hiện trạng thực hành tín ngưỡng, các yếu tố dẫn đến những biến đổi đó

Bên cạnh đó, một loạt công trình nghiên cứu của Viện Dân tộc học (Vương Xuân Tình, Vũ Đình Mười, Lê Thị Hường…) nghiên cứu về người Khmer và các cộng đồng xuyên quốc gia trong đó có các nghiên cứu về người Khmer mới xuất bản gần đây Đây cũng là các công trình có giá trị gợi ý quý báu cho việc triển khai nội dung luận văn của chúng tôi

Nhìn chung, thời gian qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian – tín ngưỡng thờ cúng Neak Tà của đồng bào Khmer, nhưng tất cả các công trình đều chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về biến đổi văn hoá thông qua việc thực hành di sản tín ngưỡng này nói chung, ở huyện Duyên Hải nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu từ góc độ văn hoá học về tín ngưỡng thờ Neak Tà

và một số biến đổi từ góc độ văn hoá học sẽ là những gợi ý để chúng tôi thực hành luận văn này từ mã ngành Di sản học Cụ thể là, thông qua các khía cạnh của thực hành tín ngưỡng di sản (chủ thể cộng đồng, quản lý di sản, chính sách di sản), Luận văn sẽ nhận diện những biến đổi văn hoá đã và đang xảy ra từ quá trình thực hành

di sản và di sản hoá tín ngưỡng này

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 24

1.2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

- Biến đổi văn hoá:

UNESCO đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Trần Ngọc Thêm lại coi “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [38, tr10] Tóm lại, văn hóa là bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác

Lịch sử cho ta thấy văn hóa luôn luôn vận động và phát triển thông qua quá trình giao lưu và tiếp nhận các nền văn hóa khác nhau Những thay đổi về biểu đạt văn hoá của một cộng đồng chủ thể thực hành văn hoá theo thời gian so với các biểu đạt trước đây Trong quá trình đó, bản sắc văn hóa dân tộc luôn phát huy giá trị và khắc chế những khuyết điểm của mình để phù hợp với xu thế và thực tại của cộng đồng thực hành văn hóa Chẳng hạn khi nghiên cứu về phong tục, lễ hội của người Khmer Nam Bộ, người nghiên cứu sẽ tìm hiểu những biến đổi của phong tục, lễ hội của truyền thống và hiện tại Do những biến đổi xã hội, biến đổi hình thức kinh tế nên các phong tục lễ hội cổ truyền của người Khmer Nam Bộ cũng thay đổi theo

- Giao lưu văn hoá: Giao lưu văn hóa là khái niệm để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp

và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc về phong tục, tôn giáo, nghệ thuật, cách thức tổ chức và quản lí xã hội, đặc biệt là khoa học kĩ thuật Trong quá trình phát triển của một quốc gia, dân tộc, cộng đồng, hiện tượng giao lưu văn hoá là khó tránh khỏi Nghiên cứu về vấn đề này ở phạm vi tỉnh Trà Vinh, Trần Dũng viết:

“diện mạo tín ngưỡng và lễ hội dân gian cộng đồng các dân tộc Trà Vinh được quy định bởi tín ngưỡng và lễ hội dân gian mang tính cội nguồn của từng tộc người và được quy định bởi yếu tố địa văn hóa đặc trưng của vùng đất cũng như sự giao lưu,

Trang 25

tiếp nhận tiếp biến lẫn nhau giữa các thành tố tín ngưỡng và lễ hội dân gian của các dân tộc cộng cư.” [9, tr26]

- Tín ngưỡng: Văn hoá có một bộ phận quan trọng là “tín ngưỡng Tín ngưỡng

là một phạm trù thuộc đời sống tinh thần của các tộc người, là các vấn đề tâm linh tốt đẹp và hữu ích mà được người đời nương theo và thực hành Theo điều 2, Luật

Tôn giáo và tín ngưỡng Việt Nam (2016), Tín ngưỡng được giải thích: “Tín

ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền

với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân

và cộng đồng”.[58] Tín ngưỡng thờ Neak Tà là tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Khmer Khởi thuỷ, Neak Tà mang tính chất là thần hộ trì nông nghiệp và được người Khmer cúng bái từ rất sớm Trong ngôn ngữ Khmer, “Neak” là đại từ nhân xưng số ít, là một danh xưng vốn để chỉ một người nam có tài có đức, người

có uy tín Vì thế, “Neak Tà” có khi còn được goi là là “Lục Tà” Sau này, từ “Neak”

ở đây còn là từ dành cho nữ giới như neak mè (mẹ), neak kru (cô giáo)… “Tà” trong văn hóa Khmer là từ chỉ người đàn ông cao tuổi, hay nó còn dành riêng cho người đàn ông phát nguyện giữ bát quan trai giới dù còn nhỏ tuổi, vì thế, những người này vẫn được gọi là “Tà” “Neak Tà” thường được người Việt gọi là ông Tà Theo Tăng thống Chuon Nat thì; “អ្នកជីតា។ ពាកយសម្រាប់ហៅភូតបិសាចម្របុសឬហេពារកសម្របុសដែលានខ្ទម ឬហោងអាម្រសមជាលំហៅឬឥតលំហៅយ៉ាងហ ោះក៏ាន។ល។ ហ ើងអ្នកតា ម្របជ ំគ្ននហ្វើសក្ការៈចំហពាោះអ្នកតា ហែើមបីគំ ប់អ្នកតាឬស ំេឹកហភលៀងអ្នកតាជាហែើម។”[74, tr1855]Dịch là: Neak Tà hay Neak Chi

Tà Danh xưng để gọi tên một loại quỷ dạ xoa hay tên một thần hộ pháp mà đôi khi

có hoặc không có cái chòi là nơi cư ngụ Lễ Lờn Neak Tà là tụ hợp lại làm lễ cúng ông Tà để làm hài lòng ông ấy hay để cầu xin nước mưa Qua các khái niệm trên cho

ta thấy, “Neak Tà” là một vị thần bảo hộ phum srok, thần nông nghiệp

- Tín ngưỡng thờ Neak Tà: Về tín ngưỡng thờ Neak Tà, Dhammabatthakathā

- một kinh điển Phật giáo - kể rằng: có một cặp cô gái là vợ lớn và vợ bé trong một

Trang 26

gia đình, ban đầu hai cô vợ ấy thuận hòa, thời gian sau, khi có con thì họ lại mâu thuẫn với nhau Rồi họ tìm cách gây hại nhau cho đến khi chết Khi chết hai người đều phát lời nguyền là sẽ hại nhau và những đứa con của nhau, không cho ai một trong hai người được làm mẹ Họ cứ luân phiên hại nhau như vậy qua nhiều đời nhiều kiếp Và một kiếp kia, một cô được sinh làm người và một cô sinh thành dạ xoa chuyên ăn thịt người Một hôm cô được sinh làm người lập gia đình và sinh được đứa con đầu lòng Người mẹ có linh tính là sự nguy hiểm đang rình rập vì dạ xoa đang theo dõi tìm ăn con của mình Người mẹ ấy hay biết Đức Phật – người có thể cảm hóa được dạ xoa - đang ở một nơi không xa Cô ấy bế con chạy về hướng Phật Và dạ xoa cũng chạy theo đến chỗ ngự của Đức Phật Đức Phật thuyết giảng

về luật nhân quả oan oan tương báo sẽ không bao giờ dứt, chỉ có không hận thù mới diệt được hận thù Sau bài pháp ấy, hai cô ấy đã thuận hòa lại và về sống chung với nhau Nhưng do kiếp nhân sinh khác nhau nên dạ xoa không ở được trong nhà Gia chủ cho dạ xoa ở phía sau nhà Từ khi gia chủ được dạ xoa phù hộ thì mùa màng năm nào cũng được mùa, bội thu Những năm hạn hán hay những năm ngập lụt, gia chủ ấy đều gieo sạ thích hợp và luôn được mùa Dân tình xôn xao và kéo nhau qua học hỏi kinh nghiệm thì được gia chủ mách bảo là do dạ xoa phù hộ Mọi người cũng

rủ nhau đến thực hành cúng bái và cầu mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi Và họ cũng được mùa như ý nguyện Do không gian sinh hoạt phía sau nhà gia chủ nhỏ hẹp và có một số điều bất tiện nên gia chủ và dân làng mời dạ xoa đến ở nơi cuối làng và họ hứa hàng năm sẽ đến làm lễ trước mùa mưa hay trước vụ gieo sạ Người Khmer theo Phật giáo tin rằng, tín ngưỡng thờ Neak tà bắt nguồn từ khi ấy, tức là từ thế kỉ thứ VI trước công nguyên Từ đó cho đến nay, người Khmer Duyên Hải vẫn thực hiện tín ngưỡng thờ Neak Tà

Một câu chuyện về thần Neak Tà có nội dung “xin nước mưa” có liên quan

đến Phật giáo được kể trong Truyện cổ tích Khmer Truyện kể rằng, thời đức Bổn sư

Thích Ca Mâu Ni còn là Bồ tát, bấy giờ người đã hạnh phát nguyện Bồ tát cứu khổ

Trang 27

cứu nạn sinh, bèn làm con cá lóc Một thời, hạn hán kéo dài kéo dài, các sinh linh gần như mất sự sống Các loài thủy sinh cũng gặp tình trạng như vậy Một hôm, cá Lóc đế vương họp bàn kế sách Cá Lóc đế vương suy xét về các giới hạnh thiện nguyện của mình tự thấy trong sạch không chút lầm lỗi nên đã thành tâm phát nguyện: xin lễ bái tam bảo, giới hạnh của con trong sạch, không hề có ác tâm gây khổ đau cho ai khác, con xin phát nguyện cho trời mưa xuống để cứu sinh linh Việc

cá Lóc đế vương phát nguyện đã chấn động đến thiên đình và Trời Đế Thích khai thần nhãn soi chiếu nhân gian Trời Đế Thích hiểu được nỗi khổ lầm than của chúng sanh và lời phát nguyện của cá Lóc đế vương Ngài đã sai bảo thiên sư hạ thần hãy ban mưa xuống cứu sinh linh Do sự tích ấy, đầu mùa mưa, bà con Khmer làm lễ thờ cúng Neak Tà để để tưởng nhớ đến cá Lóc đế vương và để cầu mưa thuận gió hòa, lúa màu tốt tươi, hoa trái sum suê [70, tr140]

Một truyện cổ tích Khmer khác lại có cách giải thích Neak Tà có nguồn gốc

từ Trung Quốc Chuyện kể rằng, có gia đình bần nông chỉ có hai cha và con sống nương tựa vào nhau Một hôm, người cha qua đời, người con lo hậu sự cho cha và đem cha đi chôn ở chân núi khá xa, vì không dám đem chôn gần ngôi mộ của các phú hộ Lo hậu sự xong, người con thường đem cơm nước, hoa trái đi viếng cha Hôm ấy, trời mưa lớn quá, không quay về kịp, người con phải ngủ lại kế ngôi mồ của cha Đêm ấy, cậu trai trẻ nằm mơ được gặp cha và cha hỏi có ước nguyện gì không để cha giúp Hỏi đến lần thứ ba, linh hồn của người con mới trả lời với cha là con muốn trở thành thứ cao quý nhất mà ngay cả vua cũng phải cúi lạy con Người cha đồng ý giúp người con thực hiện ý nguyện Ông bảo con đi theo hướng bắc dọc theo sườn núi này và đi qua nơi ba dãy núi chụm lại, đi đến nơi có ba cây cổ thụ, chỗ cây cổ thụ có tản đá, cạnh cây ấy có tảng đá lớn bóng nhẵn, ngồi lên đấy, ước nguyện của con sẽ thành hiện thực Cậu trai trẻ làm theo như lời cha, đến gặp cảnh tượng như trong mộng và cậu ấy ngồi lên tảng đá nhẵn ấy Và chú ấy biến thành cục đá nhẵn nằm luôn trên tảng đá ấy Người ta đã lập miếu thờ ngay tảng đá ấy, gọi là

Trang 28

Neak Tà Hằng ngày, dân làng và quan quân từ tứ phương đều đến cúi đầu van vái cầu khẩn [69, tr99]

- Di sản tín ngưỡng: di sản tín ngưỡng là một phần của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm: các tập tục, lễ nghi, sinh hoạt tâm linh được mỗi người tin tưởng thực hành, tín ngưỡng và được bảo tồn, được trao truyền và được kế thừa qua nhiều thế

hệ cho đến nay và mai sau Một số di sản tín ngưỡng được được hợp thức hóa về mặt pháp lí và được ghi danh cấp tỉnh, cấp quốc gia hay thế giới Bên cạnh đó, một

số phong tục tập quán là bản sắc dân tộc, nét đặc trưng vùng miền được đón nhận, được thực hành và được lưu truyến đến tận hôm nay mà không được ghi danh thì đó

là di sản trong tâm thức, di sản trong nội tại của cộng đồng thực hành tín ngưỡng

Di sản là các yếu tố vật chất hay tinh thần có giá trị mà được nhiều thế hệ bảo tồn, thực hành, tín ngưỡng đang diễn ra Đó là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản Tín ngưỡng thờ Neak Tà là di sản văn hóa phi vật thể, là di sản trong quan niệm và thực hành của cộng đồng người Khmer, chưa phải là di sản được ghi danh Thực hiện luận văn này, tác giả muốn hướng tới mục tiêu là: góp tiếng nói trong việc ghi danh di sản tín ngưỡng này để có chính sách bảo vệ di sản cho cộng đồng người Khmer

- Thực hành di sản tín ngưỡng: các chương trình, các nghi lễ, các hoạt động, các lễ vật phục vụ trong nghi thức tâm linh tín ngưỡng được cộng đồng người dân tuân thủ thực hiện Do cách thức tổ chức sinh hoạt nên lễ thờ Neak tà cũng có một

số tên gọi khác nhau như: lễ lờn Neak Tà, lễ lờn Lục Tà, lễ komsan srok (lễ liên hoan), bun sammaki (lễ đoàn kết), bun khmêng (lễ bọn trẻ thơ), bun sôm thực phleang (lễ cầu mưa)

- Di sản hoá:

“Di sản hoá” là một khái niệm mới được đề xuất và thảo luận rộng rãi khi các Công ước của UNESCO về di sản được thực hiện trên phạm vi toàn thế thế giới Các

Trang 29

nghiên cứu về “di sản hoá” về mặt lý thuyết và thực hành ở Việt Nam chưa được bàn nhiều Trong công trình mới đây của Đại học Quốc gia Hà Nội, từ kết quả của Hội thảo khoa học về di sản học, một số nhà nghiên cứu đã bàn trực diện về vấn đề này Nguyễn Thị Hiền cho biết: “Di sản hóa (heritagization), về một khía cạnh nào

đó, nhấn mạnh một quá trình “tạo dựng” di sản, trao danh xưng cho các di tích, tòa nhà, địa điểm, danh lam thắng cảnh, đồ tạo tác, thực hành văn hóa Di sản đã được

đề xuất nghiên cứu như một quá trình hơn là một đối tượng, hay còn gọi là quá trình

di sản hóa Vào năm 1985, David Lowenthal nhấn mạnh di sản là một cách thức thu hút mọi thứ với cảm giác về lịch sử, và như là một quá trình di sản hóa về quá khứ David Harvey đề xuất rằng di sản nên được coi như một động từ liên quan đến hành động, quyền hạn và quyền lực của danh xưng và như là một quá trình (Harvey 2001)

Có thể nói, di sản hóa là một khái niệm có từ những năm 1980 khi các học giả bàn

luận về những sắc thái, khái niệm di sản và coi di sản như là một cái gì đó không chỉ

bản thân chính nó và còn là những quá trình, những hành động gắn trực tiếp với nó” [Nguyễn Thị Hiền, “Di sản hoá: quá trình tạo dựng di sản và thay đổi ý nghĩa, giá trị

của di sản”, In trong sách Kỷ yếu hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị di

sản văn hoá Việt Nam trong bối cảnh đương đại: thách thức và triển vọng, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2022, tr.28-40)

Trong công trình này, Mai Thị Hạnh cũng đã có bài viết bàn luận về khái niệm

“Di sản hoá” Mai Thị Hạnh cho biết: “Di sản hoá (heritagization) là khái niệm xuất hiện vào những năm 90 của thế kỉ XX Robert Hewison là người nhắc đến khái niệm

này đầu tiên trong cuốn sách “The heritage industry: Britian in a climate of decline”

(Công nghiệp di sản: Vương quốc Anh trong sự đi xuống) (1987)” [Mai Thị Hạnh,

“Di sản nên được coi là một động từ: những thảo luận lý thuyết xung quanh vấn đề

di sản hoá tôn giáo, tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam đương đại”, In trong sách Kỷ

yếu hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Việt Nam trong bối cảnh đương đại: thách thức và triển vọng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022,

Trang 30

tr.13-26] Trong bài viết này, tác giả Mai Thị Hạnh đã điểm các quan điểm về “di sản hoá”, theo đó, một cách hiểu đơn giản nhất mà Oscar Salemink (2014) cho là, di sản hoá hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là gắn cho các di tích và thực hành văn hoá danh hiệu di sản

Như vậy, trong luận văn này, việc thực hành văn hoá truyền thống tín ngưỡng thờ Neak Tà của người Khmer chính là một trường hợp nghiên cứu về quá trình di sản hoá, nghĩa là các thực hành di sản chưa được ghi danh này này sẽ là các bước trong quá trình để biến nó thành một di sản được ghi danh Chúng tôi cho rằng, trên con đường này, vai trò của cộng đồng là rất quan trọng, đồng thời, khi chưa bị áp lực của các danh hiệu di sản, việc thực hành của các cộng đồng sẽ là đối tượng nghiên cứu thú vị về tính sống động và tự nhiên của cộng đồng trong thực hành di sản

1.2.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

- Sơ lược về địa bàn huyện Duyên Hải:

Huyện Duyên Hải mãi đến năm 1981 mới được thành lập theo quyết định số 98-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Đến năm 2015, huyện Duyên Hải được điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập thị xã Duyên Hải theo Nghị quyết số 934/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa VIII Sau điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Duyên Hải có 07 đơn vị hành chính cấp xã gồm: 6

xã là Ngũ Lạc, Đôn Châu, Đôn Xuân, Long Khánh, Long Vĩnh, Đông Hải và 1 thị trấn là Long Thành, với 62 ấp khóm Trong đó, 04 đơn vị là Long Thành, Đông Hải, Long Khánh và Long Vĩnh là xã đảo Huyện Duyên Hải nằm về phía nam của tỉnh Trà Vinh, cạnh cửa Định An sông Hậu, phía đông giáp thị xã Duyên Hải, phía tây giáp huyện Trà Cú và huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc Trăng, phía nam giáp với Biển Đông, phía bắc giáp với huyện Cầu Ngang và huyện Trà Cú Duyên Hải là một huyện ven biển, có diện tích đất tự nhiên 31.373 héc ta, chiếm 9,21% so với tổng diện tích toàn tỉnh; với dân số dân số toàn huyện là 20.658 hộ dân, trong đó hộ người dân tộc

Trang 31

Khmer là 8.494 hộ, 36.612 nhân khẩu chiếm 41,11% so với tổng số hộ, tập trung chủ yếu là ở xã Ngũ Lạc, xã Đôn Châu, xã Đôn Xuân, xã Long Vĩnh và một số ít ở

thị trấn Long Thành

- Sơ lược về Dân tộc Khmer ở tỉnh Trà Vinh và huyện Duyên Hải:

Dân tộc Khmer là một trong ít trong 54 các dân tộc Việt Nam trên một triệu dân Gần 400 nghìn người và bà con đồng bào Khmer sống rải rác khắp các làng xã của Huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh Dân tộc Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer Người Khmer có ngôn ngữ và chữ viết riêng Đời sống văn hóa của họ cũng

có nét đặc sắc

Nhà của người Khmer thường xây bằng tre tầm vông và lợp bằng lá Nó thường thấp và khá rộng vì người Khmer sinh nhiều con Những năm gần đây, do đời sống kinh tế được cải thiện, bà con Khmer Duyên Hải cũng được tân trang lại nhà cửa được kiên cố Một số hộ khó khăn được hưởng chính sách giảm nghèo, các chính sách tạo công ăn việc làm và cũng đã được xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương Bà con Khmer Duyên Hải đa phần là nông dân gắn bó với ruộng vườn Đầu thế kỉ XXI, vẫn còn có thể bắt gặp các chú nông dân cùng đàn trâu, đàn bò của mình cày bừa gieo sạ Bà con lom khom cấy gặt và vận chuyển thành quả của mình lên đồng và về kho bằng đôi vai sức người hay bằng đàn gia súc hoặc họ phơi lúa thành từng dãy cao khoảng một mét dài thẳng tắp cho đến khi lúa khô hết họ mới chuyển

về tuốt lấy hạt Vài năm gần đây, nghề nông của bà con Khmer cũng được cơ giới hóa nhằm tăng năng suất lao động Cơ giới hóa đã dẫn đến hiện tượng các trâu hầu như biến mất trên địa bàn huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh; bò thì được chuyển sang nuôi lấy thịt Bên cạnh việc trồng lúa, bà con Khmer Duyên Hải còn trồng màu như: bắp, đậu phộng, rau cần, hành, ớt…; còn chăn nuôi: bò, lợn, gà vịt, tôm, tép, cá…;

và một vài hộ làm muối đã ngưng sản xuất Vì sống gần sông nước, bà con Khmer cũng tham gia đánh bắt thủy sản với các dụng cụ thô sơ dẫn đến năng suất không cao Ở một số xã như: xã Đôn Châu, xã Đôn Xuân huyện Duyên Hải, người Khmer

Trang 32

còn làm nghề mỹ nghệ như đan dát, dệt, mộc dụng…từ các nguồn tài nguyên là tre trúc mây lác có sẵn ở địa phương làm thành các vật dụng trong gia đình như bàn ghế, giường, thúng, rổ, thang…

Bà con Khmer Duyên Hải có đời sống văn hóa khá phong phú, đa dạng, riêng biệt Các nghi lễ theo vòng đời khá phong phú như: lễ Bòng Kok Thmup (Đầy Tháng), lễ Bong Khrup Khuap (sinh nhật), lễ Chôl Mlup, lễ xuất gia, À phìa phì phìa hay Cà (Đám cưới), lễ Chom rờn chun mìa dú (mừng thọ, khánh tế), lễ tang Bà con Khmer còn có các ngôi chùa là nơi quân tập để làm phước tạo thiện nghiệp, là nơi

tổ chức các lễ hội văn hóa tín ngưỡng truyền thống như lễ Ok Om Bok, lễ Sen Đôn

Ta, lễ Dâng Y Kathina, Tết Chol Chnam Thmay Bên cạnh nghi lễ Phật giáo, nghi

lễ vòng đời, có một nghi lễ lớn được tổ chức trong Phum Srok là lễ Lờn Neak Tà

Nơi mà bà con Khmer Duyên Hải sinh sống gọi là Phum Srok Phum Srok là đơn vị địa bàn mà bà con Khmer Duyên Hải hay gọi Nó có nghĩa là ấp, là đơn vị nhỏ nhất Nhưng bây giờ thì một ấp có thể có nhiều Phum Srok và ngược lại cũng

có một Phum Srok thuộc nhiều ấp Nó có thể giống hoặc khác nhau với đơn vị hành chánh của nhà nước Trong Phum Srok thường có đại diện ban quản trị chùa phụ giúp bà con Khmer trong việc ma chay hay các nghi lễ liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng Đó là các chú Achar, chú Nềy Vền Chùa thì có các vị sư sãi là bậc tôn kính của bà con Khmer Duyên Hải Trong chùa thì có Kru Chàu Ă Thí Cà (sư Cả nhất), kru sôth (sư cả phó), kru char (sư cả ba), các vị tỳ khưu, và các vị sadi Chùa Phật giáo nam tông Khmer là công trình tôn giáo đặc sắc mà phần chính gồm ngôi vi hia

là chánh điện, Sala tean (trai đường) và các công trình phụ là phòng sư cả, văn phòng, tăng xá, cốc thiền, trường học hay phòng đọc sách Các công trình thường lộng lẫy bởi các tiết họa hoa văn độc đáo của dân tộc Khmer có cả ông chằng bà chằng gác cổng canh chùa, các chim thần Krud hay Kin-no với tư thế nâng đỡ mái, rắn nhiều đầu hay rồng thường trang trí trên mái hay những nơi uốn éo nhằm tạo thẫm mĩ Đặc biệt hơn, đa phần các công trình thường sơn màu vàng – màu đặc trưng của các ngôi

Trang 33

chùa Khmer Nam tông

- Tín ngưỡng thờ Neak Tà trong đời sống hàng ngày:

Dân tộc Khmer nói chung và bà con dân tộc Khmer huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nói riêng, sống theo và mộ Phật giáo nên tính chất hiền hòa thân thiện, chân thật và chịu cực nhọc tốt Người Khmer mến khách nhưng đôi khi họ cũng hay ngỡ ngàng khi khách phương xa đến quê mình, đặc biệt là người có ngôn ngữ khác với họ thì họ hay e thẹn Cuộc sống của bà con thật đơn giản, gần gũi với ruộng vườn

và chùa chiền Cảnh tượng các nhà sư đến thăm viếng nhà bà con Khmer không có

gì xa lạ hay gây ngạc nhiên cho bà con Các vị sư được tiếp đón một cách tôn kính, nồng hậu Ngoài đồng áng và chùa chiền, bà con Khmer còn thực hiện một số tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng cổ truyền khác như cúng thần nông, gọi hồn lúa, thờ Neak tà… Tín ngưỡng thờ Neak tà mang ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống tinh thần của bà con Khmer huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tín ngưỡng thờ Neak

Tà xuất hiện và đồng hành cùng dân tộc từ rất sớm, thời khai hoang lập làng xóm Thời ấy khoa học kĩ thuật chưa phát triển, y tế phủ chưa rộng khắp hay các việc kiện tụng hết sức cầu kì phức tạp vụ thủ tục hành chính và tốn kém cho nên bà con Trong bối cảnh văn hoá xã hội như vậy, bà con người Khmer đã gửi niềm tin vào tín ngưỡng thờ Neak Tà bởi vị thần này đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, cấp bách của bà con

cư dân ở đây Như trời hạn hán kéo dài thì dân làng tổ chức lễ cầu mưa tại tha la Neak Tà rồi diễu hành đoàn quanh phum srok, vào diện kiến và làm lễ với Neak Tà Wot, xong thì đoàn diễu hành quay về Tha La Neak Tà làm lễ hồi hướng và kết thúc chương trình Dân làng bệnh, uống thuốc mãi không hết hay bệnh thường bị lặp đi lặp lại thì đi cúng Neak Tà cầu xin hết bệnh thế mà khỏi bệnh hẳn Những cuộc cãi

vã hay tranh chấp hoặc những cuộc vu oan thì họ sẽ dẫn nhau ra tha la Neak Tà để thề độc và có người gian ác đã chết ngay tại chỗ giúp bà con rõ sự tình Những việc cấp bách như vậy Neak Tà đã giúp họ, trấn an họ nên bà con luôn luôn nhớ ơn, luôn thực hành lễ thờ hằng năm không hề bỏ bê

Trang 34

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn bàn đến các vấn đề tổng quan để thực hiện luận văn Trong chương này, chúng tôi đã điểm các công trình nghiên cứu về vấn đề mà luận văn bàn tới, giới thuyết các khái niệm công cụ để triển khai nội dung luận văn Đồng thời, chương 1 cũng cung cấp các thông tin chính về địa bàn nghiên cứu

Kết quả của chương 1 là chỉ ra khoảng trống nghiên cứu, đặc biệt là giới thuyết

2 vấn đề quan trọng của luân văn là “di sản tín ngưỡng” và “di sản hoá” Đây là các khái niệm khá là mới mẻ, và chúng tôi hy vọng sẽ thực hiện phân tích chúng trong các dữ liệu về thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà trên địa bàn huyện Duyên Hải thông qua việc phân tích các biến đổi của nó

Trang 35

CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI TRONG CÁCH THỨC THỜ CÚNG NEAK TÀ TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở DUYÊN HẢI

Văn hoá nói chung, văn hoá tín ngưỡng nói riêng, luôn biến đổi theo các biến đổi của thời cuộc, chủ thể và các tác nhân khác Tín ngưỡng thờ Neak Tà như một

di sản đặc trưng của người Khmer cũng luôn nằm trong sự biến đổi Chương 2 của luận văn sẽ khảo sát sự biến đổi của thực hành di sản tín ngưỡng thờ Neak Tà từ các khía cạnh: cách thức thực hành, chủ thể thực hành và cách thức quản lý

2.1 Biến đổi về cách thức thực hành di sản

2.1.1 Biến đổi về không gian thực hành tín ngưỡng

Với tính chất khởi thuỷ là một tín ngưỡng nông nghiệp, tín ngưỡng thờ Neak

Tà có lẽ có từ rất sớm, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển mạnh và y khoa chưa

có sự phát minh lớn, dịch vụ y tế không rộng khắp Thời ấy, con người chưa am hiểu thiên nhiên, chưa chinh phục được thiên nhiên Và các nghi thức thực hành tín ngưỡng nhằm nài nỉ van xin hay cầu mong thiên nhiên thần thánh hiểu để thỏa các nguyện cầu về miếng cơm manh áo như mưa thuận gió hòa, được hoa quả và không giận dữ gây hại cho muôn dân

Qua thực tế điền dã và phỏng vấn bà con người Khmer ở Duyên Hải, không gian ban đầu của thực hành tín ngưỡng thờ Neak Tà rất đơn sơn nhỏ hẹp Nó chỉ là một cái chòi (còn gọi là tha la) nhỏ, diện tích khoảng nửa mét vuông và lợp bằng lá [H51] Có nơi được nhà chùa hỗ trợ gỗ, ngôi tha la được xây dựng khá khang trang bằng cột gỗ, kết cấu nhà sàn thấp và vẫn lợp bằng lá thì diện tích khá rộng khoảng sáu mét vuông hoặc lớn hơn Trong ngôi tha la ấy, Neak Tà (hay còn gọi là Lục Tà) được thể hiện ở đôi lúc trong hình dạng hòn đá, đôi lúc là hòn đất và có lư hương để mọi người thắp nhang dâng lễ Như trường hợp tha la Neak Tà ở ấp Trà Khúp xã Ngũ Lạc huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh, cách đây mười mấy năm, họ không vận động bà con tổ chức lễ thờ Neak Tà, họ chỉ đại diện vài người tổ chức chỉ một mâm

Trang 36

nho nhỏ gồm cơm nước bánh trái và chút thịt luộc Được vài năm thì họ không tổ chức nữa và họ đem cục đá nhẵn bỏ trong bụi tre Sau đó, Neak Tà báo mộng cho gia đình ông Hoàng bà Suông ở trong phum là phải dựng tha la cho Neak Tà thì mới chữa cho con hết bệnh Gia đình đã làm theo mộng báo của Neak Tà Do điều kiện kinh tế khó khăn nên ban đầu ngôi tha la chỉ được làm đơn sơ dựng cột bằng cây gỗ

và lợp tôn Tha la được xây dựng và đưa vào sử dụng vài năm thì xuống cấp và đổ

do gió bão Sau sự cố đó, gia đình được báo mộng ấy đứng ra vận động bà con trong gia tộc và chòm xóm xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép với tổng kinh phí hơn hai mươi triệu đồng Xây xong công trình, gia đình đại diện còn thiếu vài triệu tiền vật tư và gia đình đã phát tâm tự nguyện trả vài năm sau đó

Ở các phum, srok khác, nơi thờ Neak tà chỉ làm đơn đơn sơ bằng tre, tầm vông, lợp bằng tranh lá nên mỗi năm nó đều hư hại Và dân làng phải làm lại sau mỗi năm Cứ gần đến ngày làm lễ, trước lễ 1 tuần, các bô lão già làng nhờ thợ và trai tráng tình nguyện đi phụ dọn dẹp khuôn viên chung quanh nơi hành lễ và trùng tu sửa chữa hay làm mới tha la Thanh niên trai tráng trong xóm rủ nhau đi xin tre và tầm vông từ các hộ gia đình quanh tha la Neak Tà Trong các nguyên liệu dựng tha

la, phần lá hoặc tôn để lợp mái thì trong phum srok không có nên ban tổ chức phải mua ở chợ đem về lợp

Ngôi tha la Neak Tà thường được dựng lên nơi cuối srok (xóm), hoặc đầu srok, có khi là giữa srok và có khi là trong hốc chỉ có một lối nhỏ đi vào Như trường hợp nhà Neak Tà ấp Mồ Côi xã Đôn Châu huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh, ban đầu người dân dựng ở cuối srok, xây xong mà phum srok chưa thật sự bình yên họ lại xây ở giữa srok Họ xây tha la Neak Tà ở giữa srok xong mà phum srok họ chưa thực sự bình yên, xóm hay có sự việc chẳng may như mất trộm, hay có dịch bệnh, gia súc gia cầm hay chết không rõ nguyên do, gia cảnh làm ăn cứ thiếu thốn không khấm khá được thì người dân trong srok lại thống nhất dựng tha la Neak Tà ở đầu srok Cho đến nay, ấp Mồ Côi được bình yên và tha la Neak Tà được an bề đến tận

Trang 37

bây giờ.[H16]

Một trường hợp khác là ngôi tha la thờ Neak Tà ở ấp La Bang Chợ xã Đôn Châu huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh Ngôi tha la này thuộc quản lí của Chùa Chrey Khok, ban đầu tha la này xây ở gần đầu chợ Đôn Châu phía tây con kinh, sau đó dân làng lại dời nó đặt dựng ở bờ bên đông con kênh và đã có điều không an lành xảy ra với phum srok nên người ta đã đem tha la Neak Tà lại xây bên tây kênh Mới cách đây vài năm, do tranh chấp đất đai, chủ đất không cho xây tha la nữa nên tha la Neak

Tà đã dời về phía tây nơi cũ, được xây kiên cố trước nhà của một gia đình phật tử tình nguyện dâng đất.[H21]

Ngôi tha la Neak Tà ở ấp La Bang Chùa xã Đôn Châu huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh thuộc quản lý của chùa Sla Păng Khi dựng ngôi tha la này, bà con không hủy bỏ tha la cũ ở đây mà đã khiêng dời nó để qua một bên gần nơi cũ và xây thêm một tha la Neak Tà mới kiên cố đẹp đẽ hơn và mọi người thực hành lễ thờ Neak Tà tại ngôi tha la mới ấy.[H10] Ngôi tha Neak Tà ở ấp La Bang Chùa này nằm sát cạnh chùa Sla Păng – chỉ cách nhau một con đường quốc lộ, cũng nằm trên phần diện tích đất của chùa nhưng nằm ngoài hàng rào bao quanh khu khuôn viên chùa nên được người dân ở đây xem là tha la Neak Tà ngoài khuôn viên chùa Như vậy, tạị chỗ này

có 2 ngôi tha la thờ Neak Tà, một ngôi tha la trong chùa và một ngôi tha la ngoài khuôn viên chùa

Trước lễ vài ngày và sau lễ một hai tháng, khu tha la được dọn dẹp cho thoáng đãng Sau dịp lễ, cỏ cây lại mọc um tùm gây ra cảnh hoang sơ đầy huyền bí, gây ra cảnh ớn gáy cho khách lữ hành mỗi khi ngang qua Nhưng lối vẫn mòn vì cứ vài hôm lại có vài người ra vào, người thì van vái người thì trả lễ Khi trả lễ, họ chỉ dọn chỗ chưng lễ và hành lễ xong họ về Họ không dám động chạm đến những phần khác hay không gian ngoài chỗ ấy vì họ có quan niệm là sẽ làm Neak Tà không vui, sẽ dẫn đến hiện tượng là sẽ nằm thấy ác mộng hay gặp các chuyện không may mắn Nên dù có người ra vào, nơi thờ Neak Tà cũng vẫn giữ nguyên hiện trạng hoang sơ

Trang 38

Trong 2 thập kỷ đầu thế kỉ XXI, mức sống của bà con đã dần được nâng cao, bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật đã có những tiến triển vượt bậc Nhưng không vì thế

mà tín ngưỡng dân gian do cha ông để lại là món ăn tinh thần bị mất đi mà trái lại, nhu cầu về việc thực hành tín ngưỡng dân gian dần nâng mức hiện đại, cho nên ngôi tha la thờ Neak Tà cần sửa sang khang trang hơn cho phù hợp với nhu cầu của bà con thực hành tín ngưỡng này Những túp lều hay chòi nho nhỏ xinh xinh làm bằng tre tầm vông lợp bằng tranh lá nay đã thay bằng ngôi tha la xây bằng bê tông cốt thép và lợp bằng tôn Có vài phum srok xây dựng ngôi tha la còn có trang trí thêm hoa văn rất đẹp, hoa văn mang đậm chất hoa văn tiết họa văn chùa chiền có trang trí

cả nàng kinno xinh đẹp Và điều đặc biệt hơn nữa, các ngôi tha la trong hẻo lánh được dân chúng đồng lòng dời đô cho về xây dựng tại các nơi gần đường lớn, gần mặt tiền hay chỗ có thể diễn ra buổi lễ một cách trang nghiêm và rộng rãi hơn

Ngôi tha la thời trước bằng chòi hay túp lều dựng bằng tre tầm vông và lợp bằng tranh lá chỉ có vài cục đá đôi khi hơi nhẵn thì dần về những năm cuối hai thập niên đầu của thế kỉ XXI, ngôi tha la bên cạnh giữ nguyên các hòn đá còn được bổ sung thêm hình một ông cụ đạo sĩ với bộ trang phục quần áo trắng khăn choàng hở vai phải Đó không phải là ngoại nhập hay ngoại lai, mà nó là kết quả của trí tưởng tượng: Lục Tà chắc chắc là một ông cụ cao tuổi, tóc trắng, có bộ râu và phải có cây gậy Một số phum srok chỉ vẽ hình thôi, và một số nữa thì họ khắc hẳn luôn một cái tượng Hiện trạng của ngôi tha la và bài trí phù hợp với xu thế phát triển của nhận thức, của xã hội: phát triển từ trừu tượng đến hiện thực Nhưng có một điều nghịch

lý ở đây là: “Neak” chỉ danh xưng cho nam lẫn nữ mà đến khi vẽ hình hay khắc tượng Neak Tà thì lại toàn là nam nhân

Qua khảo sát thực tế thì toàn huyện Duyên Hải, chúng tôi nhận thấy có 14 ngôi chùa Nam tông Khmer là nơi sinh hoạt tâm linh của bà con dân tộc Khmer quanh vùng Ngoài ngôi chùa thì trên địa bàn huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh có 51 ngôi tha la Neak Tà và 01 ngôi tha la Neak Tà trong chùa được bà con Khmer trong

Trang 39

huyện tụ tập lại để tổ chức lễ thờ một năm một lần Trong đó:

STT

Số lượng ngôi tha la Neak Tà

(chùa Bông Sen)

thị trấn Long Thành

Chùa quản lý ít ngôi tha la nhất là chùa Tro Păng Chhuk (Chùa Bông Sen) chỉ có 01 ngôi tha la Và chùa quản lý nhiều ngôi tha la nhất là chùa Rum Đuôl thuộc

xã Đôn Xuân, có 15 ngôi tha la Neak Tà Chỉ duy nhất ngôi tha la Neak Tà trong chùa Rum Đuôl xã Đôn Xuân huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh được bà con Khmer quanh vùng tụ họp để tổ chức lễ lờn Neak Tà và là ngôi tha la Neak Tà duy nhất tổ

Trang 40

chức lễ trước Lễ Chịu Tuổi – Tết Cổ truyền của dân tộc Khmer

Trong đó, ngôi tha la Neak Tà ấp Sóc Ớt thuộc chùa Pro Khúp Ngũ Lạc đã mất, do chủ đất trước là người Khmer chuyển quyền sử dụng đất cho người khác và

do có một con kênh mới đi sát nền tha la Neak Tà quá dẫn đến tha la Neak Tà bị sập

Và bà con trong phum srók này không đồng lòng xây lại Vì khi không có tha la Neak Tà mà phum srok vẫn bình yên nên họ không nhất thiết phải dựng lại Theo ý kiến cá nhân người viết thì mình nên xây lại: một là để có dịp tạo phước tích đức thể hiện người có căn thiện lành, hai là để có cơ hội sum họp mọi người trong vùng đoàn kết lại hay để có tiếng nói chung trên diễn đàn nào đó Và hai ngôi tha la ở ấp Bàu Môn thuộc chùa Đom Bon Bak, một ngôi nằm ở đầu xóm [H18] và một ngôi nằm ở giữa xóm [H19] đã ngưng hoạt động nhưng vẫn còn tàn tích Ngưng hoạt động vì có trường hợp hy hữu, thời trước chương trình hoạt động bình thường, khi trưởng ban

là lão cụ qua đời thì bầu tân trưởng ban Và tân trưởng ban ấy đứng ra tổ chức lễ thờ Neak Tà xong, về nhà ngủ và qua đời luôn nên những năm sau đó người dân ở đây không dám đứng ra tổ chức nữa Và ngôi tha la ấy đã bị dỡ mái, thay vào đó là mái của tiệm sửa xe bao trùm luôn tường và nền tha la Neak Tà Trong chuyến điền dã

ở ngôi tha la này, tôi gặp trực tiếp chủ tiệm sửa xe Khi tôi hỏi thì chú ấy bảo là “đất này là đất gia đình chú, bà con xin dựng tha la Neak tà gia đình cũng hoan hỷ cho bà con xây để cùng nhau thờ phụng tạo phước lập công đức để phum srók được yên vui Do bà con không còn quần tụ lại tổ chức lễ nữa nên chú ấy đã cải tạo nó thành tiệm sửa chữa xe”

Đa phần lễ thờ Neak Tà được tổ chức ở phum srok nơi có tha la Neak Tà Đặc biệt, ngôi tha la thờ Neak Ta Wot tuy có trong chùa chỉ để bà con có nhu cầu thì vào làm lễ thôi chứ không tổ chức lễ thờ đình đám như ở trong phum srok Ở huyện Duyên Hải, chỉ duy nhất tha la Neak Tà Wot trong chùa Rum Đuôl thuộc xã Đôn Xuân huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh được bà con vân tập lại để tổ chức lễ thờ Neak

Ngày đăng: 07/12/2024, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Danh mục hồ sơ thực hiện đề cương luận văn - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 2 Danh mục hồ sơ thực hiện đề cương luận văn (Trang 134)
11  Bảng điểm tích lũy trong chương trình đào - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
11 Bảng điểm tích lũy trong chương trình đào (Trang 135)
Bảng 3: Danh mục hồ sơ quá trình thực hiện luận văn - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 3 Danh mục hồ sơ quá trình thực hiện luận văn (Trang 135)
Bảng 4: Danh mục hồ sơ đề nghị cho phép bảo vệ luận văn - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 4 Danh mục hồ sơ đề nghị cho phép bảo vệ luận văn (Trang 135)
Bảng 6: Danh mục hồ sơ sau bảo vệ luận văn - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 6 Danh mục hồ sơ sau bảo vệ luận văn (Trang 136)
Bảng 5: Danh mục hồ sơ họp Hội đồng đánh giá luận văn - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 5 Danh mục hồ sơ họp Hội đồng đánh giá luận văn (Trang 136)
4  Bảng điểm tích lũy trong chương trình đào - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
4 Bảng điểm tích lũy trong chương trình đào (Trang 136)
Bảng 7: Danh mục hồ sơ đề nghị công nhận học vị và cấp bằng thạc sĩ - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Bảng 7 Danh mục hồ sơ đề nghị công nhận học vị và cấp bằng thạc sĩ (Trang 137)
Hình thức đào tạo: chính quy - Biến Đổi văn hoá trong thực hành di sản tín ngưỡng trường hợp thực hành thờ neak tà của người khmer Ở huyện duyên hải, tỉnh trà vinh
Hình th ức đào tạo: chính quy (Trang 148)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm