Bảo tồn và phát huy giá trị di sản chiến trường lịch sử từ cách tiếp cận di sản sống chiến trường Điện biên phủ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐÀO DUY TRÌNH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN CHIẾN TRƯỜNG LỊCH SỬ TỪ CÁCH TIẾP CẬN DI SẢN SỐNG - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP DI TÍCH CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
LUẬN VĂN THẠC S DI SẢN HỌC
Hà Nội-2023
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
ĐÀO DUY TRÌNH
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN CHIẾN TRƯỜNG LỊCH SỬ TỪ CÁCH TIẾP CẬN DI SẢN SỐNG - NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP DI TÍCH CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận án cao học Bảo tồn, phát huy giá trị di sản chiến trường lịch sử từ cách tiếp cận di sản sống - Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ là do tôi viết và chưa công bố Các trích dẫn, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm
về lời cam đoan này
Tác giả
Đào Duy Trình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Sở, đồng nghiệp các phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Quản lý Di sản Văn hóa, Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ tôi có
thêm tư liệu để làm hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý thầy, cô hiện đang giảng
dạy tại Khoa các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người
truyền đạt kiến thức hữu ích, làm cơ sở cho tôi thực hiện luận văn này
Đặc biệt tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy TS Vũ Đường Luân đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã luôn tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Tôi tin chắc rằng luận văn này không thể tránh khỏi những điều sai sót và hạn chế, tôi kính mong nhận được sự thông cảm, những lời nhận xét và đóng góp của Quý thầy cô
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ VHTTDL: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
UBND: Uỷ ban nhân dân
ICOMOS : Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế
ICOM: Tổ chức bảo tàng thế giới
Nxb : Nhà xuất bản
PVT : Phi vật thể
UNESCO : United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc)
VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 8 1.1 Tổng quan nghiên cứu 8
1.1.1 Nghiên cứu bảo tồn di sản chiến trường lịch sử trên thế giới 8
1.1.2 Nghiên cứu về di sản chiến trường lịch sử ở Việt Nam và di tích chiến trường Điện Biên Phủ 12
1.2 Bảo tồn di sản và một số tiếp cận về bảo tồn di sản văn hóa 17
1.2.1 Câu hỏi của vấn đề bảo tồn di sản 17
1.2.2 Tiếp cận bảo tồn dựa vào vật chất 19
1.2.3 Cách tiếp cận bảo tồn dựa trên giá trị 21
1.3 Tiếp cận bảo tồn di sản sống: Từ lý thuyết đến thực hành 26
1.3.1 Nguồn gốc và bối cảnh ra đời 26
1.3.2 Khái niệm, nội dung và các nguyên tắc cơ bản 28
1.4 Di sản chiến trường lịch sử và tiếp cận bảo tồn di sản sống 38
1.5 Tiểu kết 41
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ TỪ TIẾP CẬN BẢO TỒN DI SẢN SỐNG 43
2.1 Sự hình thành di sản và quá trình phát triển 43
2.1.1 Khái quát về di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ 43
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 46
2.2 Thực trạng hoạt động bảo tồn di sản nhìn từ tiếp cận di sản sống 50
2.2.1 Bảo tồn tính liên tục về không gian và chức năng 51
2.2.2 Bảo tồn tính liên tục của cộng đồng lõi 59
2.2.3 Bảo tồn tính liên tục của hoạt động chăm sóc bảo vệ 62
Trang 72.2.4 Bảo tồn biểu đạt di sản văn hóa vật thể và phi vật thể 63
2.3 Thực trạng phát triển du lịch và phát huy giá trị di sản 67
2.4 Tiểu kết 72
CHƯƠNG 3 BẢO TỒN DI SẢN SỐNG TẠI DI TÍCH CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN BIÊN PHỦ: THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 74
3.1 Thách thức cho tiếp cận di sản sống 74
3.1.1 Vai trò tuyệt đối của nhà nước trong các hoạt động bảo tồn di sản 74
3.1.2 Đô thị hóa và sự thay đổi không gian, cư dân 77
3.1.3 Thay đổi quan niệm và vấn đề thuyết minh di sản 80
3.1.4 Vấn đề biểu đạt văn hóa 81
3.2 Định hướng phát triển 82
3.2.1 Định hướng quy hoạch và hạn chế tác động của đô thị hóa 82
3.2.2 Mở rộng các hình thức biểu đạt văn hóa liên quan đến di sản 84
3.2.3 Xây dựng thể chế quản lý nhằm gia tăng vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản 86
3.2.4 Đa dạng hóa nguồn vốn và thúc đẩy xu hướng xã hội hóa trong bảo tồn di sản 90 3.2.5 Thúc đẩy và mở rộng truyền thông di sản 92
3.2.6 Số hóa và ứng dụng khoa học công nghệ trong các hoạt động nghiên cứu và giới thiệu di sản 95
3.3 Tiểu kết 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng cắm mốc, khoanh vùng, giải toả và rà phá bom mìn các địa điểm
di tích chiến trường Điện Biên Phủ 53
Bảng 2.2: Số lượng khách du lịch tại di tích chiến trường Điện Biên Phủ 69
2016-2021 69
Bảng 2.3 Số khách du lịch thăm quan chiến trường Điện Biên Phủ 70
theo từng địa điểm, 2016-2021 70
Bảng 2.4 Mục đích đến thăm di tích chiến trường Điện Biên Phủ 71
của khách du lịch 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý o họn đề tài
Lịch sử dựng nước đi liền với giữ nước đã để lại cho dân tộc Việt Nam kho tàng di sản văn hoá quân sự phong phú Di sản văn hoá quân sự Việt Nam được tích hợp từ những giá trị văn hoá quân sự tiêu biểu, hình thành và phát triển trên cơ sở những nhân tố nền gốc về tiền đề địa lý tự nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội và tâm thức văn hoá đặc trưng của người Việt Cấu trúc
di sản văn hóa quân sự Việt Nam được phát triển bao gồm nhiều loại hình vật thể và phi vật thể có nôi dung và phạm vi rộng lớn, song một trong những loại hình có tính chất trực quan và được biết đến nhiều nhất lại là các
đó là quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa của đất nước, các thế hệ đã từng tham gia các cuộc chiến tranh không còn nữa, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích chiến trường đang đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi những cách tiếp cận sáng tạo vừa đảm bảo các nguyên tắc bảo tồn di sản văn hóa song vẫn có khả năng thích ứng với sự thay đổi của xã hội hiện đại
Di tích chiến trường Điện Biên Phủ là một trong không nhiều các di tích chiến trường có giá trị đặc biệt của hệ thống di tích chiến trường ở Việt
Trang 10Nam không chỉ bởi di tích này được nhà nước công nhận là một trong những di tích đặc biệt của quốc gia mà còn bởi đây là một trong những di tích có quy mô lớn và sớm nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam; đồng thời cũng là một di tích chiến thắng mang ý nghĩa biểu tượng của thời đại về việc mở ra một thời kỳ tan rã và chấm dứt chế độ thực dân kiểu cũ trên phạm vi toàn thế giới Trong gần bảy thập kỷ vừa qua, nhà nước
và chính quyền địa phương đã có nhiều kế hoạch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích này thông qua các kế hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích được thể hiện qua nhiều văn bản hành chính cho đến các chương trình hành động Vào năm 2003, chính quyền tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) đã chủ động xây dựng, báo cáo các bộ ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Dự án tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử Chiến thắng Điện Biên Phủ”, với mục tiêu chính là “ghi nhận, vĩnh cửu hóa các di tích liên quan đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã được công nhận và xếp hạng Dự án sau khi được triển khai đã đem lại những hiệu quả nhất định trong việc duy trì các hoạt động bảo vệ di tích
Dù vậy, do hạn chế nguồn lực đầu tư và khó khăn vướng mắc về cơ chế quản lý, nên công tác đầu tư bảo tồn, tôn tạo chưa đồng bộ, đầy đủ, chưa xứng với ý nghĩa và tầm quan trọng; phần lớn môi trường, cảnh quan khu di tích chưa được khôi phục; chưa thể hiện được đầy đủ bối cảnh chiến trường Trong khi đó, tốc độ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong khi di tích chiến trường Điện Biên Phủ nằm dày đặc ở trung tâm thành phố Điện Biên Phủ cũng tác động đến việc bảo tồn, tôn tạo di tích Tuy nhiên, những vấn đề đặt
ra đối công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích chiến trường Điện Biên Phủ cũng là thực trạng chung của các di tích chiến trường ở Việt Nam nói riêng và trên phạm vi toàn thế giới nói riêng Các chiến trường trải qua hàng trăm năm lịch sử không những đã mất đi không gian nguyên gốc của nó mà bản thân cộng đồng cư trú trên di sản hầu như không còn mối liên hệ gì với các câu chuyện lịch sử đã trải qua Ngoài ra, với ý nghĩa là di sản của chiến
Trang 11tranh, di tích chiến trường cũng là điều mà một số cộng đồng không muốn
đề cập và khôi phục
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị của di sản chiến trường dựa trên áp dụng một số lý thuyết mới của di sản học được phát triển gần đây mà cụ thể là bảo tồn di sản theo tiếp cận di sản sống - một quan điểm về bảo tồn di sản được các khoa học và các thể chế bảo tồn di sản trên thế giới đề xuất và thực hiện trong khoảng hai thập kỷ vừa qua là một những cố gắng của tác giả luận văn nhằm giới thiệu và gợi ý định hướng cho việc phát triển bảo tồn di tích chiến trường Điện Biên Phủ Bằng phương thức này, luận văn không chỉ đề xuất những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động bảo tồn các di tích chiến trường ở Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy việc trao đổi kinh nghiệm và thực tế về bảo tồn di sản chiến tranh trong các thảo luận nghiên cứu về di sản trên thế giới
2 C u hỏi nghiên ứu
Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết của tiếp cận di sản sống trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng như quá trình và thực tiễn của hoạt động bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử chiến trường Điện Biên Phủ hiện nay, luận văn hướng tới việc trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau:
- Quan điểm và nội dung của cách tiếp cận di sản sống trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản là như thế nào và khả năng áp dụng trong việc bảo tồn di tích chiến trường ra sao?
- Thực trạng hoạt động bảo tồn tôn tạo tại di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ hiện nay được thực hiện như thế nào và có phù hợp với cách tiếp cận bảo tồn di sản sống hay không? Hiệu quả và các vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích chiến trường Điện Biên Phủ là gì?
- Những vấn đề thách thức đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản chiến trường theo tiếp cận di sản sống là gì và những định hướng nào cần đề xuất trong thời gian tới?
Trang 123 Mụ đí h và nhiệm vụ nghiên ứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ nội dung và các yêu cầu đặt ra đối với cách tiếp cận di sản sống trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản cũng như khả năng áp dụng trong bảo tồn di sản chiến trường lịch sử
- Phân tích và đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại di tích chiến trường Điện Biên Phủ dưới lăng kính tiếp cận bảo tồn di sản sống
- Làm rõ những thách thức đặt ra cũng như các định hướng phát triển của việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ trong việc áp dụng tiếp cận bảo tồn di sản sống
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với cách tiếp cận nghiên cứu của lĩnh vực di sản học, luận văn hướng tới việc thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận văn tập trung làm rõ tổng quan về vấn đề nghiên cứu trong đó thực hiện phân tích và đánh giá một cách khái quát về các nghiên cứu liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản chiến tranh trong đó có các di tích chiến trường ở Việt Nam và trên thế giới trong đó nhấn mạnh đến di tích chiến trường như một loại hình đặc biệt trong nghiên cứu di sản học
Thứ hai, luận văn sẽ đi sâu giới thiệu, phân tích tiếp cận di sản sống như một cách tiếp cận lý thuyết đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị
di sản trên thế giới Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu các mô hình lý thuyết và thực tiễn của việc áp dụng cách tiếp cận di sản sống, luận văn sẽ chỉ ra những tác động tích cực và hạn chế của tiếp cận di sản sống Ngoài
ra, tác giả cũng phân tích hiệu quả cũng như bài học kinh nghiệm của việc
sử dụng tiếp cận di sản sống trong các hoạt động thực hành bảo tồn di sản chiến trường trên thế giới và khả năng áp dụng đối với di tích chiến trường
ở Việt Nam
Trang 13Thứ ba, thông qua việc phân tích lịch sử hoạt động, bảo tồn tôn tạo ở
di tích chiến trường Điện Biên Phủ, tác giả luận văn sẽ cung cấp cho độc giả một bức tranh toàn diện về hoạt động bảo tồn di sản đồng thời đưa ra các phân tích trong việc đánh giá hiệu quả của thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản tại đây từ góc nhìn tiếp cận di sản sống
Cuối cùng, thông qua thực trạng hoạt động bảo tồn ở di tích chiến trường Điện Biên Phủ, tác giả luận văn sẽ phân tích các thách thức đặt ra cũng như các định hướng phát triển đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị
di sản chiến trường Điện Biên Phủ từ tiếp cận di sản sống
4 Đối tượng và phạm vi nghiên ứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di
tích chiến trường lịch sử từ tiếp cận di sản sống thông qua trường hợp di tích chiến trường Điện Biên Phủ Cụ thể bao gồm các đối tượng sau
- Lý thuyết và nội dung của tiếp cận di sản sống và việc áp dụng trong bảo tồn di tích chiến trường
- Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị ở di tích chiến trường Điện Biên Phủ và các vấn đề đặt ra từ tiếp cận di sản sống
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu toàn diện nội hàm bảo tồn, tôn tạo và phát
huy giá trị di sản văn hóa gắn với di tích lịch sử quốc gia đặc biệt chiến trường Điện Biên Phủ từ năm 1958 đến nay
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên ứu
5.1 Nguồn tài liệu:
Luận văn thực hiện việc khai thác triệt để các nguồn tài liệu trực tiếp
và thứ cấp về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản từ cách tiếp cận di sản sống bao gồm các loại tài liệu sau:
- Hệ thống các tài liệu văn bản của UNESCO, các học giả nước ngoài
và các cơ quan quản lý di sản liên quan đến cách tiếp cận di sản sống
và bảo tồn di tích chiến trường
- Hệ thống các văn bản nhà nước và địa phương liên quan đến hoạt
Trang 14động bảo tồn, tôn tao di tích chiến trường ở Việt Nam nói chung và di tích chiến trường Điện Biên Phủ nói riêng
- Kết quả điều tra khảo sát phỏng vấn sâu đối với các đối tượng là những người tham gia vào hoạt động bảo tồn di tích, du khách, cựu chiến binh và những người quản lý nhà nước ở di tích chiến trường Điện Biên Phủ
- Bảng hỏi và kết quả điều tra khảo sát định lượng do tác giả thực hiện
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn bao gồm các phương pháp như nghiên cứu quan sát, nghiên cứu tham dự, phỏng vấn sâu, điều tra bảng hỏi…Ngoài ra, tác giả luận văn cũng thực hiện các nghiên cứu văn bản, tài liệu lưu trữ của các hoạt động bảo tồn phát huy giá trị ở khu di tích chiến trường Điện Biên Phủ trong hơn hai thập kỷ vừa qua; làm cơ sở để đưa ra những nhận thức đầy đủ về hoạt động bảo tồn di tích tại khu vực này
6 Đóng góp ự kiến của luận văn
- Luận văn giới thiệu và phân tích một cách hệ thộng nội dung và các nguyên tắc cơ bản về tiếp cận bảo tồn di sản sống và khả năng áp dụng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích chiến trường và di sản chiến tranh
ở Việt Nam
- Luận văn chỉ ra thực trạng của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích chiến trường Điện Biên Phủ ở tỉnh Điện Biên; mối quan hệ giữa bảo tồn di tich truyền thống và bảo tồn theo quan điểm di sản sống ở di tích chiến trường Điện Biên Phủ
- Bên cạnh đó, luận văn cũng đồng thời chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với việc áp dụng cách tiếp cận di sản sống trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích di tích chiến trường Điện Biên Phủ nói riêng và các di sản chiến tranh ở Việt Nam nói chung, làm cơ sở cho các thảo luận liên quan vấn đề lý thuyết và thực tiễn của cách tiếp cận này trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa
Trang 157 Cấu trú luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương bao gồm:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và một số vấn đề lý thuyết
Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị
di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ từ tiếp cận bảo tồn di sản sống Chương 3: Bảo tồn di sản sống tại di tích chiến trường Điện Biên Phủ
- Thách thức và định hướng phát triển
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng qu n nghiên ứu
1.1.1 Nghiên cứu bảo tồn di sản chiến trường lịch sử trên thế giới
Chiến tranh đã là một trong những hoạt động phổ biến của con người thậm chí từ trước khi có lịch sử được ghi chép Trong một chừng mực nào
đó hầu hết các bộ tộc, quốc gia, nhà nước hay bất cứ một hình thái cộng đồng cư dân nào trên thế giới đều ít nhiều có liên hệ đến chiến tranh Mặc
dù các mâu thuẫn xung đột hay chiến tranh không nhất thiết phải được tôn vinh, tự hào hay thương tiếc nhưng khó có thể nhận một thực tế là chiến tranh đã là một phần di sản không thể thiếu của nhiều quốc gia và có những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Trong bối cảnh đó, các chiến trường nơi diễn ra các cuộc chiến trở thành một trong những dấu ấn đầy đủ nhất thể hiện nhận thức cũng như ký ức của con người về chiến tranh
Măc dù vậy, thật khó có một định nghĩa bao quát và thống nhất về khái niệm di tích chiến trường bởi tính mơ hồ về không gian đòi hỏi phải xác định một cách đầy đủ các địa điểm và ranh giới của chúng - bao gồm khu vực cốt lõi nơi diễn ra trận chiến và bất kỳ hành động hoặc địa điểm liên quan nào, ví dụ như các điểm tập trung, trại lính, đường rút lui và các cuộc giao tranh liên quan (Keir Reeves, Laura James, Geoffrey R Bird, 2015) Tuy nhiên, di tích chiến trường cũng không thể tách rời không gian
tự nhiên và không gian văn hóa - xã hội của nó tồn tại trước đó Điều này đồng nghĩa với di tích chiến trường lịch sử là một di sản phức hợp bao gồm nhiều yếu tổ cả cảnh quan thiên nhiên và văn hóa trong đó trung tâm là sự kiện chiến trường Bên cạnh đó, từ góc nhìn di sản, nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra di tích chiến trường lịch sử là một chỉnh thể hợp thành từ nhiều loại hình
di sản cả vật thể và phi vật thể hết sức phong phú Các di tích vật chất có thể kể đến các loại hình kiến trúc liên quan đến trận chiến, nghĩa trang, các
Trang 17công trình tưởng niệm cho đến các mảnh vật chất trực tiếp xuất phát từ con người trong cuộc chiến (Keir Reeves, Laura James, Geoffrey R Bird, 2015, tr.10)
Di sản văn hóa phi vật thể của di tích chiến trường lịch sử cũng đa dạng được thể hiện thông qua các câu chuyện lịch sử truyền miệng, ký ức và
cả sự tưởng niệm của con người đã từng trải qua cuộc chiến Như vậy, có thể thấy, di tích chiến trường lịch sử là một phức hợp di sản giữa quá khứ và hiện tại, giữa tự nhiên và xã hội, giữa các yếu tố vật thể và phi vật thể đồng thời cũng là một loại hình có không gian tương đối rộng lớn so với các di sản văn hóa nói chung (Sutherland, T.L & Holst, M.R, 2005)
Tuy nhiên, trong khoảng vài thập niên gần đây trước khi trở thành một đối tượng nghiên cứu của di sản học, di tích chiến trường đã sớm được quan tâm từ cả ba lĩnh vực tiếp cận chính là lịch sử, khảo cổ học và du lịch Nếu như từ góc độ nghiên cứu lịch sử quân sự, xu hướng phổ biến là nghiên cứu xác định các vấn đề liên quan đến chiến trường hoặc các chủ đề về diễn biến của các sự kiện có liên quan, thì các nhà khảo cổ học quan tâm đến di tích chiến trường thông qua việc tìm kiếm các dấu tích vật chất còn sót lại từ quá khứ Dù vậy, các nghiên cứu về du lịch lại vượt qua cách nhìn truyền thống của các nghiên cứu lịch sử và khảo cổ mà chủ yếu tập trung xem xét, du lịch
di sản chiến trường như một loại hình đặc biệt và nhiều tiềm năng
Các công trình thường được trích dẫn của Seaton (1999) về trận chiến Waterloo và tác phẩm nổi tiếng không kém về du lịch và hành hương của Lloyd's (1998) đến các địa điểm liên quan đến chiến tranh thế giới thứ nhất
là các nghiên cứu bắt đầu xác định các loại hình du khách đến thăm, làm sáng tỏ trong việc tìm hiểu động cơ thăm viếng và những trải nghiệm của du khách (Lloyd, D.W 1998, p.23; Seaton, A.V ,11999, p 135)
Vào cuối những năm 1990 và 2000, các nghiên cứu khác đã mở rộng
và kết hợp không chỉ các chiến trường và địa điểm liên quan đến chiến tranh, mà cả các địa điểm khác có liên quan đến cái chết, thảm họa và đau
Trang 18khổ (Sharpley, R, 2009) Thậm chí, các tạp chí chuyên ngành về di sản đã giới thiệu chủ đề du lịch chiến tranh thành một nội dung có thảo luận phong phú trong cộng đồng học thuật
Có thể nói sự quan tâm của các lĩnh vực là khảo cổ học, lịch sử và du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các diễn giải về các sự kiện diễn ra trên mặt đất và có ảnh hưởng đến cách các học giả và du khách đánh giá cao các chiến trường lịch sử ngày nay Mặc dù vậy, đã có sự thiếu cân nhắc tương đối về di tích chiến trường trong các cuộc tranh luận hiện đại về
“di sản” hoặc rộng hơn là làm thế nào các tài nguyên này có thể được bảo vệ thông qua luật pháp phù hợp Thực tế, là ngay cả UNESCO, được cho là cơ quan cao nhất trong việc bảo vệ di sản cũng không xem xét bất kỳ di sản nào liên quan đến di tích chiến trường; trong khi đó ở châu Âu chỉ có Bỉ là quốc gia đưa ba di tích chiến trường vào danh sách các di sản quốc gia Tuy nhiên điều này đã khởi đầu cho một phong trào đấu tranh nhằm khẳng định vị trí của di sản chiến trường lịch sử và đặt nó đúng với tầm quan trọng trong hệ thống các di tích (Parent, 1979) Một trong những lý do khiến các di tích chiến trường không được thừa nhận như một di sản là tính phức hợp của nó khi nhiều dấu tích chiến trường bao gồm một diện tích lớn môi trường tự nhiên
Dù vậy, không lâu sau đó, đến năm 1981, với Hiến chương Florence, các thể chế di sản trên thế giới đã lần đầu tiên gián tiếp công nhận chiến trường lịch sử như là một phần của di sản trong đó nhấn mạnh “di tích lịch
sử là một danh lam thắng cảnh cụ thể gắn với một sự kiện đáng nhớ, chẳng hạn như một sự kiện lịch sử trọng đại; một huyền thoại nổi tiếng; một trận chiến có quy mô lớn” (ICOMOS,1981) Thực tế là rất nhiều các dấu tích chiến trường lịch sử ở châu Âu đều trải qua hàng trăm năm, do đó, việc xác định không gian bảo vệ là một thách thức cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích chiến trường ở khu vực này
Đây chính là một trong các lý do khiến cho một số học giả nghiên cứu
về di sản chiến trường tiếp tục đưa ra những đề xuất nhằm xác lập cơ sở
Trang 19pháp lý cho việc bảo tồn hệ thống di sản chiến trường cũng như xóa bỏ khoảng cách lớn về nhận thức giữa di sản chiến trường và cảnh quan Cụ thể, trong các năm 2006 và 2009, một học giả người Anh là Garden đặt ra thuật ngữ “khu di sản” để kết hợp đặc trưng này lại với nhau; trong đó nhấn mạnh “khu di sản là một không gian xã hội phức hợp được xây dựng bởi sự tương tác và nhận thức của những cá nhân đến thăm khu di sản (Garden, M.C.E , 2006)
Trên thực tế, bất kể người ta có chấp nhận chiến trường là cảnh quan văn hóa hay 'khu di sản' thì mục đích cuối cùng của các nhà nghiên cứu cũng như quản lý di sản là nhằm duy trì tính chất lịch sử của các chiến trường đã từng tồn tại và ngăn chặn nguy cơ không gian đó bị phá hủy Các nghiên cứu trong thời gian gần đây về hoạt động bảo tồn các di tích chiến trường lịch sử
đã chỉ ra hàng loạt các vấn đề liên quan đến việc bảo tồn các di tích chiến trường Vào năm 2010, sáu di tích chiến trường tại Anh bị đưa vào danh sách di sản có tính rủi ro cao khi xuất hiện nhiều hoạt động dân sinh tại các cộng đồng cư dân địa phương đe dọa đến tính chỉnh thể của di tích (English Heritage, 2010) Trong khi đó, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông cũng đã gây thiệt hại nghiêm trọng khi xuất hiện các con đường đi qua các nghĩa trang Cùng lúc đó, giao thông đường sắt đã trở thành mối quan tâm tại các chiến trường ở Hoa Kỳ khi có những mối đe dọa từ tuyến đường sắt đi qua khu chiến trường của cuộc chiến tranh nội chiến (Linenthal, E.T, 1993) Ngoài ra, nhà ở cũng là một mối đe dọa lớn khác đối với các di tích chiến trường đặc biệt trong hoàn cảnh đô thị hóa đang diễn ra với quy mô lớn Tại Nga, các không gian đô thị được thừa nhận là đang lấn chiếm các di tích chiến trường (Gorbunov, 2011)
Trong khi những cuộc xâm lấn này là không thể tránh khỏi ở một vùng đất tương đối nhỏ như châu Âu và ở một mức độ lớn hơn là ở vương quốc Anh, thì ngay cả Hoa Kỳ lớn hơn nhiều cũng đã có những tranh cãi về đề xuất phát triển cả bên trong và bên cạnh các chiến trường Dưới tác động của
Trang 20đô thị hóa “các khu vực chiến trường vẫn bị suy thoái thường xuyên và đáng
kể từ việc sử dụng đất liền kề”(Civil War Trust, 2012) Sự phát triển có thể xảy ra một cách hợp pháp ở những khu vực gần chiến trường, trong đó có rất nhiều ví dụ; tuy nhiên, có một số trường hợp chiếm ưu thế cho thấy mức độ của các vấn đề phải đối mặt tại các địa điểm này Tuy nhiên, chính phủ Mỹ không thể can thiệp và mua đất mỗi khi có tranh chấp về đất chiến trường do tốn kém và mất nhiều thời gian nên chính phủ đã tổ chức chương trình bảo
vệ chiến trường Mỹ vào năm 1990 nhằm nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa để bảo vệ di sản chiến trường Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự tham gia của cả tư nhân và nhà nước để duy trì các vùng đất thiêng, nơi gắn với các chiến trường lịch sử Tuy nhiên, việc phá hủy hoặc thay đổi địa hình lịch
sử không nhất thiết làm giảm trải nghiệm tại địa điểm đó (Carman, J & Carman, 2006) Trong một số trường hợp, nó thậm chí có thể giúp giải thích
sự phát triển của các địa điểm và thái độ trước đây đối với không gian và nên là một phần của bất kỳ kế hoạch bảo tồn di sản chiến trường
Như vậy, việc bảo tồn các chiến trường là một vấn đề cấp bách với cả các cơ quan chính phủ, phi chính phủ và cộng đồng liên quan Mối quan tâm chính là di tích có thể bị phá hủy hoặc di dời bởi các hoạt động xây dựng hiện đại, vì vậy việc kiểm kê đã được đưa ra để cho phép quy hoạch phạm vi lớn hơn, bao gồm khả năng khảo sát khảo cổ học hoặc thậm chí là khai quật Tuy nhiên, việc bảo tồn cũng là mục đích chính để kể câu chuyện về nơi này với càng ít sự xâm nhập hiện đại càng tốt và là một khía cạnh quan trọng của việc lập kế hoạch diễn giải cho di sản Một số địa điểm cho thấy điều cần thiết là không chỉ có tầm nhìn không bị gián đoạn mà còn tạo ra một địa điểm có không gian lịch sử không thay đổi, bất chấp bất kỳ tính xác thực nào trong tuyên bố đó
1.1.2 Nghiên cứu về di sản chiến trường lịch sử ở Việt Nam và di tích chiến trường Điện Biên Phủ
Mặc dù là một quốc gia có nhiều các di sản chiến trường tuy nhiên hầu
Trang 21như lại không có nhiều các nghiên cứu xem xét các di sản chiến trường như những nguồn tài nguyên di sản Nguyên nhân căn bản của tình trạng này là bởi chiến trường mặc dù là biểu tượng của chiến thắng nhưng cũng đồng thời gắn với nỗi đau mất mát của con người Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng, không gian chiến trường là một không gian rộng lớn, tương đối khó xác định; trong khi bản thân nhiều cuộc chiến cũng vừa mới diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước; do đó, các địa điểm chiến trường cũ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong việc khai thác như một loại hình di sản (Garden, M.C.E, 2006; Garden, M.C.E, 2009) Do đó, không ngạc nhiên rằng hầu hết các nghiên cứu về di tích chiến trường lịch sử dưới góc độ di sản học được tập trung chủ yếu vào di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ - một địa điểm diễn ra các trận chiến hơn nửa thế kỷ trước
Trong các nghiên cứu về di sản chiến tranh nói chung và di sản chiến trường lịch sử nói riêng, mối quan tâm chủ đạo của các học giả là xem xét các cách thức tưởng niệm và giới thiệu ký ức về chiến tranh Chẳng hạn Wiliam Logan trong công trình của mình đã tập trung làm rõ sự khác biệt đáng kể giữa cách người Pháp và người Việt Nam hy sinh ở Điện Biên Phủ được tưởng nhớ Các yếu tố giải thích những khác biệt này bao gồm kết quả tương phản của cuộc chiến giữa hai bên, thái độ văn hóa tương phản đối với đau khổ cá nhân, cái chết, hồi tưởng và tưởng niệm, và những cách tương phản trong đó hai nhà nước Việt Nam và Pháp đã tìm cách khai thác trận chiến như là một phần của việc xây dựng quốc gia thời bình của họ Trong khi ở Việt Nam, nhà nước luôn đi đầu trong quá trình tưởng niệm những người lính đã khuất ở những địa điểm chiến trường thì người Pháp lại hầu như muốn khép lại sau một thất bại đau thương và đáng xấu hổ và chỉ miễn cưỡng tham gia tích cực vào việc tưởng niệm bởi hành động của một người lính, Rolf Rodel, được hỗ trợ bởi các hiệp hội cựu chiến binh tại Điện Biên Phủ (William Logan, Nguyễn Thanh Bình, 2012) Tuy nhiên, sau đó tác giả cũng đã nhận ra những thay đổi trong cách mà hai phía tưởng niệm chiến
Trang 22tranh nhất là trong bối cảnh cả Việt Nam và Pháp đang hướng tới quan hệ ngoại giao hữu nghị tốt đẹp hơn Điều này cũng đặt ra trong cách thức xây dựng câu chuyện của di tích chiến trường từ chỗ nhấn mạnh vào sự tàn bạo của của Pháp chuyển sang chủ nghĩa anh hùng Việt Nam Câu chuyện mà Wiliam Logan chia sẻ rõ ràng chia sẻ những suy nghĩ về cách thức đa dạng các di sản chiến trường được biểu đạt trong các bối cảnh chính trị khác nhau
và cách thức chính trị tác động đến việc thể hiện và lý giải di sản Tác giả cũng đồng thời đưa ra những gợi ý cho việc xây dựng Điện Biên Phủ như một di sản chung dành cho cả Việt Nam và Pháp nhằm thúc đẩy hòa bình và chia sẻ những trải nghiệm giáo dục khi các thế hệ có ký ức gắn với trận chiến Điện Biên Phủ không còn nữa (William Logan, Nguyễn Thanh Bình,
2012, p.18)
Trong một nghiên cứu khác, các học giả phương Tây cũng thực hiện việc xem xét nghiên cứu trường hợp di sản chiến trường Điện Biên Phủ trong mối liên hệ với các loại hình di sản chiến tranh ở Việt Nam Quan điểm của các học giả này nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống các di sản chiến tranh ở Việt Nam như một hình thức để xây dựng chủ nghĩa quốc gia dân tộc Theo họ, mặc dù thực tế chiến trường Điện Biên Phủ để lại nỗi đau mất mát cho cả hai phía nhưng từ năm 1954, lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành một trong những sự kiện công cộng được quan tâm nhất ở Việt Nam với sự xuất hiện của các lãnh đạo cấp cao và thể hiện sự tri
ân với các liệt sĩ, ca ngợi những đóng góp to lớn cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bày tỏ quyết tâm khắc phục những khó khăn còn tồn tại Các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong trường học, cơ quan nhà nước và đoàn thể tổ chức, và đã được thực hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm diễu hành trên đường phố, nơi công cộng, các buổi biểu diễn, triển lãm, các cuộc thi kể chuyện (William Logan, Nguyễn Thanh Bình, 2012) Dù vậy theo họ, diễn ngôn về các di sản chiến tranh ở Việt Nam cũng bắt đầu diễn ra những chuyển biến đáng kể khi xuất hiện nhiều chủ đề hơn xung quanh các di sản chiến trường
Trang 23Các tác giả cũng cho rằng, trong bối cảnh di sản chiến trường đang trở thành một xu hướng thu hút du lịch thì các di tích như chiến trường Điện Biên Phủ nên trở thành một nơi chữa lành cá nhân và địa điểm giáo dục về hòa bình cho con người Cuối cùng, theo họ di sản cần vượt ra ngoài vật chất đơn thuần bảo vệ di sản chiến tranh và sử dụng nó như một phương tiện để đặt câu hỏi về chiến tranh và thách thức các thế lực lôi kéo con người các cuộc xung đột; đồng thời xây dựng đối thoại giữa những cựu thù, tìm ra những điểm tương đồng hơn là khác biệt và tôn vinh thành tựu hòa bình hơn truy tố chiến tranh (William Logan, 2012, trang 230) Gần đây, thay vì chú trọng vào việc phân tích các di tích của cuộc chiến tranh hiện đại, một số nhà nghiên cứu lại xem xét di sản chiến trường như một cách thức xây dựng ký
ức tập thể ở Việt Nam Thông qua nghiên cứu các địa điểm liên quan đến chiến thắng Bạch Đằng, tác giả cho rằng các hình thức tưởng nhớ là những cách gợi lại quá khứ, củng cố bản sắc và truyền đạt di sản văn hóa Những hình thức tưởng nhớ khác nhau này tạo ra các sản phẩm tưởng niệm có tiềm năng trở thành tài nguyên di sản và các tài nguyên này sẽ có vai trò quan trọng, hỗ trợ việc tối ưu hóa những lợi ích mà việc phát triển và quản lý di sản đem lại (Paddy O'Toole, 2012)
Tuy nhiên, khác với các học giả quốc tế thường nhấn mạnh vào ý nghĩa biểu đạt của di sản, các nghiên cứu ở Việt Nam từ phương diện di sản lại thường tập trung vào cách thức nhà nước thực hiện việc quản lý đối với loại hình di sản này Theo đó, những di tích này đang chịu sự quản lý bởi hai chủ thể chính, là chủ thể quản lý trực tiếp và chủ thể quản lý gián tiếp, nhưng trong mỗi chủ thể (mỗi bên) này lại có sự hiện diện của nhiều cơ quan, đơn vị cùng thực thi nhiệm vụ theo chức năng của mình Điểm khác biệt ở loại di tích này là ngoài chủ thể thuộc ngành văn hoá còn có sự tham gia của quân đội, không chỉ với tư cách là một đơn vị phối hợp mà nhiều khi còn là chủ thể chỉ đạo, có vai trò quyết định trong công tác quản lý
Dù vậy, nhìn chung đối với các loại hình di tích cách mạng trong đó
Trang 24có di tích chiến trường lịch sử Điện Biên Phủ, hoạt động quản lý của nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo Các hoạt động quản lý của nhà nước tại địa điểm này đã cho thấy sự thống nhất trong phối hợp, đồng bộ trong quản lý là
cơ bản Tuy các mô hình quản lý tại các di tích còn có sự khác biệt về cơ quan quản lý trực tiếp song các chủ thể đều nỗ lực thể hiện trách nhiệm và vai trò của mình trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Bên cạnh những thành công, công tác quản lý của các chủ thể vẫn còn những hạn chế, đáng lưu ý nhất là cơ chế phối hợp đôi lúc còn lỏng lẻo, mang tính hình thức; một số nội dung quản lý còn triển khai chậm, “mạnh ai nấy làm”
và chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ , vì thế cần có các giải pháp phù hợp để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý loại di tích đặc biệt này (Đỗ Linh Giang, 2022)
Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu đi trước về di tích chiến trường lịch sử từ các tiếp cận di sản học trên thế giới và Việt Nam, có thể dễ dàng nhận ra mặc dù còn nhiều ý kiến cũng như tính nhạy cảm của loại hình di tích này song đây là một loại hình di sản bước đầu được thừa nhận như là một loại hình trong hệ thống di sản của nhiều quốc gia Bên cạnh việc phần nhiều các nghiên cứu tập trung vào vẫn đề ý nghĩa và cách thức giải thích di sản có thể thấy một trong những nội dung trọng tâm trong các nghiên cứu gần đây là việc xây dựng các chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Điều này góp phần kiến tạo những giá trị mới khi các dấu tích chiến trường không chỉ là các địa điểm gắn với các cuộc chiến mà còn tồn tại như những sản phẩm văn hóa giáo dục về hòa bình, hướng tới các giá trị nhân bản của con người Mặt khác, cùng với độ lùi của thời gian và quá trình hiện đại hóa, các di sản chiến trường đã và đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức trong hoạt động bảo vệ Việc tìm ra giải pháp cho bảo tồn di sản chiến trường trở thành một trong những nhiệm vụ cấp thiết đối với không chỉ các nhà quản lý còn cả với cộng đồng gắn bó với di sản trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Trang 251.2 Bảo tồn i sản và một số tiếp ận về bảo tồn i sản văn hó
1.2.1 Câu hỏi của vấn đề bảo tồn di sản
Bảo tồn di sản là một lĩnh vực chuyên biệt nhằm bảo tồn các di sản văn hóa cho tương lai Bảo tồn di sản được khởi nguồn từ Tây Âu dựa trên niềm tin vững chắc vào khoa học và tính hợp lý và đặc biệt phát triển mạnh
mẽ từ đầu thế kỷ XIX với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, nhà nước dân tộc, sự phát triển kinh tế nhanh chóng và ý thức làm chủ của con người đối với thế giới tự nhiên (Muñoz Viñas, 2005, trang13) Nguyên tắc bảo tồn di sản có mục tiêu cơ bản là bảo tồn di sản vật chất của quá khứ khỏi mất mát, cạn kiệt trong hiện tại (Ucko, 1994, trang 237-282; London: Routledge, trang 261-263)
Do đó, bảo tồn di sản hình thành và vẫn hoạt động trong bối cảnh đối lập với hiện tại này, tạo nên sự đứt quãng giữa di tích vốn được coi là thuộc
về quá khứ với con người, xã hội và các quá trình văn hóa của hiện tại và tương lai Theo cách này, bảo tồn là một khái niệm hiện đại coi quá khứ như
đã tách rời khỏi hiện tại và tồn tại một cách tự giác bên ngoài truyền thống (Matero 2004, trang 67-84)
Sự gián đoạn được tạo ra giữa quá khứ và hiện tại xác định các nguyên tắc bảo tồn chính, chẳng hạn như nhấn mạnh vào quá khứ và di tích hữu hình của nó, quan niệm rằng tính xác thực của di sản là không thể tái tạo và chăm sóc cho các thế hệ tương lai Sự gián đoạn này cũng xác định các thực hành bảo tồn liên quan đến kết cấu của di sản được phản ánh trong các Hiến chương Athens và Venice can thiệp tối thiểu, tôn trọng bằng chứng lịch sử, tránh làm sai lệch, bảo tồn bản gốc, khả năng đảo ngược các can thiệp, khả năng tương thích của vật liệu được sử dụng trong phục hồi và nhu cầu phân biệt bản gốc so với vật liệu mới (ICOMOS, 1964) Cũng chính bởi sự gián đoạn này đã khiến các cơ quan quản lý di sản (hầu hết do nhà nước chỉ định), được quản lý bởi các chuyên gia bảo tồn, đóng vai trò chủ đạo trong việc bảo tồn và quản lý di sản, đồng thời xác định ranh giới can thiệp đối với
Trang 26di sản Sự gián đoạn này nói chung làm cho lĩnh vực bảo tồn, trở thành một hoạt động khó khăn và đáng lưu tâm, mang ý thức chủ quan và nhân tạo hơn bao giờ hết và dường như vẫn không có con đường nào khác cho những người quản lý di sản hiện đại có trách nhiệm có thể đảm nhận Những người quản lý
di sản theo cách của Hiến chương Burra là là “càng nhiều càng tốt nhưng càng
ít càng tốt” để giữ các di tích như bây giờ (Sullivan, 2004, trang 49-57)
Con đường bảo tồn theo kiểu Tây Âu sau đó đã được chuyển giao, và thậm chí áp đặt trong những nơi khác trên thế giới, tạo ra một sự hình dung các nền văn hóa bản địa phi phương Tây qua con mắt phương Tây, trong một bối cảnh rộng lớn hơn của chủ nghĩa thực dân Điều này dẫn đến sự đàn
áp và thậm chí phá vỡ sự liên kết giữa các cộng đồng địa phương với di sản của họ bao gồm việc các tri thức bản địa và thực hành văn hóa bị bãi bỏ và điều này khiến cho cộng đồng trên thực tế bị tách rời khỏi các di sản (Meskell, 2010) Hệ quả của sự gián đoạn giữa quá khứ và hiện tại bị thống trị bởi quan điểm phương Tây đã hình thành hai phương thức chính để tìm kiếm và bảo vệ tính nguyên gốc của di sản mặc dù bản thân chúng tồn tại các mẫu thuẫn đáng kể Phương thức thứ nhất là bảo tồn, „đóng băng‟ một giai đoạn đã chọn được coi là giai đoạn “huy hoàng” của một địa điểm, điều này cũng đồng nghĩa với việc bỏ qua sự phát triển đời sống của di sản đó ở hiện tại và tương lai Điểm quan trọng trong phương thức này là nhấn mạnh vào việc bảo tồn cấu trúc của các di tích, chủ yếu là giai đoạn đầu của lịch sử
di sản và điều này để lại hệ quả tiêu cực là hạn chế sự liên kết của cộng đồng địa phương hiện tại với di sản (Lowenthal, 1995)
Phương thức bảo tồn thứ hai là làm sống lại một giai đoạn được lựa chọn trong quá khứ của một địa điểm với những hệ quả tiêu cực về sự liên kết của cộng đồng địa phương hiện tại với địa điểm đó Quá trình làm sống động này được thực hiện thông qua việc áp đặt các diễn giải đương đại, các yếu tố và quá trình dựa trên quá khứ thông qua các địa điểm được phục chế
và các trình diễn mang tính tái tạo (Ucko, 2000, trang 67-92)
Trang 27Tuy nhiên, hai phương thức nhằm bảo tồn tính nguyên gốc của di sản tưởng như trái ngược này dường như lại có sự liên kết với nhau đưa đến một khả năng rằng bất cứ một cố gắng bảo tồn một di sản nào cũng có thể làm nó trở nên sống động hơn Thậm chí mối liên hệ của hai phương thức này cùng được thể hiện và triển khai trong một địa điểm Trên thực tế, do sự kết hợp của hai phương thức bảo vệ tính nguyên gốc này mà sự kết nối của cộng đồng địa phương với di sản không chỉ bị gián đoạn trong bối cảnh đóng băng
ở giai đoạn quá khứ đã chọn với cái giá phải trả là câu chuyện hiện tại và tương lai mà nó còn bị thay thế bằng một giai đoạn mới với giá trị lịch sử nhiều hoài nghi (trong bối cảnh làm sống động giai đoạn quá khứ đã chọn của một địa điểm thông qua áp đặt của các diễn giải đương thời)
Rõ ràng bất chấp những nỗ lực bảo tồn của xã hội phương Tây nhằm tìm kiếm và bảo tồn nguyên vẹn lịch sử trong các nền văn hóa của chính nó
và cả trong các nền văn hóa ngoài phương Tây, tính nguyên gốc vẫn không thể đạt được Điều này thậm chí dẫn đến sự bi quan khi cho rằng bảo tồn sự nguyên vẹn của lịch sử và nguyên gốc là sự ảo tưởng và thực sự mang lại kết quả ngược lại (Lowenthal, 2000) Mặc dù vậy, toàn bộ những phát triển nêu trên trong lĩnh vực bảo tồn di sản có thể được gói gọn trong hai cách tiếp cận
đã nêu Đó cũng đồng thời là hai cách tiếp cận đã được phát triển kể từ khi ngành này ra đời cho đến nay là cách tiếp cận dựa trên vật chất và cách tiếp cận dựa trên giá trị Các cách tiếp cận này, mặc dù xuất hiện ở các giai đoạn khác nhau của thời gian, nhưng đều được áp dụng cho đến tận ngày hôm nay
1.2.2 Tiếp cận bảo tồn dựa vào vật chất
Cách tiếp cận bảo tồn vật chất còn được gọi là cách tiếp cận diễn ngôn
di sản được ủy quyền thể hiện sự tập trung cao độ vào việc bảo vệ, bảo tồn cấu trúc, chất liệu gốc của di sản Đây là cách tiếp cận ban đầu đối với di sản được bảo tồn, gắn liền với sự hình thành của lĩnh vực này vảo thế kỷ 19 và
20 được phản ánh rõ trong Hiến chương Venice
Trang 28Cách tiếp cận bảo tồn vật chất là cách tiếp cận dựa trên chuyên gia, trong đó trách nhiệm độc quyền trên định nghĩa và bảo tồn di sản nằm trong tay các cơ quan quản lý di sản (hầu hết do nhà nước bổ nhiệm), do các quan chức chính trị và đặc biệt là các chuyên gia bảo tồn phụ trách Cộng đồng hầu như không được đưa vào trong các chiến lược bảo vệ Tính xác thực của
di sản được xác định theo thuật ngữ khảo cổ học/lịch sử và thẩm mỹ và được coi là các yếu tố cơ bản trong vỏ vật chất của di sản Vì thế việc sử dụng khai thác di sản bởi cộng đồng bị hạn chế đáng kể nhằm đảm bảo việc bảo
vệ của nó (bởi các chuyên gia bảo tồn) và được tiến hành nghiêm ngặt với tham khảo các nguyên tắc và thực hành bảo tồn dựa trên cơ sở khoa học hiện đại Việc bảo tồn tài liệu chỉ cho phép can thiệp tối thiểu vào di sản, với sự tôn trọng đến vật chất, cấu trúc với quan niệm vỏ chất liệu của di sản được coi là tài nguyên không thể tái tạo Do đó, hoạt động bảo tồn là nhằm lưu giữ
di sản từ trong quá khứ tránh khỏi những tổn hại đến từ hoạt động của con người hiện tại và để trao truyền nó cho thế hệ tương lai (Jokilehto, 1998, trang 299-233) Rõ ràng trong quan niệm bảo tồn theo phương thức này, một dạng thức của sự thiếu tiếp nối được tạo ra giữa các di sản và con người cũng như giữa quá khứ và hiện tại Điều này cũng đồng nghĩa với việc sự phát triển trên một phạm vi rộng lớn hơn dựa trên việc khai thác di sản hoàn toàn chịu sự chi phối và quyết định bởi các thể chế quản lý di sản
Hàng loạt thành công trong việc bảo tồn kết cấu di tích - vốn là nhiệm
vụ chính trong mục tiêu bảo tồn vào cuối thế kỷ 19 và phần lớn của thế kỷ
20, chủ yếu là do thời kỳ dài bất ổn chính trị và các cuộc xung đột vũ trang cũng như tái thiết và phát triển ngoài quy mô, sau đó - được ghi nhận cho việc áp dụng cách tiếp cận dựa trên vật chất Điểm yếu đáng kể nhất của cách tiếp cận dựa trên vật chất được liên kết với sức mạnh độc quyền của các chuyên gia bảo tồn, những người được coi là chuyên gia Điều này có nghĩa là việc bảo tồn quá trình, cũng như kết quả của nó, phụ thuộc phần lớn vào những người/cá nhân cụ thể mà trong đó có đội ngũ “chuyên gia”
Trang 29Một điểm yếu khác của cách tiếp cận dựa trên vật chất phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ và tài trợ của nhà nước (chứ không phải vào một cộng đồng rộng lớn), điều này không phải lúc nào cũng khả thi trong dài hạn Hơn nữa, cách tiếp cận này cũng không dựa vào sự liên hệ giữa các mạng lưới xã hội địa phương với di sản, cũng như hệ thống quản lý và thực hành bảo trì của họ Kết quả là, việc áp dụng phương pháp này ở những nơi không thuộc phương Tây đã dẫn đến việc phá vỡ sự liên kết của cộng đồng với các địa điểm của họ và về lâu dài gây tổn hại cho các địa điểm này, trong khi ở cấp độ lý thuyết, nó thường được coi là một nỗ lực nhằm áp đặt quan điểm của phương Tây đối với thế giới ngoài phương Tây, trong bối cảnh thuộc địa Với những điểm yếu này, cách tiếp cận bảo tồn dựa trên vật chất ngày nay được coi là lỗi thời và do đó các chuyên gia bảo tồn không muốn tuân theo nó; tuy nhiên, nó vẫn được coi là cách tiếp cận nổi bật ở nhiều nơi trên thế giới
Một ví dụ điển hình của việc bảo tồn di sản được dựa trên vật chất có chất kể đến là Angkor (Campuchia), một di sản thế giới nổi tiếng sớm được biết đến Trong những thập kỷ qua, các cơ quan quản lý di sản của di sản này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển du lịch của di sản Các cộng đồng địa phương và các nhà sư của di sản đã dần dần bị hạn chế trong di sản và đôi khi thậm chí bị xóa từ đó và sự liên kết của họ với địa điểm đã bị thay đổi Dân cư địa phương hiện nay ngày càng quan tâm đến khía cạnh tài chính và lợi ích của di sản đem lại thông qua sự tham gia của họ vào ngành du lịch, trong khi trở thành một thủ lĩnh tôn giáo bây giờ còn được coi là một hình thức đầu tư (Miura, 2005, trang 3-18)
1.2.3 Cách tiếp cận bảo tồn dựa trên giá trị
Cách tiếp cận dựa trên giá trị tập trung vào các giá trị mà xã hội, bao gồm các bên liên quan khác nhau các nhóm/nhóm lợi ích, gán cho di sản Một giá trị có thể được định nghĩa là một tập hợp các đặc điểm hoặc phẩm chất tích cực, trong khi nhóm các bên liên quan/nhóm lợi ích là „bất kỳ nhóm nào có quyền lợi hợp pháp quan tâm đến di sản (Mason, 2002)
Trang 30Cách tiếp cận dựa trên giá trị đã được phát triển từ những năm 1980, trong sự phát triển của khảo cổ học hậu quá trình (một dạng của lý thuyết khảo cổ học được liên quan đến sự phát triển rộng lớn hơn của chủ nghĩa hậu hiện đại, khuyến khích các chuyên gia bảo tồn tham gia nhiều hơn vào một thế giới bên ngoài học thuật và nhận ra các giá trị, tiếng nói khác và các quan điểm trong việc thực hành và giải thích khảo cổ học và được coi là cách tiếp cận di sản được ưu tiên nhất hiện nay (Demas, 2002)
Một ví dụ về cách tiếp cận dựa trên giá trị là khái niệm di sản thế giới nhằm phát triển và mở rộng nhằm hướng tới các cộng đồng và nền văn hóa bản địa, không thuộc phương Tây Cách tiếp cận dựa trên giá trị phần lớn dựa trên Hiến chương Burra 1999 và đã được phát triển thêm và ủng hộ thông qua một loạt dự án
Trong bối cảnh của cách tiếp cận dựa trên giá trị, thông qua các khái niệm về các nhóm liên quan, các giá trị, tính cộng đồng được đặt ở vị trí cốt lõi của công tác bảo tồn Di sản không phải là hiển nhiên, với các giá trị nội tại hay cố hữu, như trong cách tiếp cận dựa trên vật chất; mà ở đó là con người hoặc các bên liên quan, những người gán giá trị (chủ quan) cho nó và xác định ý nghĩa di sản, và do đó di sản được xem như là một quá trình bên ngoài và xã hội
Vì vậy, mục đích chính của bảo tồn không phải là bảo tồn bản thân di sản, mà việc bảo vệ các giá trị được gán cho nó bởi các nhóm liên quan Cách tiếp cận dựa trên giá trị cố gắng thu hút sự tham gia của toàn bộ các bên liên quan ngay từ đầu và trong suốt quá trình bảo tồn, đồng thời giải quyết các xung đột chắc chắn nảy sinh giữa họ để đảm bảo tính chủ quan và công bằng giữa các bên Mặc dù vậy, sự tham gia của các nhóm lại theo nhiều phương thức khác nhau thông qua tham vấn hoặc thường xuyên hơn là
sự tham gia tích cực hoặc thông qua một kế hoạch quản lý chung, tương tác (chính thức và được thiết lập hợp pháp) với các cơ quan quản lý di sản (Mason and Avrami, 2002)
Trang 31Một trong những minh chứng thể hiện sự thành công trong cách tiếp cận bảo tồn này ở phạm vi quốc tế là trường hợp các di sản thế giới như: Công viên quốc gia Kakadu ở Úc và Công viên Lịch sử văn hóa quốc gia Chaco ở Hoa Kỳ (De la Torre, M, MacLean, M, Mason, R and Myers, 2005)
Đóng góp quan trọng nhất của cách tiếp cận dựa trên giá trị đối với lĩnh vực bảo tồn di sản là gắn liền với việc khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của các cộng đồng vào quá trình bảo tồn và đem lại những lợi ích quan trọng cho chính các cộng đồng đó Hơn nữa, cách tiếp cận này cũng thúc đẩy sự tương tác giữa các nhóm xã hội (tâm linh và tôn giáo) của cộng đồng bản địa với các di sản đặc biệt là có thể hệ thống quản lý và thực hành bảo trì của họ
Tuy vậy, điểm yếu đáng kể nhất của cách tiếp cận bảo tồn này là liên quan đến sức mạnh bảo tồn của các chuyên gia Các chuyên gia bảo tồn không có quyền lực độc quyền trong việc bảo tồn theo quy trình trước đây (như trong cách tiếp cận dựa trên vật liệu), nhưng vẫn giữ được sức mạnh đặc biệt Bảo tồn dựa trên chuyên gia tiếp tục ủng hộ việc bảo tồn hữu hình – hơn là vô hình của các di sản và do đó bảo tồn tiếp tục phản ánh hầu hết các quan điểm hoc thuật có nền tảng từ phương Tây (Poulios, 2010)
Trong bối cảnh này, cách tiếp cận dựa trên giá trị cố gắng mở rộng các khái niệm về cách tiếp cận dựa trên vật chất Cụ thể, các nhóm liên quan tham gia vào quá trình bảo tồn, nhưng trong hầu hết các trường hợp trong khuôn khổ và dưới sự giám sát của các chuyên gia bảo tồn
Vì vậy, mặc dù trên lý thuyết các chuyên gia bảo tồn có thể được coi
là một trong những nhóm liên quan, nhưng trên thực tế, chính họ là cơ quan quản lý, giám sát các nhóm liên quan Do đó, khái niệm về các nhóm liên quan (tức là khái niệm chính của cách tiếp cận dựa trên giá trị), như được định nghĩa và áp dụng trong cách tiếp cận dựa trên giá trị, chứng tỏ khá rắc rối và không có nhiều ý nghĩa khi sự tồn tại của nó chủ yếu thông qua quyền lực của các chuyên gia bảo tồn Hơn nữa, các nhóm liên quan mới như cộng
Trang 32đồng địa phương cũng đang được đưa vào, nhưng bên liên quan được ủng hộ nhiều nhất lại là các nhóm có xu hướng duy trì việc bảo tồn cấu trúc vật chất Các giá trị gắn liền với việc bảo vệ các yếu tố di sản phi vật thể, chẳng hạn như giá trị của người sử dụng hoặc xã hội, cũng được tính đến nhưng việc bảo vệ của họ được kết hợp bên trong và phục vụ việc bảo tồn di vật hữu hình
Việc cộng đồng chăm sóc di sản truyền thống cũng được công nhận nhưng chỉ ở mức độ không làm suy yếu các nguyên tắc và thực hành bảo tồn dựa trên cơ sở khoa học hiện đại của các chuyên gia bảo tồn (De la Torre,
2005, trang 7)
Việc sử dụng di sản (bởi các cộng đồng) thường được chấp nhận ở mức độ nó không làm suy yếu việc bảo vệ di sản (bởi các chuyên gia bảo tồn) Các khuyến nghị linh hoạt hơn được thực hiện thông qua hoạt động thực hành bảo tồn chẳng hạn như các phương pháp khác nhau cho phép tái thiết tùy thuộc vào bản chất và các giá trị của di sản, nhưng hầu hết chỉ can thiệp tối thiểu vào cấu trúc di sản, liên quan đến cấu trúc vật chất và vật chất được phép Do đó, vỏ vật chất vẫn được bảo tồn như một nguồn tài nguyên không thể tái tạo vì thế mục đích của bảo tồn vẫn là bảo tồn di sản, được coi
là thuộc về quá khứ, từ những người hiện tại, vì lợi ích của các thế hệ tương lai (sự gián đoạn) Tiềm năng phát triển dựa trên việc khai thác di sản được tìm kiếm trong một nỗ lực để phục vụ của các nhóm liên quan khác nhau, nhưng nhấn mạnh đến lợi ích của các chuyên gia bảo tồn và dưới sự kiểm soát của họ (De la Torre, 2005, trang 8)
Một trong những trường hợp có thể thấy được những điểm yếu của tiếp cận bảo tồn di sản dựa trên giá trị là Công viên lịch sử văn hóa quốc gia Chaco ở New Mexico, Hoa Kỳ Lịch sử của di sản này không thể tách rời với sự hiện diện của các cộng đồng bản địa Navajo, những người đã định cư
ở khu vực này vào cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế kỷ XVII và phát triển mạnh về gia đình, văn hóa và tôn giáo liên kết với di sản Khi chỉ định địa
Trang 33điểm này là di tích quốc gia và là một công viên lịch sử quốc gia vào đầu thế
kỷ XX, đơn vị quản lý công viên (theo cách tiếp cận dựa trên vật chất) chỉ công nhận chính thức về giá trị thẩm mỹ và tuổi tác của các di vật khảo cổ, nhưng lại di dời các cộng đồng Navajo còn lại ra khỏi khu vực công viên được chỉ định Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, thể chế quản lý công viên (theo cách tiếp cận dựa trên giá trị) đã thể hiện sự quan tâm nhất quán đến tham vấn và sự tham gia tích cực của các cộng đồng Navajo trong việc bảo tồn và quản lý địa điểm thông qua một kế hoạch quản lý chung, mặc dù vẫn nằm trong các quy tắc và quy định của riêng họ dưới sự giám sát và kiểm soát của họ
Từ những năm 1980 trở đi, đã bắt đầu xuất hiện các nhóm đòi quyền
để thực hiện các nghi lễ tại các di sản, được cộng đồng Navajo coi là vi phạm niềm tin tôn giáo của họ Đối mặt với xung đột giữa hai nhóm liên quan này, chính quyền công viên cảm thấy họ chỉ có hai lựa chọn: hoặc cho phép cả hai nhóm thực hiện nghi lễ hoặc cấm họ Nhìn chung, việc ưu tiên nhóm này hơn nhóm khác trong các vấn đề tôn giáo sẽ bị coi là phân biệt đối xử trên cơ sở tôn giáo theo luật pháp của Hoa Kỳ Do đó, bộ phận quản
lý công viên quyết định cấm tất cả các nghi lễ tôn giáo ở những nơi được coi
là linh thiêng Vì vậy, mặc dù nỗ lực từ phía bộ phận quản lý công viên trong những thập kỷ qua, mục đích chính luôn luôn là việc bảo vệ các phần còn lại hữu hình của di sản (De la Torre, MacLean, Mason and Myers, 2005)
Các nguyên tắc chính của nguyên tắc bảo tồn di sản, được phát triển cùng với cách tiếp cận dựa trên vật chất và được duy trì bởi cách tiếp cận dựa trên giá trị, có thể được tóm tắt như sau: Thứ nhất là trách nhiệm đối với hoạt động và quản lý các địa điểm nằm trong tay của các chuyên gia bảo tồn; Thứ hai là tính xác thực của di sản chủ yếu liên quan đến kết cấu của các địa điểm mặc dù sự công nhận ngày càng tăng của các yếu tố phi vật thể
và sự nhấn mạnh vào ý nghĩa ban đầu và cách sử dụng của các di sản mặc
dù tăng cường công nhận những phát triển sau này trong lịch sử của các địa
Trang 34điểm; thứ ba, di sản được coi là một phần của quá khứ phải được bảo vệ khỏi cộng đồng hiện tại, vì các thế hệ tương lai (Jones, 2006)
1.3 Tiếp ận bảo tồn i sản sống: Từ lý thuyết đến thự hành
1.3.1 Nguồn gốc và bối cảnh ra đời
Di sản sống đã trở thành một chủ đề lặp đi lặp lại trong gần hai thập
kỷ vừa qua khi lần đầu tiên nó chính thức trở thành một nội dung phát triển
di sản của UNESCO như một phần của hoạt động bảo tồn đô thị và lãnh thổ tích hợp Cơ sở lý luận đằng sau chương trình là nhấn mạnh các khía cạnh sống động của các địa điểm di sản: sự công nhận và sự phù hợp của chúng với cuộc sống đương đại, bao gồm lợi ích và sở thích của mọi người và khả năng tham gia chăm sóc liên tục với tư cách là người trông coi lâu dài và thường xuyên của các địa điểm di sản Việc duy trì các hoạt động sống được chứa đựng và hỗ trợ các hoạt động văn hóa xã hội đa dạng được coi là quan trọng ngang với vật chất Mục tiêu của chương trình là nâng cao nhận thức về khái niệm di sản sống trong lĩnh vực bảo tồn và quản lý các khu di sản Những mục tiêu cụ thể bao gồm: tạo ra các công cụ cần thiết để phát triển cách tiếp cận dựa vào cộng đồng để bảo tồn và quản lý, thúc đẩy các hệ thống tri thức truyền thống trong thực hành bảo tồn và tăng cường chú ý đến các vấn đề di sản sống trong các chương trình đào tạo (Jones, 2006, trang107-126)
Bằng cách này, người ta kỳ vọng sẽ nâng cao nhận thức và sự quan tâm đối với di sản sống bằng cách khuyến khích sử dụng các nguồn lực bản địa, các tập quán và bí quyết truyền thống; tăng cường nỗ lực giữ lại nghề truyền thống của địa phương; tăng cường hỗ trợ cho các hoạt động xã hội, tôn giáo và các lễ hội diễn ra ở những nơi linh thiêng Chương trình kéo dài một năm bắt đầu với một cuộc họp phát triển chiến lược được tổ chức tại Bangkok vào năm 2003 và diễn đàn về di sản tôn giáo sống được tổ chức tại Rome vào năm 2003 Mặc dù một số hoạt động thuộc chương trình di sản sống đã được triển khai ở một số khu vực trên thế giới trong đó chủ yếu là khu vực Đông Nam Á, song sức ảnh hưởng của cách tiếp cận này được phát
Trang 35triển trong mối liên hệ với nhiều chương trình bảo tồn di sản khác của các tổ chức quốc tế bao gồm UNESCO (Wijesuriya, Wright, 2005)
Trong khi UNESCO khởi xướng chương trình di sản sống thì cũng đồng thời thông qua Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể vào năm
2003 Công ước đã trở thành một công cụ ngày càng phổ biến và nhanh chóng kết hợp chủ đề di sản sống vào các hoạt động của nó Tuy nhiên, cách tiếp cận di sản phi vật thể cũng bị chỉ trích vì thiếu cái nhìn tổng thể về di sản bằng cách chỉ nhấn mạnh vào các khía cạnh phi vật thể Tuy nhiên, có thể thấy có nhiều điểm tương đồng giữa những lý tưởng đang được thúc đẩy giữa di sản phi vật thể và “cách tiếp cận di sản sống” nhưng không có mối liên hệ chính thức nào được thiết lập Việc tập trung vào di sản sống, vốn cũng được thừa nhận trong di sản phi vật thể, trên thực tế có thể giải quyết hiệu quả những chỉ trích nêu trên đối với di sản phi vật thể Cộng đồng như một chủ đề trung tâm là khía cạnh rõ ràng nhất của hai cách tiếp cận kể trên
Ngoài ra, quan niệm bảo tồn như là việc quản lý sự thay đổi là một quan điểm khác ngày càng trở nên phổ biến trong hai thập kỷ qua Chủ đề trung tâm của tính liên tục luôn được liên kết với sự thay đổi và do đó bảo tồn là quản lý tính liên tục và thay đổi và có rất ít hoặc không có mâu thuẫn với ý tưởng mới Cũng trong thời gian này, chương trình của UNESCO về cảnh quan đô thị lịch sử đã ra đời và phát triển, với một số đầu vào từ ICCROM Kết quả cuối cùng được đưa ra dưới dạng các khuyến nghị của UNESCO, cũng có một số điểm tương đồng với những gì đã được phát triển trong chương trình di sản sống
Do đó, chương trình di sản sống đã phát triển để đáp lại một số chỉ trích lớn về phương pháp tiếp cận quản lý và bảo tồn di sản thông thường và
nó cũng kết hợp một số phát triển gần đây trong diễn ngôn di sản Cần đề cập ở đây rằng chương trình di sản sống được phát triển trong bối cảnh di sản bất động sản, thực sự nó ủng hộ việc tránh phân chia giữa vật thể và phi vật thể và di động và bất động sản Do đó, cách tiếp cận di sản sống” không
Trang 36nhất thiết phải thay thế cho các cách tiếp cận trước đó, nhưng nó là sự phát triển bổ sung cho các cách tiếp cận quản lý di sản đương đại
Giống như các học giả, những người đã từng tham gia cuộc hội thảo tại Thái Lan năm 2009 đã nhất trí, “cách tiếp cận di sản sống” là một cải tiến của hai cách tiếp cận hiện có, cụ thể là dựa trên kết cấu và dựa trên giá trị và
có thể được điều chỉnh để giải quyết bất kỳ loại di sản nào Do đó chính kinh nghiệm của chương trình di sản sống đã tạo ra sự quan tâm của UNESCO sau đó để phát triển một chương trình chung, thúc đẩy cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trong đó những người hưởng lợi vừa là di sản vừa là cộng đồng Tất cả những điều này làm tiền đề cho sự ra đời của
di sản sống không chỉ dừng lại như một chương trình hành động mà từng bước khẳng định như một quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn di sản
1.3.2 Khái niệm, nội dung và các nguyên tắc cơ bản
Cách tiếp cận di sản sống tập trung đặc biệt vào di sản sống Khái niệm của di sản sống gắn bó chặt chẽ với khái niệm về tính liên tục và đặc biệt chủ yếu là tính liên tục của chức năng ban đầu của di sản - mục đích mà
di sản đã được dự định ban đầu; tính liên tục của kết nối cộng đồng với di sản; tính liên tục của việc chăm sóc di sản của cộng đồng được thể hiện thông qua kiến thức (truyền thống), hệ thống quản lý và thực hành bảo trì và quá trình liên tục phát triển các biểu hiện di sản vật thể và phi vật thể trong phản ứng với hoàn cảnh thay đổi
Theo nghĩa này, thay đổi được coi là một phần của tính liên tục và khái niệm thay đổi được hiểu trong mối quan hệ đến di sản sống Điều này được thể hiện qua sự tồn tại cụ thể của một nhóm cộng đồng đã tạo ra di sản sống và duy trì chức năng ban đầu của di sản, vẫn giữ nguyên mối liên hệ ban đầu với nó qua thời gian và vẫn coi di sản là một một phần không thể thiếu trong cuộc sống đương đại của nó về bản sắc, niềm tự hào, lòng tự trọng, cấu trúc và phúc lợi, có ý thức mạnh mẽ về quyền sở hữu/bảo quản di sản và coi việc chăm sóc di sản là nghĩa vụ vốn có của mình Cộng đồng
Trang 37này, được gọi là “cộng đồng cốt lõi,” được coi là một phần không thể tách rời của di sản, và do đó rõ ràng là sự khác biệt với các nhóm cộng đồng khác tham gia vào đời sống của di sản, thường là được gọi là “cộng đồng” rộng lớn hơn (Poulios, 2014, trang 16-34)
Cách tiếp cận di sản sống tập trung vào kết nối ban đầu của cộng đồng với di sản (tính liên tục), và bảo vệ di sản trong mối liên hệ này Điều này có thể thấy, cách tiếp cận di sản sống khác biệt rõ ràng với cách tiếp cận vật chất và cách tiếp cận dựa trên giá trị Cụ thể hơn, bảo tồn trong bối cảnh của một cuộc sống cách tiếp cận di sản không nhằm mục đích bảo tồn cấu trúc
mà nhằm duy trì tính liên tục, ngay cả khi trong một số trường hợp, vỏ cấu trúc di sản có thể bị hư hại Do đó, nhấn mạnh vào kết nối (hữu hình) của cộng đồng với di sản hơn là trên kết cấu (hữu hình) Với bản chất thay đổi của tính liên tục, bảo tồn cũng nhằm mục đích nắm bắt sự thay đổi theo thời gian, và do đó đảm bảo tính phù hợp của di sản đến xã hội đương thời (Kimball, M, Brunswig, McBeth and Thomas, 2013)
Cách tiếp cận di sản sống rõ ràng là cách tiếp cận dựa vào cộng đồng cốt lõi - cộng đồng được trao vai trò chính trong quá trình bảo tồn Cộng đồng cốt lõi không chỉ tham gia vào quá trình mà còn được trao quyền tích cực: nó có khả năng thiết lập chương trình nghị sự, đưa ra quyết định và duy trì quyền kiểm soát đối với toàn bộ quá trình Các chuyên gia bảo tồn và cộng đồng rộng lớn hơn được giao vai trò thứ yếu Các chuyên gia bảo tồn chủ yếu chỉ cung cấp một khuôn khổ cho phép hỗ trợ, hướng dẫn và hỗ trợ cho cộng đồng cốt lõi Vì vậy, không giống như cách tiếp cận dựa trên giá trị, trong bối cảnh tiếp cận di sản sống, các cộng đồng không được phân công bình đẳng vai trò trong quá trình bảo tồn, phù hợp với mối liên hệ khác nhau của chúng với di sản – theo nghĩa này, bảo tồn không được coi là một quá trình dân chủ Điều quan trọng cần lưu ý là trong bối cảnh tiếp cận di sản sống, vai trò của các chuyên gia bảo tồn trở nên khác biệt nhưng không
có nghĩa là mất giá trị: ví dụ, các chuyên gia bảo tồn có thể tiếp tục là những
Trang 38người điều hành quá trình bảo tồn, và sự phát triển của một di sản sống, đưa
ra cách tiếp cận, hoặc có thể tích cực tham gia trong quá trình bảo tồn do cộng đồng điều hành (Poulios, 2008, trang 67-68)
Theo cách tiếp cận di sản sống, quá trình bảo tồn chủ yếu dựa trên sự công nhận và chấp nhận truyền thống chăm sóc di sản (của cộng đồng); các nguyên tắc và thực hành bảo tồn hiện đại, dựa trên cơ sở khoa học hỗ trợ, thực hiện và được đặt trong sự chăm sóc truyền thống của di sản Một trạng thái cân bằng thích hợp được tìm kiếm giữa việc sử dụng di sản (của cộng đồng và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng kết nối với di sản) và bảo vệ di sản (bởi các chuyên gia bảo tồn), thường nhấn mạnh vào việc sử dụng hơn
là bảo vệ Mặc dù về mặt hình thức nói chung là được bảo tồn (như trong ngữ cảnh của cách tiếp cận dựa trên vật chất, đồng thời có sự thừa nhận ngày càng tăng về toàn bộ một loạt thực hành đối với di sản, ít tôn trọng vật chất, cấu trúc vật lý
Như vậy, trong một số các sự kiện di sản có thể được coi là một nguồn tài nguyên “tái tạo” Cộng đồng lõi tìm kiếm tiềm năng phát triển trên
cơ sở gắn kết với di sản và trong phù hợp với mối quan tâm riêng của mình, với sự hỗ trợ của các chuyên gia bảo tồn và cộng đồng rộng lớn hơn Vì vậy, cách tiếp cận di sản sống đòi hỏi phải bảo vệ di sản trong sự kết nối với cộng đồng hiện tại (sự liên tục), bởi cộng đồng hiện tại và vì lợi ích của cộng đồng hiện tại Nhấn mạnh vào hiện tại, vì “quá khứ ở trong hiện tại” Hiện tại được coi là sự tiếp nối của quá khứ vào tương lai, và do đó quá khứ
và hiện tại-tương lai được thống nhất thành một liên tục hiện tại (Poulios,
2008, trang 70)
Như phần lớn nội dung đã đề cập ở trên, tính liên tục có thể được coi
là chìa khóa để mô tả di sản sống và kể từ đó, tất cả công việc của những người thực hiện công tác bảo tồn di sản đều cần tiếp cận theo hướng đó Công ước về di sản phi vật thể năm 2003 cũng công nhận tính liên tục là yếu
tố chính trong việc xác định di sản sống Do đó, tính liên tục là cơ sở để đặc
Trang 39trưng cho di sản sống Thực tế là tất cả các địa điểm di sản (như chúng ta gọi ngày nay) đã tiếp tục tồn tại và thay đổi Một số thích ứng với thời đại
và nhu cầu của xã hội nhưng vẫn thực hiện một số chức năng, số khác bị người dân bỏ rơi Trước đây, một số chức năng (công dụng) mà các địa điểm di sản được tạo ra là giống nhau và những địa điểm như vậy được coi
là di sản sống sẽ được thảo luận dưới đây Theo nhiều cách, di sản “tiếp tục” thực hiện các chức năng cho xã hội không bị tách rời khỏi xã hội hiện tại, không bị cô lập bởi quá trình “bảo tàng hóa” mà nhiều hệ thống quản lý phương Tây đã tạo ra Do đó, nhu cầu về các phương pháp tiếp cận mới để bảo tồn và quản lý liên tục là một nhu cầu cấp bách (Stanley-Price N, Killick, 2007)
Cách tiếp cận bảo tồn thông thường như ở phần trên đã cho thấy nó vốn là di sản của phong trào bảo tồn hiện đại, được xây dựng dựa trên một
số giả định với một số lỗ hổng kiến thức Đặc biệt, nó đã bỏ qua các khía cạnh sống của các địa điểm di sản bằng cách chú trọng nhiều hơn vào kết cấu hình thái Điều này thường dẫn đến sự thống trị và thậm chí phá vỡ các mối liên hệ của cộng đồng với di sản và gạt ra bên lề và loại trừ các cộng đồng khỏi việc bảo tồn và quản lý di sản, với những hậu quả tiêu cực lâu dài cho chính di sản
Như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, phương pháp bảo tồn thông thường
đã bỏ qua ba yếu tố chính của di sản, đó là tính đa dạng, tính liên tục và tính cộng đồng Một lý do để bỏ qua tính liên tục liên quan đến cuộc thảo luận này là giả định rằng tính liên tục lịch sử giữa quá khứ và hiện tại trong di sản đã bị phá vỡ Điều này dẫn đến sự phát triển của các nguyên tắc bảo tồn ủng hộ việc đóng băng di sản trong một thời gian và không gian nhất định,
do đó loại bỏ ý tưởng về tính liên tục trong diễn ngôn
Trên thực tế, trong xã hội loài người vẫn luôn tồn tại một sự liên tục lịch sử giữa quá khứ và hiện tại và do đó di sản cũng phải được hiểu theo quan điểm này Nguyên tắc liên tục áp dụng cho tất cả những nơi được xác
Trang 40định là di sản bao gồm cả những nơi bị xã hội bỏ hoang và đã trở thành đống đổ nát Quan trọng hơn, những điều này có nhiều ý nghĩa đối với việc bảo vệ chúng Trong khoảng hai thập kỷ vừa qua tính liên tục lịch sử đã được công nhận ở cấp độ quốc tế với việc di sản phi vật thể được thừa nhận
là thứ mà “được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được các cộng đồng
và các nhóm liên tục tái tạo để đáp ứng với môi trường, sự tương tác của họ với thiên nhiên và lịch sử của họ, đồng thời mang lại cho họ cảm giác về bản sắc và tính liên tục” Do đó, tính liên tục và tiếp nối cũng là yếu tố xác định tính chất sống của một di sản với việc duy trì dựa trên các khía cạnh bao gồm: sự liên tục về chức năng sử dụng, sự liên tục của cộng đồng kết nối với di sản; sự tiếp tục của việc chăm sóc di sản bởi cộng đồng; sự liên tục của các biểu đạt di sản văn hóa ở cả góc độ vật thể và phi vật thể (Poulios, 2008, trang 72)
di tích thuộc về một nền văn minh trong quá khứ hoặc phục vụ các mục đích
đã lỗi thời, và “di sản sống”, tức là những di tích tiếp tục phục vụ các mục đích đó họ đã được dự định ban đầu Chìa khóa của sự khác biệt là mục đích hoặc chức năng mà chúng được xây dựng ban đầu, theo đó, di tích sống nên được khôi phục để chúng có thể tiếp tục được sử dụng, vì trong kiến trúc, tiện ích là một trong những cơ sở của cái đẹp (Wijesuriya, 2005, trang 31-43)
Dù vậy, tại thời điểm mà các quan điểm bảo tồn lấy vật chất làm trung tâm thống trị, người ra dường như không quá quan tâm đến việc sử dụng và đưa giả định cho rằng nhiệm vụ của các chuyên gia di sản là tìm ra cách sử dụng phù hợp cho di sản đang được xem xét, do đó khuyến nghị “sử dụng