1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng Đồng tại làng mơ hra, xã kông lơng khơng, huyện kbang, tỉnh gia lai

98 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Vệ Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Trong Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng Tại Làng Mơ Hra, Xã Kông Lơng Khơng, Huyện Kbang, Tỉnh Gia Lai
Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Trần Hoài
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Di sản học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng Đồng tại làng mơ hra, xã kông lơng khơng, huyện kbang, tỉnh gia lai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN THỊ THU TRANG

BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG MƠ HRA,

XÃ KÔNG LƠNG KHƠNG, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DI SẢN HỌC

HÀ NỘI –2023

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

NGUYỄN THỊ THU TRANG

BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG MƠ HRA,

XÃ KÔNG LƠNG KHƠNG, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Hoài, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn khoa học này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ các thầy cô trong tổ bộ môn, khoa, trường, lãnh đạo cơ quan, anh chị em đồng nghiệp nơi tôi công tác và gia đình

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Trần Hoài, người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện luận văn Thầy đã dành cho em nhiều thời gian, tâm sức, cho em nhiều ý kiến, nhận xét quý báu, chỉnh sửa cho em từ những chi tiết nhỏ nhất, giúp luận văn của em được hoàn thiện hơn về mặt nội dung và hình thức Thầy cũng đã luôn quan tâm, động viên, nhắc nhở kịp thời để em có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Kbang, Ủy ban nhân dân xã Kông Lơng Khơng Quý cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình trao đổi, thu thập thông tin

Em xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Bảo Thoa, ThS Phan Thị Ngọc Diệp Những ý kiến đóng góp quý báu cùng sự quan tâm, động viên và chỉ bảo tận tình của hai chị vừa giúp em có được sự khích lệ, tin tưởng vào bản thân, vừa tạo động lực, nhắc nhở em có trách nhiệm với đề tài của mình, giúp em hoàn thành luận văn tốt hơn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, các anh/chị cùng lớp cao học Di sản học QH2021 đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.1.1 Nghiên cứu của các học giả nước ngoài 8

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 10

1.1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu 14

1.2 Một số khái niệm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, du lịch cộng đồng 15

1.2.1 Di sản văn hóa 15

1.2.2 Cộng đồng và du lịch cộng đồng 19

1.2.3 Mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng 21

1.3 Cơ sở lý luận 24

1.3.1 Bảo vệ di sản văn hóa từ quan điểm cộng đồng 24

1.3.2 Di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng trong phát triển bền vững 27

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG MƠ HRA, XÃ KÔNG LƠNG KHƠNG, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI 31

2.1 Giới thiệu chung về làng Mơ Hra 31

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của làng Mơ Hra 31

2.1.2 Dân cư làng Mơ Hra và đời sống xã hội 32

2.1.3 Đặc trưng văn hóa của làng Mơ Hra 33

2.2 Những di sản văn hóa của làng Mơ Hra 36

2.2.1 Âm nhạc cồng chiêng 37

2.2.2 Nhà rông và nhà sàn truyền thống của dân tộc Bahnar 42

2.2.3 Nghề dệt thổ cẩm 43

2.2.4 Ẩm thực truyền thống – bánh củ mỳ 45

2.3 Các hoạt động du lịch cộng đồng ở làng Mơ Hra 45

2.3.1 Các dự án, nhiệm vụ, đề tài phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra 45

Trang 6

2.3.2 Thiết chế cho du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra 47

2.3.3 Các hoạt động du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra 49

2.3.4 Những sản phẩm du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra 51

Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 62

3.1 Phát triển bền vững du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra 62

3.2 Tăng thêm nguồn lực bảo vệ di sản văn hóa 65

3.2.1 Xây dựng và khôi phục các thiết chế văn hóa 65

3.2.2 Lưu giữ câu chuyện văn hóa để tự truyền tải đến du khách 66

3.2.3 Nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ trong làng về giá trị của di sản 68

3.3 Khả năng thích ứng và duy trì của người dân với hoạt động du lịch cộng đồng 69

3.3.1 Sự thích ứng của người dân tham gia mô hình du lịch cộng đồng 69

3.3.2 Giá trị kinh tế từ phát triển du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản 70

3.3.3 Về các bên tham gia và tiếng nói, vai trò của cộng đồng chủ thể 71

3.3.4 Các khó khăn trong quá trình triển khai 72

3.4 Tăng cường bảo vệ di sản nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch 74

3.5 Các hoạt động bảo vệ di sản tiếp nối của cộng đồng tại làng Mơ Hra 76

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bảo vệ giá trị các di sản văn hóa và phát triển du lịch là hai lĩnh vực dường như mâu thuẫn nhau Quan điểm này xuất phát từ nhận định cho rang sự có mặt của du lịch sẽ, ở các mức độ khác nhau, làm biến đổi phong tục truyền thống của các cộng đồng Không những thế, xu hướng thương mại hóa của du lịch đã khiến nỗ lực bảo vệ di sản văn hóa của các cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc thiểu số trở nên vô cùng khó khăn Tuy nhiên, nhiều học giả lại theo hướng ngược lại Họ cho rằng, phát triển du lịch và bảo vệ di sản văn hóa có thể hỗ trợ nhau cùng phát triển Phát triển du lịch để phát huy các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng, làm sống lại nền văn hóa nhiều màu sắc của dân tộc cũng như bảo vệ các giá trị di sản văn hóa để tạo nguồn lực cho phát triển du lịch bền vững

Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa địa phương phục vụ cho hoạt động du lịch lấy cộng đồng làm trung tâm là ý tưởng nhiều ý nghĩa, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc - gắn phát triển du lịch với bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, giúp cộng đồng địa phương biến văn hóa thành nguồn lực Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đã ghi nhận “tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể như là động lực chính của đa dạng văn hóa và là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững” UNESCO cũng thúc đẩy vai trò quan trọng của văn hóa xuyên suốt 17 Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tháng 9/2015 Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa rất phong phú, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là nguồn lực quan trọng để thúc đẩy du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng phát triển Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, mô hình du lịch cộng đồng hiện đã mở rộng trên cả nước, với khoảng 300 làng, bản, buôn, thôn, xóm có phát triển loại hình du lịch này Loại hình du lịch này bước đầu đã mang lại một

số kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, làn sóng phát triển ồ ạt loại hình du lịch cộng đồng dưới các dạng khác nhau cũng gây ra nhiều

hệ quả đáng tiếc Cách tiếp cận khai thác cùng hoạt động phát triển không hợp lý có thể gây ra biến đổi văn hóa, xáo trộn đời sống xã hội ở các cộng đồng địa phương Nhiều địa phương đang rất lúng túng khi phát triển du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản

Trang 8

văn hóa Vì thế cộng đồng tuy sống trong di sản nhưng không được hưởng lợi từ di sản

Đó là một trong những nguyên nhân khiến những cộng đồng sở hữu di sản thiếu động lực để duy trì, bảo vệ, gìn giữ và thực hành di sản trong đời sống cộng đồng, khiến di sản có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất khỏi đời sống cộng đồng

Một trong những ví dụ về sự phát triển và các hệ quả du lịch cộng đồng hay được nhắc đến là khu du lịch bản Lác, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Trong giai đoạn mới phát triển từ 2014 - 2016, khách du lịch nội địa đến bản Lác rất đông, hiệu quả kinh tế có thể thấy rõ Bản Lác trở thành một trong những điển hình thành công trong phát triển du lịch cộng đồng thời kỳ này Tuy nhiên từ năm 2018 đến nay, khách quốc tế lưu trú qua đêm và chi tiêu tại bản Lác có xu hướng giảm; khách nội địa có tăng nhưng tăng ít Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do không gian của bản

đã dần bị hiện đại hóa, những nhà sàn gỗ xưa kia được thay thế dần bằng những ngôi nhà bê tông mới Bên cạnh đó, truyền thống văn hóa cũng dần bị mai một (Dương Liễu, 2020; Nguyễn Công Thảo, 2022)

Một ví dụ khác về các tác động tiêu cực của du lịch tới văn hóa của các dân tộc thiểu số là ở Sa Pa Lào Cai là một trong những địa phương có mô hình du lịch cộng đồng khá phát triển, góp phần tạo sinh kế và nâng cao đời sống của đồng bào Tuy nhiên, qua thời gian hoạt động, hiện loại hình du lịch này đang bộc lộ nhiều hạn chế Ví dụ ở thị xã Sa Pa, có rất nhiều người từ các tỉnh miền xuôi lên thuê nhà, thuê đất của người dân địa phương để mở các điểm du lịch homestay do đó không khai thác được hết các giá trị văn hóa bản địa dẫn đến phần lớn sản phẩm du lịch cộng đồng mới chỉ đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, ăn uống, trải nghiệm của du khách ở mức đơn giản Vì thế, bản chất của du lịch cộng đồng sẽ dần mất đi (Thúy Hồng, 2021)

Nhìn chung du lịch cộng đồng ở Việt Nam mới chỉ tập trung chủ yếu vào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường tự nhiên chứ chưa thực sự quan tâm đến yếu tố bảo vệ văn hóa truyền thống trong khi yếu tố văn hóa truyền thống chính là nền tảng, là nguồn lực tạo ra sản phẩm phục vụ phát triển du lịch Vậy làm thế nào để bảo

vệ, phát huy được giá trị của di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng?

Để trả lời câu hỏi trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai” Làng Mơ Hra là một làng du lịch cộng đồng dựa vào các

giá trị di sản văn hóa hiện đang được đánh giá là một thực hành tốt và nhiều hiệu quả

Trang 9

Do đó tôi chọn cộng đồng này là đối tượng nghiên cứu Đây là nghiên cứu cần thiết nhằm khám phá cách thức tiến hành mới - đặt người dân vào vị trí trung tâm để khai thác các giá trị văn hóa địa phương từ đó xây dựng thành các sản phẩm cho du lịch văn hóa Nghiên cứu sẽ giúp tiếp tục tìm hiểu các vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cho việc phát triển du lịch cộng đồng dựa vào giá trị di sản văn hóa

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ ra cách thức bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở làng Mơ Hra thông qua các hoạt động triển khai tại địa phương trong những năm từ

2019 đến thời điểm hiện tại Nghiên cứu sẽ phân tích rõ, giá trị di sản văn hóa tại làng

Mơ Hra và các vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm: Các hoạt động du lịch cộng đồng ở làng

Mơ Hra; các giá trị di sản văn hóa (trong đó tập trung vào cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm và ẩm thực) được khai thác cho hoạt động du lịch cộng đồng; cách thức cộng đồng người Bahnar tại đây tiến hành hoạt động du lịch cộng đồng bao gồm các hoạt động trải nghiệm không gian buôn làng, trải nghiệm nghề truyền thống, ẩm thực, xem trình diễn cồng chiêng và dịch vụ homestay) Cùng với đó, đối tượng nghiên cứu quan trọng của luận văn là mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và du lịch cộng đồng trong phát triển du lịch

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian:

Cộng đồng dân làng Mơ Hra, xã Khơng Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 1 năm 2019 đến thời điểm hiện tại

- Phạm vi nội dung nghiên cứu:

Các giá trị di sản văn hóa của làng Mơ Hra, công tác bảo tồn vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại làng, quá trình khai thác các giá trị này để phục vụ phát triển du lịch cộng đồng

4 Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Vấn đề nghiên cứu

Mô hình du lịch cộng đồng dựa trên các giá trị di sản văn hóa với vai trò quan

Trang 10

trọng là cộng đồng Luận văn mô tả sinh động quá trình từ xác định, xây dựng, vận hành

để biến các giá trị di sản văn hóa thành sản phẩm du lịch dịch vụ, xây dựng tour và cách thức thích ứng của cộng đồng khi tham gia mô hình du lịch cộng đồng

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề có mối quan hệ mật thiết từ khi mới hình thành của các yếu tố trong mô hình du lịch cộng đồng Luận văn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cộng đồng - là chủ thể thiết lập và vận hành mô hình này Mô hình được vận hành trong thực tế và có sự điều chỉnh phù hợp, song song với đó, chủ thể của

mô hình có những sự thích ứng với hoàn cảnh mới để đạt kết quả tốt hơn

Kết quả nghiên cứu là bài học được rút ra từ thực tế triển khai thành công mô hình

du lịch cộng đồng Kết quả nghiên cứu chứng minh vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch cộng đồng Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định mô hình là làm điểm sáng, được đúc rút từ những bài học thất bại của mô hình du lịch cộng đồng trước đó

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này kiểm tra giả thuyết về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, từ đó góp phần bảo vệ di sản văn hóa, tạo thu nhập cho người dân địa phương, xây dựng niềm tự hào cho cộng đồng về

di sản địa phương Nghiên cứu chỉ ra mô hình du lịch cộng đồng lấy cộng đồng làm trung tâm với hoạt động du lịch dựa trên khai thác các giá tri di sản văn hóa Mối quan

hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và du lịch cộng đồng trong phát triển bền vững với các vấn đề phát triển bền vững du lịch cộng đồng, du lịch cộng đồng tăng thêm nguồn lực bảo vệ, bàn thảo về vấn đế đặt ra từ hoạt động phát triển du lịch cộng đồng sẽ được đề cập trong nghiên cứu này

Nghiên cứu cũng đặt ra những thảo luận cả về thực nghiệm và lý luận cho bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa, cho du lịch cộng đồng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích tài liệu thứ cấp về các vấn đề cộng đồng, du lịch cộng đồng, du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản văn hóa

- Tiến hành nghiên cứu điền dã tại làng Mơ Hra để thu thập số liệu cho nghiên cứu

- Phân tích các nội dung như sự thích ứng của cộng đồng đối với du lịch, sự tham gia của các bên vận hành vào mô hình này, các vấn đề thảo luận được đưa ra để có cái nhìn đa chiều và sâu sắc mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp sử dụng linh hoạt, tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tượng làm việc, mục đích hoạt động Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các phương pháp sau đây

sẽ được sử dụng, nhưng không giới hạn, như:

- Nghiên cứu tài liệu: Thông qua tài liệu liên quan đến cộng đồng, du lịch cộng đồng, di sản để tìm hiểu cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

- Quan sát tham gia: Tôi đã trực tiếp tham gia triển khai mô hình du lịch cộng đồng tại địa phương ở tất cả các khâu từ lên ý tưởng đến triển khai (bao gồm tham gia thảo luận, phân nhóm, hướng dẫn nghiệp vụ từng nhóm, theo dõi quá trình vận hành để rút kinh nghiệm…) Trong quá trình đó, tôi kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính khác trên thực địa bao gồm:

- Phỏng vấn sâu: đối với đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý du lịch cộng đồng để thấy được sự phối hợp giữa các bên trong thúc đẩy mô hình vận hành và phát triển Phỏng vấn đơn vị thực hiện dự án du lịch cộng đồng để tìm hiểu cách thức triển khai các hoạt động

- Thảo luận nhóm tập trung: đối với các nhóm trong cộng đồng để phát hiện những vấn đề của cộng đồng trong triển khai du lịch cũng như cách thức mà mỗi nhóm thích nghi và điều chỉnh các hoạt động của mình

- Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia PRA: Dành cho cộng đồng để đưa

ra luận điểm chính và quan điểm, cách thức mà cộng đồng ứng phó

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng có tầm quan trọng đáng kể về mặt khoa học và thực tiễn, bao gồm cả lợi ích học thuật và thực

tế Một số khía cạnh chính về tầm quan trọng bao gồm:

- Đóng góp về mặt khoa học: Đề tài đóng góp về lý luận cho khoa học liên ngành,

cho di sản học thông qua lý thuyết về di sản hóa để nhìn nhận đánh giá bảo vệ và phát huy giá trị di sản nhằm phát triển du lịch cộng đồng

+ Cơ hội nghiên cứu: Bảo vệ và mang lại một lĩnh vực phong phú cho nghiên cứu học thuật Khi bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm phát triển du lịch cộng đồng cần phải nghiên cứu các khía cạnh: giá trị di sản văn hóa của cộng đồng, công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, các giá trị văn hóa được vận dụng như thế nào trong mô hình du lịch cộng đồng

Trang 12

+ Đóng góp về mặt lý luận về phát triển các giá trị di sản văn hóa dựa vào cộng đồng + Tiếp cận phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương: Phát triển du lịch cộng đồng

ở địa phương là xem xét các khía cạnh phát triển về văn hóa, kinh tế, môi trường Về kinh tế, du lịch cộng đồng góp phần tạo thu nhập, việc làm cho cộng đồng tại địa phương, tránh việc di cư để từ đó phát triển kinh tế địa phương Về văn hóa, các hoạt động du lịch cộng đồng được tiến hành hợp lý, hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng địa phương Về môi trường là nâng cao ý thức và triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường Về tiếp cận cộng đồng (khái niệm, các vai trò khác nhau của cộng đồng), cộng đồng trong bối cảnh dự án phát triển du lịch cộng đồng

có những vai trò và sự tham gia khác nhau khi đặt trong mối tương quan với các tác nhân khác nhau (các chuyên gia hay các nhà quản lý)

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Đề tài đóng góp cho công tác bảo vệ và phát huy

giá trị di sản văn hóa tại cộng đồng, đồng thời đóng góp đắc lực cho việc triển khai mô hình du lịch cộng đồng tại địa phương Thông qua việc phân tích nhiều khía cạnh khác nhau từ khâu xây dựng kế hoạch đến triển khai thực hiện dự án, đề tài đưa ra cái nhìn tổng quát về vai trò của cộng đồng trong du lịch và các thích ứng của cộng đồng khi tham gia các hoạt động du lịch

+ Tăng trưởng kinh tế: Phát triển du lịch cộng đồng dựa trên các giá trị di sản văn hóa có thể kích thích tăng trưởng kinh tế tại địa phương

+ Bảo vệ văn hóa: Bảo vệ di sản văn hóa bằng cách thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch Thông qua hoạt động du lịch cộng đồng này, các nghề thủ công truyền thống, các điệu múa xoang, những diễn xướng cồng chiêng, tập quán sinh hoạt và những món ăn truyền thống không chỉ được bảo vệ mà còn được thực hành thường xuyên và chia sẻ với du khách

+ Trao quyền cho cộng đồng: Cộng đồng địa phương trở thành các bên liên quan tích cực trong mô hình du lịch cộng đồng dựa vào giá trị di sản văn hóa Cộng đồng được trao quyền về kinh tế và xã hội, được trao quyền ra quyết định sẽ dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ du lịch cộng đồng, các giá trị di sản văn hóa qua đó cũng được bảo vệ và phát huy

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 phần Trong đó bao gồm các chương như sau:

Trang 13

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Di sản văn hóa và du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và phát triển

du lịch cộng đồng

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu của các học giả nước ngoài

- Các nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được UNESCO quan tâm từ rất sớm Năm 1972, UNESCO đã thông qua Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Tiếp tục tới năm 2003 là Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Theo

đó rất nhiều di sản văn hóa và thiên nhiên, di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được ghi danh và được các quốc gia cùng cộng đồng sở hữu di sản có những chính sách, hoạt động thực tiễn để bảo vệ và phát huy giá trị

Trong sự chuyển biến đó, về mặt học thuật, nhiều học giả đã đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Cụ thể hai tác giả Brian Garrod

và Alan Fyall trong nghiên cứu Managing heritage tourism (Quản lý du lịch di sản) đã

khẳng định rằng cần có sự cân bằng giữa việc bảo tồn và khai thác, các nhà quản lý di sản cần đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững để tài nguyên văn hóa, tài nguyên di sản được duy trì lâu dài và không bị xâm hại, có như vậy việc khai thác mới được lâu dài và hiệu quả vững bền (Brian Garrod và Alan Fyall, 2000)

Công trình Cultural Tourism - The Partnership Between Tourism and Cultural

Heritage Management (Du lịch văn hóa - Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý văn hóa),

xuất bản năm 2002 của tác giả Bob McKercher và Hilary Du Cros khẳng định rằng công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa là việc chăm sóc có hệ thống, bài bản nhằm mục đích giữ gìn những giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa cho hiện tại và tương lai Như vậy, quản lý di sản trong bối cảnh hiện nay là bảo vệ di sản đó một cách lâu dài, bền vững một cách có hiệu quả và phù hợp với điều kiện tình hình thực tế (Bob McKercher and Hilary du Cros, 2002)

Hai nhà bảo tàng học Trung Quốc là Uyển Lợi và Cố Quân với bài viết “Bảo vệ

di sản văn hóa phi vật thể và những nguyên tắc nên theo” đã ví việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể giống như “nuôi cá trong ao”, nên điểm mấu chốt là phải tạo ra một môi trường khách quan thích hợp với sự sinh trưởng Môi trường tốt, dinh dưỡng đủ, cá sẽ sinh trưởng nhanh, còn nếu quên đi môi trường và dinh dưỡng thì cá sẽ chết (Uyển Lợi

và Cố Quân,2007)

Trang 15

Các nghiên cứu về du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng hình thành và phát triển ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu

Úc từ những năm 1980 Từ những năm 1990, khái niệm này đã thực sự phổ biến Nhà nghiên cứu Jafiri đã tập hợp các nghiên cứu về du lịch có sự tham gia của cộng đồng và phân thành một số xu hướng phát triển chính Xu hướng “tán thành” phát triển vào những năm 1960, xu hướng “cẩn trọng” vào những năm 1970 và cuối cùng là xu hướng

“thích nghi” Ông cho rằng du lịch có sự tham gia của cộng đồng ra đời từ xu hướng thích nghi này Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas lại chú trọng đến vấn đề người dân tham gia vào các hoạt động quản lý du lịch tại địa phương, và lợi ích kinh tế có được từ hoạt động du lịch mà kinh tế địa phương thu được Peter E Murphy (1986) với “Tourism: A Community Approach” đã cung cấp một góc nhìn mới hơn về

du lịch với phương pháp tiếp cận về sinh thái và cộng đồng, khuyến khích những sáng kiến nhằm gia tăng lợi ích trên nhiều lĩnh vực cho người dân với việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng dựa trên nguồn tài nguyên vốn có của địa phương hay Philip L.Pearce (1997) với “Tourism Community Relationships” đã kết hợp nhiều phương pháp trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, tâm lý nhằm nghiên cứu những khía cạnh mới của

du lịch và nhất là làm sao cho cộng đồng địa phương hiểu và hành động về du lịch Nghiên cứu của tác giả Derek Hall (2003) trong công trình “Tourism and Sustainable Community Development” nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững kinh tế và văn hóa Một tài liệu vô cùng hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến du lịch và phát triển nông thôn là “Building Community Capacity of Tourism Development” của Gianna Moscardo (2008) Tài liệu nêu ra những lý do thất bại trong cách làm du lịch ở nhiều nơi do thiếu năng lực kinh doanh, đặc biệt là do nhận thức và năng lực của cộng đồng địa phương về du lịch còn rất hạn chế Tác giả đã phân tích những vấn đề còn tồn tại và đưa ra những phương án hữu hiệu trong việc lập kế hoạch phát triển du lịch thông qua những mô hình , du lịch cộng đồng thành công ở nhiều nơi trên thế giới

Tại châu Á, cộng đồng được đánh giá là có lợi thế để phát triển ở một số quốc gia

có tiềm năng về văn hóa truyền thống Nhà nghiên cứu Hsien Hue Lee - Hiệu trưởng trường Đại học cộng đồng Hsin Hsing (Đài Loan, Trung Quốc) cho rằng “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển

du lịch bền vững dài hạn Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội về tham gia của

Trang 16

người dân địa phương trong du lịch” Các quốc gia nằm trong tiểu vùng sông Mekong như Campuchia, Lào, Trung quốc, Myanma, Thái Lan đã xây dựng chiến lược xóa đói giảm nghèo dựa vào du lịch, trong đó du lịch cộng đồng là một nguồn chính, bởi du lịch cộng đồng là một trong những loại hình du lịch có trách nhiệm, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển kinh tế - xã hội địa phương

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị di sản

Trong số các công trình nghiên cứu về bảo vệ và phát huy giá trị di sản không thể không

kể đến công trình nghiên cứu Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống

Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của GS Ngô Đức Thịnh Cuốn sách đã giới thiệu những

giá trị tiêu biểu mang đặc sắc riêng có của văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới và hội nhập quốc tế (Ngô Đức Thịnh, 2010)

Cuốn sách Gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc của Phạm Mai Hùng phân

tích vai trò của hệ thống các bảo tàng Việt Nam trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; công tác bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc đồng thời đề xuất một số giải pháp các hoạt động xã hội hóa bảo tàng (Phạm Mai Hùng, 2003)

Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch của Lê Hồng Lý cung cấp

những kiến thức cơ bản về một số vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch,

du lịch văn hóa, những sản phẩm du lịch văn hóa Công trình cũng nêu lên những nội dung, nguyên tắc, quy trình tổ chức quản lý các di sản văn hóa nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch (Lê Hồng Lý, 2011)

Bài viết “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong thời kỳ hội nhập” của Nguyễn Thị Thu Trang đăng trên tạp chí Việt Nam học cho rằng quản lý nhà nước về di sản văn hóa có thể hiểu là quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, trước hết, để giữ gìn lâu dài các giá trị văn hóa tiêu biểu của đất nước hiện đang tích hợp/vật chất hóa trong các di sản văn hóa với tư cách là nguồn thông tin khoa học chân thực, có khả năng cung cấp tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm sống, bài học lịch sử có ích cho xã hội Bên cạnh đó, quản lý hoạt động bảo tồn di sản văn hóa còn phục vụ mục tiêu giáo dục, hình thành các nhân cách văn hóa và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, là những nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững Tuy nhiên, quản lý nhà nước về văn hóa phải căn bản dựa trên mục tiêu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói riêng

Trang 17

Ngô Phương Thảo với bài viết “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những góc nhìn” đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 289, tháng 7/2008 đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo

vệ di sản văn hóa hiện nay Tác giả cho rằng, mỗi ngày di sản văn hóa càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ hệ lụy của cuộc sống hiện đại Do đó ý thức về trách nhiệm phải giữ gìn các giá trị văn hóa đã tồn tại với thời gian càng phải lan tỏa sâu rộng trong

xã hội, trong mỗi cộng đồng dẫn tới những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Các nghiên cứu về du lịch cộng đồng

Tại Việt Nam, từ cuối những năm 1990, du lịch cộng đồng bắt đầu xuất hiện và dần được chú trọng phát triển cho đến ngày nay Đặc biệt, vào năm 1999, Ủy ban Phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc đã kêu gọi chính phủ các quốc gia “Tối đa hóa tiềm năng du lịch phục vụ xóa đói, giảm nghèo bằng việc xây dựng hợp tác giữa các nhóm chủ thể chính với cộng đồng dân cư và dân tộc thiểu số ở địa phương” (Bùi Thị Hải Yến 2012) Trên tinh thần đó, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã bắt đầu điều chỉnh những chính sách, chiến lược ưu tiên phát triển du lịch cộng đồng Nhiều hội thảo, hội nghị cũng như nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về loại hình du lịch này ngày càng phổ biến và sâu rộng Những nghiên cứu về du lịch cộng đồng được thực hiện bài bản và có nhiều đóng góp trực tiếp về mặt lý luận cũng như thực tiễn sau này phải kể đến công trình của tác giả Võ Quế (2006): “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng” hay “Du lịch cộng đồng”của tác giả Bùi Thị Hải Yến (2012) Ngoài ra còn nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở nhiều tỉnh, địa phương như đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Chùa Hương - Hà Tây” của Võ Quế (Viện Nghiên cứu và phát triển du lịch); đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng, góp phần phát triển du lịch bền vững trên đảo Cát Bà - Hải Phòng” của Phạm Trung Lương (Viện Nghiên cứu

và phát triển du lịch); “Nghiên cứu phát triển du lịch gắn với cộng đồng đồng dân tộc thiểu số ở Sapa theo hướng phát triển bền vững” của Nguyễn Thị Thu Nhàn hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan với “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng phía Tây tỉnh Thanh Hóa”… Kết quả của những nghiên cứu này trở thành nguồn tài liệu quan trọng để các địa phương, các tỉnh xem xét, nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả trong phát triển du lịch cộng đồng

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng

Trang 18

Các nhà nghiên cứu Causey (2014), Trần Thị Mai Lan (1998) cho rằng du lịch mang lại nhiều ý nghĩa tích cực cho đời sống kinh tế - xã hội Hiwaraki (2000), Nguyễn Tuệ Chi (2015) cũng lập luận rằng du lịch là cơ hội để các cộng đồng sáng chế, tái thiết

và phục hồi các di sản để trình diễn cho du khách đồng thời khẳng định bản sắc

Tác giả Nguyễn Đình Thanh (2011) với cuốn sách Di sản văn hóa bảo tồn và phát

triển tập hợp những bài nghiên cứu giới thiệu về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa ở Việt Nam; mối quan hệ giữa di sản văn hóa và du lịch; một số kinh nghiệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại một số quốc gia trên thế giới Tác giả Hoàng Thị Huê (2023) thông qua bài viết “Thực trạng và giải pháp quản lý di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch tại thành phố Hải Phòng” đã khẳng định: Di sản văn hóa là “nguồn tài nguyên” quý giá của dân tộc để phục vụ phát triển du lịch; di sản văn hóa là phương diện quan trọng thể hiện rõ bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển du lịch; di sản văn

hóa là nguồn vốn quan trọng để hội nhập quốc tế về du lịch

Bài viết “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” của Trần Hữu Sơn đăng trên Tạp chí Cộng sản online (2021) cho rằng: Du lịch di sản phát triển khá mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Đây là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Tác giả còn nhấn mạnh: “Di sản văn hóa tộc người bổ sung các loại hình dịch vụ mới cho du lịch Ở các điểm du lịch cộng đồng, người dân sáng tạo các loại hình vận chuyển du khách mới, như đi bằng xe trâu, cưỡi ngựa đến nhà lưu trú tham quan các điểm di tích trong làng Ở một số làng du lịch cộng đồng ở thị xã Sa Pa, người dân đi qua suối bằng cầu mây, thậm chí có nơi còn tổ chức cho nam, nữ thanh niên du khách

đi cà kheo tham quan cánh đồng Dịch vụ ẩm thực thực sự trở thành một lĩnh vực có nhiều sáng tạo phát huy di sản ẩm thực truyền thống… Có thể thấy, trong tất cả các khâu kinh doanh du lịch, di sản văn hóa đều đóng vai trò quan trọng, góp phần tăng sức hút

du khách, tạo nên nét đặc thù, bản sắc riêng của sản phẩm du lịch”

Cuốn sách “Hoạt động du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số Việt Nam: Một đích đến, nhiều con đường” của tác giả Nguyễn Công Thảo nhấn mạnh thêm vai trò của

di sản đối với phát triển du lịch cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Tác giả khẳng định: “Sự đa dạng về văn hóa của các tộc người thiểu số là điểm nhấn quan trọng, góp phần thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Việc thúc

Trang 19

đẩy du lịch cộng đồng sẽ góp phần thương mại hóa các sản phẩm văn hóa, giới thiệu các giá trị văn hóa địa phương tới mạng lưới rộng hơn Điều này giúp các cộng đồng thiểu

số có thêm nguồn lực, động cơ lưu giữ, bảo tồn các giá trị và thực hành văn hóa của mình Đây hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam” (Nguyễn Công Thảo, 2022)

- Các nghiên cứu về di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra

Trong những năm gần đây phát du lịch cộng đồng tại các làng dân tộc thiểu số ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các cơ quan ban ngành trong cả nước Nhiều học giả cũng đi sâu nghiên cứu về mô hình du lịch này

Tác giả Phạm Dương với bài viết “Đến Mơ Hra để lắng nghe hơi thở Tây Nguyên”

trên trang truyenhinhdulich.vn khẳng định: Làng Mơ Hra vẫn còn lưu giữ được khá nhiều bản sắc văn hóa dân tộc của người Ba Na mà ít nơi nào trong vùng có được Đó

là văn hóa cồng chiêng, múa xoang, dệt thổ cẩm, nhà mồ… Không những vậy làng còn giữ được nhiều nghề truyền thống như đan lát, dệt thổ cẩm, làm rượu ghè, làm dụng cụ săn bắn và nông cụ và lưu giữ được những khu nhà mồ truyền thống với những kiến trúc độc đáo Đến với Mơ Hra, du khách có thể hiểu hơn về cuộc sống bản địa của đồng bào Tây Nguyên, cùng hòa nhịp chiêng nghiêng ngả đất trời, để cùng vui cần thưởng thức hương vị nồng nàn, ngây ngất giữa cao nguyên đại ngàn”

Tác giả Phan Ngọc Điệp với bài viết “Làng Mơ Hra gắn ẩm thực với du lịch cộng đồng” đăng trên báo Gia Lai nhận định: “Vài năm trở lại đây, dân làng Mơ Hra đã bắt đầu biết làm du lịch Làng đã thành lập Ban Quản lý du lịch cộng đồng và các nhóm gồm: ẩm thực, mây tre đan, thổ cẩm, tiếp khách, văn nghệ Đặc biệt, nhóm ẩm thực đã phân chia nhiệm vụ cụ thể khi có khách như: người đi hái rau rừng, người bắt ốc, bắt cá, làm bánh, nướng gà, cơm lam” Tác giả cũng khẳng định: “Du lịch trải nghiệm ẩm thực đang trở thành xu hướng của thế giới Khi thưởng thức các món ăn và tìm hiểu cách chế biến gắn với những câu chuyện kể về lịch sử hình thành ẩm thực, du khách có thêm những trải nghiệm về văn hóa của điểm đến: làng Mơ Hra, xã Kông Lơng Khơng, huyện

Kbang, tỉnh Gia Lai”

Tác giả Minh Ngân trên trang web của Huyện ủy Kbang với bài viết “Làng Mơ Hra - điểm sáng trong công tác bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch” từ việc

phân tích những điểm đã đạt được trong công tác phát triển du lịch cộng đồng với nhiều

hoạt động văn hóa truyền thống đặc sắc để du khách khám phá, trải nghiệm, đã trở thành

Trang 20

làng du lịch cộng đồng, điểm sáng trong việc bảo tồn bản sắc, di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch Qua đó tác giả khẳng định từ điểm sáng làng Mơ Hra, công tác bảo tồn bản sắc, di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch ở Kbang sẽ tiếp tục lan rộng, không chỉ trong huyện Điều đó góp phần thúc đẩy kinh tế, văn hóa - xã hội ở địa phương ngày càng phát triển

Công trình có tầm bao quát nhất về bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch cộng đồng ở làng Mơ Hra đến thời điểm hiện tại đến là Dự án “Kết nối di sản” của Hội đồng Anh Dự án đã định vị hệ thống di sản – giá trị tiềm tàng của cộng đồng Bahnar đồng thời khẳng định vai trò của du lịch di sản đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản; từ đó đưa ra phương hướng mục tiêu để biến di sản văn hóa trở thành sản phẩm cho phát triển du lịch cộng đồng nhằm mang lại thu nhập cho cộng đồng, sao cho cộng đồng được hưởng những quyền lợi lớn nhất từ chính di sản văn hóa mà cha

ông mình đã sáng tạo ra, dày công bảo tồn, vun đắp và trao truyền đến ngày hôm nay

1.1.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu

Hầu hết các công trình tôi đã điểm qua bên trên của các học giả quốc tế và trong nước đều là những nghiên cứu mang tầm vĩ mô, định hướng chung về bảo tồn và phát huy giá trị di sản, du lịch cộng đồng, mối quan hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch cộng đồng Các nghiên cứu đó chính là cơ sở lý luận để tôi vận dụng vào trong nghiên cứu của mình

Về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch cộng đồng

ở làng Mơ Hra đến thời điểm hiện tại có khá nhiều nghiên cứu của các học giả trong nước được công bố Tuy nhiên các nghiên cứu mới chỉ mới dừng lại ở các bài viết nhỏ lẻ, có chăng cũng chỉ là một mục nhỏ trong một công trình nghiên cứu lớn Một trong các công trình nghiên cứu với quy mô sâu, rộng về chủ đề này hiện tại là Dự án “Kết nối di sản” của Hội đồng Anh Dự án đã mở ra cho tôi cái nhìn và hướng tiếp cận di sản mới, từ đó giúp tôi đưa ra được phương hướng biến di sản trở thành nguồn tài nguyên bền vững góp phần phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo đối với cộng đồng làng Mơ Hra Dựa trên tham khảo các hoạt động du lịch cộng đồng trên địa bàn từ dự án của Hội đồng Anh, bổ sung thêm hướng nghiên cứu thực địa mới về bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong phát triển du lịch cộng đồng ở làng Mơ Hra, trong chương 2 và 3 của Luận văn này tôi đi sâu vào nghiên cứu về các di sản văn hóa và du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, mối quan

hệ giữa bảo vệ và phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch cộng đồng

Trang 21

1.2 Một số khái niệm về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, du lịch cộng đồng

1.2.1 Di sản văn hóa

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

Di sản văn hóa: Di sản văn hóa được hiểu chung là “những tài sản văn hóa của

một dân tộc một đất nước, hay toàn nhân loại”

Trong Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, khái niệm “di sản văn hóa” được định nghĩa là những hiện vật vật chất được coi là có giá trị kiến trúc và nghệ thuật với những tiêu chí nhất định Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, nội hàm khái niệm di sản và mô hình phát triển, cũng như mối quan hệ giữa di sản văn hóa và phát triển đã được thay thế bằng những cách nhìn mới Trong nhận thức mới này, phát triển không chỉ còn được nhìn nhận thuần túy ở khía cạnh kinh tế mà còn bao gồm sự công bằng xã hội và bản sắc văn hóa tộc người Theo Luật Di sản văn hóa của Việt Nam, di sản văn hóa là các sản phẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Về di sản văn hóa vật thể, có rất nhiều khái niệm/định nghĩa Chẳng hạn:

- Di sản văn hóa vật thể là những tài sản văn hóa hữu hình, như công trình kiến

trúc, di tích lịch sử, tượng đài, sách vở, tài liệu, tác phẩm nghệ thuật, máy móc, trang phục và đồ tạo tác khác, được coi là xứng đáng bảo quản cho tương lai Đó là những thực thể quan trọng đối với khảo cổ học, kiến trúc, khoa học hay công nghệ của một nền văn hóa cụ thể (Định nghĩa của UNESCO)

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,

bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (khoản 2 Điều 4 Luật Di sản văn hóa)

Về di sản văn hóa phi vật thể cũng có rất nhiều khái niệm/định nghĩa Chẳng hạn:

- Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu

đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ, được trao truyền từ

Trang 22

thế hệ này sang thế hệ khác, được tái tạo liên tục bởi các cộng đồng và nhóm người, để thích ứng với môi trường của họ, tương tác với tự nhiên và lịch sử của họ, và cung cấp cho họ với một cảm quan xác định và liên tục, từ đó thúc đẩy sự tôn trọng đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người (Khoản 1 Điều 2 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa

phi vật thể năm 2003 của UNESCO)

- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân,

vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác (Khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa)

Bảo tồn di sản văn hóa: Được hiểu như là những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị,

bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyền thống) của mỗi dân tộc, quốc gia Bảo tồn giá trị văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng bởi bản thân quá trình phát triển văn hóa luôn có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan

Phát huy giá trị văn hóa: Được xem như một tất yếu khách quan của sự vận động

của lĩnh vực văn hóa đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn

cho cuộc sống của con người Nó bao hàm hai ý nghĩa: Thứ nhất, đó là những hành động

nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người,

thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội Thứ hai, phát huy ở đây còn

bao hàm ý nghĩa đó chính là môi trường tốt nhất để bảo vệ và làm giàu chính bản thân văn hóa Xét cho cùng, văn hóa không thể được bảo vệ nếu như nó không được phát huy trong đời sống xã hội Chính trong môi trường xã hội sống động như vậy, văn hóa sẽ được nuôi dưỡng, bảo vệ một cách hiệu quả nhất (Ngô Đức Thịnh, 2010)

Do khuôn khổ và đề tài luận văn nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy giá trị một số loại hình di sản văn hóa phi vật thể của địa phương để phát triển du lịch cộng đồng nên ở đây tôi chỉ xin đề cập đến việc phân loại loại hình di sản văn hóa phi vật thể

và phát triển du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản

Loại hình di sản văn hóa phi vật thể:

- Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2003) của UNESCO, di sản

Trang 23

văn hóa phi vật thể bao gồm các loại hình sau: các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; (d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên

và vũ trụ; (e) nghề thủ công truyền thống” (Khoản 2, Điều 2)

- Theo Luật Di sản văn hóa của Việt Nam thì di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các loại hình sau: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Từ các định nghĩa và cách phân loại loại hình di sản văn hóa của UNESCO và Luật

Di sản văn hóa của Việt Nam, có thể thấy, tại Tây Nguyên, “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” - di sản văn hóa đã được UNESCO ghi danh là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại ngày 25/11/2005 (và chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2008) đã hội tụ đầy đủ các loại hình

kể trên Không gian này bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước…), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên…)… Mỗi yếu tố mang một giá trị tiêu biểu, thể hiện đời sống văn hóa tinh thần

vô cùng phong phú của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên Thiếu một trong các yếu tố

bộ phận sẽ không làm nên không gian văn hóa cồng chiêng của Tây Nguyên

Di sản ở nghiên cứu này là kiến trúc truyền thống, âm nhạc và ẩm thực Cụ thể ở đây là nhà rông truyền thống của dân tộc Bahnar, biểu diễn cồng chiêng và món ăn từ

củ mỳ Các yếu tố di sản này nằm trong tổng thể các giá trị chung của “Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO ghi danh năm 2005

Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản

Du lịch dựa vào các giá trị di sản là loại hình du lịch được phát triển dựa trên các giá trị di sản hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam

là một đất nước có nhiều di sản văn hóa, đặc biệt là di sản mang tầm cỡ thế giới đã được UNESCO ghi danh Tính đến hết năm 2022, chúng ta đã có 15 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, như: Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên,

Trang 24

Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát Ca trù, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Hát Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam

Bộ, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ và trò chơi kéo co, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm; 9 di sản tư liệu, như: Mộc bản triều Nguyễn, Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, Mộc bản trường học Phúc Giang, Hoàng hoa sứ trình

đồ (Hành trình đi sứ Trung Hoa), Bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (1689-1943); 8 Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đó là: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Đô thị cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Thành nhà Hồ (Thanh Hóa), Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội Qua đó có thể thấy,

di sản văn hóa thực sự là một nguồn tài nguyên du lịch có giá trị độc đáo, đặc sắc, trong

phát triển du lịch tại Việt Nam

Di sản văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng có mối liên hệ tương tác, gắn bó hữu cơ: Di sản văn hóa là nguồn vốn, là cơ sở để du lịch khai thác, làm giàu; du lịch, đến lượt mình sẽ có tác dụng quảng bá, tôn lên các giá trị văn hóa của di sản, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa Di sản văn hóa là tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch và ngược lại du lịch tạo vật chất kinh tế để bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Du lịch là công cụ hữu hiệu để quảng bá di sản và còn tạo ra kinh tế để cộng đồng thụ hưởng

Di sản văn hóa của quốc gia và địa phương là nguồn lực vật chất to lớn được gia tăng giá trị thông qua hoạt động du lịch Du lịch có chức năng giới thiệu, quảng bá di sản để thu hút du khách trong nước và quốc tế mang lại nguồn thu cho địa phương và cộng đồng dân cư

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định du lịch, trong đó có du lịch cộng đồng, là ngành kinh tế mũi nhọn, vừa thực hiện nhiệm vụ phát huy giá trị văn hóa và con người trở thành nguồn lực, động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

“Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên ” (Luật Du lịch năm 2017)

Trang 25

1.2.2 Cộng đồng và du lịch cộng đồng

“Cộng đồng” (Community) là một trong những khái niệm xã hội học mang tính đa nghĩa Từ những cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu, khái niệm này lại được hiểu theo những cách khác nhau J Midgley,1986 khi nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng và vai trò của nhà nước đối với quá trình phát triển xã hội đã cho rằng: “Cộng đồng

là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một khu vực địa lý nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản” Trong khi đó, J.H.Fichter,1974 trong công trình nổi tiếng

đã định nghĩa: “Cộng đồng là một tập thể người nhất định trên một lãnh thổ kinh tế và văn hóa, bao gồm các yếu tố: tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi khi được gọi là tương quan mặt đối mặt, tương quan thân mật; có sự liên

hệ về tình cảm và cảm xúc; có sự tình nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả, có ý nghĩa; có ý thức đối với mọi thành viên trong tập thể” Ở Việt Nam, khái niệm “cộng đồng” được giới thiệu vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh phía Nam trong lĩnh vực giáo dục Đến những năm 1960-1970, hoạt động phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông thôn của sinh viên và phong trào Phật giáo Từ những năm 1980 đến nay, khái niệm này càng được biết đến rộng rãi qua các chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như một nhân tố quyết định để chương trình đạt hiệu quả bền vững

Xuất phát từ những nghiên cứu về cộng đồng và những nỗ lực nhằm phát triển cộng đồng, các lý thuyết về du lịch cộng đồng cũng được đề xuất và ứng dụng rộng rãi

Du lịch cộng đồng còn được gọi với những tên khác như du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism), phát triển cộng đồng dựa vào du lịch (Community-development in Tourism), du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (Community-Based Ecotourism), du lịch có sự tham gia của cộng đồng (Community-Participation in Tourism), du lịch núi dựa vào cộng đồng (Community-Based Mountain Tourism) Du lịch cộng đồng có nguồn gốc từ loại hình du lịch làng bản vào những năm 1970 ở các quốc gia châu Phi, Mỹ La Tinh, châu Úc Khái niệm này được các du khách đưa ra khi tham quan và tổ chức các cuộc du ngoạn tại các làng bản, tìm hiểu đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, khám phá hệ sinh thái của vùng núi non trong điều kiện địa hình hiểm trở, dân cư thưa thớt, điều kiện đi lại, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn Những lúc đó, khách du lịch thường cần đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của dân cư địa phương như dẫn đường

Trang 26

hoặc cần nơi nghỉ ngơi Đây là tiền đề cho sự hình thành và phát triển du lịch cộng đồng

và đến những năm 1980 -1990, loại hình du lịch này đã lan rộng sang các nước châu Á, trong đó có Việt Nam Mặc dù đã trải qua quá trình phát triển nhất định, nhưng cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất cho loại hình du lịch này Nicole Häusler và Wolffgang Stasdas, 2000 cho rằng: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch mà trong

đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại ở nền kinh tế địa phương” Khái niệm này cũng được nhắc đến trong các chương trình nghiên cứu của nhiều tổ chức xã hội trên thế giới Tại Thái Lan, tổ chức Responsible Ecological Social Tours Project (REST) quan niệm: “du lịch cộng đồng là phương thức du lịch có tính đến tính bền vững về môi trường và văn hóa

xã hội Nó được quản lý và sở hữu bởi cộng đồng, vì cộng đồng, với mục đích tạo điều kiện cho du khách nâng cao nhận thức và tìm hiểu về cộng đồng và cách sống của địa phương” Pachamama - một tổ chức hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực châu Mỹ cũng đưa ra quan điểm về loại hình du lịch này: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoại đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương” Các tổ chức khác như Istituto Oikos (Tổ chức Hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và nhân văn cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới), Tổ chức Mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo cũng đều có cách diễn đạt riêng về chủ đề này

Ở Việt Nam, khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng lần đầu tiên được đề cập đến trong Hội thảo Chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng được Tổng cục Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 Theo đó, du lịch cộng đồng được hiểu là: “Phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững; nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia

sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế” Trong nhiều năm trở lại đây, du lịch cộng đồng cũng được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và các tổ chức phát triển cộng đồng dành sự quan tâm từ các khía cạnh khác nhau Các tác giả Nguyễn Văn Thanh, Võ Quế nhấn mạnh vai trò của phương thức

Trang 27

phát triển du lịch cộng đồng trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn Tác giả Võ Quế nhìn nhận: “Du lịch cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong

đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên” (Võ Quế, 2006) Trong khi đó, Bùi Thị Hải Yến lại xem phát triển du lịch cộng đồng là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn đồng thời cũng đề cập đến

sự tham gia của cộng đồng địa phương: “Du lịch cộng đồng có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách” (Bùi Thị Hải Yến, 2012) Du lịch cộng đồng đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đặc biệt là các địa phương ở vùng sâu, vùng xa, nơi tỉ lệ người dân tộc thiểu số tập trung đông đảo Do vậy, du lịch cộng đồng được Nhà nước quan tâm và khuyến khích và được quy định cụ thể tại khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai

Di sản văn hóa là đối tượng khai thác của du lịch cộng đồng

- Các di sản văn hóa vật thể (di tích lịch sử, công trình văn hóa, địa điểm tôn giáo, tín ngưỡng, công trình nghệ thuật, bảo tàng…) là điểm đến chủ yếu của các tour du lịch văn hóa Những di sản văn hóa này với “phần hồn” là các lễ hội dân gian, sự kiện văn hóa gắn liền với di tích chính là những yếu tố thu hút du khách du lịch văn hóa

Trang 28

- Các di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian, văn hóa ẩm thực, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, trang phục truyền thống, tri thức bản địa…) là đối tượng và nội dung chủ yếu của du lịch văn hóa, là nguồn tài nguyên nhân văn để du lịch văn hóa khai thác Nếu được khai thác một cách bền vững thì nguồn tài nguyên này có khả năng khai thác lâu dài, không bao giờ cạn kiệt Thậm chí, giá trị khai thác của loại tài nguyên đặc biệt này càng ngày càng được tăng lên theo thời gian

- Chính sự đa dạng của các loại hình di sản văn hóa sẽ làm đa dạng sản phẩm du lịch cộng đồng Thậm chí, di sản văn hóa còn quyết định tính chất, quy mô hoạt động

và định hướng phát triển của du lịch cộng đồng

Tại Tây Nguyên, trong những năm gần đây, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, kho tàng văn hóa sắc tộc đặc sắc, riêng có với âm nhạc cồng chiêng rộn rã, những ngôi nhà dài, bến nước… đặc trưng, những lễ hội dân gian độc đáo phản ánh tri thức dân gian, khát vọng của con người, những món ăn mang đậm phong vị văn hóa tộc người… đã giúp Tây Nguyên định vị được thương hiệu của mình trong phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng dựa vào giá trị di sản văn hóa bản địa Các ngôi nhà dài, bến nước được bảo vệ không chỉ là nơi diễn ra các nghi lễ độc đáo của tộc người với tiếng cồng, chiêng ngân vang, những món ăn thơm lừng mang đậm hương vị núi rừng, những lề lối sống… tạo nên một “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại;

mà còn trở thành điểm homestay thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến thăm quan, trải nghiệm, nghỉ dưỡng với các dịch vụ phong phú

Nằm trong “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, làng Mơ Hra có thể phát triển điểm du lịch cộng đồng Qua khảo sát, bước đầu các giá trị văn hóa của cộng đồng làng đã được khai thác trở thành sản phẩm du lịch thu hút đông đảo du khách, giúp

người dân được hưởng lợi từ những giá trị văn hóa của mình

Du lịch cộng đồng phát triển sẽ tạo cơ hội lẫn thách thức cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa

* Cơ hội

- Du lịch cộng đồng phát triển sẽ góp phần giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa của cộng đồng, cụ thể trong luận văn này là cộng đồng Tây Nguyên nói chung làng Mơ Hra nói riêng ra phạm vi quốc gia và quốc tế

- Nguồn thu từ du lịch cộng đồng, nếu được sử dụng hợp lý sẽ tạo ra khả năng hỗ trợ đắc lực cho việc bảo vệ các di tích lịch sử, các di tích khảo cổ, các công trình văn

Trang 29

hóa đang bị hư hại, xuống cấp, có nguy cơ bị tàn lụi Đặc biệt, đối với những quốc gia hoặc địa phương nghèo, không có đủ tiềm lực kinh tế để trùng tu, tôn tạo hay bảo vệ các

di sản văn hóa vật thể thì nguồn thu từ du lịch cộng đồng sẽ là nguồn lực chính để khắc phục tình trạng hư hại, xuống cấp của di tích

- Du lịch cộng đồng sẽ làm nảy sinh nhu cầu tôn tạo cảnh quan tại các điểm đến

để làm tăng giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật nhằm thu hút du khách Nhờ vậy mà cảnh quan của các di sản luôn được tôn tạo, chỉnh trang, chăm sóc (như: tạo thêm các vườn cây, công viên, hồ nước, thác nước nhân tạo…), khiến cho giá trị thẩm mỹ, giá trị khai thác, sử dụng của di sản cũng tăng lên

- Du lịch cộng đồng cũng góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng cư dân địa phương trong việc bảo vệ các di sản văn hóa ngay chính tại quê hương Du lịch cộng đồng phát triển sẽ tạo cơ hội để sử dụng và phát huy giá trị của các di sản văn hóa Nhờ

đó sẽ mang lại nguồn thu đáng kể cho cộng đồng sở hữu di sản Khi hiểu được các giá trị văn hóa, giá trị lịch sử cũng như giá trị kinh tế mà các di sản này mang lại, cộng đồng

sẽ có ý thức, trách nhiệm và có những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ các di sản văn hóa, cũng như cách thức khai thác các di sản văn hóa này một cách hiệu quả để phục vụ phát triển du lịch cộng đồng địa phương

- Du lịch cộng đồng tạo cơ hội thúc đẩy việc nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể, như: lễ hội, ẩm thực, diễn xướng dân gian, sản phẩm thủ công mỹ nghệ… nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và sự phát triển của du lịch Nhờ

đó, đã góp phần làm sống lại những di sản văn hóa phi vật thể từng bị lãng quên hay bị mai một, giới thiệu những di sản văn hóa này với cộng đồng và với du khách, góp phần phục hưng nền văn hóa địa phương, nâng cao giá trị và bản sắc của di sản văn hóa địa phương (Trần Đức Anh Sơn, 2012)

* Thách thức

- Du lịch cộng đồng phát triển có nguy cơ dẫn đến tình trạng di sản văn hóa bị quá tải, bị khai thác đến cạn kiệt Hậu quả là di sản bị xuống cấp, bị hủy hoại, thậm chí bị xóa sổ hoàn toàn

- Du lịch cộng đồng phát triển khiến cho lượng du khách tập trung nhiều tại các di sản, gây nên tình trạng ô nhiễm về rác thải, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước… tại nơi di sản tồn tại Thậm chí, những tác nhân do du khách gây ra, như: tiếp xúc trực tiếp với di sản; chụp ảnh với đèn flash; mồ hôi, hơi thở của du khách thải ra… đều có

Trang 30

thể gây hại cho di sản văn hóa vật thể Bên cạnh đó là những hành vi gây hại trực tiếp đối với di sản văn hóa do du khách cố tình gây nên đã để lại những hệ lụy không nhỏ cho các di sản văn hóa

- Không gian truyền thống, thiêng liêng trong các di tích lịch sử, các cơ sở thờ tự, tín ngưỡng… cũng sẽ bị xáo trộn, bị tác động, thậm chí bị thay đổi bởi sự hiện diện vượt tầm kiểm soát của du khách

- Tình trạng an ninh, an toàn cho các hiện vật trưng bày nơi di tích cũng bị ảnh hưởng do thường xuyên bị du khách sờ mó, tiếp xúc; thậm chí cả nguy cơ mất mát các hiện vật này do sự gia tăng của du khách, nhất là khi các biện pháp bảo vệ các hiện vật này không được đảm bảo

- Ngoài ra, vì nhu cầu phục vụ du lịch, nhiều di tích lịch sử văn hóa đã bị tu sửa không đúng quy cách, làm mất tính nguyên gốc, thậm chí là bị biến dạng so với nguyên thủy, gây ra những hậu quả xấu trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích

- Tương tự, cũng vì nhu cầu phục vụ du lịch nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã được phục dựng và tái hiện để đưa vào khai thác nhưng đã bị làm sai lệch Điều này khiến cho nhiều di sản văn hóa phi vật thể bị “huy động” để phục vụ cho hoạt động

du lịch cộng đồng Chẳng hạn: nhiều hình thức diễn xướng dân gian đã bị tách khỏi môi trường diễn xướng, bị sân khấu hóa, nên bị xơ cứng, giả tạo và thiếu sức sống; nhiều nghi thức truyền thống bị loại bỏ hoặc được thay thế bằng những biến tướng; nhiều loại trang phục, đạo cụ truyền thống sử dụng trong lễ hội bị thay thế bởi trang phục, phương tiện, thiết bị hiện đại hơn; nhiều sinh hoạt dân gian, trò chơi và thú tiêu khiển truyền thống gắn liền với lễ hội đã bị thay thế bằng các sinh hoạt mới lạ, những trò tiêu khiển hiện đại, xa lạ với truyền thống; nhiều món ăn truyền thống gắn liền với lễ hội đã bị thay thế vì không tìm được nguồn nguyên liệu truyền thống hoặc không có người chế biến theo lối xưa, hoặc đơn giản chỉ để phục vụ thói quen ẩm thực của du khách tham gia lễ

hội (Trần Đức Anh Sơn, 2012)

1.3 Cơ sở lý luận

1.3.1 Bảo vệ di sản văn hóa từ quan điểm cộng đồng

Từ những thách thức và cơ hội mà du lịch cộng đồng mang lại đối với công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, có thể thấy bảo vệ di sản văn hóa là một trong những lĩnh vực khó và phức tạp Vấn đề này đã được mọi quốc gia, lãnh thổ và các tổ chức trên thế giới quan tâm bởi tính thời sự của nó Từ rất sớm (1972) trong công ước

Trang 31

bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, UNESCO đã nêu rõ quan điểm về việc bảo vệ di sản văn hóa đó là “trách nhiệm bảo đảm của việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hóa và tự nhiên” trên lãnh thổ của mỗi quốc gia Các quốc gia “phải nỗ lực hành động tối đa cho mục đích trên bằng những nguồn lực mà mình sẵn có và nếu có, thì bằng cả sự viện trợ và hợp tác quốc tế mà nó có thể có được hưởng nhất là về mặt tài chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật” (Điều 4, Công ước năm 1972) Đến năm 2003, UNESCO tiếp tục ghi rõ quan điểm về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể như sau: “Bảo vệ là các biện pháp nhằm đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, giữ gìn, bảo tồn, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua các hình thức giáo dục chính thức và không chính thức, cũng như việc phục hồi các khía cạnh khác nhau của loại hình

di sản này” (Điều 2, Công ước năm 2003)

Tiếp thu quan điểm của UNESCO, giới nghiên cứu về di sản văn hóa đã nỗ lực không ngừng trong nghiên cứu để đưa ra những hướng tốt nhất để bảo vệ di sản văn hóa Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Lucas Lixinski với một cái nhìn toàn diện về việc bảo vệ hợp pháp

di sản văn hóa phi vật thể Bằng cách kết hợp các cách thức khác nhau về các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tác giả đề cập cách thức thực hiện luật pháp để bảo vệ các cộng đồng, như những cộng đồng từ nơi di sản văn hóa phi vật thể bắt nguồn và những lợi ích từ việc khai thác nó phải trả lại cho ai Theo tác giả, di sản văn hóa phi vật thể có thể được bảo vệ bởi các tổ chức ở ba cấp độ khác nhau: quốc

tế, khu vực và quốc gia (Lucas Lixinski, 2016)

Li Jing và Peng Duan (2019) có cách tiếp cận sáng tạo, đổi mới gắn với cuộc cánh mạng công nghệ 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, diễn ra sâu rộng trên toàn thế giới hiện đại của kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo, qua đó sáng tạo các phương án bảo vệ và gìn giữ di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc (Li Jing và Peng Duan, 2019)

Việt Nam có kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú, phân bố rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng, từ đất liền đến hải đảo, từ miền Bắc tới miền Nam, nơi nào có dấu chân của con người, nơi đó có di sản văn hóa Tuy nhiên theo thời gian và sự đổi thay của xã hội, nhiều di sản văn hóa có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất khỏi đời sống cộng đồng Do đó cũng có không ít các nhà di sản học dày công nghiên cứu để đưa

ra hướng bảo vệ tốt nhất các di sản văn hóa của dân tộc, cụ thể:

Trang 32

Nguyễn Quốc Hùng trong công trình nghiên cứ đã nhận định rằng tài sản văn hóa

ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng nhưng nếu chúng ta không cố gắng phấn đấu cho cho sự phát triển bền vững thì khuynh hướng ưu tiên cho phát triển kinh tế - xã hội sẽ nổi trội, lấn át khuynh hướng bảo tồn di sản Hiện có ba khuynh hướng bảo tồn di sản,

và Việt Nam có xu hướng bảo tồn di sản theo khuynh hướng thứ 3 Tác giả cho rằng tại các nước phát triển, để đạt được sự cân bằng giữa bảo tồn và phát triển đã khó, tại các nước đang phát triển (các nước nghèo) như Việt Nam công việc này còn khó gấp bội,

do vậy gánh nặng này, không chỉ đặt trên vai các nhà làm công tác bảo tồn di sản mà còn nằm ngay trong ý thức của các nhà hoạch định chính sách ở trung ương và địa phương, những người có hoạt động liên quan đến di sản trong cộng đồng Vì vậy, song song với việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cần có sự tăng cường hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý bảo vệ và phát huy giá trị di sản Đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên gia, thợ lành nghề có trình độ chuyên môn cao, đảm bảo cả số lượng

và chất lượng, đủ đáp ứng yêu cầu quản lý và thực thi nghiệp vụ bảo quản, tu bổ, tôn tạo đối với di sản văn hóa vật thể, đủ năng lực để nghiên cứu lập hồ sơ lưu trữ và hoạt động bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là một vấn đề rất quan trọng cho tương lai (Nguyễn Quốc Hùng, 2004)

Theo GS Từ Thị Loan, có thể có hai cách tiếp cận cơ bản đối với hai loại hình di

sản: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Theo tác giả, đối với di sản văn hóa vật thể, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn hoàn toàn chiếm ưu thế Không thể nhân danh “bảo tồn

kế thừa” hay “bảo tồn phát triển” để làm mới các di chỉ, hiện vật, biến dạng các di tích, xâm hại di sản Làm như vậy sẽ là một sự ngu tối, sự phá hoại di sản, là có tội với cha

ông trước những di sản của quá khứ Đối với di sản văn hóa phi vật thể, thì đương nhiên khó có thể vận dụng quan điểm bảo tồn nguyên vẹn Trong quá trình bảo tồn các di sản này, việc vận dụng quan điểm bảo tồn kế thừa hay thậm chí bảo tồn phát triển (ở những

chừng mực nhất định) là có thể chấp nhận được Chỉ có như vậy, các di sản này mới có sức sống và sự trường tồn trong lòng xã hội hiện đại (Từ Thị Loan, 2022)

Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Di sản văn hóa phi vật thể ở Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tại Nhật Bản (IRCI) (2021), tổ chức tọa đàm Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (VICAS) và Trung tâm Nghiên cứu quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể ở khu

Trang 33

vực châu Á - Thái Bình Dương tại Nhật Bản (IRCI) Tọa đàm được tổ chức với các nội dung: đánh giá công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam theo Luật Di sản văn hóa của Việt Nam và theo Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO; những vấn đề cấp thiết trong việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể hiện nay; định hướng và giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam giai đoạn hiện nay và trong tương lai

Như vậy có thể thấy, vấn đề bảo vệ di sản văn hóa luôn được các tổ chức quốc tế

và các quốc gia quan tâm nghiên cứu Tại Việt Nam đây cũng là một vấn đề cấp bách, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng dựa vào các giá trị di sản văn hóa nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, mang lại đời sống ấm no cho cộng đồng sở hữu di sản

1.3.2 Di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng trong phát triển bền vững

Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên dồi dào, phong phú đa dạng với nhiều loại

hình khác nhau, nó chính là nguồn lực mạnh có giá trị cao trên nhiều phương diện Mục đích của bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao vai trò, giá trị của văn hóa, đồng thời biến di sản thành nguồn lực để thúc đẩy du lịch cộng đồng phát triển, đáp ứng nhu cầu văn hóa của quảng đại quần chúng nhân dân

Theo Quỹ Châu Á, du lịch cộng đồng thường diễn ra dưới các hình thức sau: (1)

Du lịch sinh thái; (2) Du lịch văn hóa; (3) Du lịch nông nghiệp; (4) Du lịch bản địa; (5) Du lịch làng Đối tượng tìm đến loại hình du lịch cộng đồng thường muốn tự trải nghiệm đời sống văn hóa, nhịp sống thường ngày, môi trường tự nhiên hoang sơ Vì thế

để thu hút khách du lịch bền vững, các quốc gia cần đẩy mạnh công tác bảo vệ các di sản văn hóa, biến nó trở thành sản phẩm du lịch hữu ích (Quỹ Châu Á, Viện Nghiên cứu phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, 2022)

Theo Brohman.J, bản sắc văn hóa tộc người và điều kiện cũng như cảnh quan sinh thái địa phương là hai trong nhiều giá trị quan trọng có thể khai thác trong hoạt động du lịch cộng đồng Để duy trì bền vững bản sắc văn hóa, biến nó thành sản phẩm phục vụ

du lịch cộng đồng, cộng đồng sở hữu di sản cần có chiến lược lâu dài theo từng giai đoạn cụ thể (Brohman.J, 1996)

Russell trong nghiên cứu mối quan hệ của di sản văn hóa với du lịch cộng đồng

đã cho rằng, mỗi cộng đồng, dân tộc thường có bản sắc riêng và đây là tiền đề, điểm tựa

để phát triển du lịch cộng đồng bởi khách du lịch luôn có tâm thế muốn trải nghiệm những điều mới mẻ, khác với trải nghiệm thường ngày của họ (Russell P, 1995)

Trang 34

Theo McIntosh, R., Goeldner, C., khác với loại hình du lịch giải trí thông thường, khách du lịch với mục đích tìm hiểu bản sắc văn hóa thường có nhu cầu thu thập kiến thức một cách hệ thống, sâu về văn hóa của một cộng đồng, dân tộc nào đó Chính vì thế, họ thường định kỳ đi thăm với sự lựa chọn địa điểm có chủ đích thay vì ngẫu nhiên và điều đó dẫn đến sự ra đời của khái niệm du lịch văn hóa Vai trò của cộng đồng địa phương nhờ đó hết sức quan trọng bởi họ là đối tượng trực tiếp trình diễn, chia sẻ, diễn giải các giá trị văn hóa ấy cho du khách (McIntosh, R., Goeldner, C.,1990) Cũng giống như các quốc gia trên toàn thế giới, những nghiên cứu về di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng ở nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định Tiêu biểu có một số công trình sau:

Trong cuốn “Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Thị Chiến đã nêu quan điểm: yêu cầu cao nhất của phát triển du lịch là phát triển bền vững và phân tích cách phát triển du lịch bền vững theo hướng nhấn mạnh yếu

tố văn hóa (Nguyễn Thị Chiến 2004)

Trong cuốn "Giáo trình Quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững" do Lê Hồng

Lý chủ biên, tác giả phân tích một cách hệ thống cơ sở lý luận cho du lịch bền vững Ngoài ra còn có các hội thảo khoa học cấp bộ, cấp trường đại học, cấp tỉnh với rất nhiều bài tham luận sâu sắc, tính ứng dụng cao đối với việc bảo vệ di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng, có thể kể ra một số hội thảo sau:

Năm 2005, Tổng cục Du lịch phê duyệt đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về "Chủ trương và giải pháp để bảo tồn, phát huy có hiệu quả giá trị các di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch” đã xây dựng các nhóm giải pháp chung để bảo tồn và phát huy di sản phục vụ du lịch

Tại hội thảo “Du lịch có trách nhiệm và Di sản văn hóa” diễn ra ngày 3/4/2015 tại

Hà Nội, trong khuôn khổ Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam (VITM) Hà Nội 2015, đã

có nhiều tham luận nói tầm quan trọng của di sản văn hóa trong phát triển du lịch, các tác giả cũng đã nói tới hệ lụy của du lịch tác động tới di sản và cũng xác định rằng phát triển du lịch có trách nhiệm là một trong những giải pháp trụ cột nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, hướng tới sự phát triển bền vững

Trong hội thảo khoa học đào tạo du lịch trong trường đại học nghiên cứu diễn ra tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Nguyễn Phạm Hùng cũng đã

có bài tham luận về vấn đề "Bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch" Trong đó tác giả đã

Trang 35

nêu lên thực trạng bảo tồn văn hóa ở Việt Nam hiện nay và đưa ra vấn đề muốn du lịch phát triển thì di sản phải được bảo tồn nguyên bản - nguyên vẹn - nguyên nghĩa của nó

Có thể khẳng định, trong thời kỳ hội nhập hiện nay, vấn đề khai thác di sản văn hóa để đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch được chú trọng với tốc độ phát triển khá nhanh, mạnh và có ý nghĩa tích cực Tuy nhiên trong đó vấn đề quy hoạch xây dựng là việc cần bàn vì ở không ít địa phương diễn ra khá tùy tiện, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo tồn di sản văn hóa Mục đích của quy hoạch xây dựng là phát triển kinh tế trong khai thác du lịch, song sự khai thác xây dựng tùy tiện nhiều khi là bừa bãi sẽ phá

vỡ cảnh quan văn hóa, phá vỡ việc bảo vệ di sản văn hóa cả về vật thể và phi vật thể Xuất phát từ cơ sở trên, trong luận văn này tôi tập trung nghiên cứu về việc bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa để phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra với

hy vọng, từ một ngôi làng nhỏ bé, nghiên cứu này sẽ đóng góp tích cực vào việc bảo vệ

di sản, đồng thời phát huy được giá trị của di sản trong phát triển du lịch cộng đồng để người dân - chủ sở hữu các di sản sẽ là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ những di sản vô giá mà cha ông đã tạo dựng và trao truyền đến ngày nay

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1, tôi đã phân tích các khái niệm quan trọng có liên qua đến đề tài luận văn như: di sản văn hóa, bảo vệ và phát huy, di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, cộng đồng, du lịch cộng đồng Đồng thời, trong phần này tôi đã điểm qua tình hình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về di sản văn hóa, du lịch cộng đồng, mối quan hệ giữa di sản văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng - những thuận lợi và thách thức đặt ra

Có thể thấy, di sản văn hóa và du lịch cộng có một mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu biết cách khai thác các di sản văn hóa để phục vụ du lịch cộng đồng thì sẽ tạo điều kiện cho loại hình du lịch này phát triển và nguồn thu từ du lịch cộng đồng sẽ góp phần vào việc nuôi dưỡng, bảo vệ, phát huy các giá trị của di sản văn hóa Ngược lại, nếu di sản văn hóa không được giới thiệu, không được khai thác, không được tái hiện thông qua hoạt động du lịch thì sẽ uổng phí, các di sản văn hóa có nguy cơ rơi vào mai một, lãng quên, xuống cấp và hư hại, loại hình du lịch văn hóa do đó cũng khó có cơ may tồn tại và phát triển

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu này, trong các phần tiếp theo của luận văn, tôi tiếp tục triển khai nghiên cứu một trường hợp cụ thể là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng tại làng Mơ Hra, Xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai

Trang 37

CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG MƠ HRA, XÃ KÔNG LƠNG KHƠNG, HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

2.1 Giới thiệu chung về làng Mơ Hra

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của làng Mơ Hra

Làng Mơ Hra là một trong 9 làng của xã Kông Lơng Khơng, huyện Kbang Làng

Mơ Hra có nghĩa là làng mới Trước đây làng có tên là Mơr Cơ Tu, nghĩa là làng do ông Mơr lập nên, cách vị trí hiện tại 1km Năm 1990, Mơ Cơ Tu chi thành hai làng Mơ Hven

và Mơ Hra

Làng Mơ Hra vị trí địa lý: Phía Đông giáp xã Tân An- Đak Pơ; Phía Tây giáp suối

Tơ Tung; Phía Nam giáp thị trấn Đak Pơ; Phía Bắc giáp làng Mơ Hven- Ôr; cách trung tâm xã Kông Lơng Khơng 3km, cách thị trấn Kbang 20km, cách thành phố thành phố Pleiku 80km Thuộc địa phận của xã Kông Lơng Khơng (nằm ở phía Tây Nam của huyện Kbang) nên làng Mơ Hra có đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên của vùng đất này Kinh tế chủ đạo là nông nghiệp, chủ yếu là trồng mía

Thổ nhưỡng phần lớn có tầng dày tốt, độ phì cao, không chỉ là nền đất cho thảm rừng giàu có phát triển mà còn một phần diện tích để tạo nên những khu vực canh tác tốt Đặc biệt là đất Bazan thích hợp cho phát triển những cây công nghiệp có giá trị kinh

tế, ưu thế về cạnh tranh, như: cao su, cà phê, ca cao, dược liệu, mía, đậu đỗ, rau quả chất lượng cao

Khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng trực tiếp của cả hai vùng khí hậu: Duyên hải

và Tây Nguyên, có nền nhiệt độ khá cao và điều hòa, mưa nhiều và phân bố tương đối đều trong năm, mùa khô ngắn (3-4 tháng) và không gay gắt, nên thích hợp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi Hệ thống sông suối phân bố khá đều, có nguồn sinh thủy dồi dào quanh năm, có nhiều ghềnh thác, cung cấp nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt

Ngoài ra, làng Mơ Hra có điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi, có thể kết nối dễ dàng với các điểm du lịch khác trong huyện Kbang Giao thông thuận lợi, có thể kết nối dễ dàng với các điểm du lịch của huyện Kbang, như: Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, thác Hang Dơi, thác Kon Lok, đặc biệt là làng kháng chiến Stơr - quê hương Anh hùng Núp và Nhà lưu niệm Anh hùng Núp ở xã tiếp giáp Tơ Tung Làng

Mơ Hra gần điểm di tích lịch sử nổi tiếng: Di tích làng kháng chiến Stơr, nhà lưu niệm Anh hùng Núp Làng Mơ Hra cách Thác Hang Dơi 20km Nhờ có chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, làng đã được đầu tư, quan tâm xây đường bê

Trang 38

tông vào làng Đường vào làng đi qua một con suối nhỏ, UBND xã đã đầu tư xây một con cầu nhỏ bắc qua suối

2.1.2 Dân cư làng Mơ Hra và đời sống xã hội

Hiện nay, làng có 208 hộ, 817 khẩu (trong đó dân tộc Bahnar 199 hộ, 782 khẩu, chiếm 96% dân số trong làng; Kinh 6 hộ, 20 khẩu; Tày 01 hộ, 5 khẩu; Nùng 01 hộ, 4 khẩu; Jrai 01 hộ, 4 khẩu) Trình độ dân trí vẫn còn thấp Kinh tế chủ đạo của làng là nông nghiệp, chủ yếu là trồng mía Người dân làng Mơ Hra thạo việc nương rẫy, cây trồng chủ yếu là mía một số hộ phát triển các loại cây trồng khác như: lúa, sắn, ngô Thu nhập chính của người dân trong làng chủ yếu là trồng mía, một năm chỉ trồng được một

vụ mía Vật nuôi chủ yếu là trâu bò, dê, heo và các loại gia cầm chủ yếu phục vụ cho cuộc sống gia đình Ngoài thời gian phục vụ mùa màng cho gia đình, phần lớn người dân đi làm thuê cho người trong làng và cho một số làng bên cạnh, thường thì vào vụ mía là dịp để họ đi làm thuê, tiền công một ngày thu hoạch mía từ 150.000-200.000 đồng, công việc nặng như chặt mía thì mới được trả 200.000 đồng Chi tiêu trong gia đình bình quân là 100.000 đồng/ngày Tuy nhiên, do nhận thức của đồng bào vẫn còn hạn chế nên việc biết tích lũy cho cuộc sống của gia đình gần như chưa có, trong làng hiện mới chỉ có khoảng 20-30 hộ gia đình biết tiết kiệm chi tiêu và lo cuộc sống cho gia đình tương đối ổn định (theo so sánh của người dân trong làng với nhau) còn lại là làm thuê được ngày nào đều tiêu hết ngày đó, có chút dư giả thường tụ tập uống rượu

Về đời sống xã hội: trong làng có một hội đồng già làng gồm 2 già làng - một già làng được dân làng bầu lên theo truyền thống, một già làng được chính quyền cử ra; và

5 thành viên Mỗi cuối năm, hội đồng già làng tổ chức họp làng tại nhà rông để tổng kết một năm làm việc và bàn bạc kế hoạch sản xuất nông nghiệp cho đúng thời vụ trong năm tiếp theo Già làng dân cử và già làng Nhà nước cử, cùng với trưởng làng quản lý các hoạt động trong làng Già làng dân cử của làng là Đinh Hmưnh, già làng Nhà nước

cử là Đinh Bơnh Hai già làng đều là người lớn tuổi, được dân làng yêu quý và tôn trọng Hai già làng đều tham gia các cuộc họp tại làng, trao đổi, góp ý cho dân làng về các vấn

đề chung của làng Hai già làng đều có chung tiếng nói và quan điểm, có vai trò quan trọng trong các công việc lớn của làng Ngoài già làng, làng Mơ Hra còn có trưởng làng tên là Đinh Blân Cộng đồng dân cư trong làng đoàn kết, không phân biệt dân tộc tuổi tác Mỗi thành viên trong làng đều có thể tham gia và đóng góp tiếng nói vào hoạt động chung của làng

Trang 39

2.1.3 Đặc trưng văn hóa của làng Mơ Hra

2.1.3.1 Đặc trưng văn hóa vật chất

Ăn, uống, hút

Trong cơ cấu bữa ăn của các cư dân Bahnar tại làng Mơ Hra, món ăn thực vật chiếm vai trò chủ đạo Trong đó cơm hoặc các loại ngũ cốc tương đương như sắn, khoai, ngô, kê… là các món ăn chủ đạo; các món ăn khác chỉ đóng vai trò là các món ăn kèm Phương thức chế biến món ăn bao gồm cả luộc, nướng, nấu canh Một số món ăn truyền thống: Cơm lam, cháo thập cẩm, gà nướng, cá nướng, đọt mây nướng, củ mì, dương xỉ nấu ốc đá

Các cư dân trong làng theo truyền thống ít uống nước đun sôi mà thường uống nước được lấy ở các giọt nước hay ngó nước của làng Dụng cụ dùng để đựng nước có thể là ống làm từ các loại tre hoặc quả bầu khô – một dụng cụ phổ biến hay được sử dụng Rượu ghè được người dân tự nấu từ gạo, kê và một số ngũ cốc khác Việc uống rượu ghè gần như là một lễ thực sinh hoạt, họ thường uống vào dịp trọng đại (Cưới xin,

ma chay, lễ hội….) hay tiếp đãi khách quý Người già hay hút thuốc lá bằng tẩu, trẻ trẻ quấn thuốc lại bằng giấy hoặc lá cây như điếu xì gà Trong mỗi gia đình hầu như đều có trồng thuốc để hút

Trang phục truyền thống

Y phục nam giới gồm có khố và áo Đây là loại áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng Nam mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi che một phần mông Nữ giới thì gồm váy quấn và áo chui đầu Váy của phụ nữ không được may lại mà nó chỉ là một tấm vải đen được quấn quanh thân dưới Ngày nay, họ chỉ mặc trang phục truyền thống trong các sự kiện, lễ hội…

Các hình thái cư trú

Ở làng có một nhà rông to, đẹp được xây dựng ở giữa làng, nhà rông truyền thống được cộng đồng dựng lên từ năm 2004 bằng gỗ tranh tre nứa Đây được coi là trụ sở của làng, nơi các già làng họp bàn việc công, tất cả các nghi lễ, sự kiện quan trọng nhất của cộng đồng, nơi tiếp khách vào làng giới thiệu văn hóa của làng, diễn ra tại nhà rông truyền thống Ngoài ra, làng Mơ Hra có nhà rông văn hóa, đây là nhà rông được nhà nước xây dựng bằng bê-tông, lợp mái tôn đứng ngay cạnh nhà rông truyền thống Nhà rông văn hóa là nơi bà con đến để dự các buổi họp, làm việc với chính quyền, hoặc tổ chức mời cơm khách, xem truyền hình Người Bahnar ở làng Mơ Hra sống ở nhà sàn

Trang 40

Nhà sàn của người Bahnar thường có quy mô nhỏ, với chiều dài dưới 10m, chiều ngang trên dưới 3m Đặc điểm những ngôi nhà sàn của bộ phận dân cư này là sàn nhà thường chỉ cao từ 0,6 – 0,8m so với mặt đất, gầm sàn chủ yếu để chứa củi (Trần Thị Kim Vân, 2016) Trong nhà sàn của người Bahnar thường có một bếp lửa to ngoài việc dùng để nấu ăn và còn để sưởi ấm

2.1.3.2 Đặc trưng văn hóa tinh thần

Lễ hội

Lễ hội trong làng xem được là sinh hoạt văn hóa cộng đồng ngày càng hấp dẫn, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống người dân nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, cân bằng đời sống tâm linh và hưởng thụ văn hóa của nhân dân Mỗi lễ hội đều

có giá trị văn hóa riêng, chứa đựng trong đó tinh thần nhân văn, uống nước nhớ nguồn, hướng tới những khát vọng cao đẹp, cầu mong những điều tốt lành, mỗi người và cộng đồng có cuộc sống bình an, mạnh khỏe, hạnh phúc, mùa màng tươi tốt Các lễ hội của làng vẫn thường xuyên tập luyện và duy trì như lễ hội mừng Nhà rông mới, các lễ hội

ăn lúa mới, đóng cửa kho, bỏ mả duy trì 02 đội cồng chiêng nhỏ tuổi, 01 đội cồng chiêng nữ và 02 đội cồng chiêng người lớn nhằm phục vụ cho các hoạt động du lịch và tham gia các hoạt động do xã huyện, tỉnh tổ chức

Người làng Mơ Hra thường đánh cồng chiêng trong các nghi lễ làng từ lễ ăn trâu,

ăn lúa mới đóng cửa kho lúa đến nghi lễ gia đinh như bỏ mả, đám ma, đám cưới + Lễ cúng lúa mới là một nghi lễ truyền thống thiêng liêng của người đồng bào dân tộc Bahnar ở làng Mơ Hra, được xem là không thể thiếu trong đời sống tinh thần của làng Mơ Hra Lễ cúng lúa mới được tổ chức ba lần trong một năm, xuất phát từ tín ngưỡng thờ thần mẹ lúa, phản ánh ước mơ về một cuộc sống đủ ăn, đủ mặc, xóa đi cái nghèo đói

+ Lễ ăn trâu là một nghi lễ truyền thống của người đồng bào dân tộc Bahnar ở làng

Mơ Hra Lễ ăn trâu thường diễn ra trong 3 ngày đêm Để chuẩn bị cho lễ ăn trâu, người Bana phải chuẩn bị hàng tháng trời Những người đàn ông khoẻ mạnh trong buôn được

cử vào rừng chọn những cây gỗ Pơlang thẳng, đẹp nhất để làm cột Gưn, chọn những cây mây vàng bóng để bện thành sợi dây vững chãi buộc trâu trong ngày lễ Lễ ăn trâu te Giàng (Thần linh) thường được tổ chức vào sáng sớm, lúc mặt trời vừa lên Dân làng chọn một con trâu khỏe mạnh làm vật hiến sinh, con trâu này được coi như vị sứ giả chuyển lời cầu khấn, ý nguyện của bà con tới các vị thần Vào ngày lễ, trâu được đưa đi

Ngày đăng: 07/12/2024, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A.Radughin (2004). Những bài giảng, Vũ Đình Phòng dịch. Viện Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng
Tác giả: A.A.Radughin
Năm: 2004
2. Huỳnh Công Bá (2012). Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam. Huế: Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2012
4. Nguyễn Thị Bảy, Trần Quốc Vượng (2010). Văn hóa ẩm thực Việt Nam nhìn từ lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb Từ điển bách khoa & Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực Việt Nam nhìn từ lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Bảy, Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa & Viện Văn hóa
Năm: 2010
5. Nguyễn Từ Chi (2013). Văn hóa tộc người Việt Nam. Hà Nội: Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tộc người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2013
6. Nguyễn Thị Chiến (2004).Văn hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: n hóa trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Chiến
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2004
7. Nhiều tác giả (2015). Sắc màu văn hóa dân gian Gia Lai. Hà Nội: Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc màu văn hóa dân gian Gia Lai
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2015
9. Phạm Mai Hùng (2003). Gìn giữ và phát huy Di sản văn hóa dân tộc. Hà Nội: Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gìn giữ và phát huy Di sản văn hóa dân tộc
Tác giả: Phạm Mai Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
10. Nguyễn Quốc Hùng (2004). Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở Việt Nam. Hà Nội: Tạp chí Di sản văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2004
13. Từ Thị Loan (2022). Văn hóa Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập. Hà Nội: Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập. Hà Nội
Tác giả: Từ Thị Loan
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2022
14. Lê Hồng Lý (2009). Giáo trình Quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững. Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý di sản với phát triển du lịch bền vững
Tác giả: Lê Hồng Lý
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
15. Quỹ Châu Á, Viện Nghiên cứu phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, (2022). Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng
Tác giả: Quỹ Châu Á, Viện Nghiên cứu phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam
Năm: 2022
18. Nguyễn Đình Thanh (2011). Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển. Hà Nội: Nxb Đại học Công nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Công nghiệp
Năm: 2011
19. Tổng cục Du lịch (2013), Tài liệu hướng dẫn vận hành du lịch lưu trú tại nhà dân. Hà Nội: Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn vận hành du lịch lưu trú tại nhà dân
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2013
20. Tổng cục Du lịch (2018), Kinh nghiệm phát triển du lịch ẩm thực trên thế giới. Hà Nội: Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển du lịch ẩm thực trên thế giới
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2018
21. Ngô Đức Thịnh (2010).Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
22. Ngô Đức Thịnh (2010). Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội 23. Ngô Đức Thịnh (2019). Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam. Hà Nội: NxbĐại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam. Hà Nội
Tác giả: Ngô Đức Thịnh (2010). Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị Văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội 23. Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội 23. Ngô Đức Thịnh (2019). "Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam. Hà Nội:" Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
36. Đặng Nghiêm Vạn (2010).Văn hóa Việt Nam đa tộc người.Hà Nội: Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam đa tộc người
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
37. Nguyễn Thị Kim Vân (2019). Lịch sử Gia Lai từ nguồn gốc đến năm 1975. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Gia Lai từ nguồn gốc đến năm 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Vân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2019
38. Trần Quốc Vượng (1997). “Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái, nhân văn Việt Nam và ba miền Nam, Trung, Bắc”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Bản sắc Việt Nam trong ăn uống, Trường Đại học dân lập Hùng Vương, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái, nhân văn Việt Nam và ba miền Nam, Trung, Bắc”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học "Bản sắc Việt Nam trong ăn uống
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1997
56. Thúy Hồng (2021). Mặt trái của du lịch cộng đồng: Kinh doanh kiểu "mạnh ai nấy làm. Truy cập tại trang web https://baodantoc.vn/mat-trai-cua-du-lich-cong-dong-kinh-doanh-kieu-manh-ai-nay-lam-bai-1-1611305650202.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1  Thành phần tham gia - Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch cộng Đồng tại làng mơ hra, xã kông lơng khơng, huyện kbang, tỉnh gia lai
Hình 2.1 Thành phần tham gia (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w