1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn

46 11 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Tác giả Tập Thể Nhóm
Người hướng dẫn Ths. DS Nguyễn Hữu Khánh
Trường học Trường Đại Học Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Dược Lâm Sang 1
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 649,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. CÁC THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC CƠ BẢN (15)
    • 1.1.1. Định nghĩa 4 thông số dược động học cơ bản (AUC, Vd, Cl, t 1/2 ) (15)
    • 1.1.2. Cách tính các thông số dược động học cơ bản (15)
    • 1.1.3. Ý nghĩa của các thông số trong điều trị (15)
  • 1.2. CÁC THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC LIÊN QUAN ĐẾN THAY ĐỔI CHỨC NĂNG GAN – THẬN (16)
    • 1.2.1. Sự biến đổi của 4 thông số dược động học cơ bản ở bệnh nhân suy gan (16)
    • 1.2.2. Sự biến đổi của 4 thông số dược động học cơ bản ở bệnh nhân suy thận (16)
    • 1.2.3. Quan điểm về kê đơn ở bệnh nhân suy gan - Có 3 quan điểm (16)
    • 1.2.4. Các bước cần làm khi hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận (17)
  • 1.3. TƯƠNG TÁC THUỐC (17)
    • 1.3.1. Phân biệt tương tác dược lực học và dược động học (17)
    • 1.3.2. Cơ chế tương tác thuốc – thuốc ở bốn giai đoạn ADME và ý nghĩa (17)
    • 1.3.3. Ảnh hưởng của thức ăn và nước uống đến số phận thuốc trong cơ thể (17)
      • 1.3.3.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến thuốc (17)
      • 1.3.3.2. Ảnh hưởng của đồ uống đến thuốc (18)
    • 1.3.4. Các yếu tố quyết định thời gian uống thuốc hợp lý (18)
      • 1.3.4.1. Các yếu tố quyết định thời điểm uống thuốc trong ngày (18)
      • 1.3.4.2. Các thời điểm uống thuốc (18)
  • 1.4. PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (Adverse Drug Reaction – ADR) (18)
    • 1.4.1. Định nghĩa và cách phân loại ADR (18)
    • 1.4.2. Nguyên nhân gây ADR – có 3 nhóm nguyên nhân (19)
    • 1.4.3. Yếu tố liên quan đến sự phát sinh ADR và biện pháp hạn chế (20)
    • 1.4.4. Cách xử trí khi nghi ngờ xuất hiện ADR (20)
    • 1.4.5. Loại ADR cần báo cáo và cách báo cáo (20)
      • 1.4.5.1. Những phản ứng bất lợi (ADR) của thuốc cần báo cáo (20)
      • 1.4.5.2. Cách báo cáo về phản ứng bất lợi của thuốc (21)
  • 1.5. DỊ ỨNG THUỐC (21)
    • 1.5.1. Định nghĩa và phân loại dị ứng thuốc (21)
    • 1.5.2. Nhóm thuốc thường dùng trong điều trị dị ứng và cơ chế điều trị (21)
    • 1.5.3. Nguyên tắc xử trí khi gặp dị ứng thuốc (22)
    • 1.5.4. Việc cần làm để điều trị sốc phản vệ (22)
    • 1.5.5. Các biện pháp phòng tránh dị ứng thuốc (22)
  • 1.6. CÁC ĐƯỜNG ĐƯA THUỐC VÀ CÁCH SỬ DỤNG (22)
    • 1.6.1. Phân tích ưu, nhược điểm của một số đường đưa thuốc thông dụng (22)
      • 1.6.1.1. Qua đường tiêu hóa (22)
      • 1.6.1.2. Ngoài đường tiêu hóa (23)
    • 1.6.2. Hướng dẫn cách sử dụng thuốc theo đường dùng (23)
  • 1.7. SỬ DỤNG THUỐC CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT (24)
    • 1.7.1. Ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi và trẻ sơ sinh khi sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai (24)
    • 1.7.2. Phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai và những vấn đề cần chú ý khi sử dụng thuốc (24)
      • 1.7.2.1. Phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai (24)
      • 1.7.2.2. Những vấn đề cần chú ý khi sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai (25)
    • 1.7.3. Ảnh hưởng của thuốc dùng cho mẹ đối với trẻ em bú mẹ và những nguyên tắc (25)
      • 1.7.3.1. Ảnh hưởng của thuốc dùng cho mẹ đối với trẻ bú mẹ (25)
      • 1.7.3.2. Những nguyên tắc khi sử dụng thuốc ở phụ nữ đang cho con bú (25)
    • 1.7.4. Những khác biệt về dược động học đối với trẻ em và người cao tuổi (26)
    • 1.7.5. Những điểm lưu ý và nguyên tắc sử dụng cho trẻ em và người cao tuổi (27)
      • 1.7.5.1. Sử dụng thuốc cho trẻ em (27)
      • 1.7.5.2. Sử dụng thuốc cho người cao tuổi (27)
  • 1.8. HÓA SINH LÂM SÀNG TRONG THỰC HÀNH DƯỢC LÂM SÀNG (28)
    • 1.8.1. Ý nghĩa của các xét nghiệm hóa thường dùng liên quan đến một số bệnh (28)
      • 1.8.1.1. Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh đái tháo đường (28)
      • 1.8.1.2. Xét nghiệm hóa sinh của bệnh mạch vành - xơ vữa động mạch (28)
      • 1.8.1.3. Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh nhồi máu cơ tim (29)
      • 1.8.1.4. Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh gan – mật (29)
      • 1.8.1.5. Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh thận (29)
      • 1.8.1.6. Các xét nghiệm hóa sinh trong protein huyết tương (30)
    • 1.8.2. Vận dụng kiến thức về hóa sinh lâm sàng để sàng lọc chẩn đoán và theo dõi một số tình trạng bệnh (30)
  • 2.1 TỔNG QUAN (31)
  • 2.2 PHƯƠNG PHÁP (33)
  • 2.3 KẾT QUẢ (34)
    • 2.3.1 ĐỐI VỚI BN NGOẠI TRÚ [2] (0)
    • 2.3.2 ĐỐI VỚI NỘI TRÚ [10] (36)
      • 2.3.2.1 Thông tin về các thuốc gây dị ứng thuốc (36)
      • 2.3.2.2 Mức độ nghiêm trọng (36)
      • 2.3.2.3 Thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng thuốc (37)
      • 2.3.2.4 Đặc điểm biểu hiện phản ứng dị ứng thuốc [2] (38)
  • 2.4 BÀN LUẬN (38)
  • 3.1 KẾT LUẬN (42)
  • 3.2 KIẾN NGHỊ (0)

Nội dung

Tiểu luận báo cáo môn Dược Lâm Sàng 1, của trường NTTU với đề tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn, giúp bạn có sự tham khảo, và dễ dàng vượt qua môn học

CÁC THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC CƠ BẢN

Định nghĩa 4 thông số dược động học cơ bản (AUC, Vd, Cl, t 1/2 )

Diện tích dưới đường cong (AUC) tượng trưng cho lượng thuốc vào được vòng tuần hoàn ở dạng còn hoạt tính sau một thời gian t.

Thể tích phân bố (Vd) là một chỉ số quan trọng, thể hiện thể tích cần thiết để phân bố toàn bộ lượng thuốc trong cơ thể với nồng độ tương đương nồng độ trong huyết tương.

Hệ số thanh thải (Cl) là chỉ số thể hiện khả năng của các cơ quan như gan và thận trong việc loại bỏ thuốc khỏi huyết tương trong quá trình tuần hoàn máu.

Thời gian bán thải (t 1/2 ) là thời gian cần thiết để nồng độ thuốc trong máu giảm đi một nửa.

Cách tính các thông số dược động học cơ bản

Diện tích dưới đường cong (AUC) được tính bằng cách chia diện tích của đường cong thành nhiều hình thang và sau đó tính tổng diện tích các hình thang đó AUC là tổng của tất cả các diện tích hình thang, với đơn vị đo là mg.h.L⁻¹ hoặc pg.h.mL⁻¹.

Thể tích phân bố (Vd): Đơn vị của Vd là L hoặc L/Kg.

D: Tổng lượng thuốc đã đưa vào cơ thể (g hoặc mg).

Cp: Nồng độ thuốc trong huyết tương (g/L hoặc mg/ml).

Hệ số thanh thải (Cl: Clearance): có thể tính theo biểu thức sau:

K: hằng số thải trừ = 0,693 / t1/2. Cp: nồng độ thuốc trong huyết tương.

Thời gian bán thải (t 1/2 ): Có 2 cách tính: tính từ hằng số tốc độ thải trừ (Kel) hoặc tính trực tiếp từ đồ thị bán logarit (lnC – t).

Ý nghĩa của các thông số trong điều trị

Diện tích dưới đường cong (AUC): từ giá trị diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian, có thể tính được trị số sinh khả dụng của thuốc.

Thể tích phân bố (Vd) là một chỉ số quan trọng trong việc xác định lượng thuốc có trong cơ thể Nó giúp lựa chọn loại thuốc phù hợp với mục đích điều trị và tính toán liều dùng chính xác Việc hiểu rõ về Vd sẽ hỗ trợ trong việc tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

Hệ số thanh thải (Cl) là một chỉ số quan trọng trong việc tính toán và điều chỉnh liều thuốc cho bệnh nhân suy thận, vì giá trị Cl thường tỉ lệ nghịch với thời gian bán thải của thuốc.

Thời gian bán thải (t 1/2) là chỉ số quan trọng giúp dự đoán nồng độ thuốc trong cơ thể tại một thời điểm nhất định Nó cũng hỗ trợ trong việc xác định nhịp độ đưa thuốc vào cơ thể và điều chỉnh liều lượng cho những bệnh nhân suy thận.

CÁC THÔNG SỐ DƯỢC ĐỘNG HỌC LIÊN QUAN ĐẾN THAY ĐỔI CHỨC NĂNG GAN – THẬN

Sự biến đổi của 4 thông số dược động học cơ bản ở bệnh nhân suy gan

Sinh khả dụng (F%) của thuốc bị ảnh hưởng bởi quá trình chuyển hóa mạnh qua gan lần đầu Điều này làm giảm tỷ lệ thuốc bị phá hủy, dẫn đến sự gia tăng sinh khả dụng của nhiều loại thuốc.

Thể tích phân bố (Vd) của nhiều loại thuốc có xu hướng tăng ở bệnh nhân suy gan do sự giảm tổng hợp protein tại gan, dẫn đến tỷ lệ thuốc ở dạng tự do cao hơn Đồng thời, độ thanh thải của thuốc (Cl) qua gan cũng thường giảm, gây ra sự suy giảm trong quá trình chuyển hóa thuốc, sản xuất protein và chức năng của mật.

Thời gian bán thải của thuốc (t 1/2 ) thường sẽ tăng, do phụ thuộc vào Vd và ClT.

Sự biến đổi của 4 thông số dược động học cơ bản ở bệnh nhân suy thận

Sinh khả dụng (F%) của thuốc bị ảnh hưởng khi dùng theo đường tiêm (IM và

SC) Ngược lại, khi dùng theo đường uống, có thể làm tăng sinh khả dụng.

Thể tích phân bố (Vd) thường tăng khi lượng albumin trong huyết thanh giảm, nhưng quy luật này không áp dụng cho tất cả loại thuốc Độ thanh thải qua thận (Cl R) giảm do tổn thương thận, điều này có thể dẫn đến tăng bài xuất qua mật và đổ vào ruột; trong đó, một phần sẽ bị bài xuất và một phần sẽ được tái hấp thu.

Thời gian bán thải (t 1/2) của thuốc tăng đáng kể khi hơn 50% thuốc được bài xuất qua thận dưới dạng còn hoạt tính Do đó, việc hiệu chỉnh liều lượng là cần thiết cho bệnh nhân bị suy thận.

Quan điểm về kê đơn ở bệnh nhân suy gan - Có 3 quan điểm

Nên chọn những thuốc bài xuất chủ yếu qua thận hoặc những thuốc bài xuất qua gan dưới dạng liên hợp glucuronic.

Tránh kê đơn những thuốc bị khử hoạt mạnh ở vòng tuần hoàn đầu và có tỷ lệ liên kết protein cao.

Giảm liều những thuốc bị chuyển hóa ở gan bằng con đường oxy hóa qua cytocrom P450.

Các bước cần làm khi hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận

Sau khi đánh giá mức độ suy thận thông qua trị số Clcr (tính hệ số RF) và mức độ giảm bài xuất thuốc so với người bình thường (tính hệ số Q), chúng ta sẽ lựa chọn phương pháp hiệu chỉnh liều phù hợp cho bệnh nhân suy thận.

(1) Giữ nguyên khoảng cách đưa thuốc và giảm liều.

(2) Giữ nguyên liều nhưng nới rộng khoảng cách đưa thuốc.

(3) Vừa giảm liều, vừa nới rộng khoảng cách đưa thuốc.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Phân biệt tương tác dược lực học và dược động học

Tương tác dược lực học là hiện tượng xảy ra tại các thụ thể của thuốc, có thể diễn ra trên cùng một thụ thể hoặc trên các thụ thể khác nhau Những tương tác này có thể dẫn đến việc tăng cường hoặc giảm bớt hiệu quả điều trị cũng như độc tính của thuốc.

Tương tác dược động học là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thuốc thông qua các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ Điều này cho thấy tính không đặc hiệu của các tương tác này trong việc tác động đến hiệu quả và an toàn của thuốc.

Cơ chế tương tác thuốc – thuốc ở bốn giai đoạn ADME và ý nghĩa

Tương tác thuốc là hiện tượng xảy ra khi hai hoặc nhiều loại thuốc được sử dụng đồng thời, dẫn đến sự thay đổi tác dụng hoặc độc tính của từng loại thuốc Hiện tượng này có thể gây ra hậu quả tích cực hoặc tiêu cực đối với sức khỏe của người dùng.

Trong lâm sàng, thầy thuốc muốn phối hợp thuốc với mục đích:

- Làm tăng tác dụng điều trị của thuốc chính (hiệp đồng tăng mức).

- Giảm các tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị

- Giải độc (thuốc đối kháng, thuốc làm tăng thải trừ, giảm hấp thu,…).

- Làm giảm sự quen thuốc và kháng thuốc.

Ảnh hưởng của thức ăn và nước uống đến số phận thuốc trong cơ thể

1.3.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến thuốc

Thức ăn có thể ảnh hưởng đến dược động học của thuốc bằng cách thay đổi mức độ hấp thu, tăng cường chuyển hóa thuốc thông qua việc tăng lưu lượng máu qua gan, và điều chỉnh bài xuất thuốc do sự thay đổi pH của nước tiểu.

Thức ăn có thể ảnh hưởng đến tác dụng và độc tính của thuốc bằng cách ngăn cản thuốc tiếp xúc với bề mặt ống tiêu hóa và thông qua sự tương tác giữa các thành phần trong thức ăn và thuốc.

1.3.3.2 Ảnh hưởng của đồ uống đến thuốc

Trong mọi trường hợp, nước là đồ uống thích hợp cho mọi loại thuốc vì không xảy ra tương kỵ khi hòa tan thuốc:

- Nước làm thuốc dễ dàng trôi từ thực quản xuống dạ dày.

- Nước làm tăng độ tan của thuốc, giúp dễ dàng khuếch tán.

- Lượng nước nhiều sẽ giúp thuốc bài xuất nhanh qua thận và do đó làm giảm độc tính.

- Tránh sử dụng các loại nước hoa quả, nước khoáng kiềm hoặc nước có gas vì có thể làm hỏng thuốc hoặc gây hấp thu quá nhanh.

Các yếu tố quyết định thời gian uống thuốc hợp lý

1.3.4.1 Các yếu tố quyết định thời điểm uống thuốc trong ngày

- Mục đích dùng thuốc (ví dụ: dùng thuốc hạ sốt khi có sốt).

- Dược lý thời khắc: là ảnh hưởng của nhịp thời gian đối với tác dụng sinh học của thuốc.

- Tương tác của thuốc với thức ăn

- Tương tác giữa thuốc với thuốc: chỉ có tương tác ở giai đoạn hấp thu là có thể giải quyết bằng thời điểm đưa thuốc (uống cách nhau > 2h).

1.3.4.2 Các thời điểm uống thuốc

Uống thuốc vào bữa ăn là cần thiết đối với các loại thuốc có tác dụng kích ứng mạnh lên đường tiêu hóa, thuốc hấp thu quá nhanh khi đói và những thuốc mà thức ăn có thể làm tăng khả năng hấp thu của chúng.

Uống thuốc xa bữa ăn, cụ thể là 1 giờ trước hoặc 1-2 giờ sau khi ăn, là cần thiết đối với các loại thuốc bị giảm hấp thu do thức ăn và những thuốc cần giảm thời gian lưu tại dạ dày.

Thuốc có thể uống vào thời điểm tùy ý đối với các thuốc không bị giảm hấp thu hoặc làm chậm hấp thu do thức ăn.

PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (Adverse Drug Reaction – ADR)

Định nghĩa và cách phân loại ADR

Phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) là những phản ứng độc hại không mong muốn, xảy ra khi sử dụng liều thuốc thông thường để phòng ngừa, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh, cũng như khi làm thay đổi chức năng sinh lý.

Phân loại phản ứng bất lợi của thuốc (ADR)

- Phân loại theo tần suất gặp: Thường gặp, ít gặp, hiếm gặp.

- Phân loại theo mức độ nặng: Nhẹ, trung bình, nặng, tử vong.

- Phân loại theo Type: Type A (tiên lượng được; phụ thuộc vào liều dùng) và Type B

(không tiên lượng được và liên quan tới các yếu tố di truyền, miễn dịch, )

Nguyên nhân gây ADR – có 3 nhóm nguyên nhân

(1) Liên quan đến bào chế (gặp cả 2 Type):

- Tốc độ giải phóng hoạt chất cao gây ADR tại chỗ hoặc toàn thân.

- Sự phân hủy các thành phần dược chất.

- Tác dụng của các tá dược có trong thành phần dược phẩm.

- Tác dụng của các sản phẩm phụ trong quá trình tổng hợp hóa học dược chất.

Ví dụ: viên nén kali clorid gây xuất huyết và loét đường tiêu hóa nên hiện nay đã thay bằng viên giải phóng hoạt chất chậm.

(2) Liên quan đến sự thay đổi dược động học (gặp nhiều ở Type A)

- Hấp thu: ảnh hưởng của thức ăn, nhu động dạ dày – ruột, chuyển hóa ở vòng tuần hoàn đầu qua gan.

- Phân bố của thuốc phụ thuộc vào tỷ lệ thuốc liên kết với protein huyết tương; hoặc khả năng gắn thuốc với mô

- Chuyển hóa giảm có thể dẫn đến tích lũy thuốc và tăng nguy cơ ADR Type A.

- Thải trừ giảm làm tăng tích lũy thuốc và tăng nguy cơ gây độc tính do tăng nồng độ thuốc tại mô và huyết tương.

Ví dụ: Tetracyclin tạo phức chelat với các mô xương mới gây mất màu và phá hủy men răng.

Sự thay đổi dược lực học ở bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và bệnh lý, dẫn đến sự thay đổi trong độ nhạy cảm của các cơ quan đích đối với thuốc, đặc biệt thường gặp ở loại bệnh Type B.

- Liên quan đến thụ thể của thuốc.

- Cơ chế điều hòa sinh lý.

- Các bất thường về gen.

- Tăng nhiệt độ cơ thể ác tính.

- Vàng da ứ mật do dùng thuốc tránh thai đường uống.

- Thiếu máu bất sản do cloramphenicol (dạng thiếu máu do giảm hồng cầu lưới và dạng thiếu máu bất sản).

- Các phản ứng miễn dịch tạo ra các đáp ứng bất thường của cơ thể.

Ví dụ: tính kháng warfarin do di truyền, nên cần một nồng độ rất cao warfarin trong huyết tương mới có tác dụng chống đông máu trong điều trị.

Yếu tố liên quan đến sự phát sinh ADR và biện pháp hạn chế

Các yếu tố liên quan đến bệnh nhân bao gồm tuổi tác, với trẻ sơ sinh và người cao tuổi nằm trong nhóm có nguy cơ cao; giới tính; các bệnh lý đi kèm; và tiền sử dị ứng với thuốc.

(2) Các yếu tố thuộc về thuốc: điều trị nhiều thuốc và liệu trình điều trị kéo dài.

(3) Các biện pháp hạn chế phản ứng bất lợi của thuốc

- Hạn chế số thuốc dùng.

- Nắm vững thông tin về loại thuốc đang dùng cho bệnh nhân.

- Nắm vững thông tin về các đối tượng bệnh nhân có nguy cơ cao.

- Theo dõi sát bệnh nhân, phát hiện sớm và có những xử trí kịp thời.

Cách xử trí khi nghi ngờ xuất hiện ADR

- Cần ngừng tất cả các thuốc đang dùng cho bệnh nhân Nếu không thể ngừng, thì ngừng loại thuốc có nguy cơ nhất.

- Đánh giá một tai biến do thuốc qua các vấn đề liên quan,

Sau khi đánh giá khả năng gây tai biến của thuốc, cần xem xét cơ chế phản ứng của cơ thể để quyết định loại bỏ thuốc, giảm liều hoặc tìm kiếm phương pháp điều trị thay thế phù hợp.

Loại ADR cần báo cáo và cách báo cáo

1.4.5.1 Những phản ứng bất lợi (ADR) của thuốc cần báo cáo

- Đối với các thuốc mới, phải báo cáo mọi phản ứng, kể cả các phản ứng nhẹ.

- Đối với những thuốc đã biết, báo cáo tất cả các nghi ngờ về một ADR nghiêm trọng hoặc bất thường.

- Báo cáo khi thấy một phản ứng nào đó xuất hiện ngày càng nhiều.

- Báo cáo tất cả ADR nghi ngờ liên quan đến tương tác thuốc – thuốc, thuốc – thức ăn hoặc thuốc – thực phẩm bổ sung.

- Báo cáo các ADR trong những lĩnh vực được quan tâm đặc biệt: lạm dụng thuốc, dùng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú.

- Báo cáo những nghi ngờ về ADR khi liên quan đến một thuốc bị thu hồi.

- Báo cáo các phản ứng xảy ra do dùng quá liều hay do sai sót trong điều trị

- Báo cáo khi thuốc không có hiệu quả hoặc nghi ngờ có sai sót về sản phẩm.

1.4.5.2 Cách báo cáo về phản ứng bất lợi của thuốc

Mẫu báo cáo do trung tâm ADR quốc gia (hoặc trung tâm cảnh giác thuốc) phát hành, luôn có 4 phần:

- Thông tin về bệnh nhân.

- Thông tin về phản ứng bất lợi hoặc sự cố bất lợi do thuốc.

- Thông tin về dược phẩm bị nghi ngờ.

- Thông tin về người báo cáo.

DỊ ỨNG THUỐC

Định nghĩa và phân loại dị ứng thuốc

Dị ứng thuốc là một loại phản ứng phụ của thuốc xảy ra thông qua hệ miễn dịch của cơ thể Có 2 cách phân loại dị ứng thuốc:

(1) Căn cứ vào tốc độ xuất hiện các phản ứng dị ứng

- Phản ứng dị ứng cấp tính: xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi dùng thuốc.

- Phản ứng dị ứng bán cấp: xuất hiện trong ngày đầu sau khi dùng thuốc.

- Phản ứng dị ứng muộn: xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau khi dùng thuốc.

(2) Dựa trên cơ chế của quá trình miễn dịch

- Type I - Phản ứng kiểu phản vệ: phản ứng nhanh, thông qua kháng thể IgE.

- Type II – Phản ứng độc tế bào: phản ứng qua trung gian kháng thể IgG và IgM.

- Type III – Phản ứng phức hợp miễn dịch: phản ứng qua trung gian kháng thể IgG.

- Type IV – Phản ứng muộn qua trung gian tế bào: xảy ra thông qua trung gian tế bào lympho T.

Nhóm thuốc thường dùng trong điều trị dị ứng và cơ chế điều trị

Corticoid là nhóm thuốc phổ biến nhất nhờ khả năng ức chế phản ứng miễn dịch, đồng thời có tác dụng chống viêm và ngăn ngừa phản ứng quá mẫn muộn.

Kháng histamin H1 là nhóm thuốc có tác dụng ngăn chặn histamin trong cơ thể, giúp giãn nở mạch máu và làm giảm tình trạng phù nề da, từ đó bảo vệ cơ thể Ngoài ra, nhóm thuốc này còn có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, mang lại hiệu quả an thần nhẹ và được sử dụng để chống say tàu xe.

Nhóm Adrenalin tác dụng lên thụ thể alpha và beta nên vừa kích thích hoạt động của tim vừa gây co mạch

Nhóm Nor-adrenalin chỉ tác dụng lên thụ thể alpha nên tác dụng chủ yếu là gây co mạch.

Nguyên tắc xử trí khi gặp dị ứng thuốc

(1) Loại bỏ ngay thuốc gây dị ứng nếu đang dùng.

(2) Xử trí các triệu chứng tùy trường hợp.

(3) Tăng cường chức năng gan thận.

(4) Chống bội nhiễm nếu có (chọn nhóm kháng sinh an toàn).

(5) Nâng đỡ sức khỏe cho bệnh nhân (dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân…).

Việc cần làm để điều trị sốc phản vệ

(1) Phục hồi ngay các chức năng sống.

(2) Ngăn cản sự thâm nhập tiếp tục của kháng nguyên vào cơ thể.

(3) Ngăn chặn phản ứng quá mẫn muộn bằng corticoid.

Các biện pháp phòng tránh dị ứng thuốc

(1) Tuyên truyền sử dụng thuốc hợp lý an toàn cho người dân.

(2) Người kê đơn phải nắm vững tiền sử dị ứng, quy trình xử trí và hạn chế kết hợp nhiều thuốc.

(3) Dược sĩ lâm sàng phải thông báo đầy đủ thông tin liên quan đến ADR của thuốc,cung cấp thuốc đảm bảo chất lượng và hướng dẫn người bệnh.

CÁC ĐƯỜNG ĐƯA THUỐC VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Phân tích ưu, nhược điểm của một số đường đưa thuốc thông dụng

1.6.1.1 Qua đường tiêu hóa a Đặt dưới lưỡi

- Ưu điểm: có tác dụng toàn thân, dược chất được hấp thu nhanh và tránh được tác động phía dưới đường tiêu hóa.

- Nhược điểm: thường gây phản xạ tiết nước bọt kèm theo phản xạ nuốt. b Đường uống

- Ưu điểm: dễ sử dụng, an toàn hơn so với đường tiêm và rẻ hơn các dạng thuốc khác.

Nhược điểm của đường đặt trực tràng là chịu nhiều tác động bất lợi, ảnh hưởng đến sinh khả dụng của thuốc và làm chậm thời gian xuất hiện tác dụng của thuốc.

Giải phóng dược chất nhanh chóng và không bị phân hủy tại gan là ưu điểm nổi bật của sản phẩm này Nó rất phù hợp cho những người gặp khó khăn trong việc uống thuốc, đồng thời còn giúp che giấu mùi vị khó chịu của thuốc, mang lại sự thuận tiện và dễ chịu cho người sử dụng.

- Nhược điểm: sinh khả dụng thất thường, khó bảo quản do dễ chảy ở nhiệt độ cao, giá thành đắt.

1.6.1.2 Ngoài đường tiêu hóa a Tiêm bắp (IM)

- Ưu điểm: phổ biến nhất trong các phương pháp tiêm, dùng được cho các loại dung dịch dầu, hỗn dịch, các thuốc tiêm tác dụng kéo dài.

Nhược điểm của việc tiêm tĩnh mạch (IV) bao gồm nguy cơ xảy ra một số tai biến, không nên tiêm quá 10 ml vào một vị trí, không áp dụng cho trẻ sơ sinh, và dung môi tiêm không được sử dụng nước mà phải là bơm thủy tinh.

- Ưu điểm: sinh khả dụng 100%, tác dụng nhanh rất cần cho cấp cứu và được lựa chọn nếu tiêm liều lớn.

- Nhược điểm: phức tạp, dễ gây tai biến (tụt huyết áp, tràn dịch…). c Tiêm dưới da (SC)

- Ưu điểm: dùng cho trường hợp cần kéo dài tác dụng của thuốc.

- Nhược điểm: không tiêm > 1ml, không dùng cho bệnh nhân có tổn thương da và thường xuyên thay đổi vị trí tiêm. d Qua đường hô hấp

- Ưu điểm: phân tán đều trên niêm mạc - nhanh, thanh thải chậm.

- Nhược điểm: thất thoát liều thuốc và dễ gây kích ứng.

Hướng dẫn cách sử dụng thuốc theo đường dùng

Để sử dụng thuốc hiệu quả, bạn có thể đặt thuốc dưới lưỡi bằng cách co lưỡi lên, đặt viên thuốc bên dưới và hạ lưỡi xuống Ngoài ra, hầu hết các loại thuốc viên đều được sử dụng bằng cách nuốt cùng với nước.

Nước dùng để uống thuốc nên là nước đun sôi để nguội và cần uống nhiều nước Khi nuốt thuốc, cần nuốt nguyên viên mà không tách hay nhai, trừ một số loại thuốc cần nhai trước khi uống Đối với thuốc dạng hỗn dịch, cần lắc kỹ để đạt được dung dịch đồng nhất trước khi sử dụng.

Đường đặt trực tràng là một phương pháp hiệu quả để sử dụng thuốc, và cần bảo quản thuốc ở nơi mát mẻ, dưới 30oC Khi sử dụng, người lớn nên đưa thuốc vào hậu môn sâu khoảng 2,5 cm (tương đương với 1 đốt ngón trỏ), trong khi trẻ em nên dùng ngón út để đưa thuốc vào sâu khoảng 1,5 cm.

Nếu thuốc chứa PEG, bạn cần làm ẩm viên thuốc trước khi đặt vào hậu môn Điều này là cần thiết vì PEG có khả năng hút nước mạnh, dễ dẫn đến tình trạng khô, gây kích ứng và đau tại vị trí đặt thuốc.

Tiêm bắp (IM): sử dụng kim tiêm cỡ số 21 - 23G, dài khoảng 2,5 – 4 cm Góc tiêm khoảng 90 độ so với về mặt của da.

Tiêm tĩnh mạch (IV): sử dụng kim tiêm cỡ số 19 - 21G, dài khoảng 2,5 – 4 cm.

Góc tiêm thường khoảng 30 - 40 độ so với về mặt của da

Tiêm dưới da (SC): sử dụng kim tiêm cỡ số 25G, dài khoảng 1 – 1,6 cm Góc tiêm khoảng 45 độ so với về mặt của da.

Trong điều trị các bệnh hô hấp, thuốc hít đóng vai trò quan trọng với nhiều loại khác nhau, mỗi loại đi kèm với dụng cụ hít thuốc phù hợp Do đó, bệnh nhân cần được hướng dẫn chi tiết trước khi sử dụng Việc thở chậm và sâu giúp các tiểu phân thuốc thẩm thấu sâu hơn vào phổi, nâng cao hiệu quả điều trị.

SỬ DỤNG THUỐC CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT

Ảnh hưởng của thuốc đối với thai nhi và trẻ sơ sinh khi sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai

Hấp thu thuốc có thể bị ảnh hưởng bởi lưu lượng máu ở da, khi tăng cường lưu lượng máu, quá trình hấp thu thuốc qua da và niêm mạc sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, đặc biệt đối với các loại thuốc dùng đường uống.

Trong thời kỳ mang thai, thể tích máu của người mẹ tăng từ 20% đến 50%, dẫn đến việc cần điều chỉnh liều lượng cho những loại thuốc có phạm vi điều trị hẹp và theo dõi cẩn thận Bên cạnh đó, lượng mỡ trong cơ thể cũng gia tăng, ảnh hưởng đến sự phân bố của một số loại thuốc.

(3) Bài xuất thuốc: trong khoảng vài tuần đầu thai kỳ, tốc độ lọc của cầu thận tăng khoảng 50% nên độ thải trừ thuốc qua thận tăng lên.

Phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai và những vấn đề cần chú ý khi sử dụng thuốc

1.7.2.1 Phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai a Cách phân loại của Mỹ: chia thành 5 loại

- Loại A – Các nghiên cứu có kiểm soát cho thấy không có nguy cơ.

- Loại B – Không có bằng chứng về nguy cơ trên người.

- Loại C – Có nguy cơ cho bào thai.

- Loại D – Chắc chắn có nguy cơ cho bào thai.

- Loại X – Chống chỉ định cho phụ nữ có thai. b Cách phân loại của Australia

- Loại A – Thuốc đã dùng rộng rãi cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh sản.

- Loại C – Có thể gây tác dụng có hại cho thai nhi và trẻ sơ sinh, nhưng không gây dị tật

Loại B1 là thuốc mới được chỉ định cho một số phụ nữ mang thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, với ưu điểm là không làm tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh Các nghiên cứu trên động vật cho thấy không có bằng chứng nào cho thấy thuốc này gây ra tác động tiêu cực đối với thai nhi.

Loại B2 là thuốc mới được chỉ định cho một số phụ nữ mang thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Nghiên cứu cho thấy thuốc này không làm tăng tỉ lệ dị tật bẩm sinh Mặc dù dữ liệu nghiên cứu trên động vật còn hạn chế, nhưng thông tin hiện có cho thấy thuốc không gây tác động tiêu cực đến thai nhi.

Loại B3 là một loại thuốc mới được chỉ định cho một số phụ nữ mang thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Nghiên cứu cho thấy loại thuốc này không làm tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh Tuy nhiên, các nghiên cứu trên động vật cho thấy có dấu hiệu tăng tác dụng tiêu cực đối với thai nhi, nhưng vẫn chưa có bằng chứng rõ rệt cho con người.

- Loại D – Các thuốc bị nghi ngờ hoặc bị cho rằng làm tăng tỉ lệ dị tật hay hủy hoại không phục hồi cho thai người

- Loại X – Thuốc có nguy cơ cao gây hủy hoại vĩnh viễn cho thau nhi Chống chỉ định cho phụ nữ có thai.

1.7.2.2 Những vấn đề cần chú ý khi sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai

(1) Hạn chế tối đa dùng thuốc.

(2) Tránh không dùng thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ.

(3) Dùng thuốc với liều thấp nhất có hiệu quả với thời gian ngắn nhất.

(4) Lựa chọn thuốc đã được chứng minh là an toàn cho phụ nữ có thai.

Ảnh hưởng của thuốc dùng cho mẹ đối với trẻ em bú mẹ và những nguyên tắc

1.7.3.1 Ảnh hưởng của thuốc dùng cho mẹ đối với trẻ bú mẹ

Thuốc có thể được chuyển vào sữa mẹ và gây hại cho trẻ đang bú Sự bài tiết thuốc vào sữa phụ thuộc vào bốn yếu tố chính: loại thuốc được sử dụng, khả năng bài tiết sữa của người mẹ, đặc tính hóa lý của thuốc, và lượng sữa mà trẻ thực sự bú.

1.7.3.2 Những nguyên tắc khi sử dụng thuốc ở phụ nữ đang cho con bú

(1) Hạn chế tối đa dùng thuốc.

(2) Chọn thuốc an toàn cho trẻ bú mẹ.

(3) Tránh dùng thuốc liều cao, nên dùng trong thời gian ngắn nhất.

(4) Thời điểm dùng thuốc nên chọn ngay sau khi cho trẻ bú xong.

Nếu không được phép cho trẻ bú mẹ trong thời gian sử dụng thuốc, mẹ cần vắt sữa và bỏ đi, sau đó sử dụng sữa ngoài thay thế Sau khi ngừng thuốc, cần chờ thêm thời gian phù hợp, tương đương với 4 lần thời gian bán hủy của thuốc.

) rồi mới cho trẻ bú lại.

(6) Cân nhắc lợi ích/ nguy cơ cho cả mẹ và con trước khi quyết định dùng.

Những khác biệt về dược động học đối với trẻ em và người cao tuổi

Dược động học Trẻ em Người cao tuổi

- Tăng thời gian lưu ở dạ dày, giảm thời gian lưu ở ruột.

- Hệ enzym phân hủy chưa hoàn chỉnh, cản trở hấp thu.

- Cấu trúc da chưa hoàn chỉnh, sự hấp thu qua da tăng.

- Lưu lượng máu trong cơ thể thay đổi, hấp thụ qua IM khó dự đoán, nên dùng đường IV.

- Da khô, sự hấp thu qua da giảm.

- Khối cơ giảm, tưới máu giảm, nên đường IM không ổn định.

- Cơ chế làm rỗng dạ dày và nhu động ruột giảm nên vận tốc hấp thu thường bị chậm lại.

- Thuốc giảm gắn kết với protein huyết tương

- Trọng lượng mỡ < người lớn, nên thuốc thân dầu giảm Vd.

- Hàng rào máu não dễ thấm thuốc, khó dự đoán Vd.

- Giảm lượng albumin huyết tương, nên tăng tác dụng dược lý và độc tính của thuốc

- Giảm lưu lượng máu ở cơ quan và mô, nên chậm và kéo dài quá trình phân bố thuốc.

- Tăng khối lượng mỡ, giảm thể tích nước toàn phần, nên tăng nồng độ thuốc trong máu và mô.

- Lưu lượng máu đến gan thấp.

- Giảm khả năng bắt giữ trong tế bào gan.

- Hoạt tính enzym gan và bài

Thận chưa hiệu chỉnh về giải phẫu và chức năng, nên Cl và T

- Giảm độ thanh thải của thận.

- Nồng độ thuốc và T1/2 tăng.

Những điểm lưu ý và nguyên tắc sử dụng cho trẻ em và người cao tuổi

a Những điểm lưu ý khi sử dụng thuốc cho trẻ em

- Liều lượng thuốc dùng cho trẻ em thường tính theo mg/kg.

- Chọn chế phẩm và đường đưa thuốc phù hợp cho trẻ em.

Việc sử dụng thuốc cho trẻ em dưới 8 tuổi cần phải có sự đồng ý và giám sát của cha mẹ hoặc người bảo mẫu Khi kê đơn, bác sĩ cần ghi rõ cách dùng và yêu cầu người bảo hộ tuân thủ nghiêm ngặt Ngoài ra, nên lựa chọn dạng thuốc có hương vị thơm ngon, không đắng và dễ nuốt để trẻ dễ dàng tiếp nhận.

(1) Chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết.

Việc lựa chọn thuốc và liều dùng cho trẻ em cần dựa trên các biến đổi dược động học cũng như sự khác biệt trong đáp ứng với thuốc ở từng giai đoạn phát triển.

Để tăng cường khả năng tuân thủ điều trị, phác đồ điều trị cần được thiết lập một cách hợp lý, bao gồm việc đơn giản hóa quy trình và lựa chọn thời điểm sử dụng thuốc phù hợp, tránh những giờ như giờ ngủ hoặc giờ học.

1.7.5.2 Sử dụng thuốc cho người cao tuổi a Những điểm lưu ý khi sử dụng thuốc cho người cao tuổi

Sự thay đổi trong đáp ứng với thuốc ở người cao tuổi bao gồm giảm khả năng cân bằng nội môi đảo nghịch và sự biến đổi tại các thụ thể đặc hiệu cùng với mô đích Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả và an toàn của liệu pháp điều trị, đòi hỏi cần có sự điều chỉnh liều lượng và theo dõi chặt chẽ hơn trong quá trình điều trị.

Người cao tuổi thường gặp nhiều tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc, bao gồm rối loạn tiêu hóa, giảm trí nhớ, thị lực kém, run tay, xu hướng lạm dụng thuốc, loãng xương và ít khát Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng thuốc, cần tuân thủ các nguyên tắc như điều chỉnh liều lượng phù hợp, theo dõi tác dụng phụ, và tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào.

(1) Hạn chế sử dụng thuốc nếu không thực sự cần thiết.

(2) Cân nhắc ảnh hưởng của việc điều trị đến chất lượng cuộc sống.

(3) Điều trị nguyên nhân chứ không nên chỉ giải quyết triệu chứng.

(4) Lịch sử dùng thuốc cần có thông tin đầy đủ để tránh tương tác thuốc.

(5) Bệnh mắc kèm có khả năng làm tăng tác dụng có hại

(6) Lựa chọn thuốc hiệu quả, ít tác dụng không mong muốn

(7) Chỉnh liều dùng thấp hơn so với người trẻ.

(8) Dạng dùng thuốc, như siro, hỗn dịch, viên sủi bọt sẽ phù hợp.

(9) Đóng gói thuốc cần dễ mở và nhãn thuốc in to, dễ đọc

(10) Lưu giữ thông tin đầy đủ, thuận tiện cho việc theo dõi sử dụng thuốc.

(11) Định kỳ tái khám, điều chỉnh đơn thuốc với người mắc bệnh mạn tính.

(12) Tác dụng không mong muốn (ADR) dễ xảy ra nên hết sức thận trọng.

(13) Tuân thủ điều trị thường kém, nên áp dụng các biện pháp như ghi nhật ký dùng thuốc, đóng gói riêng biệt.

HÓA SINH LÂM SÀNG TRONG THỰC HÀNH DƯỢC LÂM SÀNG

Ý nghĩa của các xét nghiệm hóa thường dùng liên quan đến một số bệnh

Định lượng glucose huyết là xét nghiệm quan trọng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường, cho biết hàm lượng đường tại thời điểm lấy máu Định lượng HbA1c phản ánh tình trạng đường máu trong 2-3 tháng trước đó, là thông số quý giá cho việc chẩn đoán và theo dõi điều trị tiểu đường Định lượng Fructosamin giúp xác định chỉ số glucose trung bình trong 10-20 ngày trước khi xét nghiệm, hỗ trợ kiểm soát lượng glucose máu ở bệnh nhân tiểu đường Định lượng Peptid C đánh giá tình trạng sản xuất insulin và hoạt động của tế bào beta tụy, cũng như hiệu quả điều trị Cuối cùng, định lượng microalbumin/creatinin niệu có giá trị chẩn đoán sớm biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường.

1.8.1.2 Xét nghiệm hóa sinh của bệnh mạch vành - xơ vữa động mạch

Cholesterol toàn phần (CT): xét nghiệm đầu tiên và phổ biến để thăm dò rối loạn chuyển hóa lipid và định lượng cholesterol toàn phần.

Triglycerid (TG): xác định nguy cơ xơ vữa động mạch, phân loại rối loạn lipid huyết và theo dõi điều trị.

- HDL-cholesterol: có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán và theo dõi điều trị rối loạn lipoprotein và bệnh xơ vữa động mạch.

- LDL-cholesterol: có giá trị định hướng trong điều trị xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành.

Apolipoprotein (Apo): chủ yếu được chỉ định cùng các xét nghiệm lipid khác để xác định nguy cơ bệnh mạch vành; có 2 loại:

- Apo A1: chỉ số này tiên đoán bệnh mạch vành.

- Apo B: chỉ điểm cho nồng độ LDL và VLDL.

1.8.1.3 Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh nhồi máu cơ tim

Creatine kinase (CK): định lượng nồng độ ezyme CK toàn phần hoặc CK-MB hoặc cả hai, phản ánh tình trạng cơ và sức khỏe tim.

AST (GOT): xét nghiệm quan trọng đánh giá chức năng gan, xác định nồng độ ezyme

Aspartate Transaminase (AST) có trong máu.

Lactat dehydrogenase (LD): giá trị chủ yếu trong việc giám sát sự phục hồi của bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim.

Myoglobin: chẩn đoán sớm được các bệnh lý về cơ tim đặc biệt là tình trạng nhồi máu cơ tim.

Troponin-I (Tn-I): có giá trị chẩn đoán hồi cứu và theo dõi điều trị.

Peptid lợi niệu não (BNP) là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá chức năng tim và hoạt động của tim, đặc biệt trong các trường hợp suy tim Nghiên cứu về BNP giúp xác định mức độ suy tim và theo dõi hiệu quả điều trị trong các bệnh lý liên quan Việc đo nồng độ BNP trong máu có thể cung cấp thông tin quý giá cho bác sĩ trong việc chẩn đoán và quản lý suy tim, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

1.8.1.4 Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh gan – mật

Aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT) là hai chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tình trạng tổn thương và hoại tử tế bào gan Trong khi đó, γ-glutamyl transferase (GGT) là xét nghiệm hàng đầu giúp chẩn đoán nguy cơ mắc bệnh gan, thường được thực hiện kết hợp với các xét nghiệm men gan khác.

Phosphatase kiềm (ALP): kiểm tra nồng độ enzyme phosphatase kiềm trong máu, đánh giá chức năng gan hoặc xương.

Alpha-fetoprotein (AFP): có giá trị chẩn đoán ung thư gan.

1.8.1.5 Các xét nghiệm hóa sinh của bệnh thận

Creatinin huyết tương: là xét nghiệm cơ bản, để chẩn đoán và theo dõi tình trạng suy thận.

Độ thanh lọc creatinin (CR-Cl) 18 là chỉ số quan trọng để đánh giá tốc độ và hiệu quả lọc của thận Nó giúp chẩn đoán rối loạn chức năng thận và xác định lưu lượng máu đến thận.

1.8.1.6 Các xét nghiệm hóa sinh trong protein huyết tương

Albumin: Xác định hàm lượng albumin trong máu là một bước quan trọng trong việc chẩn đoán các bệnh lý và theo dõi quá trình điều trị Albumin cũng đóng vai trò là công cụ thiết yếu để đánh giá chức năng của gan và thận.

Immunoglobulin (Ig), bao gồm các globulin miễn dịch IgG, IgM và IgA, cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe của hệ thống miễn dịch và được sử dụng để chẩn đoán nhiều tình trạng bệnh khác nhau.

Protein Bence Jones là một chỉ điểm quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh đa u tủy xương Xét nghiệm CRP (protein phản ứng C) được sử dụng để định lượng mức độ viêm và nhiễm trùng, đồng thời hỗ trợ theo dõi điều trị cho bệnh nhân mắc các bệnh lý tự miễn hoặc bệnh mãn tính.

Vận dụng kiến thức về hóa sinh lâm sàng để sàng lọc chẩn đoán và theo dõi một số tình trạng bệnh

Kết quả xét nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán và đánh giá tình trạng bệnh Chúng không chỉ giúp xác định tình trạng hiện tại mà còn có khả năng chẩn đoán sớm và phân biệt các trường hợp có triệu chứng lâm sàng tương tự.

Xét nghiệm y học đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bác sĩ không chỉ trong điều trị mà còn trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh Đây là tiêu chí quyết định hiệu quả của phương pháp điều trị mà bác sĩ áp dụng cho bệnh nhân Do đó, việc thực hiện các xét nghiệm y học là cần thiết để bác sĩ có thể chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh của người bệnh.

TỔNG QUAN

Dị ứng thuốc là phản ứng quá mẫn do hệ miễn dịch gây ra, với các triệu chứng có thể từ nhẹ như ngứa, phát ban đến nặng như sốc phản vệ và hội chứng Stevens-Johnson Việc theo dõi và xử trí kịp thời các phản ứng này là rất quan trọng để bảo đảm an toàn cho bệnh nhân.

Dị ứng thuốc, theo định nghĩa của Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO) năm 2003, là phản ứng quá mẫn với thuốc qua trung gian miễn dịch, có thể qua IgE hoặc không qua IgE với sự tham gia của tế bào T Dị ứng thuốc được phân loại là ADR Type B, với các phản ứng có thể từ nhẹ như ngứa, phát ban da đến nặng như sốc phản vệ hoặc hội chứng Stevens-Johnson và hội chứng hoại tử thượng bì nhiễm độc Dị ứng thuốc là tình trạng thường gặp trong lâm sàng, chiếm khoảng 5-10% các ADR.

Phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, khởi phát nhanh và có thể gây tử vong, với tỷ lệ báo cáo hàng năm trên thế giới dao động từ 3,2-49,8/100.000 dân Sự gia tăng các trường hợp phản vệ do thuốc đang gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc Nhiều quốc gia đã thực hiện nghiên cứu dựa trên dữ liệu báo cáo ADR tự nguyện, cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá an toàn trong sử dụng thuốc Tại Việt Nam, năm 2012, Trung tâm DI & ADR Quốc gia ghi nhận 374 báo cáo phản vệ, chiếm 11,55% tổng số báo cáo ADR, cho thấy tình hình phản vệ đáng quan tâm tại đây.

20 giá chi tiết về báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ ghi nhận từ hệ thống báo cáo tự nguyện của Việt Nam.

Thông tư 31 quy định về hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng là theo dõi và giám sát các phản ứng có hại của thuốc (ADR), đồng thời là đầu mối báo cáo các ADR theo quy định hiện hành Tại khoa lâm sàng, dược sĩ không chỉ kiểm tra các thuốc kê đơn cho bệnh nhân về chỉ định và chống chỉ định, mà còn phải xem xét các ADR liên quan đến thuốc.

Lesar và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để định lượng sai sót kê đơn thuốc tại một viện trường, phát hiện 905 sai sót trong tổng số 289.000 đơn thuốc trong một năm Trong số đó, 57,7% sai sót có khả năng gây hậu quả xấu, với tỷ lệ sai sót tổng thể 3,13 trên 1.000 đơn thuốc và 1,81 sai sót đáng kể Thời gian từ 12 giờ PM đến 3:59 PM ghi nhận tỷ lệ sai sót cao nhất là 4,01 trên 1.000 đơn thuốc Các bác sĩ nội trú năm thứ nhất có tỷ lệ sai sót cao hơn, đặc biệt trong các dịch vụ sản/phụ khoa và phẫu thuật/gây mê hồi sức Một nghiên cứu khác tại viện trường với 631 giường bệnh cũng cho thấy tỷ lệ sai sót tương tự, ước tính 3,99 trên 1.000 đơn thuốc.

Phòng ngừa, giám sát và xử trí kịp thời các phản ứng dị ứng thuốc là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Để hiểu rõ hơn về tình hình dị ứng thuốc trong kê đơn, chúng tôi thực hiện đề tài “Kiểm soát an toàn phòng dị ứng thuốc trong kê đơn” với hai mục tiêu cụ thể.

Phân tích và quan sát các loại thuốc có khả năng gây dị ứng là rất quan trọng trong việc xác định các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng trong đơn thuốc điều trị nội trú và ngoại trú Việc nhận diện các phản ứng dị ứng tiềm ẩn giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị an toàn và hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

2 Quan sát và góp phần cảnh báo phòng dị ứng thuốc trong kê đơn

PHƯƠNG PHÁP

Chúng tôi đã tiến hành tìm kiếm và chọn lọc các bài báo, nghiên cứu, và tài liệu tham khảo liên quan đến ADR, ADE, dị ứng và phản vệ trên hệ thống internet thông qua trang web https://scholar.google.com/ Các thuật ngữ tìm kiếm được sử dụng bao gồm “phản ứng bất lợi của thuốc”, “biến cố bất lợi trong sai sót khi dùng thuốc”, “dị ứng”, “phản vệ”, và “thông tư dược lâm sàng”.

- Quan sát và đưa ra những nhận xét, những kết quả của các bài báo - nghiên cứu trước.

- Trong tổng số rất nhiều bài, chúng tôi chọn lọc được 36 bài để đưa vào phân tích và nhận xét.

KẾT QUẢ

ĐỐI VỚI NỘI TRÚ [10]

2.3.2.1 Thông tin về các thuốc gây dị ứng thuốc:

Kháng sinh là nhóm thuốc chủ yếu gây dị ứng, chiếm 5/8 nhóm thuốc có tần suất nghi ngờ cao nhất Trong đó, nhóm kháng khuẩn beta-lactam chiếm tỷ lệ lớn nhất với 44,4% Ceftriaxon là hoạt chất gây dị ứng nhiều nhất, chiếm 20,0%, tiếp theo là vancomyxin (13,3%) và amoxicillin/sulbactam (12,2%) Các đường dùng thuốc cũng liên quan đến tình trạng dị ứng này.

Bảng 2.5 Đường dùng thuốc gây dị ứng [2]:

STT Đường dùng Số lượng Tỷ lệ (%)

Tổng 90 100 Đường tiêm truyền tĩnh mạch được ghi nhận là đường dùng chủ yếu gây ra dị ứng thuốc, chiếm tỷ lệ 81,1%

Phần lớn các phản ứng dị ứng không nghiêm trọng, chiếm 75,6% tổng số trường hợp Tuy nhiên, phản ứng dị ứng nghiêm trọng cũng không ít, với tỷ lệ 22,2%, trong đó có 19 trường hợp đe dọa tính mạng và 1 trường hợp kéo dài thời gian nằm viện Đặc biệt, các phản ứng dị ứng nghiêm trọng chiếm đến 69,0% trong tổng số các phản ứng bất lợi do thuốc (ADR).

Trong nghiên cứu kéo dài 3 năm, 25 trường hợp phản ứng dị ứng đã được xử trí, với kết quả cho thấy 87,8% trong số đó hồi phục hoàn toàn mà không để lại di chứng Đối với 20 trường hợp phản ứng dị ứng nghiêm trọng, có 13 trường hợp hồi phục hoàn toàn, trong khi 7 trường hợp còn đang trong quá trình hồi phục.

2.3.2.3 Thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng thuốc: Được tính từ lần cuối cùng dùng thuốc nghi ngờ đến khi xuất hiện biểu hiện dị ứng thuốc đầu tiên Phân loại thời gian xuất hiện phản ứng thuốc được trình bày trong bảng 2.6 [2].

Bảng 2.6 Phân loại thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng thuốc sau khi dùng thuốc nghi ngờ

STT Thời gian xuất hiện phản ứng sau khi dùng thuốc Số lượng Tỷ lệ %

3 Trong vòng vài ngày hoặc vài tuần 0 0,0

Các phản ứng dị ứng thuốc thường xảy ra trong vòng 1 giờ sau khi sử dụng, chiếm 71,1% tổng số báo cáo Một tỷ lệ lớn (25,6%) không cung cấp thông tin về thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng Chỉ có 3,3% phản ứng xảy ra trong vòng 1 ngày, và đặc biệt, chưa ghi nhận trường hợp nào phản ứng dị ứng xuất hiện sau vài ngày hoặc vài tuần.

2.3.2.4 Đặc điểm biểu hiện phản ứng dị ứng thuốc [2]:

Phản ứng dị ứng thường biểu hiện qua các triệu chứng trên da, với nổi ban và ngứa là hai dấu hiệu phổ biến nhất, lần lượt chiếm 57,7% và 53,3% Các thuốc thường gây ra phản ứng dị ứng bao gồm ceftrixon với triệu chứng nổi ban và ngứa, cùng với vancomycin gây nổi ban, với tỷ lệ gặp phải là 16,7%, 10,0% và 8,9%.

Hầu hết bệnh nhân bị sốc phản vệ do thuốc không được bác sĩ chuyên khoa dị ứng/miễn dịch thăm khám trước hoặc sau khi xuất viện Mặc dù bệnh nhân có bệnh dị ứng đi kèm có khả năng gặp bác sĩ dị ứng/nhà miễn dịch học cao hơn sau khi khám, nhưng phần lớn vẫn không được chăm sóc theo dõi Cần nghiên cứu sâu hơn để xác định các yếu tố nguy cơ và phát triển chiến lược phòng ngừa hiệu quả.

BÀN LUẬN

Khảo sát về các thuốc gây dị ứng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cho thấy dị ứng thuốc là một loại phản ứng bất lợi loại B (ADR Type B) Hiện tại, tại Việt Nam vẫn chưa có quy định hay tài liệu chính thức nào hướng dẫn về việc giám sát các phản ứng dị ứng thuốc.

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trường ĐHYD Huế đã tiến hành sàng lọc các mẫu báo cáo về phản ứng dị ứng thuốc từ báo cáo ADR để phân tích Trong nghiên cứu của Lê Thị Thảo năm 2014 tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai, nhóm nghiên cứu đã đề xuất mẫu báo cáo dị ứng thuốc dựa trên biểu mẫu báo cáo ADR của Bộ Y tế và triển khai mô hình theo dõi phản ứng dị ứng thuốc trong 6 tháng Kết quả cho thấy có những biểu hiện dị ứng và các loại thuốc nghi ngờ gây ra phản ứng thường gặp.

Nghiên cứu cho thấy có những tác động tích cực đến công tác theo dõi dị ứng thuốc tại bệnh viện Bạch Mai, cả về số lượng và chất lượng báo cáo.

Số thuốc trung bình trong một đơn thuốc là 4,2 ± 1,7, với 58,7% đơn thuốc có từ 2 đến 4 loại thuốc, trong khi chỉ có 3,3% đơn thuốc chứa từ 8 đến 12 loại thuốc Nghiên cứu của Trịnh Thị Vân Anh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy số thuốc trung bình là 4,7 ± 1,6, với 64,5% đơn thuốc có từ 4 đến 6 loại thuốc Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, điều này có thể do đặc thù bệnh nhân tại Bệnh viện Nội tiết chủ yếu là người lớn mắc bệnh mãn tính hoặc nhiều bệnh đồng thời, dẫn đến số lượng thuốc trong đơn thuốc cao hơn Do đó, số lượng thuốc trong đơn thuốc có sự thay đổi tùy thuộc vào từng trường hợp bệnh cụ thể.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuốc là 6,7%, thấp hơn so với 29,4% trong nghiên cứu của Trịnh Thị Vân Anh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương Trung vị số tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng (YNLS) là 1, với khoảng dao động từ 1 đến 4 tương tác trong một đơn thuốc Đặc biệt, 82,3% số đơn có 1 tương tác thuốc, trong khi chỉ có 0,3% đơn có 4 tương tác Kết quả của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc tại Bệnh viện Nhi Trung ương, nơi 82,6% số đơn có 1 tương tác thuốc và 0,7% có 3 tương tác.

Bệnh nhân nội trú thường sử dụng kháng sinh, với nhóm kháng khuẩn beta-lactam dẫn đầu theo phân loại ATC, bao gồm cephalosporin, monobactam và carbapenem, chiếm tới 44,4% tổng số thuốc kháng sinh được sử dụng Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn đã chỉ ra tầm quan trọng của nhóm thuốc này trong điều trị cho bệnh nhân nội trú.

Theo nghiên cứu năm 2004, kháng sinh là nhóm thuốc gây dị ứng phổ biến nhất, với nhóm betalactam là nguyên nhân chính Trong 20 trường hợp dị ứng thuốc nghiêm trọng, ceftriaxon và vancomycin chỉ xuất hiện trong một trường hợp Amoxicillin được ghi nhận là thuốc nghi ngờ trong nhiều báo cáo ADR nghiêm trọng nhất, với 6/20 báo cáo liên quan Tình trạng dị ứng kháng sinh vẫn đang là vấn đề đáng lưu tâm.

Kháng sinh beta-lactam, đặc biệt là penicillin và cephalosporin, đang trở thành một vấn đề phổ biến tại Việt Nam và trên toàn thế giới Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Trâm năm

Nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai năm 2013 cho thấy kháng sinh nhóm beta-lactam chiếm hơn 50% các trường hợp nghi ngờ gây sốc phản vệ (6/10 trường hợp năm 2011, 6/11 trường hợp năm 2012) Điều này chỉ ra rằng có sai sót và biến cố bất lợi liên quan đến thuốc, đặc biệt là dị ứng thuốc trong kê toa, xảy ra ở cả toa nội và ngoại trú Mặc dù có nhiều trường hợp phản ứng, nhưng phần lớn các sự cố này không nghiêm trọng, điều này được xem là may mắn cho bệnh nhân theo các báo cáo và nghiên cứu hiện có.

Việc phát hiện sai sót qua giám sát bằng máy tính đã chứng minh là một kỹ thuật hiệu quả trong việc hiểu và ngăn ngừa ADE Bên cạnh việc áp dụng các công nghệ máy tính tiên tiến, sự tham gia của dược sĩ trong quy trình kê đơn thuốc cũng góp phần giảm thiểu đáng kể các sai sót.

Các sai sót về thuốc được phát hiện khi các đơn thuốc được xem xét bởi đội ngũ dược sĩ và bác sĩ kê toa.

Hầu hết các sự cố sự kiện không mong muốn liên quan đến thuốc (ADE) xảy ra trong giai đoạn kê đơn, chiếm 79%, với nguyên nhân chủ yếu là do dùng sai liều thuốc (34%), thuốc chống nhiễm trùng (28%) và thuốc tiêm tĩnh mạch (54%) Các bác sĩ cho rằng việc nhập lệnh qua máy vi tính có thể ngăn chặn 93% và các dược sĩ lâm sàng có thể ngăn chặn 94% các ADE tiềm ẩn Để tạo ra cấu trúc an toàn hơn, các tổ chức cần giảm độ phức tạp, tối ưu hóa quy trình xử lý thông tin và áp dụng tự động hóa trong kê toa nhằm hạn chế sai sót.

Kinh nghiệm và nhận thức của nhân viên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe là tài sản quý giá để xây dựng văn hóa học hỏi và cải tiến Mặc dù chưa có thước đo chính xác về tác động của sự kiện bất lợi do thuốc (ADE), nhưng thiệt hại về con người và tài chính từ chúng là đủ lớn để các bệnh viện cam kết tăng cường nguồn lực cho các chương trình nhằm giảm thiểu ADE, từ đó ngăn ngừa chúng ở mức thấp nhất có thể.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng kiến thức và thái độ về dị ứng thuốc của những người tham gia chưa đạt yêu cầu Chúng tôi kết luận rằng cần nâng cao nhận thức về vấn đề này để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng.

29 trọng và sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục dị ứng thước trong công việc đào tạo trước và sau đại học của các bác sĩ y khoa [19].

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 07/12/2024, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Mendell J, Zahir H, Matsushima N, Noveck R, et al,2013), “Drug-drug interaction studies of cardiovascular drugs involving P-glycoprotein, an efflux transporter, on the pharmacokinetics of edoxaban, an oral factor Xa inhibitor”, Am J Cardiovasc Drugs, 13 (5), pp. 331-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug-drug interactionstudies of cardiovascular drugs involving P-glycoprotein, an efflux transporter, onthe pharmacokinetics of edoxaban, an oral factor Xa inhibitor
14. Soar J., Pumphrey R., Cant A., Clarke S., Corbett A., Dawson P., Ewan P., Foex B., Gabbott D., Griffiths M., Hall J., Harper N., Jewkes F., Maconochie I., Mitchell S., Nasser S., Nolan J., Rylance G., Sheikh A., Unsworth D. J., Warrell D. (2008), "Emergency treatment of anaphylactic reactions--guidelines for healthcare providers", Resuscitation, 77(2), pp.157-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emergency treatment of anaphylacticreactions--guidelines for healthcare providers
Tác giả: Soar J., Pumphrey R., Cant A., Clarke S., Corbett A., Dawson P., Ewan P., Foex B., Gabbott D., Griffiths M., Hall J., Harper N., Jewkes F., Maconochie I., Mitchell S., Nasser S., Nolan J., Rylance G., Sheikh A., Unsworth D. J., Warrell D
Năm: 2008
1. Ông Thế Vũ, Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại bệnh viện đa khoa tỉnh quảng ninh giai đoạn 2010 – 2013, tốt nghiệp dược sĩ, Trường Đại Học Dược Hà Nội, Hà Nội 2014 Khác
2. Võ Thị Hồng Phượng, Nguyễn Hoài Anh Thư, Khảo sát tình hình dị ứng thuốc tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế, Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 1, tập 12, trang 8-12, tháng 2/2022 Khác
5. Trung tâm DI &amp; ADR Quốc gia (2013), Tổng kết công tác báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) năm 2012 Khác
6. Võ Thị Hồng Phượng, Nguyễn Thị Hiền, Khảo sát các tương tác thuốc trong đơn thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện trường đại học y dược Huế, Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế, Tập 8, số 5, trang 29-30, tháng 10/2018 7. Võ Thị Hồng Phượng, Phạm Thị Quỳnh Như, Khảo sát các tương tác thuốc trong Khác
9. Nguyễn Thị Ngọc (2015), Khảo sát tình hình tương tác thuốc trên đơn ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung Ương,, Luận văn tốt nghiệp dược sĩ Đại học, Đại học Dược Hà NộiB. Tài liệu Tiếng Anh Khác
10. Susan A. Rudders, MD, A Retrospective Study of Drug-Induced Anaphylaxis Treated in the Emergency Department (ED) or Hospital: Patients'Characteristics and Their Receipt of Preventive Care, J Allergy Clin Immunol, February 2013 12 Khác
12. Lesar TS, Briceland LL, Delcoure K, Parmalee JC, Masta Gornic V, Pohl H (1990) Medication prescribing errors in a teaching hospital. JAMA 263: 2329–2334 13. Lesar TS, Lomaestro BM, Pohl H (1997) Medicationprescribing errors in ateaching hospital. A 9-year experience. Arch Intern Med 157: 1569–1576 Khác
15. Sampson H. A., Munoz-Furlong A., Campbell R. L., Adkinson N. F., Jr., Bock S. A., Branum A., Brown S. G., Camargo C. A., Jr., Cydulka R., Galli S. J., Gidudu J., Gruchalla R. S., Harlor A. D., Jr., Hepner D. L., Lewis L.M., Lieberman P. L., Metcalfe D. D., O'Connor R., Muraro A., Rudman A., Schmitt C., Scherrer D., Simons F. E., Thomas S., Wood J. P., Decker W Khác
16. The European Agency for the Evaluation of Medicinal products, (1995), Note for guidance on the investigation of drug interactions Khác
17. Murtaza G, Khan M Y, Azhar S, Khan S A, et al, (2016), Assessment of potential drug-drug interactions and its associated factors in the hospitalized cardiac patients, saudi Pharm J, 24 (2), pp. 220-225 Khác
18. Nicoletta C. von Laue, The epidemiology of preventable adverse drug events: A review of the literature, the middle european journal of medicine, Wien Klin Wochenschr (2003) 115/12: 407–415, Springer-Verlag 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Số lượng báo cáo (BC) dị ứng - Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Bảng 2.1 Số lượng báo cáo (BC) dị ứng (Trang 34)
Bảng 2.4 Đặc điểm tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng [6]: - Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Bảng 2.4 Đặc điểm tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng [6]: (Trang 35)
Bảng 2.3 Phân bố nhóm thuốc trong mẫu nghiên cứu [6]: - Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Bảng 2.3 Phân bố nhóm thuốc trong mẫu nghiên cứu [6]: (Trang 35)
Bảng 2.5 Đường dùng thuốc gây dị ứng [2]: - Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Bảng 2.5 Đường dùng thuốc gây dị ứng [2]: (Trang 36)
Bảng 2.6 Phân loại thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng thuốc sau khi dùng thuốc - Báo cáo Tiểu Luận Môn Dược Lâm Sàng 1_NTTU_Đề Tài Kiểm Soát An Toàn Phòng Dị Ứng Thuốc Trong Kê Đơn
Bảng 2.6 Phân loại thời gian xuất hiện phản ứng dị ứng thuốc sau khi dùng thuốc (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w