1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt: Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds

36 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Investigating the Verbotonal Approach in the Phonetic Correction of Vietnamese EFL Undergraduates’ English Prosody and Pronunciation with a Special Interest in Unvoiced Consonant Sounds
Trường học Trường Đại Học Mở TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành TESOL
Thể loại luận án
Năm xuất bản 2024
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds. Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

NGÀNH HỌC: TESOL

MÃ SỐ NGÀNH: 9140111

TÓM TẮT LUẬN ÁN Investigating the Verbotonal Approach in the Phonetic Correction of Vietnamese EFL Undergraduates’ English Prosody and Pronunciation with a Special Interest in Unvoiced

Consonant Sounds

TP-HỒ CHÍ MINH, 2024

Trang 2

TÓM TẮT Việc phát âm các âm vô thanh là một thách thức liên tục đối với sinh viên Việt Nam học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) do sự khác biệt giữa hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Anh Nghiên cứu này giải quyết những khó khăn này bằng cách áp dụng cách tiếp cận của “Simplified Verbotonal Approach” (SVA), một phiên bản điều chỉnh từ cách tiếp cận “Traditional Verbotonal Approach” (TVA), tập trung vào ngôn điệu mà không sử dụng cử chỉ và hướng dẫn từ giáo viên SVA sử dụng các kỹ thuật lọc âm và các mẫu ngữ điệu để cải thiện khả năng phân biệt của thính giác và nhận thức của người học, thúc đẩy việc thẩm nhận và phát âm chính xác hơn các phụ âm vô thanh Nền tảng phát âm dựa trên máy tính được sử dụng để triển khai can thiệp, tạo điều kiện cho việc học tập tương tác và cá nhân hóa Bảy mươi sinh viên Việt Nam học EFL đã tham gia vào nghiên cứu này, được chia thành các nhóm thực nghiệm và đối chứng Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp dữ liệu định lượng từ các bài kiểm tra trước và sau khi can thiệp và thông tin định tính từ nhật ký học tập của người học và các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có sự cải thiện đáng kể với độ chính xác và khả năng dễ hiểu cao hơn so với nhóm đối chứng trong việc phát âm các âm vô thanh ở cấp độ nhóm, cá nhân và các cấp độ ngôn ngữ (từ, câu và đoạn văn) Ngoài ra, người học báo cáo sự gia tăng khả năng thẩm nhận và sự tự tin trong phát âm của mình khi sử dụng SVA

Nghiên cứu này đóng góp cả về lý thuyết và thực tiễn Về mặt lý thuyết, nghiên cứu này đóng góp vào lĩnh vực giảng dạy ngôn ngữ bằng cách cung cấp cách tiếp cận SVA cho thấy các hiện tượng âm hữu thanh được áp dụng để cải thiện các hiện tượng âm vô thanh dựa trên các nguyên tắc đơn giản hóa từ Lý thuyết “Verbotonal” Kết quả nghiên cứu mang lại các hàm ý thực tiễn cho giáo viên và nhà phát triển chương trình giảng dạy với mục tiêu nâng cao việc giảng dạy phát âm tiếng Anh tại Việt Nam

Từ khóa: Nền tảng phát âm dựa trên máy tính, kỹ thuật lọc âm, mẫu ngữ điệu, nhận thức của người học, ngôn điệu, Simplified Verbotonal Approach (SVA), phụ âm vô thanh

Trang 3

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Phương pháp Simplified Verbotonal Approach là một cách tiếp cận mới được tác giả đề xuất để giảng dạy phát âm Đây là phiên bản đã được giản lược của phương pháp Traditional Verbotonal Approach, được thiết kế để người học và người có nhu cầu dễ thực hiện Phương pháp này nhấn mạnh mối quan hệ giữa thẩm nhận (cách nghe âm thanh) và tạo sản (cách phát âm) Bằng cách tập trung vào việc lọc ngữ điệu — làm nổi bật sự khác biệt tinh tế giữa các đặc điểm âm học của âm vô thanh — phương pháp này giúp người học dần thẩm nhận được những khác biệt này Theo thời gian, nỗ lực có ý thức để nhận biết các âm này sẽ trở thành một quá trình tự động trong não bộ, làm cải thiện các âm hoặc

âm vị cụ thể Tác giả sử dụng các bài tập mẫu câu ngữ điệu có các mức cao độ khác nhau để tăng cường thẩm nhận cho người học Tác giả còn thiết kế ra một trang web riêng cho người học, giúp họ tự học theo nhu cầu để hạn chế sự gián đoạn và không cần bất kỳ sự hướng dẫn nào của giáo viên Cách tiếp cận này khuyến khích việc tự định hướng trong học tập, giúp người học kiểm soát được quá trình học của mình 1.1 Bối cảnh chung của nghiên cứu

Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ chung toàn cầu, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, kể

cả ở các quốc gia không nói tiếng Anh (Alam, 2023) Khoảng 80% các giao tiếp bằng tiếng Anh trên toàn cầu liên quan đến người không phải bản ngữ (Beneke, 1991), dẫn đến hình thành nhiều hình thức giao tiếp khác nhau do bị ảnh hưởng bởi văn hóa địa phương, lịch sử và giọng vùng miền Trong số các kỹ năng ngôn ngữ chính — nghe, nói, đọc và viết — phát âm trong kỹ năng nói bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ngôn ngữ mẹ đẻ của người học (Piske et al., 2001) Ngoài ra, trước đây, nghiên cứu về việc tiếp thu ngôn ngữ thứ hai (SLA) thường bỏ qua phát âm, tập trung nhiều hơn vào ngữ pháp và từ vựng (Gilakjani, 2016) Tuy nhiên, từ năm 2005, ngày càng có nhiều sự chú trọng vào phát âm để đảm bảo giao tiếp rõ ràng (Thomson & Derwing, 2015) Hơn thế nữa, phát âm rõ ràng là điều cần thiết để đảm bảo tính dễ hiểu, trong khi phát âm kém có thể gây cản trở việc hiểu (Kelly, 2006) Sự tập trung đã chuyển từ việc đạt được giọng giống người bản ngữ sang việc đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau (Derwing & Munro, 2005), đưa đến các tiêu chuẩn phát âm rõ ràng được ưu tiên hơn là việc phát âm giống hệt người bản ngữ Theo xu hướng toàn cầu, các phương pháp được sử dụng giảng dạy tại Việt Nam như Phương pháp Dạy học Giao tiếp (CLT) và Phương pháp Dạy học dựa trên Nhiệm vụ (TBA) nhấn mạnh kỹ năng nghe

và nói, có thể cải thiện phát âm (Pham, 2007; Tran & Phan, 2021) Phương pháp Học Đảo chiều (FLA) cũng ngày càng được sử dụng (Nguyen, 2023) để dạy phát âm Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và chất lượng tài liệu (Kraut và cộng sự, 2019)

Các thách thức như tập trung vào ngữ pháp hơn là kỹ năng nói và lớp học đông làm giảm sự tập trung của người học (Nguyen, 2023) vẫn tồn tại Giảng dạy phát âm thường nhấn mạnh vào các yếu tố đoạn tính (các âm riêng lẻ như /θ/ và /ð/) và bỏ qua các yếu tố siêu đoạn tính (ngữ điệu, nhấn âm, nhịp điệu) (Tran & Nguyen, 2020; Nguyen & Newton, 2021; Nguyen & Bui, 2021) Kết quả là người học không được giảng dạy phát âm toàn diện để có thể giao tiếp hiệu quả

Việc giảng dạy các phụ âm vô thanh trong tiếng Anh đặc biệt khó khăn đối với người học Việt Nam

do có sự khác biệt về âm vị học Các phụ âm vô thanh trong tiếng Anh như /p/, /t/, /k/, /f/, /θ/, /s/, /ʃ/, /h/

và /tʃ/ yêu cầu cách phát âm cụ thể (McMahon, 2002) và người nói tiếng Việt có thể không quen với điều này Theo Riaño (2021), những vấn đề như âm bật vô thanh không bật hơi trong tiếng Việt (Horn & Pham, 2004) dẫn đến sự nhầm lẫn Các âm bật vô thanh trong tiếng Anh có đặc trưng là bật hơi, tạo ra luồng không khí sau khi phát âm, một đặc điểm âm học quan trọng để phân biệt chúng với các âm hữu thanh tương ứng (/b/, /d/, /g/) (Ladefoged, 1996; Ladefoged & Johnson, 2014)

Tiếng Việt có các âm bật vô thanh (/p/, /t/, /k/) và hữu thanh (/b/, /d/, /g/), nhưng khác với tiếng Anh, các âm bật vô thanh thường không bật hơi (Horn & Pham, 2004) Chính vì vậy, người học tiếng Việt có thể gặp khó khăn trong việc tạo ra âm bật hơi này, ảnh hưởng đến sự rõ ràng trong phát âm Ngoài

ra, tính chất có thanh điệu của tiếng Việt, nơi mà cao độ ảnh hưởng đến ý nghĩa (Nguyen & Newton,

Trang 4

2021), khác biệt với việc tiếng Anh dựa vào chuyển đổi các thành tố để xác định âm bật Sự tương tác của thanh điệu với chuyển đổi thành tố có thể che dấu sự khác biệt giữa các âm bật (Edmondson & Nguyen, 1997) Đặc điểm không phát âm các âm bật cuối từ trong tiếng Việt cũng tạo ra sự khác biệt âm học so với tiếng Anh, nơi mà các âm bật thường được phát âm rõ (Horn & Pham, 2004)

Chính sự khác biệt âm vị học giữa tiếng Anh và tiếng Việt làm cho việc giảng dạy các phụ âm vô thanh trở nên khó khăn Đặc điểm bật trong tiếng Anh trái ngược với tiếng Việt, ảnh hưởng đến khả năng phân biệt các phụ âm hữu thanh và vô thanh của người học Việt, từ đó ảnh hưởng đến sự rõ ràng và chính xác trong phát âm Ngoài ra, người học Việt có thể dựa vào các nốt thanh điệu trong tiếng Việt để vận dụng lên tiếng Anh khi học phát âm và điều này có thể cản trở việc phát âm chính xác các phụ âm Thêm vào đó, cơ hội thực hành và nhận phản hồi hạn chế làm cho các vấn đề này trở nên khó khăn hơn, đưa đến nhu cầu cần đào tạo phát âm để nâng cao kỹ năng phát âm của người học Việt

1.2 Tuyên bố vấn đề

Người học Việt phải đối mặt với những thách thức trong việc phát âm các phụ âm vô thanh trong tiếng Anh do sự khác biệt về ngữ âm và thanh điệu giữa hai ngôn ngữ Tiếng Việt sử dụng cao độ để tạo nghĩa trong từ, trong khi tiếng Anh dựa vào ngữ điệu, trọng âm và nhịp điệu trong toàn câu (Nguyen, 2019) Sự khác biệt này dẫn đến việc người học thay thế các âm khó bằng các âm quen thuộc hơn, làm hạn chế việc giao tiếp rõ ràng (Nguyen, 2014) Các phụ âm tiếng Anh, bao gồm âm bật và âm xát, khác biệt so với tiếng Việt về cách phát âm và cách bật hơi (Nguyen, 2021) Trong khi tiếng Anh có 24 phụ

âm được phân loại theo tính hữu thanh và vị trí phát âm, tiếng Việt có 30 phụ âm được phân loại theo vị trí của lưỡi và không có một số âm xát như trong tiếng Anh Sự khác biệt này làm cho việc phát âm các

âm vô thanh trong tiếng Anh trở nên khó khăn, đặc biệt là do tính bật hơi của các âm bật trong tiếng Anh

mà tiếng Việt không có (Nguyen, 2021; Horn & Pham, 2004)

Phương pháp giảng dạy phát âm truyền thống tại Việt Nam thường bỏ qua các yếu tố siêu đoạn tính như trọng âm và ngữ điệu, thay vào đó tập trung vào sự lặp lại và phát âm (Thanh, 2019; Nguyen & Newton, 2020) Lớp học đông cũng cản trở việc phản hồi của từng học viên (Nguyen, 2023) Những lỗi như bỏ âm, thay thế hoặc đồng hóa âm, bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ mẹ đẻ, thường xảy ra và làm phức tạp quá trình học (Jenkins, 2000) Mặc dù, công nghệ tiên tiến có thể hỗ trợ việc đào tạo phát âm nhưng chi phí cao và hạn chế khả năng tiếp cận, đặc biệt là ở các khu vực đang phát triển (Foote, 2017) Cần có sự thay đổi trong giảng dạy ưu tiên thẩm nhận thính giác hơn là phát âm Việc đào tạo người học phát hiện ra sự khác biệt tinh tế giữa âm tiếng Anh và tiếng Việt giúp phát triển khả năng phát âm tự nhiên và chính xác (Nguyen, 2021; Odisho, 2014) Phương pháp này tác động đến tiềm thức để thực hành theo thói quen, giảm thiểu những nỗ lực có ý thức và cải thiện sự lưu loát Các yếu tố siêu đoạn tính cũng cần được nhấn mạnh cùng với công nghệ dễ tiếp cận để hỗ trợ việc học tập và tự thực hành (Nguyen & Dang, 2022) Phương pháp này có thể giải quyết những thách thức trong phát âm của người học Việt, giúp họ phát âm rõ ràng và tự nhiên hơn

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này có 2 mục tiêu chính như sau:

 Nghiên cứu tính hiệu quả của phương pháp Simplified Verbotonal Approach trong việc cải thiện phát âm các phụ âm vô thanh của sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Việt Nam so với phương pháp Traditional Verbotonal Approach ở cấp độ nhóm và cấp độ cá nhân và các cấp độ ngôn ngữ khác nhau (từ, câu và đoạn văn)

 Khảo sát ý kiến của sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Việt Nam về việc sử dụng phương pháp Simplified Verbotonal Approach trong việc học phát âm

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

1 Phương pháp Simplified Verbotonal Approach có hiệu quả như thế nào trong việc cải thiện phát

âm các phụ âm vô thanh của sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Việt Nam so với phương pháp Traditional Verbotonal Approach ở cấp độ nhóm và cá nhân và ngôn ngữ?

Trang 5

2 Ý kiến của sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Việt Nam về việc sử dụng phương pháp Simplified Verbotonal Approach như thế nào?

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Về đóng góp lý thuyết:

Đầu tiên, nghiên cứu ưu tiên mối liên hệ chặt chẽ giữa nhận thức, ngữ điệu và các âm riêng lẻ, đặc biệt là các phụ âm vô thanh, bằng cách sử dụng ngôn điệu qua các câu mẫu được lọc, giúp nâng cao nhận thức của người học về giọng nói của họ Việc tập trung vào ngôn điệu giúp người học phân biệt tốt hơn các âm, hiểu được dòng lời nói và nắm bắt được ý nghĩa ẩn sau các từ nói Thứ hai, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm ủng hộ cách tiếp cận toàn diện hoặc từ trên xuống, tập trung vào ngôn điệu hoặc ngữ điệu thay vì chỉ học từng âm riêng lẻ Các cách tiếp cận truyền thống từ dưới lên tập trung vào từng

âm cụ thể nhưng không đạt được sự rõ ràng trong ngôn ngữ thứ hai (L2) Nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng phương pháp SVA sẽ cải thiện đáng kể lĩnh vực này Thứ ba, mặc dù cải thiện phát âm, đặc biệt là

ở những người có vấn đề thính giác, TVA vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi trên toàn cầu Nghiên cứu khám phá việc áp dụng TVA tại Việt Nam, nâng cao sự hiểu biết về hiệu quả của nó trong một bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ mới Thứ tư, mặc dù lý thuyết Verbotonal truyền thống thường cải thiện phát âm bằng cách sử dụng các yếu tố siêu đoạn tính Tuy nhiên, nghiên cứu này tập trung cụ thể vào các phụ âm

vô thanh Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cách mà hiện tượng âm hữu thanh có thể điều chỉnh hiện tượng âm vô thanh trong phát âm Thứ năm, nghiên cứu khám phá việc sử dụng phương pháp học ngôn ngữ có sự hỗ trợ của Máy tính trong giảng dạy phát âm dựa trên các ý tưởng cơ bản của SVA đưa ra các

bộ lọc âm thanh kỹ thuật số để tăng cường cảm nhận và ngôn điệu, bổ sung một khía cạnh mới trong việc

sử dụng công nghệ vào giảng dạy phát âm Thứ sáu, đóng góp về mặt lý thuyết của nghiên cứu còn thể hiện ở việc áp dụng sáng tạo phương pháp Verbotonal truyền thống để cải thiện phát âm Bằng cách đơn giản hóa phương pháp qua các bài tập trên máy tính, không sử dụng cử chỉ để diễn đạt ngôn ngữ và sự can thiệp trực tiếp của giáo viên, nghiên cứu đã giới thiệu SVA Một cách tiếp cận mới giữ lại những nguyên tắc cốt lõi của TVA nhưng điều chỉnh nó để dễ tiếp cận và hiệu quả hơn Nghiên cứu nhằm xác định liệu những điều chỉnh này có thể cải thiện hiệu quả phát âm hay không, từ đó mang lại một giải pháp thực tế hơn cho người học ngôn ngữ

Về đóng góp thực tiễn:

Nghiên cứu đưa ra một cách tiếp cận mới cùng với các bước triển khai thực hiện giảng dạy phát

âm một cách chi tiết, có cấu trúc và dễ thực hiện Cách tiếp cận này giúp người học nâng cao tính tự chủ, cho phép họ kiểm soát quá trình học của mình và thích ứng với môi trường giáo dục công nghệ cao Các

cơ sở giáo dục có thể chủ động thay đổi chương trình giảng dạy, sách giáo khoa và các kịch bản giảng dạy để tích hợp cách tiếp này Ngoài ra, nghiên cứu còn khám phá một cách tiếp cận giảng dạy phát âm không cần giáo viên, tập trung vào các bài tập cụ thể và lọc âm mà không cần hướng dẫn trực tiếp từ giáo viên Cách tiếp cận này dân chủ hóa việc học ngôn ngữ, giúp học viên tự định hướng việc học tập và tận dụng công nghệ, mang lại những hiểu biết sâu sắc hơn về lý thuyết Verbotonal và mở rộng ứng dụng của

1.5 Bố cục của nghiên cứu

Chương 1 - Giới thiệu: thiết lập nền tảng của nghiên cứu, trình bày thông tin bối cảnh, làm rõ vấn

đề giảng dạy phát âm trong bối cảnh khác biệt ngôn ngữ và nêu rõ các mục tiêu nghiên cứu Chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu và những đóng góp lý thuyết và thực tiễn

Chương 2 - Tổng quan tài liệu: phân tích các nghiên cứu hiện có về phát âm, phương pháp truyền thống và phương pháp Verbotonal Chương này xác định những khoảng trống trong tài liệu và xây dựng khung lý thuyết lý giải cho sự cần thiết của nghiên cứu hiện tại

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: nêu cụ thể thiết kế nghiên cứu, bao gồm các phương pháp thu thập dữ liệu (khảo sát, phỏng vấn, kiểm tra), các kỹ thuật phân tích dữ liệu và các vấn đề đạo đức Chương này còn thiết lập độ tin cậy và giá trị của nghiên cứu

Trang 6

Chương 4 - Kết quả và thảo luận: trình bày và diễn giải dữ liệu thu thập được bằng các bảng biểu

và hình Chương này minh chứng sự cải thiện đáng kể về phát âm ở các cấp độ nhóm, cá nhân và ngôn ngữ, hỗ trợ hoặc thách thức các câu hỏi nghiên cứu Phần thảo luận diễn giải các phát hiện từ tài liệu hiện

có, làm nổi bật sự nhất quán và khác biệt với các nghiên cứu trước đây, đồng thời xem xét sự khác biệt

về phương pháp và các biến số bối cảnh để giải thích kết quả

Chương 5 - Kết luận: tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu về phương pháp Simplified Verbotonal Approach, nhấn mạnh những đóng góp, ý nghĩa và đề xuất cho nghiên cứu trong tương lai

Trang 7

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Phát Âm Trong Tiếng Anh

2.1.1 Các khía cạnh của phát âm

2.1.1.1 Yếu tố đoạn tính

Theo Wang (2022), yếu tố đoạn tính đề cập đến các âm hoặc âm vị riêng lẻ như nguyên âm và phụ

âm, tạo nên các thành phần cơ bản của ngôn ngữ nói Những âm này là các đơn vị riêng biệt như nguyên

âm /e/ hoặc phụ âm /ʧ/ và kết hợp với nhau để tạo thành từ Khía cạnh phát âm của các yếu tố đoạn tính cho thấy phụ âm liên quan đến việc chặn luồng không khí (ví dụ: /p/, /t/), trong khi nguyên âm cho phép luồng không khí di chuyển tự do hơn Các phụ âm vô thanh như /p/, /t/, /k/ và các âm xát như /s/ và /ʃ/ đặc biệt khó đối với người học tiếng Việt do chúng không có trong tiếng Việt, gây khó khăn cho việc phát âm chuẩn xác

Từ góc độ âm học, phụ âm ảnh hưởng đến vùng tần số cộng hưởng trong phổ âm thanh và cách phát âm chúng ảnh hưởng đến việc thẩm nhận âm thanh Các âm bật như /p/ và /t/ có sự chuyển tiếp vùng tần số cộng hưởng trong phổ âm thanh riêng biệt, trong khi các âm xát tạo ra tiếng ồn tần số cao, tất cả điều rất quan trọng và cần hiểu rõ Nhận biết âm vị và khả năng nhận ra các âm riêng lẻ rất quan trọng trong việc cải thiện phát âm Người học có thể nhận biết và tái tạo chính xác các âm khó tốt hơn bằng cách tập trung vào các đặc điểm âm học của các âm đoạn tính

Mặc dù các yếu tố đoạn tính tạo thành lõi của lời nói, nhưng phát âm không dừng lại ở đó mà còn

mở rộng ra các yếu tố siêu đoạn tính như ngữ điệu và trọng âm, chi phối các âm này được cảm nhận trong câu và đóng vai trò quan trọng cho sự dễ hiểu và tính biểu cảm trong giao tiếp

2.1.1.2 Yếu tố siêu đoạn tính

Các yếu tố siêu đoạn tính, hay ngữ điệu, vượt ra ngoài các âm riêng lẻ (Seidlhofer, 2001) và bao gồm nhịp điệu, ngữ điệu, trọng âm và độ dài, mang lại cấu trúc và giai điệu cho bài nói (Fujisaki, 1997) Những yếu tố này truyền tải thông tin ngôn ngữ, cận ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, cho phép người nói thể hiện cảm xúc, thái độ và nhấn mạnh ngoài ý nghĩa từ vựng Ngữ điệu làm phong phú giao tiếp, giúp người nói thể hiện câu hỏi, mệnh lệnh hoặc châm biếm qua sự thay đổi cao độ, trọng âm và ngữ điệu, làm cho tương tác trở nên hiệu quả và hấp dẫn hơn Tầm quan trọng của ngữ điệu trong việc nâng cao giao tiếp được ủng hộ bởi các nghiên cứu cho thấy tác động của nó đối với cả đặc điểm ngữ điệu và đặc điểm âm đoạn (Dahmen và cộng sự, 2023; Hahn, 2004; Kang và cộng sự, 2010)

Dalton và Seidlhofer (1994) đã đề xuất hai mô hình giảng dạy: cách tiếp cận từ dưới lên tập trung vào các âm riêng lẻ trước khi học siêu đoạn tính và cách tiếp cận từ trên xuống bắt đầu với ngôn điệu Việc khám phá cả hai phương pháp có thể làm rõ những lợi ích của chúng, như Low (2006) đã ghi nhận tầm quan trọng của các yếu tố ngôn điệu như nhịp điệu và ngữ điệu trên nhiều ngôn ngữ Trong khi các phương pháp dựa trên ngôn điệu làm bổ sung cảm xúc và sự rõ ràng, các phương pháp không dựa trên ngôn điệu thì nhấn mạnh việc phát âm chính xác âm thanh Couper (2015) nhận thấy rằng việc đào tạo người học nhận biết ranh giới âm vị qua ngôn điệu sẽ nâng cao khả năng phát âm chính xác của họ và phù hợp với mục tiêu người học Pennington và Rogerson-Revell (2019) củng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp phương pháp giảng dạy với mục tiêu của người học trong việc học phát âm Tập trung vào ngôn điệu, bao gồm nhịp điệu, trọng âm và ngữ điệu, giúp người học điều chỉnh phát

âm một cách tự nhiên Các mẫu nhịp điệu tổ chức âm thanh, trọng âm làm nổi bật âm tiết để nhấn mạnh

và ngữ điệu thêm cảm xúc và cấu trúc thông qua sự thay đổi cao độ Ngôn điệu sai có thể làm lu mờ ý nghĩa dù các âm riêng lẻ được phát âm đúng, do đó việc tích hợp ngôn điệu vào quá trình luyện tập dẫn đến phát âm rõ ràng và tự nhiên hơn Thực hành này không chỉ nâng cao độ chính xác phát âm mà còn giảm thiểu các lỗi phổ biến thông qua cách tiếp cận học tập toàn diện

Trang 8

2.1.1.3 Ngữ điệu

Ngữ điệu đề cập đến sự thay đổi cao độ trong lời nói, truyền tải ý nghĩa nhiều hơn từ Sự rung động của dây thanh quản kiểm soát ngữ điệu và rất quan trọng trong việc thể hiện cảm xúc, phân biệt giữa câu khẳng định và câu hỏi, nhấn mạnh thông tin quan trọng và báo hiệu cấu trúc câu Âm vị học ngữ điệu xác định các mẫu cao độ có cấu trúc, dù không mang ý nghĩa vốn có nhưng hoạt động theo ngữ cảnh để truyền đạt cảm xúc và ý định của người nói Ví dụ, nâng cao độ thường báo hiệu một câu hỏi, trong khi giảm cao độ báo hiệu sự kết thúc của một câu khẳng định

Ngữ điệu là thành phần quan trọng của ngôn điệu, bao gồm nhịp điệu, trọng âm và cao độ, định hình cách các thông điệp được diễn giải Nó đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp bằng cách nhấn mạnh cảm xúc, ý định và sự nhấn mạnh trong lời nói Các mẫu như nâng cao độ trong câu hỏi và giảm cao độ trong câu khẳng định giúp người nghe hiểu rõ ý định của người nói Việc hiểu và thực hành các mẫu này rất quan trọng trong việc giao tiếp hiệu quả, đặc biệt trong học ngôn ngữ, tại đó việc thẩm nhận cao độ

và ngữ điệu khác nhau giữa các ngôn ngữ

Về mặt âm học, thẩm nhận cao độ hoạt động trong các phạm vi tần số cụ thể và việc điều chỉnh ngữ điệu trong lời nói có thể nâng cao khả năng thẩm nhận và phát âm chính xác của người học Bằng cách tích hợp ngữ điệu vào giảng dạy, người học có thể cải thiện sự tự nhận thức và kỹ năng phát âm của mình Các bài tập làm nổi bật sự thay đổi cao độ cải thiện kỹ năng thẩm nhận và tạo sản âm thanh, giúp lời nói trở nên tự nhiên và dễ hiểu hơn

Tóm lại, ngữ điệu nâng cao khả năng phát âm bằng cách hỗ trợ việc thẩm nhận sự khác biệt giữa những cao độ, góp phần vào việc tạo sản lời nói hiệu quả hơn Việc nắm vững ngữ điệu giúp thu hẹp khoảng cách giữa thẩm nhận và thực hành, cải thiện kỹ năng phát âm

2.1.1.4 Thẩm nhận và tạo sản trong học phát âm

Đạt được phát âm chính xác phụ thuộc nhiều vào các quá trình liên kết giữa thẩm nhận và tạo sản Thẩm nhận liên quan đến việc nghe, nhận biết và phân biệt các âm, trong khi tạo sản là việc phát âm các

âm đó Cả hai quá trình này đều cần thiết để phát triển kỹ năng phát âm tốt, vì sự hoàn thiện của một quá trình ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình còn lại Sự thẩm nhận sai thường dẫn đến phát âm sai, đặc biệt khi ngôn ngữ mẹ đẻ của người học can thiệp vào thẩm nhận của họ về ngôn ngữ thứ hai (L2)

Mô hình nói của Levelt chia quá trình tạo sản âm thanh thành các giai đoạn: khái niệm hóa, công thức hóa và phát âm Những quá trình này giải thích cách thức những suy nghĩ được chuyển thành lời nói và làm nổi bật sự phức tạp về nhận thức của việc tạo sản ngôn ngữ, đặc biệt ở những người sử dụng song ngữ do phải chuyển đổi giữa các ngôn ngữ

Odisho (2014) đã đề xuất một phương pháp tiếp cận theo hệ thống để giảng dạy phát âm, tập trung vào ba giai đoạn: thẩm nhận, nhận biết và tạo sản Bỏ qua bất kỳ giai đoạn nào có thể cản trở việc tiếp thu âm thanh Hơn nữa, ngôn điệu — cao độ, độ dài và âm lượng — giữ vai trò quan trọng trong giao tiếp bằng cách bổ sung thêm các sắc thái cảm xúc và biểu cảm mà chúng không truyền tải được qua các

từ ngữ đơn thuần Sự nhạy cảm với cao độ của Hệ thống thính giác của con người giúp phân biệt sự tinh

tế trong lời nói, điều cần thiết để hiểu và diễn giải ý nghĩa

Các cử chỉ cũng tăng cường sự liên kết giữa thẩm nhận và tạo sản Nghiên cứu cho thấy cử chỉ hỗ trợ học từ vựng, phát âm và giao tiếp tổng thể Tuy nhiên, một cách tiếp cận mới đó là SVA đề xuất rằng giảm thiểu cử chỉ trong đào tạo phát âm có thể giảm tải nhận thức, giúp người học tập trung hơn vào thẩm nhận âm thanh và phát âm Bằng cách sử dụng các kỹ thuật lọc để làm nổi bật các yếu tố âm học

và các mẫu ngữ điệu, người học có thể cải thiện phát âm một cách tự nhiên và dần dần nội hóa các mẫu

âm thanh này

Sự phát triển của giảng dạy phát âm phản ánh sự dịch chuyển mạnh mẽ trong các phương pháp ngôn ngữ, từ các mô hình dựa trên khuôn mẫu đến các phương pháp tập trung vào giao tiếp hơn, nhấn mạnh tầm quan trọng của thẩm nhận và tạo sản âm thanh theo các yếu tố ngôn điệu nhằm giao tiếp hiệu quả

Trang 9

2.1.2 Tầm quan trọng của sự rõ ràng trong phát âm

Tạp chí “Phát âm của Ngôn ngữ Thứ hai” năm 2020 (Levis và cộng sự, 2022) nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự rõ ràng trong phát âm L2, chuyển trọng tâm từ mức độ chính xác giống người bản ngữ sang giao tiếp rõ ràng và dễ hiểu Quan điểm này phù hợp với khái niệm tiếng Anh là một Ngôn ngữ chung (ELF) do Jenkins (2000) đưa ra, khuyến nghị việc giảng dạy phát âm mang tính thực tiễn, ưu tiên nhu cầu giao tiếp toàn cầu Các nghiên cứu của Foote và McDonough (2017) và Nagle (2017) minh họa tầm quan trọng của sự rõ ràng trong phát âm đối với việc tiếp thu ngôn ngữ và các môi trường đa dạng Các yếu tố phát âm ảnh hưởng đến sự rõ ràng bao gồm trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu và cụm phụ

âm (Kenworthy, 1987; Gardiner & Deterding, 2018) Field (2005) nhấn mạnh các yếu tố ngôn điệu quyết định cho sự rõ ràng Levis (2005) và Deterding và Kirkpatrick (2006) đề nghị rằng việc giảng dạy phát

âm cần được điều chỉnh theo ngữ cảnh của người học, nâng cao sự rõ ràng bằng cách đáp ứng các đặc điểm khu vực Nghiên cứu gần đây (Trofimovich và cộng sự, 2020) và Thir (2020) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức của người học về sự khác biệt ngữ âm, giải quyết sự tham gia của người học và điều chỉnh việc giảng dạy để cải thiện giao tiếp

Giảng dạy phát âm hiệu quả nên ưu tiên sự rõ ràng thông qua các phương pháp linh hoạt, tích hợp đào tạo ngôn điệu và xem xét nền tảng của người học để thúc đẩy giao tiếp rõ ràng hơn trên toàn cầu 2.2 Tổng quan về các phương pháp giảng dạy phát âm

2.2.1 Sự phát triển của các phương pháp giảng dạy phát âm

Giảng dạy phát âm đã phát triển qua nhiều phương pháp khác nhau, bắt đầu từ phương pháp “Trực tiếp” nhấn mạnh kỹ năng nói và nghe mà không cần dịch thuật (Howatt & Widdowson, 2004), đến phương pháp “Nghe – Nhìn” tập trung vào các yếu tố đoạn tính và luyện tập lặp đi lặp lại (Richards & Rodgers, 2001; Larsen-Freeman, 2000) Những phương pháp này nhấn mạnh thực hành các yếu tố đoạn tính nhưng thường bỏ qua các yếu tố ngôn điệu như nhịp điệu và ngữ điệu, làm hạn chế sự trôi chảy của người học Phương pháp “Dạy học ngôn ngữ giao tiếp” (CLT) của tập niên 70-80 tích hợp phát âm vào nhiều kỹ năng ngôn ngữ hơn và khuyến khích thực hành tích cực, theo ngữ cảnh (Savignon, 2002) Các phương pháp như Suggestopedia đã sử dụng các kỹ thuật “đắm chìm” để giảm lo lắng và thúc đẩy việc lưu giữ tốt hơn (Celce-Murcia và cộng sự, 2010)

Cuối thế kỷ 20, phương pháp “Dạy học ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ” (TBLT) xuất hiện, tích hợp phát âm qua các nhiệm vụ thực tiễn (Ellis, 2017) và phương pháp “Tiếp cận tự nhiên” tập trung vào việc hiểu trước khi tạo sản, thúc đẩy phát triển phát âm tự nhiên (Krashen & Terrell, 1983) Tuy nhiên, các phương pháp tiếp cận từng bước truyền thống thường không giảng dạy phát âm theo một hệ thống gắn kết, đặc biệt đối với các âm khó như các phụ âm vô thanh

Phương pháp phân tích đối chiếu của Lado (1957) nhấn mạnh việc so sánh ngữ âm của L1 và L2

để xác định các khó khăn và lỗi tiềm ẩn do sự giao thoa của chúng Mặc dù phương pháp này giúp tập trung vào các vấn đề phát âm cụ thể, các nhà phê bình như Corder (1975) tuyên bố không phải tất cả lỗi đều do sự khác biệt giữa L1 và L2 Vì thế, các phương pháp hiện đại bao gồm việc tự nâng cao nhận thức của người học về các âm vị và yếu tố âm học, khuyến khích họ chủ động theo dõi và điều chỉnh phát âm,

và phù hợp với nhấn mạnh việc cần có các phương pháp phát âm dựa trên bằng chứng của Derwing và Munro (2005)

Thành kiến và sự đào tạo không đầy đủ của giáo viên (Henderson và cộng sự, 2012; Beinhoff, 2013) làm cho các phương pháp truyền thống phức tạp hơn, dẫn đến việc giảng dạy phát âm không nhất quán Underhill (2010) tuyên bố rằng giáo viên thường thiếu hiểu biết về cơ chế tạo sản âm thanh, dẫn đến chỉ dựa vào việc lặp lại mà không dạy các kỹ thuật phát âm Phát âm thường chiếm ít thời gian trong lớp học làm giảm cơ hội thực hành

2.2.2 Các phương pháp tiếp cận từ trên xuống trong giảng dạy phát âm

Trong việc giảng dạy và nghiên cứu phát âm ngôn ngữ thứ hai (L2), có hai cách tiếp cận chính: từ dưới lên và từ trên xuống Cách tiếp cận từ dưới lên tập trung vào các âm riêng lẻ như nguyên âm và phụ

âm, trong khi cách tiếp cận từ trên xuống ưu tiên giao tiếp thực tế, nhấn mạnh các yếu tố như ngữ điệu

Trang 10

và trọng âm Cách tiếp cận từ trên xuống ngày càng được công nhận vì nó tập trung vào sự trôi chảy và các mẫu nói tự nhiên Các nghiên cứu của Derwing et al (1997), Hahn (2004) và những nghiên cứu khác cho thấy rằng tập trung vào các yếu tố siêu đoạn tính như ngữ điệu, nhịp điệu và trọng âm sẽ cải thiện sự

rõ ràng và giao tiếp

Trong khi cách tiếp cận từ dưới lên cải thiện việc phát âm các âm cụ thể, cách tiếp cận này thường

bỏ qua sự tự nhiên của lời nói, dẫn đến giao tiếp cứng nhắc và không tự nhiên Trái lại, cách tiếp cận từ trên xuống, như phương pháp “Shadowing và Mirroring” giúp người học phát triển cách nói tự nhiên hơn bằng cách bắt chước các yếu tố ngôn điệu Tuy nhiên, các phương pháp này cũng có hạn chế Ví dụ như phương pháp “Shadowing” tập trung quá nhiều vào các khía cạnh nói, bỏ qua các dấu hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ quan trọng trong các tương tác thực tế Phương pháp “Mirroring” cải thiện phương pháp

“Shadowing” bằng cách tích hợp ngôn ngữ cơ thể và biểu cảm khuôn mặt với việc thực hiện phát âm Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào tạo sản (phát âm) có thể bỏ qua kỹ năng thẩm nhận cần thiết để nhận

ra các biến thể âm thanh tinh tế Một cách tiếp cận mới, “Simplified Verbotonal Approach”, tìm cách giải quyết vấn đề này bằng cách ưu tiên thẩm nhận; đó là luyện cho người học lắng nghe các mẫu câu có ngữ điệu và biến thể âm thanh Theo thời gian, cách luyện này cải thiện độ thẩm nhận thức và tạo sản, làm cho phát âm trở nên tự nhiên và tự động hơn

SVA chuyển đổi cách phát âm từ nỗ lực có ý thức sang một quá trình vô thức bằng cách củng cố mối liên kết giữa việc nghe và tạo sản ra âm thanh Người học cải thiện khả năng nhận biết và tái tạo âm thanh một cách tự nhiên hơn

2.2.3 Phương pháp phát âm hiện đại

Việc tích hợp công nghệ vào việc học ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt thông qua “Học ngôn ngữ với hỗ trợ của máy tính” (CALL) và “Đào tạo phát âm với hỗ trợ của máy tính” (CAPT), giúp khắc phục những hạn chế của các phương pháp giảng dạy phát âm truyền thống (Pennington & Rogerson-Revell, 2019) CALL và CAPT cung cấp môi trường thực hành cá nhân hóa thông qua các công cụ như nhận dạng giọng nói và phản hồi trực quan, giúp người học nhận được phản hồi khắc phục ngay và thực hành đúng mục tiêu (Rogerson-Revell, 2021; Lee, 2008) Đặc biệt, CAPT hỗ trợ người học qua việc lặp lại và bắt chước,

là những yếu tố rất quan trọng để hiểu rõ các âm và hỗ trợ đào tạo thẩm nhận, giúp người học phân biệt các âm khó như đối chiếu nguyên âm (Kawai & Hirose, 2000; Wang & Munro, 2004)

Những công nghệ này làm thuận lợi cho việc học tự định hướng với các công cụ như ELSA Speak

sử dụng AI để cung cấp phản hồi về các phụ âm vô thanh (Kholis, 2021) Hệ thống CAPT, được cải tiến nhờ công nghệ nhận dạng giọng nói, làm rõ các lỗi và phản hồi thực tế (Korzekwa và cộng sự, 2022; Garcia và cộng sự 2020) Tuy nhiên, trong khi công cụ CAPT trợ giúp đào tạo các yếu tố đoạn tính, chúng có thể không đáp ứng đầy đủ các yếu tố ngôn điệu như ngữ điệu và trọng âm (Levis, 2007) Phản hồi trực quan như biểu đồ âm thanh giúp người học thẩm nhận các mẫu lời nói (Amrate & Tsai, 2024) Mặc dù có những tiến bộ, CAPT vẫn tập trung vào việc học có ý thức, hạn chế sự phát triển tự động của phát âm (Hardison, 2017) SVA đưa ra một giải pháp thay thế bằng cách sử dụng các mẫu câu

có ngữ điệu được lọc và lặp lại câu để nâng cao khả năng thẩm nhận và tạo sản ngôn điệu của người học

mà không cần tập trung vào các yếu tố đoạn tính cụ thể, hỗ trợ việc tự học và xóa đi sự lo lắng của người học Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm sang đào tạo ngôn điệu và là điều rất quan trọng trong việc tạo sản ra lời nói tự nhiên và dễ hiểu

2.2.4 Lọc tần số thấp

Lọc băng thông thấp nhấn mạnh vào các yếu tố ngôn điệu như cao độ, nhịp điệu và ngữ điệu và giúp người học tránh quá tải nhận thức và sự can thiệp từ ngôn ngữ mẹ đẻ (L1) Bằng cách lọc bỏ các yếu tố đoạn tính cụ thể và giảm sự tập trung vào các âm riêng lẻ, người học có thể tập trung vào các mẫu lời nói mà không bị ảnh hưởng bởi các âm quen thuộc từ L1 Việc giảm tải nhận thức giúp người học xử

lý ngôn ngữ mục tiêu hiệu quả hơn, giảm thiểu sự phân tâm từ thói quen học ngôn ngữ L1 mà nó thường cản trở sự tiến bộ trong phát âm Kết quả là, người học có thể tiếp thu các yếu tố ngôn điệu một cách tự nhiên hơn, dẫn đến cải thiện phát âm, sự lưu loát và năng lực giao tiếp tổng thể trong ngôn ngữ mục tiêu

Trang 11

2.2.5 Lý thuyết giảng dạy ngôn ngữ và học phát âm

SVA tích hợp các nguyên tắc từ Thuyết hành vi, Thuyết nhận thức, Thuyết liên kết và Thuyết kiến tạo để tạo thành một cách tiếp cận toàn diện cho việc học phát âm Dựa trên các ý tưởng hành vi (Skinner, 1957), SVA sử dụng việc lặp lại và tự điều chỉnh để giúp người học hình thành thói quen phát âm chính xác, củng cố cách phát âm chính xác các phụ âm vô thanh (Brown, 2006) SVA phù hợp với Thuyết nhận thức bằng cách nhấn mạnh vào thẩm nhận thính giác, giúp người học tiếp thu các yếu tố của ngôn điệu như ngữ điệu, hỗ trợ chuyển nỗ lực có ý thức sang tự sản tự động (Piaget, 1970; Larsen-Freeman, 2000; Troike, 2006) Thuyết liên kết được thể hiện qua việc tích hợp công nghệ, giúp người học tự thực hành

và nhận phản hồi theo thực tế (Siemens, 2005; Downes, 2012) Các nguyên tắc của Thuyết kiến tạo hiện diện trong SVA qua việc khuyến khích thực nghiệm và học tập phản xạ, nơi người học xây dựng sự hiểu biết của mình thông qua thực hành và phản hồi có hướng dẫn (Piaget, 1970; Vygotsky, 1978) Bằng cách kết hợp các lý thuyết này, SVA thúc đẩy sự phát triển của thẩm nhận và tạo sản âm, khuyến khích sự thành thạo vô thức trong phát âm thông qua việc tập trung vào ngữ điệu, làm cho phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong môi trường học tập kỹ thuật số

2.3 Traditional Verbotonal Approach

2.3.1 Các lý thuyết về TVA

Lý thuyết “Verbotonal” của Petar Guberina nhấn mạnh tính ưu tiên của ngôn ngữ nói và diễn ngôn trong ngôn ngữ học và tiếp thu ngôn ngữ Ông cho rằng ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội và cá nhân phát triển thông qua giao tiếp bằng lời nói, phù hợp với khái niệm “Ngôn ngữ thực” của Saussure là việc

sử dụng ngôn ngữ cá nhân Guberina nhấn mạnh các yếu tố phi từ vựng như ngữ điệu, nhịp điệu, cường

độ, cao độ, khoảng ngắt, khoảng lặng, tốc độ lời nói và bối cảnh tình huống là các yếu tố quan trọng làm phong phú thêm cách diễn đạt lời nói Bằng cách tập trung vào các dấu hiệu ngôn điệu và phi ngôn ngữ này, ông bổ sung bản chất đa khía cạnh của ngôn ngữ nói, truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc tổng thể hơn ngôn ngữ viết

TVA còn nhấn mạnh sự không thể tách rời giữa lời nói và ngôn ngữ cơ thể, xem chúng là các phần không thể thiếu trong giao tiếp của con người, tạo thành một hệ thống toàn diện Cách tiếp cận đa khía cạnh và đa phương thức này tích hợp các kiến thức từ tâm lý học, xã hội học, ngôn ngữ học và giáo dục,

sử dụng nhiều định dạng như trực quan, thính giác, văn bản và chuyển động để nâng cao việc học tập và giao tiếp

Dựa trên lý thuyết của TVA, tác giả đề xuất SVA, được điều chỉnh phù hợp với người học ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam Không giống như các cách tiếp cận truyền thống dạy riêng lẻ các âm, SVA dạy âm trong bối cảnh của ngôn ngữ nói, giúp người học hiểu cách các âm thay đổi trong các vị trí

và môi trường ngôn ngữ khác nhau

SVA tập trung mạnh vào các yếu tố ngôn điệu như nhịp điệu, trọng âm và ngữ điệu, chứa đựng các yếu tố âm học cần thiết mà người học có thể nhận ra và tiếp thu theo thời gian để chuyển đổi quá trình học từ ý thức sang vô thức Giáo viên có thể điều chỉnh các kỹ thuật để giải quyết những chướng ngại của việc học từng ngữ âm cụ thể do sự can thiệp của ngôn ngữ mẹ đẻ bằng sử dụng kỹ thuật như lọc âm thanh Người học cải thiện cách phát âm và sự rõ ràng trong giao tiếp bằng cách hiểu và thực hành đúng các yếu tố ngôn điệu

2.3.2 Các nguyên tắc của TVA

TVA nhấn mạnh rằng người học lọc các âm thanh của ngôn ngữ nước ngoài thông qua hệ thống âm

vị học của ngôn ngữ mẹ đẻ, dẫn đến thẩm nhận sai và khó khăn trong việc phát âm Ý tưởng này dựa trên khái niệm “sàng lọc âm vị học” của Trubetzkoy, trong đó người học áp đặt thẩm nhận từ L1 lên các

âm của L2 Thẩm nhận chính xác các âm là điều quan trọng để phát âm đúng Thẩm nhận sai dẫn đến phát âm sai và việc cải thiện thẩm nhận sẽ cải thiện kỹ năng nói và các kỹ năng ngôn ngữ chung (nghe, đọc, viết) Đây là nguyên lý cơ bản của TVA

TVA nhấn mạnh vào các yếu tố ngôn điệu (cao độ, trọng âm, nhịp điệu, ngữ điệu) trước khi tập trung vào các âm vị Các âm vị được lồng ghép vào trong các yếu tố siêu đoạn tính và cần phải được hiểu

Trang 12

trước để có thể phát âm đúng Phương pháp này theo trình tự từ trên xuống, tập trung vào trọng âm, nhịp điệu và ngữ điệu trước, tương tự như cách trẻ nhỏ học ngôn ngữ Thay vì bắt đầu bằng các âm riêng lẻ, người học bắt đầu bằng ngôn điệu rồi sau đó tích hợp âm vị học

TVA nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa các biểu hiện của ngôn ngữ và phi ngôn ngữ như cử chỉ, vốn đi kèm tự nhiên với lời nói Sự đồng bộ này giúp diễn đạt ý nghĩa hiệu quả hơn Giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc giúp người học thẩm nhận và tạo sản Họ cung cấp phản hồi cho từng cá nhân, làm mẫu cách phát âm đúng và thúc đẩy sự tự tin và cung cấp động lực Đây là những yếu tố quan trọng để cải thiện khả năng giao tiếp của người học

TVA không chỉ áp dụng trong khôi phục chức năng lời nói mà còn trong giảng dạy ngoại ngữ Nó giúp người học dần cải thiện việc thẩm nhận các âm và học phát âm hiệu quả và trở thành một công cụ tiềm năng cho người học ngôn ngữ tiếng Anh TVA so sánh sự tương thích giữa cách trẻ nhỏ học ngôn ngữ mẹ đẻ (qua việc nghe, thẩm nhận và bắt chước các âm) và cách người học ngôn ngữ thứ hai tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài, điều chỉnh nó cho phù hợp với việc giảng dạy ngoại ngữ TVA tích hợp đầu vào

từ các giác quan (thị giác, thính giác, xúc giác, động học) trong giảng dạy phát âm, giúp người học liên kết âm thanh với cảm giác và chuyển động để học tập hiệu quả hơn

2.3.3 Các nghiên cứu trước liên quan đến TVA

Lian (1980) đã giới thiệu TVA trong việc giảng dạy phát âm tiếng Pháp Ông phát triển các kỹ thuật như giai đoạn thư giãn, lọc câu, cử chỉ và các bài tập lặp lại để cải thiện phát âm bằng cách tập trung vào nhịp điệu và ngữ điệu

Klein (2010) đã áp dụng TVA để cải thiện việc chỉnh sửa ngữ âm cho người Nhật học tiếng Anh Ông nhấn mạnh việc sử dụng cử chỉ để hỗ trợ phát âm, đặc biệt là với các âm phụ khó và ngữ điệu, nhưng cũng chỉ ra hạn chế của việc dựa quá nhiều vào cử chỉ trong giao tiếp thực tế

He và Sangarun (2015) đã áp dụng TVA để cải thiện khả năng hiểu và sự lưu loát cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh Họ tập trung vào việc thư giãn, ngữ điệu lọc qua bộ lọc tần số thấp và thu hút người học qua các hoạt động nhịp điệu như vỗ tay và bước đi theo nhịp để nâng cao khả năng nhận biết ngôn điệu

Yang và cộng sự (2017) đã sử dụng phương pháp dựa trên TVA để dạy kỹ năng nói tiếng Anh thông qua các buổi dạy cảm hóa cấu trúc trong lớp học Họ kết hợp thư giãn, nghe lọc, cử động cơ thể và các cuộc đối thoại tương tác để cải thiện phát âm và sự lưu loát của học sinh

García (2018) đã đề xuất các kỹ thuật để chỉnh sửa ngữ âm cho người học tiếng Tây Ban Nha trong môi trường học tập vui nhộn và thực tế sử dụng TVA Ông khuyến nghị sử dụng phần mềm như Praat để trực quan hóa và chỉnh sửa ngữ điệu thông qua phổ âm và dạng sóng

Wen (2019) đã tập trung vào việc cải thiện phát âm nguyên âm tiếng Anh cho sinh viên Trung Quốc bằng cách sử dụng TVA và nhấn mạnh việc lọc âm nguyên âm cùng các hoạt động tiến bộ để đo tần số tối ưu của nguyên âm

Cai và cộng sự (2021) đã áp dụng các nguyên tắc TVA của nghe hai tai và lọc tần số thấp để xác định tín hiệu đầu vào âm thanh-ngôn ngữ tối ưu cho người Trung Quốc học tiếng Anh Họ đã chỉ ra cách các tín hiệu được lọc và không được lọc kích hoạt khác nhau hai bán cầu não để cải thiện việc học ngôn ngữ

Luu và cộng sự (2021) đã thực hiện một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của TVA trong việc cải thiện kỹ năng nghe của người học EFL, sử dụng lọc tần số thấp và cử động cơ thể để tái đào tạo thẩm nhận thính giác và nâng cao khả năng hiểu

2.3.4 Tuyên bố khoảng trống trong nghiên cứu

Tất cả các nghiên cứu đều có cùng nền tảng chung khi sử dụng cách tiếp cận TVA, áp dụng các kỹ thuật thính giác và vật lý để nâng cao kỹ năng ngữ âm và ngôn ngữ Những nỗ lực nghiên cứu này nhấn mạnh các nguyên tắc quan trọng như lọc tần số thấp, đào tạo về ngôn điệu và cử chỉ hình thể để cải thiện khả năng phát âm và ngôn ngữ của người học Hầu hết các nghiên cứu (Lian, 1980; Klein, 2010; He & Sangarun, 2014; García, 2018; Wen, 2019; Cai et al., 2021; Luu et al., 2021) tập trung mạnh vào thẩm

Trang 13

nhận qua thính giác, trong đó âm thanh đã lọc hoặc các mẫu ngôn điệu làm tăng độ nhạy của người học đối với các yếu tố âm thanh quan trọng như ngữ điệu, nhịp điệu và cao độ Ngoài ra, nhiều nghiên cứu (Lian, 1980; Klein, 2010; He & Sangarun, 2015; Luu và cộng sự, 2021) nhấn mạnh tầm quan trọng của

cử chỉ hình thể, cho dù qua cử chỉ, chuyển động của cơ thể hay các hành động khác, để hỗ trợ việc học qua thính giác và củng cố việc ghi nhớ Hướng dẫn của giáo viên là một chủ đề trung tâm trong các nghiên cứu, vì giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quá trình học tập, cung cấp phản hồi và làm mẫu cách phát âm hoặc cử chỉ đúng Sự phụ thuộc vào các hoạt động do giáo viên hướng dẫn này thể hiện cụ thể trong các công trình của Lian (1980), Klein (2010), He và Sangarun (2015), Wen (2019) và Yang et al (2017) Cuối cùng, tất cả các nghiên cứu đều tập trung vào việc cải thiện cách phát

âm, nhưng sự tập trung cụ thể thì khác nhau, với một số nghiên cứu nhấn mạnh phát âm nguyên âm (Wen, 2019), chỉnh sửa ngữ âm (Klein, 2010) hoặc mở rộng kỹ năng nói (Yang et al., 2017)

Các nghiên cứu khác nhau ở một số khía cạnh chính, bắt đầu từ đối tượng mục tiêu Lian (1980) tập trung vào giảng dạy phát âm tiếng Pháp, trong khi Klein (2010) hướng vào các sinh viên Nhật học tiếng Anh, và He và Sangarun (2015) nghiên cứu sinh viên chuyên ngành tiếng Anh ở Trung Quốc Wen (2019) tập trung vào sinh viên năm nhất Trung Quốc không chuyên tiếng Anh, García (2018) tập trung vào người học tiếng Tây Ban Nha, Cai và cộng sự (2021) áp dụng kỹ thuật nghe phân đôi cho người Trung Quốc học tiếng Anh và Luu và cộng sự (2021) tập trung vào sinh viên năm nhất không chuyên tiếng Anh ở Việt Nam Về kỹ thuật được sử dụng, Lian (1980) và He và Sangarun (2015) nhấn mạnh việc lọc câu, thư giãn và cử chỉ hình thể để giúp tiếp thu nhịp điệu và ngữ điệu Klein (2010) nhấn mạnh vào

cử chỉ để phân biệt âm vị cho người học Nhật, trong khi Wen (2019) tập trung vào việc đo tần số tối ưu cho phát âm nguyên âm bằng các bộ lọc điều chỉnh theo cá nhân García (2018) tích hợp công nghệ hiện đại như phần mềm Praat để cung cấp phản hồi trực quan về các yếu tố của ngôn điệu Cai và cộng sự (2021) sử dụng kỹ thuật nghe phân đôi với các tín hiệu lọc tần số thấp và không lọc để nâng cao xử lý ngữ nghĩa Luu và cộng sự (2021) tập trung vào phát triển kỹ năng nghe bằng lọc tần số thấp kết hợp với các bài tập tự định hướng trực tuyến

Mục tiêu học tập cũng khác nhau, Lian (1980), Klein (2010) và He và Sangarun (2015) chủ yếu tập trung vào cải thiện phát âm và ngữ điệu, trong khi García (2018) tiếp cận rộng hơn về chỉnh sửa ngữ

âm bằng cách tích hợp ngôn điệu và phản hồi trực quan Wen (2019) nâng cao cách phát âm nguyên âm, trong khi Cai và cộng sự (2021) cải thiện xử lý ngôn ngữ tổng thể qua nghe phân đôi, và Luu và cộng sự (2021) ưu tiên phát triển kỹ năng nghe Môi trường học tập trong các nghiên cứu này cũng khác nhau, Lian (1980), Klein (2010), He và Sangarun (2015) và Wen (2019) chủ yếu dựa vào các hoạt động trong lớp học với sự hướng dẫn của giáo viên, trong khi Luu và cộng sự (2021) sử dụng một trang web để tự quản học tập Ngược lại, Cai và cộng sự (2021) tiến hành các thí nghiệm trong phòng Lab liên quan đến nghe phân đôi và công nghệ hình ảnh tiên tiến để nghiên cứu phản ứng của não bộ Về việc sử dụng công nghệ, García (2018) tích hợp các công cụ phần mềm như Praat để phản hồi giọng nói trực quan, Wen (2019) sử dụng bộ lọc điều chỉnh theo cá nhân để đào tạo phát âm nguyên âm, Cai và cộng sự (2021) sử dụng các kỹ thuật hình ảnh não bộ như ERP và fMRI để phân tích quá trình xử lý ngôn ngữ và Luu và cộng sự (2021) sử dụng một trang web chuyên dụng để tự đánh giá và theo dõi

Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả giới thiệu cách tiếp cận SVA, dựa trên TVA nhưng đã đơn giản hóa phiên bản Phiên bản này loại bỏ cử chỉ hình thể, hướng dẫn của giáo viên và các hoạt động lớp học có cấu trúc Thay vào đó, tác giả phát triển một trang web tập trung hoàn toàn vào các mẫu ngữ điệu được lọc, cung cấp môi trường học tập trực tuyến được điều chỉnh theo nhu cầu và kiểu học của người học Mục đích là hỗ trợ học tập liên tục và thích ứng với xu hướng xã hội hiện tại SVA này được thiết

kế để giúp người học cải thiện cách phát âm của chín âm vô thanh cụ thể Dựa trên các khoảng trống trong các nghiên cứu trước và các thách thức thực tế trong việc áp dụng TVA Tác giả giới thiệu SVA nhằm tinh giản phương pháp truyền thống bằng cách loại bỏ một số yếu tố truyền thống như sự hướng dẫn của giáo viên và cử chỉ, chỉ tập trung vào huấn luyện thính giác và vai trò của ngôn điệu trong việc cải thiện phát âm

Trang 14

2.3.5 Cách tiếp cận Simplified Verbotonal Approach

Cách tiếp cận từ trên xuống trong giảng dạy phát âm tập trung vào việc nghe và bắt chước nhịp điệu, ngữ điệu và trọng âm thực tế, sử dụng các tín hiệu trực quan như cử động miệng và cử chỉ để nâng cao việc học (Hodgetts, 2020) Trong khi đó TVA phát triển dựa trên điều này bằng cách kết hợp các yếu

tố đa giác quan như cử chỉ hình thể để nâng cao nhận thức động và cải thiện khả năng thẩm nhận và tạo sản lời nói của người học (Asp & Guberina, 1981) Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong cả hai phương pháp, cung cấp phản hồi đúng lúc để hướng dẫn người học hướng tới lời nói lưu loát và tự nhiên hơn Khác với cách tiếp cận từ trên xuống, dựa vào phản hồi thính giác và thị giác, TVA tích hợp cử chỉ hình thể để làm sâu sắc hơn sự hiểu biết của người học về ngôn điệu và các mẫu lời nói Cách tiếp cận toàn diện này hỗ trợ người học điều chỉnh phát âm khi họ thực hành (Utk Start, 2012) Tuy nhiên, SVA giảm thiểu sự tham gia của giáo viên và nhấn mạnh tính tự lập của người học bằng cách tập trung vào các mẫu ngữ điệu Điều này giúp người học tự giám sát và điều chỉnh cách phát âm mà không cần sự hướng dẫn liên tục từ giáo viên

SVA cũng tận dụng công nghệ để hỗ trợ việc học, giúp người học tự học theo tốc độ của riêng mình Sự thay đổi này khắc phục được những hạn chế trong giảng dạy truyền thống trong đó sự thiên vị

và khả năng hạn chế của giáo viên có thể cản trở việc học (Lian & Sangarun, 2023) Bằng cách sử dụng lọc âm thanh và các bài tập tập trung vào ngôn điệu, SVA hỗ trợ người học tiếp thu các mẫu phát âm, thúc đẩy cải thiện phát âm tự động và lâu dài

Nói chung, SVA điều chỉnh các nguyên tắc của TVA để đáp ứng giáo dục hiện đại dựa trên công nghệ, đảm bảo khả năng mở rộng và dễ tiếp cận cho đa dạng người học SVA tập trung vào ngôn điệu để thu hẹp khoảng cách giữa thẩm nhận và tạo sản, nâng cao phát âm trong môi trường học tập thực tiễn và

Các khái niệm cốt lõi như thẩm nhận, tạo sản và ngôn điệu là nền tảng của SVA, cùng với các kỹ thuật như lọc ngữ điệu giúp nâng cao khả năng tự học và kỹ năng phát âm của người học Sự tập trung vào tính độc lập của người học và việc học tập dựa vào số hóa của SVA đã làm cho nó trở thành một mô hình hiệu quả trong việc giảng dạy phát âm các phụ âm vô thanh mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và tận dụng các lý thuyết giáo dục hiện đại để nâng cao đào tạo phát âm Điều này được

mô tả trong khung khái niệm được minh họa trong Hình 2.1 dưới đây

Trang 15

Hình 2.1: Khung khái niệm của nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng mô hình nghiên cứu thực dụng (Weyant, 2022), kết hợp các phương pháp định lượng và định tính để ghi nhận cả kết quả đo lường được về cải thiện phát âm và những trải nghiệm của người học khi sử dụng SVA Áp dụng các yếu tố của chủ nghĩa thực luận và chủ nghĩa thực chứng, nghiên cứu đánh giá định lượng cải thiện khách quan trong phát âm các phụ âm vô thanh thông qua các bài kiểm tra trước và sau can thiệp Đồng thời, nghiên cứu cũng kết hợp chủ nghĩa diễn giải thông qua việc khám phá thẩm nhận của người học bằng các phương pháp định tính như phỏng vấn và ghi nhận phản hồi Sử dụng phương pháp hỗn hợp “Thiết kế tuần tự giải thích” (Creswell và cộng sự, 2017), đầu tiên nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu định lượng, sau đó là các thông tin định tính để hiểu rõ hơn Việc tích hợp các loại dữ liệu này giúp tăng cường tính giá trị bên trong và bên ngoài, cung cấp bức tranh toàn diện về tác động của SVA đối với việc cải thiện phát âm

3.2 Phương pháp lấy mẫu

Phương pháp lấy mẫu của nghiên cứu này theo quá trình tiếp cận từ giai đoạn thí điểm, bao gồm các sinh viên năm nhất không chuyên tiếng Anh để đánh giá việc cải thiện phát âm của SVA Nghiên cứu

có sự tham gia của 150 sinh viên, được chia thành nhóm thí điểm và nhóm nghiên cứu chính với số người đảm bảo đủ lực thống kê để đánh giá hiệu quả của SVA

Những người tham gia được chọn dựa trên các tiêu chí chọn lựa và loại trừ nhất quán từ giai đoạn thí điểm nhằm vào người học có trình độ cơ bản Sự lựa chọn này mang tính chiến lược vì nhiều lý do: sinh viên không chuyên tiếng Anh thường gặp nhiều khó khăn hơn trong phát âm; điều này làm cho họ phù hợp để thực hiện nghiên cứu các lỗi phát âm phổ biến (Jarosz và cộng sự, 2019) Họ đại diện cho một phân khúc lớn những người học tiếng Anh trên toàn thế giới, do đó các kết quả thu được mang tính tổng quát hơn Mặt khác, những sinh viên không chuyên thường có ít cơ hội được đào tạo phát âm chuyên sâu như các sinh viên chuyên ngành tiếng Anh, giảm thiểu ảnh hưởng của thói quen học tập trước đó và đảm bảo kiểm soát tốt hơn các điều kiện thực nghiệm (Jarosz và cộng sự, 2019)

Theo Jarosz và cộng sự (2019), về cơ bản, những người học này thường bắt đầu có trình độ phát

âm thấp sẽ mang lại nhiều cơ hội cải thiện hơn Người học ở giai đoạn đầu cho thấy sự tiến bộ rõ ràng hơn so với người học nâng cao, nơi sự cải thiện thường tinh tế hơn Hơn nữa, sinh viên không chuyên tiếng Anh có thể có động lực hơn khi được tiếp cận với các phương pháp giảng dạy chuyên nghiệp, làm tăng mức độ tham gia và kết quả học tập (Jarosz và cộng sự, 2019)

Những người tham gia đã đồng ý tham gia sau khi được thông báo rõ ràng và nghiên cứu đã được phê duyệt và xác minh đạo đức từ trường Đại học “A,” đảm bảo quá trình thu thập và phân tích dữ liệu minh bạch phục vụ mục đích nghiên cứu

Trang 17

cho việc giảng dạy Phương pháp nhất quán của giáo trình hỗ trợ việc học tập có trọng tâm và đào tạo phát âm hiệu quả

Chương trình đào tạo phát âm của nhóm kiểm soát tuân theo giáo trình mười tuần Đào tạo bắt đầu

từ Tuần 1 với tổng quan về các âm vô thanh, tập trung vào âm /p/ như trong từ “pen”, và tiếp tục vào Tuần 2 với âm /t/ như trong từ “table” Tuần 3 đề cập đến âm /k/ như trong từ “key”, và Tuần 4 tập trung vào âm /s/ như trong từ “sun” Tuần 5 giới thiệu âm /ʃ/ như trong từ “shoe”, trong khi Tuần 6 nhấn mạnh

âm /f/ như trong từ “fan” Giáo trình tiếp tục với âm /ʤ/ như trong từ “January” vào Tuần 7, âm /ʧ/ như trong từ “chip” vào Tuần 8, và âm /h/ như trong từ “hat” vào Tuần 9 Tuần 10 dành riêng để ôn tập toàn

bộ các âm đã học Cách tiếp cận có hệ thống này đảm bảo người học có cơ hội nắm vững từng âm, thực hành ngữ điệu liên quan và dần dần phát triển kỹ năng phát âm

3.3.2 Nhóm thực nghiệm

Nhóm thực nghiệm sử dụng một trang web được tác giả thiết kê riêng cho nghiên cứu thay vì một giáo trình truyền thống Trong vòng mười tuần, học sinh học năm câu khác nhau mỗi tuần, thực hành các loại câu như câu khẳng định, câu hỏi, câu cảm thán và câu mệnh lệnh Những câu này bao gồm các âm

vô thanh và các âm khác phân bố trong câu Tổng cộng, học sinh thực hành 50 câu, tập trung vào các mẫu ngữ điệu cơ bản để nâng cao phát âm một cách có hệ thống

Trang web sử dụng công nghệ chuyển văn bản thành giọng nói (TTS) để tạo ra các câu mẫu có giọng tự nhiên nhằm luyện tập ngữ điệu, được chỉnh sửa bằng các công cụ như Audacity Cách tiếp cận này đại diện cho việc sử dụng sáng tạo công nghệ TTS trong việc học phát âm và đặc biệt tiên phong trong ngữ cảnh của lý thuyết “verbotonal” Thành công của nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng TTS để tạo ra các mẫu giọng “Người bản xứ” trong giảng dạy ngôn ngữ trong tương lai

Hai biện pháp chính được áp dụng cho các mẫu TTS: lọc tần số thấp (<320Hz) cho cả hai tai để giúp người học tập trung vào các đặc tính ngữ điệu và một biện pháp xử lý phân đôi trong đó kênh trái được lọc còn kênh phải không lọc để tận dụng tính chất bán cầu não, như được thực hiện trong nghiên cứu của Cai và cộng sự (2021) Cấu hình này nhằm giảm tải thẩm nhận và hỗ trợ đào tạo tính dễ hiểu Trang web cũng theo dõi hoạt động của người dùng, cung cấp dữ liệu về số lần đăng nhập và tần suất sử dụng trang Web

3.4 Các quy trình giảng dạy

3.4.1 Nhóm kiểm soát

Nhóm kiểm soát được giảng dạy phát âm theo một cách tiếp cận truyền thống sử dụng giáo trình Ship or Sheep trong mười tuần, với 2 giờ học mỗi tuần, tương tự như nhóm thực nghiệm Nhóm này được giảng dạy bởi một giảng viên đại học có kinh nghiệm giảng dạy phát âm tương đương với tác giả Giảng viên tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch bài giảng và lịch trình, bao gồm tất cả các nội dung được quy định, như âm vô thanh, ngữ điệu câu và các mẫu ngữ điệu Tác giả không trực tiếp giảng dạy nhóm này để tránh can thiệp vào quá trình kiểm soát, vì việc giảm thiểu sự tham gia của tác giả với nhóm kiểm soát là rất quan trọng trong nghiên cứu bán thực nghiệm nhằm đảm bảo tính hợp lệ và cô lập các tác động của can thiệp

 Các hoạt động ngoài lớp học

Pennington & Rogerson-Revell (2019) đã chỉ ra rằng các hoạt động ngoài lớp học sẽ nâng cao khả năng phát âm bằng cách củng cố những gì học sinh đã học trong lớp Vì vậy, giáo viên dạy phát âm của nhóm kiểm soát đã chia sẻ bài học và các bản ghi âm, đồng thời nhắc nhở học sinh luyện tập tại nhà 45 phút mỗi ngày Giáo viên dạy phát âm đã cung cấp những tài liệu này thông qua các công cụ kỹ thuật số như nhật ký học tập của học sinh trong nhóm kiểm soát

3.4.2 Nhóm thực nghiệm

Nhóm thực nghiệm bao gồm các sinh viên tham gia vào quá trình tự học có hướng dẫn qua một trang web do tác giả phát triển trong vòng mười tuần mà không có sự hướng dẫn trực tiếp trong lớp Buổi học phát âm bắt đầu bằng buổi định hướng, nơi sinh viên được hướng dẫn sử dụng nền tảng trang mạng, tiếp theo là các buổi học trực tuyến độc lập tuân theo một quy trình cấu trúc, sử dụng tai nghe âm thanh

Trang 18

nổi và tập trung hoàn toàn vào nội dung mà không có sự hướng dẫn từ giáo viên hoặc gợi ý SVA được triển khai thông qua nền tảng phát âm trực tuyến nhằm nâng cao khả năng phát âm các phụ âm vô thanh,

áp dụng quy trình học gồm năm bước: nghe ban đầu, làm bài kiểm tra hiểu, nghe củng cố, nghe tương phản và thực hành ghi âm Quy trình này nhấn mạnh việc lọc ngữ điệu và phân biệt thính giác, giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận sâu sắc hơn với các sắc thái âm vị học Hệ thống theo dõi hoạt động của sinh viên, cung cấp dữ liệu về thời gian học, tần suất đăng nhập và nỗ lực luyện tập, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về thói quen học tập và hiệu quả của mô hình

 Sự can thiệp của nền tảng máy tính

https://criticalpedagogy.com/lms/mdl01/course/view.php?id=50&section=0#module-1185

 Các hoạt động ngoại khóa

Tác giả đã xây dựng nhật ký học tập cho nhóm thực nghiệm để thu thập phản hồi hàng tuần của sinh viên và nhắc họ luyện tập tại nhà 45 phút mỗi ngày Không có tài liệu bổ sung nào được chia sẻ để duy trì tính khách quan và đánh giá hiệu quả của việc học độc lập với trang Web Các nhật ký này cũng giúp kiểm soát các biến số ngoại lai ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu

3.4.3 Vai trò của giao viên

Trong nhóm kiểm soát, giáo viên đóng vai trò truyền thống và chủ động bằng cách giảng dạy trực tiếp phát âm, đưa ra phản hồi rõ ràng và giám sát bài tập về nhà Ngược lại, giáo viên của nhóm thực nghiệm đóng vai trò quan sát viên, cho phép sinh viên tự học và thực hành trên trang Web mà không có

sự hướng dẫn hay sửa lỗi trực tiếp Cách tiếp cận này nhằm đánh giá mức độ hiệu quả mà sinh viên có thể cải thiện kỹ năng phát âm mà không cần sự can thiệp của giáo viên, tập trung vào tác động của việc

tự học

3.5 Công cụ nghiên cứu

3.5.1 Kiểm tra phát âm (kiểm tra trước và sau)

Các bài kiểm tra được thiết kế để đo tiến bộ trong phát âm của người học trước và sau khi can thiệp, so sánh hiệu quả của từng phương pháp Bài kiểm tra bao gồm ba phần:

Phần 1: Sinh viên đọc 26 từ chứa chín phụ âm vô thanh ở nhiều vị trí khác nhau (đầu, giữa, và cuối) Phần này đánh giá khả năng phát âm các phụ âm vô thanh riêng lẻ

Phần 2: Sinh viên đọc 104 câu có chứa các phụ âm này, bao gồm các loại câu khác nhau (câu khẳng định, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán) để đánh giá khả năng xử lý các phụ âm vô thanh trong cấu trúc câu và mẫu ngữ điệu khác nhau

Phần 3: Sinh viên đọc các đoạn văn, tập trung vào tính dễ hiểu bằng cách kết hợp nhịp điệu, nhấn

âm, và ngữ điệu Phần này đánh giá cách họ phát âm các phụ âm vô thanh trong bài nói liên tục và tự nhiên

3.5.2 Bảng câu hỏi

Để đánh giá hiệu quả của SVA, tác giả đã thu thập thẩm nhận của người học thông qua một bảng câu hỏi trực tuyến sử dụng Google Forms Bảng câu hỏi, được phân phát vào cuối khóa học, đo lường mức độ tham gia, sự tự tin và tác động của SVA trong việc cải thiện âm vô thanh Thang đo Likert 5 điểm

từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý” được sử dụng Google Forms tự động sắp xếp dữ liệu để phân tích Sinh viên nhận được hướng dẫn hoàn thành bảng câu hỏi và được đưa ra thời hạn Tác giả sẵn sàng hỗ trợ thông qua nhật ký học tập của sinh viên Dữ liệu thu thập được giúp xác định các mô hình trải nghiệm của người học, làm rõ cách họ nhìn nhận SVA và những biến thể trong mức độ tham gia và sự tự tin của họ

3.5.3 Phỏng vấn

Để hiểu rõ hơn trải nghiệm của sinh viên với SVA, tác giả đã tiến hành các buổi phỏng vấn bán cấu trúc với 35 người tham gia từ nhóm thực nghiệm Hình thức phỏng vấn linh hoạt này cho phép điều chỉnh câu hỏi cốt lõi dựa trên phản hồi của người tham gia, dẫn đến hiểu rõ hơn hơn về: Sự hài lòng với SVA

và Hiệu quả của SVA trong việc cải thiện phát âm phụ âm vô thanh Các cuộc phỏng vấn được ghi âm,

mã hóa và phân tích bằng Excel Phản hồi được phân loại thành các mục: tính hữu ích, sự thú vị và sự

Ngày đăng: 06/12/2024, 15:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Khung khái niệm của nghiên cứu - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Hình 2.1 Khung khái niệm của nghiên cứu (Trang 15)
Hình 4.1: Điểm trung bình của nhóm C-GRP so với nhóm E-GRP - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Hình 4.1 Điểm trung bình của nhóm C-GRP so với nhóm E-GRP (Trang 23)
Bảng 4.1: Kiểm định Mann-Whitney U (kiểm định mẫu độc lập)  BÀI KIỂM TRA  C-GRP - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Bảng 4.1 Kiểm định Mann-Whitney U (kiểm định mẫu độc lập) BÀI KIỂM TRA C-GRP (Trang 24)
Bảng 4.3: Kiểm định Wilcoxon Signed Rank cho Mẫu Ghép Đôi – nhóm E-GRP - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Bảng 4.3 Kiểm định Wilcoxon Signed Rank cho Mẫu Ghép Đôi – nhóm E-GRP (Trang 25)
Bảng 4.4: Phân tích điểm thay đổi của thống kê mô tả và kiểm định Mann-Whitney U  BÀI - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Bảng 4.4 Phân tích điểm thay đổi của thống kê mô tả và kiểm định Mann-Whitney U BÀI (Trang 26)
Hình 4.2: Nhóm C-GRP so với nhóm E-GRP ở Mức giảm, Không thay đổi và Tiến bộ: - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Hình 4.2 Nhóm C-GRP so với nhóm E-GRP ở Mức giảm, Không thay đổi và Tiến bộ: (Trang 27)
Bảng 4.5: Tỉ lệ cải tiến - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Bảng 4.5 Tỉ lệ cải tiến (Trang 28)
Bảng 4.6: Âm vô thanh ở các cấp độ ngôn ngữ khác nhau với các giá trị P - tóm tắt:  Investigating the verbotonal approach in The phonetic correction of Vietnamese EFL undergraduates’ English prosody and pronunciation with special interest in unvoiced consonant sounds
Bảng 4.6 Âm vô thanh ở các cấp độ ngôn ngữ khác nhau với các giá trị P (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w