1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp

95 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh Và Sự Phổ Biến Gene Kháng Kháng Sinh Ở Một Số Khu Nuôi Cá Tra Tại Cần Thơ Và Đồng Tháp
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Sinh Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. KKS là mòt v¿n ò toàn c¿u (14)
  • 1.2. Mòt sò nghiờn cÿu vò tỡnh tr¿ng KKS cÿa vi khu¿n trong mụi tr±òng thuÿ (17)
  • 1.3. Mòt sò nghiờn cÿu vò KKS trong nuụi tròng thÿy h¿i s¿n (21)
  • 1.4. Thÿc tr¿ng KKS ò Viòt Nam và nghiờn cÿu vò KKS t¿i sụng Mekong (23)
  • 2.1. Thu và b¿o qu¿n m¿u (27)
  • 2.2. Xÿ lý m¿u (29)
    • 2.2.1 Xÿ lý m¿u cho tách chi¿t DNA (29)
    • 2.2.2. Xÿ lý các m¿u cho nuôi c¿y vi khu¿n (29)
  • 2.3. Phõn l¿p vi khu¿n và ònh danh b¿ng ph±Ăng phỏp MALDI-TOF MS (30)
  • 2.4. Xỏc ònh kh¿ nng KKS cÿa cỏc chÿng vi khu¿n phõn l¿p b¿ng ph±Ăng phỏp khu¿ch tán trên )a th¿ch (30)
  • 2.5. ònh l±ÿng gen KKS b¿ng ph¿n ÿng tòng hÿp chuòi polymerase thòi gian thÿc nh¿m ích (qPCR nh¿m ích) (31)
  • 2.6. Xÿ lý sò liòu (33)
  • 3.1. Phõn l¿p và ònh danh vi khu¿n (34)
  • 3.2. K¿t qu¿ ánh giá kh¿ nng KKS cÿa các vi khu¿n phân l¿p ±ÿc (35)
  • 3.3. K¿t qu¿ ònh l±ÿng gen KKS b¿ng ph±Ăng phỏp qPCR nh¿m ớch (45)
    • 3.3.1. K¿t qu¿ tách DNA (45)
    • 3.3.2. K¿t qu¿ t¿o ±òng chu¿n cho qPCR nh¿m ớch (46)
    • 3.3.3. K¿t qu¿ ònh l±ÿng gen KKS (46)

Nội dung

Ti¿p ó, ta xác ßnh kh¿ nng KKS cÿa các chÿng vi khu¿n phân l¿p ±ÿc vßi các nhóm kháng sinh ±ÿc dùng rßng rãi trong ißu trß nhißm trùng ß ng±ßi và trong nuôi thÿy s¿n trên môi tr±ßng th¿cNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng ThápNghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp

KKS là mòt v¿n ò toàn c¿u

Khỏng sinh là các hợp chất hữu cơ được tạo ra bởi các vi sinh vật như vi khuẩn và nấm trong quá trình phát triển của chúng, có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác Những chất này được sản xuất trực tiếp bởi vi sinh vật với mục đích làm giảm sự phát triển của các vi sinh vật khác và cuối cùng là tiêu diệt chúng Trong y học, vi khuẩn khổng sinh được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh truyền nhiễm, giúp thực hiện nhiều kỹ thuật y tế, bao gồm điều trị ung thư, ghép nội tạng và phẫu thuật tim mạch.

Tuy nhiờn, viòc l¿m dÿng cỏc hÿp ch¿t này ó d¿n ¿n sÿ gia tng nhanh chúng tỡnh tr¿ng KKS vòi mòt sò bònh nhiòm trựng hiòn khụng thò iòu trò ±ÿc

KKS đã trở thành một trong những mối đe dọa lớn đối với sự phát triển và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, với 1,27 triệu ca tử vong vào năm 2019 KSS vi khuẩn là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này, đặc biệt ảnh hưởng đến các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Mặc dù việc lạm dụng thuốc kháng sinh là nguyên nhân lớn, nhưng các chiến lược phát triển của các quốc gia cũng thường chứa nhiều thành tựu Những mối nguy hiểm của kháng sinh khiến các nhà hoạch định chính sách quốc gia nhận thức được mối đe dọa này đối với sức khỏe con người và sẵn sàng tài trợ cho những nỗ lực khống chế và phát triển kháng sinh môi trường Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) đã xuất bản các hướng dẫn nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng thông qua việc sử dụng thuốc kháng sinh một cách có trách nhiệm.

KKS là yếu tố quan trọng trong mô hình sức khỏe, bao gồm sức khỏe con người và sức khỏe môi trường Do đó, KKS trong mọi trường hợp được xem là phần quan trọng nhất trong việc bảo vệ và phát triển bền vững.

Hình 1.1: KKS tÿ quan iòm Một sức khỏe (Mối liên hệ tự nhiên giữa con người, động vật và môi trường tạo thách thức đối với quan iòm Một sức khỏe trong việc chống lại KKS) Các mối quan hệ chính và con đường lây truyền trực tiếp được cho ra ở các mii tờn Nguồn: Grube và cộng sự Đặc điểm nổi bật nhất của hệ vi sinh vật môi trường là sự đa dạng, bởi vi sinh vật có thể biến đổi các gen và sử dụng để chống lại tác dụng của kháng sinh Trên thực tế, nhiều loài vi khuẩn mang gen KKS một cách tự nhiên và chúng có thể tồn tại khi con người sử dụng kháng sinh Tuy nhiên, tình trạng vi khuẩn KKS đang dần trở nên trầm trọng hơn do việc lạm dụng kháng sinh ở người, động vật, và thực vật, cũng như các hoạt động khác của con người đã nhanh chóng chọn lọc, bùng phát và lan truyền gen KKS, và vi khuẩn KKS trong môi trường Hơn nữa, áp lực chọn lọc của kháng sinh, kim loại nặng và các chất ô nhiễm khác trong môi trường, gen KKS đã sử dụng sự trợ giúp của các nhân tố di truyền di động (DTD) như plasmid, transposon, integron, prophage, và các yếu tố di truyền tích hợp/tổ hợp thông qua các cơ chế CGN, đã thúc đẩy sự bùng phát vi khuẩn KKS Nhân tố DTD làm cho bộ gen vi khuẩn trở nên linh hoạt hơn, dễ dàng tiếp nhận và/hoặc loại bỏ, trao đổi các nhân tố di truyền mới với vi sinh vật ở môi trường xung quanh.

Việc xác định chính xác cấu trúc các nhân tố DTD là rất quan trọng trong việc xác định chức năng chuyển gen, vì nó thường ảnh hưởng đến môi trường và kiểu gen/trình tự vận chuyển gen KKS cũng nên theo dõi tình trạng của các quá trình CGN một cách liên tục.

Nghiờn cÿu g¿n õy cho th¿y, nhiòu gen KKS ±ÿc tỡm th¿y tÿ cỏc chÿng vi khu¿n bònh viòn cú nguòn gòc tÿ vi khu¿n mụi tr±òng [10]

Enterobacteriaceae, Moraxellaceae, Pseudomonadaceae và Vibrionaceae là những họ vi khuẩn thường gặp trong môi trường thủy sinh, với nhiều loài là tác nhân gây bệnh ở người và động vật Những vi khuẩn này không chỉ là vật chủ mà còn có khả năng trao đổi, tiếp nhận gen kháng sinh với nhau và với các loài khác, dẫn đến sự bùng phát nhanh chóng của các loài vi khuẩn kháng thuốc Chứng minh cho điều này là sự di chuyển của gen blaCTX-M (kháng beta-lactam) trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn môi trường Kluyvera spp.

(hi¿m khi gõy bònh) sang plasmid cÿa cỏc chÿng Escherichia coli lõm sàng

Ngày nay, gen blaCTX-M đã trở nên phổ biến trong các chủng vi khuẩn bệnh viện Đặc biệt, gen blaNDM-1 (kháng carbapenem) đã được phát hiện ở vi khuẩn Klebsiella pneumoniae, gây nhiễm trùng đường tiết niệu tại một vùng du lịch Nghiên cứu đã phát hiện các chủng vi khuẩn mang gen blaNDM-1 trong mẫu nước uống tại New Delhi, không phải từ nguồn nước thải tại Wales, cho thấy gen này có nguồn gốc từ thực phẩm Tình trạng ô nhiễm nguồn nước uống và nước sinh hoạt đã làm gia tăng tình trạng lây nhiễm vi khuẩn kháng thuốc Các nghiên cứu hiện tại chỉ ra mối liên hệ giữa sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc và tình trạng ô nhiễm môi trường, dẫn đến sự lây lan phổ biến của các chủng vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng.

Acinetobacter baumannii và Escherichia coli kháng carbapenem, cùng với Pseudomonas aeruginosa kháng quinolones, là những vi khuẩn có nguy cơ cao trong nghiên cứu phát triển kháng sinh, theo báo cáo của WHO Nếu các kháng khuẩn (KKS) trong lâm sàng có nguồn gốc từ môi trường, khả năng lây truyền có thể xảy ra theo chiều ngược lại, từ môi trường ra ngoài và ngược lại.

Trên thực tế, sự phong phú và ứng dụng gen KKS trong cộng đồng vi khuẩn môi trường vẫn chưa được xác định đầy đủ Bên cạnh đó, nguồn gốc của khoảng 95% gen KKS di động vẫn chưa được biết Như vậy, nguy cơ xuất hiện các gen KKS di động ở VKGB sẽ cao hơn trong môi trường thông thường tiếp xúc với nguồn sinh vật của người, động vật nuôi và môi trường bị ô nhiễm vi sinh Hiện nay vẫn còn thiếu dữ liệu cần thiết về sự phân bố và tác động của gen KKS di động trong nguồn nước tự nhiên, đặc biệt là ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình như Nam Á, nơi được xác định là điểm nóng hàng đầu về phát tán và lây truyền VKGB KKS trên thế giới WHO đã nhận mạnh việc thiếu thu thập dữ liệu có hệ thống liên quan đến KKS ở Nam Á và mức độ vận hành của KKS là một vấn đề phát triển và thường bị bỏ rơi Nhìn chung, giám sát KKS trên toàn khu vực hiện được thực hiện chủ yếu tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, nhưng KKS liên quan đến bệnh viện chiếm một phần nhỏ trong tổng thể ngành KKS, có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến ngành KKS trong cộng đồng, ở động vật nuôi và trong môi trường Do đó, việc phân tích sự ứng dụng gen KKS và nhân tố DTD mang gen KKS trong các môi trường sống sẽ cung cấp thông tin quan trọng, sức khỏe trong tương lai gần Trên cơ sở đó, các hành động cần thiết sẽ được xây dựng để giảm thiểu rủi ro đối với sự lây truyền của gen KKS di động sang các mầm bệnh của người và động vật.

Mòt sò nghiờn cÿu vò tỡnh tr¿ng KKS cÿa vi khu¿n trong mụi tr±òng thuÿ

Hình 1.2 cho thấy học sinh phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do các hoạt động của con người Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã dẫn đến việc sử dụng hóa chất độc hại trong xử lý chất thải công nghiệp, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường Sự xuất hiện của vi khuẩn kháng kháng sinh (VKKKS) và gen kháng kháng sinh (KKS) trong môi trường nước ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở các nguồn nước sinh hoạt Việc xả thải thuốc kháng sinh, VKGB và gen KKS vào môi trường đã làm cho việc quản lý chất lượng nước trở nên phức tạp hơn Nhiều loại kháng sinh, VKGB và gen KKS đã được phát hiện trong các mẫu nước tại nhiều quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Iran, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, các quốc gia châu Âu, Mỹ, Canada, Cuba, Bolivia, Colombia, Nam Phi và Australia.

Hỡnh 1.2: Nguòn gòc ụ nhiòm cỏc dũng sụng thỳc ¿y tỡnh tr¿ng KKS ò cỏc dũng sụng Nguòn: Selvarajan và còng sÿ [28]

Các phân tử kháng sinh bình thường sẽ được chuyển hóa trong các hệ thống ngầm hoặc bề mặt, nhưng phần lớn (70-90%) được bài tiết dưới dạng không thay đổi qua phân và nước tiểu Các phân tử kháng sinh xâm nhập vào nước thải do hoạt động chính của bệnh viện, công ty dược phẩm, nhà máy xử lý nước thải, nuôi trồng thủy sản và trang trại chăn nuôi Điều này dẫn đến một lượng lớn kháng sinh vào nước mặt, nước ngầm và các nguồn nước uống, làm ô nhiễm môi trường sống và tạo ra các tích tụ kháng sinh trong môi trường Hàm lượng kháng sinh trong nước mặt thường thấp, rơi vào khoảng vài chục µg/L, như sông Arno và sông Po ở miền trung và miền bắc Italy có < 25,4 ng/L; trong nước biển tại vịnh Victoria - Hồng Kông < 50 ng/L; và trong nước sông Huangpu - Thượng Hải - Trung Quốc < 313 ng/L Trong môi trường nước mặt, kháng sinh có thể tồn tại qua nhiều con đường chuyển hóa phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên, chẳng hạn như bức xạ mặt trời, kết hợp với các chất khác trong môi trường, tích lũy trong sinh vật thủy sinh và trầm tích, hoặc tồn tại trong nước Tại hồ Baiyangdian, Trung Quốc, người ta đã phát hiện hàm lượng kháng sinh sulfonamides dao động từ 0,86 đến 1563 ng/L Ở Pháp, có ít nhất 17 loại kháng sinh thuộc 4 nhóm, bao gồm quinolones, sulfonamides, nitroimidazoles và diaminopyrimidines, đã được phát hiện một lần trong các mẫu nước hoặc trong dòng sông Seine Trong nước ngầm, do sự phân hủy của vi sinh vật và điều kiện oxy hạn chế, kháng sinh có thể bị biến đổi hoặc chuyển hóa thành các chất độc hại, thậm chí có thể tồn tại không thay đổi trong thời gian dài Một số khu vực gần bờ chứa chất thải rắn, người ta đã phát hiện hàm lượng kháng sinh trong nước ngầm có thể từ 10 µg/L đến 1 mg/L Khi tồn tại trong nước, kháng sinh có thể tích lũy vào trầm tích thông qua các quá trình như trao đổi ion, tạo phức với ion kim loại, hoặc tăng cường tác động với các chất khác Các chất hữu cơ trong bùn có thể làm thay đổi tính chất bề mặt và khả năng hấp phụ của kháng sinh, như đã được quan sát trong phản ứng hấp phụ của tetracycline lên oxit nhôm do tác động của axit humic Sự liên kết với các hạt rắn hoặc tạo phức có thể làm giảm khả năng phát hiện kháng sinh trong môi trường và giảm hoạt tính kháng khuẩn.

Vibrionaceae là vi khuẩn có ý nghĩa quan trọng trong môi trường nước, đặc biệt liên quan đến gen kháng kháng sinh (KKS) Gen KKS được trao đổi và phát tán rộng rãi giữa các chủng vi khuẩn, góp phần vào sự phát triển của các loài mang gen này Các chủng như A baumannii, E coli và P aeruginosa nằm trong danh sách tác nhân gây bệnh hàng đầu của WHO và đã được phát hiện trong môi trường nước Sự hiện diện của kim loại nặng và nhiều chất thải khác đã thúc đẩy sự lây lan của gen KKS trong vi khuẩn môi trường, thông qua các quá trình di truyền Do đó, môi trường nước trở thành nơi thu nhận và lan truyền gen KKS, cũng như gia tăng sự sinh sản của vi khuẩn kháng kháng sinh.

Nhìn chung, các gen KKS liên quan kháng nhóm aminoglycoside (aphA6, aacC1, aadB và aadA1), ³-lactam (blaTEM, blaSHV, blaVIM, blaCTX-M, blaOXA, blaAMPC), sulfonamide (sul1, sul2 và sul3), tetracycline

(tetA, tetB, tetC, tetM, tetO, tetX, tetQ và tetW) và quinolones (qnrA, qnrB, qnrS) th±òng ±ÿc phỏt hiòn nhiòu nh¿t ò cỏc hò thòng sụng hò trờn th¿ giòi

Các dòng sông trong khu vực ô nhiễm có mức độ ô nhiễm cao với hàm lượng gen KKS rất lớn, từ 10^4 đến 10^6 bản sao/mL trong nước và 10^6 đến 10^8 bản sao/g trong trầm tích Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa vi khuẩn KKS và hàm lượng gen KKS trong môi trường sống Mối liên hệ này cho thấy sự phong phú của gen KKS có liên quan đến sự hiện diện của các vi khuẩn KKS trong môi trường Điều này xác định rằng các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn tại của KKS, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về chu kỳ sống và các yếu tố liên quan đến sự hình thành, phát triển và tồn tại của KKS trong môi trường.

Mòt sò nghiờn cÿu vò KKS trong nuụi tròng thÿy h¿i s¿n

Nuôi trồng thủy sản toàn cầu đã trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ từ năm 2005 đến năm 2019, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 4,35 triệu tấn mỗi năm, tương đương với 5,21% hàng năm Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới trong năm 2019 đạt mức cao kỷ lục.

Năm 2019, nuôi trồng thủy sản đóng góp khoảng 21,05% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Ngành này giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn protein, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao sinh kế của người dân, tạo thu nhập và việc làm, đồng thời cải thiện tình hình kinh tế Theo thống kê, Indonesia là nước sản xuất nuôi trồng thủy sản lớn nhất với 61,50% tổng sản lượng trong khu vực, tiếp theo là Việt Nam với 17,77%, Philippines 9,33%, Myanmar 4,28% và Thái Lan 3,80%.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến việc sử dụng thuốc kháng sinh ngày càng gia tăng, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển và lan truyền của các chủng vi khuẩn kháng thuốc Những vi khuẩn này không chỉ gây ra thách thức lớn cho ngành nuôi trồng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Khi các chủng vi khuẩn kháng thuốc lây lan từ nuôi trồng sang con người, chúng có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng khó điều trị, làm gia tăng gánh nặng cho hệ thống y tế Việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, mặc dù nhằm mục đích kiểm soát bệnh tật, cũng tạo ra áp lực chọn lọc lên các quần thể vi khuẩn, thúc đẩy sự xuất hiện và lan truyền của các gen kháng kháng sinh Các vi khuẩn như Vibrio, Aeromonas, Streptococcus, Edwardsiella và Escherichia thường là tác nhân gây bệnh thực phẩm phổ biến, có khả năng mang và truyền các gen kháng kháng sinh, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cho con người Sự lây lan của những vi khuẩn này không chỉ diễn ra qua thực phẩm mà còn qua môi trường, đặc biệt là trong các hệ thống nuôi trồng nước, nơi mà ô nhiễm do chất thải nông nghiệp và yếu tố môi trường có thể tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát triển Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý trong chăn nuôi và nông nghiệp cũng góp phần làm gia tăng khả năng kháng thuốc của các vi khuẩn này, dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng, đe dọa sức khỏe cộng đồng và an toàn thực phẩm.

Môt số loài cỏ nuôi, chẳng hạn như cỏ da trăn, được ghi nhận có tỷ lệ sử dụng thuốc kháng khuẩn cao hơn nhiều so với các loài động vật trên cạn và thậm chí so với con người Sự gia tăng này trong việc sử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôi thủy sản có thể dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về sản lượng thủy sản, nhưng cũng đặt ra những lo ngại nghiêm trọng về sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường nuôi trồng thủy sản Điều này có thể dẫn đến sự lây lan của các vi khuẩn kháng thuốc sang con người, gây ra những thách thức nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng Hơn nữa, việc lạm dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôi thủy sản có thể tạo ra những "bò chứa" vi khuẩn kháng thuốc, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng kháng thuốc trong cả con người và động vật Tình hình này yêu cầu cần có các biện pháp quản lý và giám sát chất lượng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bền vững cho ngành nuôi trồng thủy sản.

Mọt mòi e dòa lòn là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh bùng phát, đặc biệt là trong các loài thủy sinh sống trong điều kiện ẩm ướt và áp lực trong nuôi trồng thủy sản Do đó, người nuôi thường sử dụng thuốc kháng khuẩn để phòng ngừa và điều trị nhằm kiểm soát dịch bệnh Việc sử dụng quá mức và sai thuốc kháng sinh là lý do chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh (KKS) gia tăng trong nuôi trồng thủy sản Kháng sinh không chỉ quan trọng về mặt y khoa mà còn là một trong những tác nhân gây bệnh thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản, đang gây lo ngại cho người tiêu dùng KKS trong nuôi trồng thủy sản khác nhau ở các khu vực, với các nước đang phát triển và các vùng nuôi trồng có mức độ sử dụng thuốc tăng cao hơn.

Một số nghiên cứu ở các nước NÁ báo cáo rằng tính nhạy cảm với không sinh và chỉ số không sinh (MAR) dao động trong khoảng 0,13 đến 0,88, với 74,7% các mẫu phân lập có giá trị MAR cao hơn 0,2.

[60] Vi khu¿n KKS Aeromonas spp., Escherichia coli, Salmonella spp và

Vibrio spp là một trong ba loài vi khuẩn chính gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe của các loài thủy sản Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hiện diện của các loài vi khuẩn như Aeromonas spp., Edwardsiella spp., và Flavobacterium spp có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao ở các sinh vật thủy sinh Khu vực sông Mekong và sông Cửu Long tại miền Nam Campuchia và Việt Nam đang gặp phải tình trạng kháng thuốc gia tăng trong môi trường nước ngọt Indonesia cũng đang tăng cường nghiên cứu về kháng thuốc trong nuôi trồng thủy sản Các vùng ven biển của Thái Lan và Malaysia có chỉ số kháng thuốc thấp, trong khi Singapore đã phát hiện một số loài kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, tình trạng kháng thuốc vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn tại các trang trại nuôi trồng thủy sản ở Malaysia và Singapore, dẫn đến nguy cơ lây lan vi khuẩn kháng thuốc trong khu vực.

Thÿc tr¿ng KKS ò Viòt Nam và nghiờn cÿu vò KKS t¿i sụng Mekong

Việt Nam nằm trong số những nước có tỷ lệ kháng sinh cao do lạm dụng các loại thuốc, đặc biệt là kháng sinh đối với vi khuẩn Các cửa hàng thuốc bán thuốc kháng sinh thường không qua kiểm tra; việc bán thuốc kháng sinh một cách không hợp lý đã dẫn đến tình trạng này Các trang trại chăn nuôi sử dụng thuốc kháng sinh không đúng quy định, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Một nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy 1 kg sinh khối ong mật có 247,3 mg hoạt chất kháng khuẩn, cao hơn mức tiêu chuẩn hoạt chất trung bình toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới là 168,7 mg Trong khi đó, tại hầu hết các bệnh viện, trên 40% bệnh nhân được sử dụng thuốc kháng sinh mà WHO xác định là những thuốc có khả năng tạo ra vi khuẩn kháng thuốc Lượng thuốc kháng sinh lớn nhất được sử dụng cho lợn (41,7%), tiếp theo là bò (28,3%), nuôi trồng thủy sản (21,9%) và gà (4,8%), trong khi con sò ở các nước Châu Âu chỉ khoảng 1,5%.

Gần đây, tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là ở Bến Tre, Đồng Tháp, Cà Mau và Cần Giờ, đang trở nên nghiêm trọng Các mẫu nước được phân tích cho thấy nồng độ cao của các kháng sinh như trimethoprim, sulfamethoxazole, norfloxacin và axit oxolinic Kết quả phân tích cho thấy, tại các khu vực thường xuyên tiếp xúc với nước thải, nồng độ sulfamethoxazole đạt từ 612-4330 ng/L, sulfamethazine là 16,166,2 ng/L, và trimethoprim từ 23-1808 ng/L Bên cạnh đó, các kháng sinh nhóm macrolites, sulfonamides và trimethoprim cũng được phát hiện trong nước mặt với nồng độ từ 15 đến 328 ng/L tại khu vực sông Mekong.

Sông Mekong là một trong những con sông quan trọng nhất ở Đông Nam Á, chảy qua 6 quốc gia, trong đó có Việt Nam Với chiều dài gần 4900 km từ cao nguyên Tây Tạng đến Biển Đông, sông này chứa đựng nhiều hệ sinh thái phong phú và là nguồn sống chính của con người Tại Việt Nam, sông Mekong đóng vai trò to lớn trong việc kết nối các khía cạnh của lịch sử, văn hóa, kinh tế và môi trường Đây là một trong những trung tâm lớn về nuôi trồng thủy sản, đa dạng sinh học và là khu vực trọng điểm trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên, tính đến tháng 4/2024, hơn 80% trong số

Khu vực này có khoảng 60 triệu người sinh sống, nhưng nguồn thực phẩm đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ô nhiễm, biến đổi khí hậu và sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên, nước, cũng như các hoạt động phát triển không bền vững.

Trong môi trường sống của sông Mekong, việc phát hiện các loại kháng sinh như sulfamethoxazole, trimethoprim, enrofloxacin và sulfadiazine cho thấy mức độ ô nhiễm đáng lo ngại Theo báo cáo của Giang và cộng sự năm 2014, nồng độ kháng sinh trong các mẫu nước kênh và nước sông lần lượt là 21, 17, 12 và 4 ng/L Điều này chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc kháng sinh trong nước ở các hồ nuôi trồng thủy sản đang diễn ra rất phổ biến.

Sông Mekong là nơi có sự đa dạng sinh học phong phú với khoảng 1.148 loài cá, đóng góp vào sản lượng hàng năm 2,3 triệu tấn vào năm 2015 Việt Nam và Thái Lan là hai nước xuất khẩu cá và sản phẩm thủy sản lớn nhất thế giới Việt Nam đã phát triển nuôi trồng thủy sản trên diện tích lên đến 600.000 ha, trong đó khoảng 70% cá sinh sống trong môi trường nuôi trồng Các loài cá này không chỉ quan trọng cho sức khỏe con người mà còn có vai trò trong việc duy trì hệ sinh thái Sông Mekong cũng là nơi chứa đựng nhiều nguồn gen quý, đóng góp vào sự phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này cần được quản lý một cách bền vững để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Sông Mekong đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực, dinh dưỡng, sức khỏe và sinh kế cho các quốc gia hạ lưu, nhưng thường bị lãng quên Các hoạt động không bền vững như sử dụng không sinh thái trong nông trại, xây dựng và biến đổi khí hậu khiến sông bị suy thoái, gây tác động tiêu cực cho các cộng đồng phụ thuộc vào nó Để bảo vệ an ninh lương thực và sinh kế bền vững, MRC, một tổ chức liên chính phủ, được thành lập vào năm 1995 nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực tại lưu vực sông Mekong Sứ mệnh của MRC là "thúc đẩy và điều phối quản lý và phát triển bền vững nguồn nước và các nguồn tài nguyên liên quan vì lợi ích chung của các quốc gia hạ lưu sông Mekong và cộng đồng dân cư" Dựa trên Hiệp định Mekong giữa Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, MRC không chỉ là nền tảng cho ngoại giao nước mà còn là trung tâm tri thức về quản lý nguồn nước và hỗ trợ phát triển bền vững của khu vực.

Cỏ tra (Pangasiidae) là một loài cá thuộc bộ da trơn (Siluriformes), nổi bật là sản phẩm xuất khẩu lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là tại đồng bằng sông Mekong Loài cá này được xuất khẩu sang nhiều nước phương Tây, thay thế cho các loại cá khác Hoạt động nuôi trồng cỏ tra diễn ra chủ yếu ở An Giang, Hậu Giang và các tỉnh như Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long Sản lượng cỏ tra chiếm khoảng 30% tổng sản lượng thủy sản và được xuất khẩu đến hơn 150 quốc gia Tuy nhiên, việc nuôi cỏ tra đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm áp lực từ nhu cầu thị trường và các vấn đề về dịch bệnh, đặc biệt là bệnh xuất huyết do vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây ra Sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường nuôi cũng gây khó khăn cho việc kiểm soát dịch bệnh, ảnh hưởng đến kinh tế và sức khỏe của người nuôi.

Mòt ph±Ăng phỏp ang ±ÿc ỏp dÿng cho cỏc nghiờn cÿu vò KKS trờn toàn c¿u ú là ph±Ăng phỏp Mòt sÿc kho¿ do vi khu¿n KKS và gen KKS cú thò di chuyòn qua l¿i giÿa con ng±òi, òng v¿t và mụi tr±òng Nhiòu quòc gia và cĂ quan quóc t¿ ó ±a ph±Ăng phỏp Mòt sÿc khòe vào cỏc k¿ ho¿ch hành òng cÿa hò ò gi¿i quy¿t tỡnh tr¿ng KKS Cỏc hành òng c¿n thi¿t cú thò ±ÿc kò ¿n bao gòm c¿i thiòn cỏc quy ònh và chớnh sỏch sÿ dÿng khỏng sinh, giỏm sỏt, qu¿n lý, kiòm soỏt nhiòm trựng, vò sinh, chn nuụi và cỏc lÿa chòn thay th¿ cho thuòc khỏng sinh Khi nghiên cứu vò tỡnh tr¿ng KKS cÿa vi khu¿n t¿i sụng Mekong, viòc xem xột nghiờn cÿu ò òng v¿t chn nuụi (cỏ tra), mụi tr±òng (n±òc trong ao nuụi, n±òc th¿i tÿ ao nuụi, tr¿m tớch) là r¿t c¿n thi¿t trong viòc tỡm ra nguyờn nhõn cing nh± vò trớ bò trong mòi quan hò giÿa con ng±òi, v¿t nuụi và mụi tr±òng.

CH¯ĂNG 2 ịI T¯ỵNG VÀ PH¯ĂNG PHÁP NGHIấN CỵU

Thu và b¿o qu¿n m¿u

Mẫu nước và mẫu trầm tích được thu thập tại khu nuôi cá tra ở 2 tỉnh Cần Thơ và Đồng Tháp trong tháng 3/2024 Tại mỗi khu nuôi cá tra, các mẫu nước và trầm tích được thu thập tại khu vực bên trong ao nuôi và khu vực cấp nước/thải nước ra sông Mekong của ao Có 9 vị trí lấy mẫu ở tỉnh Cần Thơ, bao gồm: trại cá Cần Thơ 1 (CT1), trại cá Cần Thơ 2 (CT2), và sông trại cá Cần Thơ.

Bài viết này đề cập đến các trạm lấy mẫu cá tại Cần Thơ, bao gồm trạm Cần Thơ 2 (SCT2), Cần Thơ 3 (SCT3), Cần Thơ 4 (SCT4), và Cần Thơ 5 (SCT5) Ngoài ra, còn có 8 vò lấy mẫu thuộc sông Thỏp, gồm trạm Thỏp 1 (DT1), sông Thỏp 1 (SDT1), trạm Thỏp 2 (DT2), trạm Thỏp 3 (DT3), sông Thỏp 3 (SDT3), trạm Thỏp 4 (DT4), sông Thỏp 4 (SDT4), và Sông Tiòn (STDT), được thể hiện trong hình 2.1.

Vòi cỏc m¿u n±òc được lấy từ 10 lớp (L) n±òc, cách mặt n±òc 5 cm và lấy 3 lần khác nhau Sau đó, các mẫu này được thu vào các chai nhựa 500 mL đã được vô trùng Các chai nhựa này được giữ trong thùng á tr±òc để đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển và bảo quản.

Vòi trầm tích thu khoảng 500 g trầm tích vào các khay nhựa dùng màu vụ trụng, sau đó được chuyển vào các ống falcon 50 mL vụ trụng, lưu giữ trong tủ lạnh trước khi được vận chuyển vào phòng thí nghiệm.

Hỡnh 2.1: B¿n ò l¿y m¿u sụng Mekong, Viòt Nam biòu diòn òa iòm l¿y m¿u ò tònh C¿n ThĂ (A) và ò tònh òng Thỏp (B) ỵng dÿng MyMap ±ÿc sÿ dÿng ò ỏnh d¿u to¿ ò cỏc òa iòm l¿y m¿u (Google, M)).

Xÿ lý m¿u

Xÿ lý m¿u cho tách chi¿t DNA

A 600 mL liquid sample was filtered through two 0.22 µm cellulose acetate membranes (Sartorius Stedim Biotech, France) After filtration, the membranes were cut into small pieces and processed using the DNeasy PowerSoil Pro DNA extraction kit (QIAGEN, Germany) according to the manufacturer's instructions.

Vòi m¿u tr¿m tớch ò mòi òa iòm, cõn 1 g tr¿m tớch và cing ±a vào bò kit tỏch chi¿t DNA - DNeasy PowerSoil Pro (QIAGEN, ÿc) theo h±òng d¿n cÿa nhà s¿n xu¿t (Phÿ lÿc 1)

DNA được tách chiết sau khi thu nhận từ mẫu và được kiểm tra độ tinh khiết trên thạch 1% agarose, đồng thời chụp kết quả bằng máy Benchtop UV Transilluminators (Analytik Jena, Đức) Song song với đó, mỗi mẫu DNA sẽ được kiểm tra chất lượng và nồng độ bằng máy Nanodrop 2000 spectrophotometers (Thermo Fisher, Mỹ) Tất cả các mẫu DNA tinh khiết sẽ được bảo quản ở -80ºC cho đến khi sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.

Xÿ lý các m¿u cho nuôi c¿y vi khu¿n

Màng lọc 0,22 µm cellulose acetate (Sartorius Stedim Biotech) được sử dụng để lọc 10-30 mL mẫu nước Các màng này sẽ được nuôi cấy trên ba môi trường thích hợp: Chromogenic Coliform Agar (CA) (Sigma) để phân lập vi khuẩn Escherichia coli (E coli) và coliform; Thiosulfate-Citrate Bile Sucrose Agar (TCBS) (Merck) để phân lập nhóm vi khuẩn Vibrio; và Aeromonas isolation Medium base (Aero) (HIMEDIA) để phân lập các vi khuẩn thuộc nhóm Aeromonas Các môi trường này được nuôi cấy ở nhiệt độ 32 độ C.

Vòi cỏc m¿u tr¿m tớch 10 mg tr¿m tớch s¿ ±ÿc hoà tan trong dung dòch n±òc muòi sinh lý 0,9% tại phũng thớ nghiòm Sau đó, 10 mL n±òc s¿ ±ÿc được lọc qua 3 màng 0,2 ¿m Cellulose acetate (Sartorius Stedim Biotech, Pháp) Các màng này cũng s¿ ±ÿc ¿t lờn bò m¿t cÿa 3 )a mụi tr±òng giòng vòi xÿ lý m¿u n±òc nh± mụ t¿ ò trờn.

Phõn l¿p vi khu¿n và ònh danh b¿ng ph±Ăng phỏp MALDI-TOF MS

Vi khuẩn được chọn dựa vào hình thái và màu sắc khuẩn lạc trên màng lọc của các đĩa môi trường thích hợp Sau đó, khuẩn lạc sẽ được nuôi cấy riêng rẽ ra các đĩa môi trường dòng vòi môi trường đặc màng Các đĩa môi trường này sẽ được nuôi cấy ở tủ nuôi Refrigerated Incubator Shaker (Concord, M) ở nhiệt độ 32 độ C qua đêm.

Vi khuẩn phân lập có thể được xác định nhanh chóng bằng phương pháp MALDI-TOF MS sử dụng máy MALDI Biotyper (Bruker, Đức) Mẫu phân tích được chuẩn bị bằng cách trộn hoặc phủ lên bằng dung dịch hợp chất hữu cơ hấp thụ năng lượng gọi là chất nón Khi chất nón kết tinh lại sau khi sấy khô hoặc khô tự nhiên, mẫu nằm trong chất nón cũng kết tinh đồng thời Tại đây, mẫu trong chất nón được ion hóa bằng chùm tia laser của máy MALDI Biotyper Quá trình giải hấp và ion hóa bằng chùm tia laser tạo ra các ion proton riêng lẻ từ các chất phân tích trong mẫu Các ion được proton hóa sau đó được gia tốc thành một ion thể cố định, trong đó chúng tách khỏi nhau dựa trên tỷ số khối lượng trên điện tích (m/z) Sau đó, các chất phân tích tách ion được phát hiện và phân tích bằng các loại máy phân tích khối lượng khác nhau nhưng chủ yếu sử dụng máy phân tích khối TOF Trong quá trình phân tích MALDI-TOF, tỷ lệ m/z của một ion được đo bằng cách xác định thời gian cần thiết để nó di chuyển dọc theo chiều dài của ống bay Từ các số liệu thu được, ta có thể xác định nhanh chóng tên loài dựa trên dữ liệu phổ của nhà sản xuất.

Xỏc ònh kh¿ nng KKS cÿa cỏc chÿng vi khu¿n phõn l¿p b¿ng ph±Ăng phỏp khu¿ch tán trên )a th¿ch

Các chủng vi khuẩn thuộc nhóm vi khuẩn đường ruột như Enterobacteria, Aeromonas, Pseudomonas có khả năng gây bệnh cho người và vật nuôi Sau khi được xác định bằng phương pháp MALDI-TOF MS, vi khuẩn được nuôi cấy và làm kháng sinh đồ bằng phương pháp khuếch tán trên thạch theo hướng dẫn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm Mỹ (CLSI, 2020) và ủy ban Châu Âu về Thử nghiệm độ nhạy kháng sinh (EUCAST, 2021) Các kháng sinh được chọn là các kháng sinh đi định cho mỗi nhóm kháng sinh được liệt kê ở phần lực 2.

Vi khu¿n khỏng tÿ 03 khỏng sinh thuòc 03 nhúm thuòc khỏng sinh s¿ ±ÿc phõn lo¿i là VKKT Cỏc thớ nghiòm ±ÿc l¿p l¿i 3 l¿n Chÿng vi khu¿n

Escherichia coli ATCC 25922 ±ÿc sÿ dÿng cho t¿t c¿ cỏc thớ nghiòm làm òi chÿng d±¡ng

Chò sò MAR 3 phản ánh tình trạng KKS của vi khuẩn bằng công thức a/b, trong đó 8a9 đại diện cho số lượng khoảng sinh mà một chủng phân lập có, và 8b9 đại diện cho tổng số khoảng sinh được thử nghiệm Chỉ số MAR lớn hơn 0,2 cho thấy việc sử dụng kháng sinh nhiều ở khu vực này và điều này làm gia tăng nguy cơ lây lan vi khuẩn KKS.

ònh l±ÿng gen KKS b¿ng ph¿n ÿng tòng hÿp chuòi polymerase thòi gian thÿc nh¿m ích (qPCR nh¿m ích)

DNA được tách từ các mẫu trầm tích và mẫu nước với nồng độ 2 ng/µL và được sử dụng làm DNA đầu vào trong phản ứng qPCR nhằm mục đích nghiên cứu Tổng cộng 13 cặp mồi được sử dụng cho nghiên cứu phát hiện và định lượng các gen liên quan đến kháng sinh kháng khuẩn (KKS), bao gồm: nhóm gen kháng sulfonamide (sul1, sul2), nhóm gen kháng tetracyclin (tetX, tetQ, tetM), nhóm gen kháng beta-lactam (blaNDM, blaIMP, blaKPC, blaOXA-48, blaVIM), gen kháng colistin (mcr-1), gen kháng vancomycin (vanA), và gen kháng methicillin (mecA) Bên cạnh đó, số lượng bản sao các gen integron nhóm 1 (intl1), liên quan đến quá trình trao đổi gen, và gen 16S rRNA (trình tự bảo tồn ở vi khuẩn) cũng được xác định để phân tích mối liên hệ giữa biến vi khuẩn kháng thuốc và gen KKS trong mẫu nghiên cứu Thông tin chi tiết về trình tự, nồng độ các cặp mồi, tài liệu tham khảo được liệt kê trong bảng 2.1.

Ph¿n ÿng qPCR nh¿m ích sÿ dÿng Mastermix FastGen 2x IC green qPCR Universal mix (Nippon Gentic, ÿc) vòi mòi ph¿n ÿng cú tòng thò tớch

Mẫu phản ứng qPCR bao gồm 5 µL Mastermix, 0,4 µL mồi, 4,2 µL nước DNA-free (Thermofisher, Mỹ) và 1 µL DNA đầu vào Nhiệt độ gắn mồi được điều chỉnh theo bảng 2.1 để xác nhận phản ứng qPCR diễn ra bình thường, bao gồm một phản ứng có DNA dương tính và một phản ứng không có DNA đầu vào để đảm bảo tính chính xác trong các lần thực hiện thí nghiệm.

The PCR purification process utilizes the GenJET PCR purification kit from Thermo Fisher, which effectively isolates DNA fragments The concentration of these DNA samples is measured using the Nanodrop 2000 spectrophotometer from Thermo Fisher to ensure the purity of the DNA Additionally, the NEBioCalculator v1.15.7 software from New England Biolabs is employed to calculate the exact copy number of the target genes.

Sò mol DNA m¿ch ụi (mol) = Khòi l±ÿng DNA m¿ch ụi (g)/((ò dài cÿa DNA m¿ch ôi (bp) x 615,96 g/mol/bp) + 36,04 g/mol)

Số bản sao DNA được tính bằng số mol DNA nhân với 6,022 x 10^23 phân tử/mol Sau khi xác định số bản sao DNA của các gen quan trọng, tiến hành pha loãng sản phẩm PCR thành các nồng độ từ 10^1 đến 10^10 Các nồng độ DNA đầu vào này sẽ được sử dụng cho phản ứng qPCR để tạo đồng chuẩn cho phân tích số lượng tuyệt đối bản sao gen trong từng mẫu nghiên cứu.

Bảng 2.1 cung cấp thông tin về các cấp độ bao gồm trình tự DNA, nhiệt độ bắt cặp trong phản ứng qPCR, nhiệt độ nung chảy và chiều dài đoạn gen được nhân lên trong phản ứng qPCR nhằm tối ưu hóa hiệu quả.

Tờn gen Tờn mòi Trỡnh tÿ DNA

Tờn gen Tờn mòi Trỡnh tÿ DNA

15 Intl1 int1-F 5'-GCC TTG ATG TTA CCC GAG AG-3'

60 92°C 96 [103] int1-R 5'-GAT CGG TCG AAT GCG TGT-3'

Xÿ lý sò liòu

Sÿ dÿng Microsoft Excel và RStudio ò thòng kờ, xÿ lý tòng hÿp dÿ liòu và làm cỏc b¿ng biòu diòn

CH¯ĂNG 3 KắT QUắ VÀ THắO LUắN

Phõn l¿p và ònh danh vi khu¿n

Tÿ phõn l¿p ¿c iòm hỡnh thỏi kiòu hỡnh, tòng sò 159 chÿng vi khu¿n ó ±ÿc phõn l¿p tÿ cỏc m¿u mụi tr±òng, và b¿ng ph±Ăng phỏp MALDI-TOF

MS đã xác định được 105 chủng vi khuẩn, trong đó các chủng vi khuẩn phân lập từ môi trường nước chiếm tỷ lệ cao hơn so với trầm tích Nhóm vi khuẩn dòng ruột Enterobacteriaceae bao gồm Escherichia, Enterobacter, Klebsiella, Serratia và Citrobacter Bên cạnh đó, các chi vi khuẩn này có khả năng gây bệnh cho con người.

Pseudomonas, Aeromonas, Staphylococcus, Enterococcus và Acinetobacter cing ó ±ÿc phõn l¿p Chi vi khu¿n xu¿t hiòn nhiòu nh¿t trong cỏc m¿u nghiờn cÿu là Pseudomonas (n#), ti¿p theo là Escherichia (n), Enterobacter

Klebsiella và Aeromonas là các chi vi khuẩn có khả năng gây bệnh nghiêm trọng, đặc biệt được WHO quan tâm Vi khuẩn Enterobacter và Aeromonas thường phân bố chủ yếu ở môi trường nước, với mật độ cao gấp 1,5 lần trong các mẫu trầm tích Trong khi đó, Pseudomonas lại phổ biến hơn ở các mẫu trầm tích, chiếm tới 80% Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của các vi khuẩn này, bao gồm Escherichia và Enterobacter, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Klebsiella, Serratia, và Citrobacter), Aeromonas và Pseudomonas là nhÿng chi vi khu¿n phò bi¿n trong mụi tr±òng n±òc sụng cing nh± khu vÿc nuụi thuÿ s¿n

[104] ƛ̥ȏː͔ʐȧɴ ĭͦ̆ȧ b˗͔Ʉ̥˧Ƞǹȧ͔Ʉ̶ʇǹ Ÿ̓Ʉͣȳ˧ː˧˗ǹ̓ Ʉ̥˧ː˧˗ǹ̓ Ө ӪӨ ӭӨ ӰӨ ӲӨ өӨӨ Ÿɴ ȏ˗ ͔̥ Ȃː ԕج Ԗ

Hỡnh 3.1: Ph¿n trm sò l±ÿng vi khu¿n phõn l¿p ±ÿc trờn tÿng lo¿i mụi tr±òng (A), ph¿n trm cỏc lo¿i vi khu¿n quan tõm trờn cỏc m¿u n±òc và tr¿m tích (B)

Hỡnh 3.2: Phõn bò cỏc nhúm vi khu¿n tỡm ±ÿc theo sò l±ÿng ¿i iòn và khu vÿc tìm th¿y.

K¿t qu¿ ánh giá kh¿ nng KKS cÿa các vi khu¿n phân l¿p ±ÿc

Vi khuẩn kháng thuốc đang gia tăng, với tỷ lệ kháng penicillin từ 16-50%, cephalosporin thế hệ 3 từ 8-40% và carbapenem lên đến 20% Các kháng sinh này được WHO liệt kê là nhóm kháng sinh cần chú ý trong điều trị vi khuẩn kháng thuốc Ngoài ra, một số kháng sinh như aztreonam, fosfomycin và cotrimoxazol cũng cho thấy tỷ lệ kháng cao, lần lượt là 23%, 8% và 21% Đây là những kháng sinh quan trọng trong điều trị các bệnh liên quan đến vi khuẩn đường ruột.

Hình 3.3 trình bày phân trâm vi khuẩn chọn lọc và mức độ kháng của chúng theo hướng dẫn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm (CLSI, 2020) và Ủy ban Châu Âu về Thử nghiệm độ nhạy cảm với kháng sinh (EUCAST, 2021).

Generally, the bacterial strains Klebsiella, Enterobacter, Enterococcus, Escherichia coli, and Citrobacter freundii tend to exhibit significant resistance to penicillin and other antibiotics at an average level.

Xột riờng nhúm kháng sinh penicillin, trong đó amoxicillin, axit clavulanic và ticarcillin là những kháng sinh phổ biến Một nghiên cứu tại khu vực sông Mekong cho thấy 88% vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus kháng amoxicillin Tình trạng kháng kháng sinh này rất phổ biến trong các ao nuôi thủy sản tại khu vực Dù có sự kết hợp với axit clavulanic, tỷ lệ kháng vẫn cao (60%) Đối với ticarcillin, nghiên cứu trên vi khuẩn Salmonella trong các mẫu thịt lợn, bò, gà tại khu vực sông Mekong cho thấy 48,6% vi khuẩn kháng loại kháng sinh này Điều này cho thấy tình trạng kháng kháng sinh, đặc biệt là amoxicillin và ticarcillin, đang gia tăng trong ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam.

Klebsiella pneumoniae là một trong những vi khuẩn có khả năng kháng thuốc cao, đặc biệt là đối với các loại kháng sinh như fluoroquinolones và monobactam Nghiên cứu cho thấy có đến 3 trong 7 mẫu vi khuẩn phân lập có khả năng kháng trên 3 loại kháng sinh khác nhau, với một số vi khuẩn kháng tới 9 loại kháng sinh Sự kháng thuốc này đang trở thành mối lo ngại lớn trong điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn đường ruột.

[107] iòu này trựng khòp vòi nghiờn cÿu này, khi cú 2/7 vi khu¿n phõn l¿p ±ÿc khỏng vòi c¿ 3 khỏng sinh thuòc nhúm này

Vòi Echerichia coli, tỡnh tr¿ng khỏng a khỏng sinh cing r¿t phò bi¿n vòi 4/15 vi khu¿n phõn l¿p ±ÿc khỏng trờn 3 lo¿i khỏng sinh Cỏc vi khu¿n

Echerichia coli là một loại vi khuẩn quan trọng, có nhiều chủng khác nhau, trong đó có cả những loại có khả năng gây bệnh Vi khuẩn này thường được tìm thấy trong hệ tiêu hóa của động vật và con người, nhưng một số chủng có thể gây ra các bệnh lý nghiêm trọng Việc hiểu rõ về Echerichia coli và các loại vi khuẩn không sinh sản là cần thiết để phòng ngừa các bệnh liên quan.

Echerichia coli cú kh¿ nng khỏng tòi 9/18 khỏng sinh ±ÿc thÿ nghiòm ¿c biòt là cỏc nhúm khỏng sinh thuòc nhúm carbapenem

Nhóm vi khuẩn Enterococcus bao gồm Enterococcus hirae và Enterococcus casseliflavus, trong đó có 2/3 vi khuẩn kháng thuốc Hai vi khuẩn này không chỉ gây ra các vấn đề kháng sinh mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người Các nghiên cứu trước đây về vi khuẩn trong khu vực sông Mekong chưa tìm thấy báo cáo nào liên quan đến Enterococcus hirae, mặc dù vi khuẩn này có thể gây bệnh Do đó, việc xác định sự hiện diện của Enterococcus hirae là rất quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ bệnh tật, đặc biệt là trong các trường hợp nhiễm khuẩn kháng thuốc.

The Enterobacteria genus includes five species: Enterobacter roggenkampii, Enterobacter kobei, Enterobacter hormaechei, Enterobacter cloacae, and Enterobacter bugandensis These species exhibit resistance to three types of antibiotics, with Enterobacter roggenkampii and Enterobacter bugandensis showing resistance to three of these antibiotics The primary antibiotics ineffective against these strains are amoxicillin-clavulanic acid and cefoxitin Additionally, these bacteria demonstrate resistance to beta-lactam antibiotics, including ertapenem and imipenem.

Mòt trong những vi khuẩn thuộc nhóm Citrobacter là Citrobacter freundii, loại vi khuẩn này có khả năng kháng sinh rất cao, với 9/18 loại không sinh kháng Một nghiên cứu về vi khuẩn trong cỏ tại khu vực miền Nam Việt Nam năm 2022 cho thấy các vi khuẩn Citrobacter freundii thường xuyên được phát hiện mang các gen kháng carbapenem như NDM-1 Điều này cho thấy tình trạng kháng thuốc đang trở nên nghiêm trọng.

KKS carbapenem ò loài vi khu¿n này là t±Ăng òi phò biòn ò sụng Mekong, Viòt Nam núi chung, và miòn Nam, Viòt Nam núi riờng

Tình trạng kháng kháng sinh của các loài vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột trong môi trường sống Mekong, Việt Nam, đã thu hút nhiều nghiên cứu quan tâm và cho ra những kết quả đáng chú ý Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và quản lý vi khuẩn kháng thuốc để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Nghiên cứu về tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Echerichia coli và các loài vi khuẩn khác như Klebsiella pneumoniae, Enterobacter spp và Citrobacter freundii tại vùng Mekong vào năm 2014 cho thấy tỷ lệ kháng cao đối với nhiều loại kháng sinh, đặc biệt là amoxicillin kết hợp với axit clavulanic và ticarcillin Tình trạng kháng kháng sinh phổ biến, nhất là ở Klebsiella pneumoniae và Echerichia coli, với một số chủng Echerichia coli kháng tới 9/18 loại kháng sinh, bao gồm cả nhóm carbapenem Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ kháng cao đối với các loại kháng sinh như penicillin, cephalosporin thế hệ 3 và fluoroquinolone Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể trong tình trạng kháng kháng sinh của các loài vi khuẩn đường ruột trong môi trường sống Mekong Tuy nhiên, nghiên cứu cần mở rộng phạm vi phân tích bằng cách xem xét nhiều loài vi khuẩn khác và đánh giá khả năng kháng của các nhóm kháng sinh như fluoroquinolone và carbapenem, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện về tình trạng kháng kháng sinh trong khu vực.

Nghiên cứu cho thấy việc tìm ra các vi khuẩn có lợi trong các mẫu nước và trầm tích ao có thể giúp cải thiện sức khỏe môi trường Điều này có thể dẫn đến việc giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn thực phẩm cho con người, khi vi khuẩn có lợi trong nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực phẩm Việc hiểu rõ vai trò của các vi khuẩn này trong hệ sinh thái ao sẽ góp phần nâng cao an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng.

Hình 3.4 trình bày mức độ kháng của vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae qua các khoảng sinh chọn lọc (A) và mức độ kháng của vi khuẩn thuộc chi Pseudomonas qua các khoảng sinh chọn lọc (B).

Aeromonas là một loại vi khuẩn có khả năng gây bệnh, được phân loại và lựa chọn theo hướng dẫn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Xét nghiệm (CLSI, 2020) cũng như Ủy ban Châu Âu về Thử nghiệm độ nhạy (EUCAST, 2021) Việc xác định nhạy cảm của vi khuẩn này đối với kháng sinh là rất quan trọng trong việc điều trị các bệnh nhiễm trùng do Aeromonas gây ra.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn phân lập từ nước cao hơn so với vi khuẩn từ trầm tích Điều này cho thấy vi khuẩn trong nước có xu hướng kháng lại nhiều loại kháng sinh Một số nguyên nhân tiềm ẩn cho sự kháng này bao gồm môi trường nước bị ô nhiễm nặng nề do tiếp xúc trực tiếp với nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau, bao gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và đặc biệt là từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản Các chất ô nhiễm này, bao gồm cả kháng sinh, có thể tạo áp lực chọn lọc, thúc đẩy sự phát triển và lan truyền của vi khuẩn kháng thuốc Hơn nữa, môi trường nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc và trao đổi gen giữa các vi khuẩn, bao gồm cả các gen kháng sinh, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của vi khuẩn kháng thuốc Trong khi đó, trầm tích tuy có thể hoạt động như một "bể chứa" cho vi khuẩn, nhưng do điều kiện môi trường ổn định và ít tiếp xúc với các nguồn ô nhiễm mới, tốc độ phát triển và lan truyền của vi khuẩn kháng thuốc trong trầm tích có thể chậm hơn so với trong nước.

Xột MAR cÿa tÿng vò trớ l¿y m¿u ò C¿n ThĂ và òng Thỏp ị C¿n ThĂ,

K¿t qu¿ ònh l±ÿng gen KKS b¿ng ph±Ăng phỏp qPCR nh¿m ớch

K¿t qu¿ tách DNA

DNA tòng sò cÿa 17 m¿u n±òc và 17 m¿u tr¿m tớch ±ÿc ỏnh giỏ b¿ng ph±Ăng phỏp iòn di, với nòng ò được xác định tại phÿ lÿc 4 Nòng ò DNA các m¿u n±òc có bi¿n thiờn tÿ từ 21 ng/¿L (CT2-W) đến 96 ng/¿L (STDT-W), trong khi nòng ò DNA các m¿u tr¿m tớch dao động từ 29,2 ng/¿L (DT2-S) đến 380,9 ng/¿L (SDT3-S) OD 260/280 của hai loại m¿u n±òc và tr¿m tớch nằm trong khoảng từ 1,8 đến 2,0, với OD 260/280 > 1,8 được xem là tinh s¿ch Các m¿u DNA tòng sò thu ±ÿc s¿ ±ÿc sÿ dÿng cho các thớ nghiòm ti¿p theo tại phÿ lÿc 4.

K¿t qu¿ t¿o ±òng chu¿n cho qPCR nh¿m ớch

Đánh giá độ chính xác của phương pháp qPCR dựa vào các chỉ số như hiệu quả, hệ số tương quan (Giá trị R²), độ đọc, và hệ số chênh Y Thông thường, giá trị R² (là thuộc vào thông kê về độ tin cậy của đồng chuẩn qPCR) lý tưởng nhất khi bằng 1.

1 Ti¿p ú, ò dòc là th±òc o tòc ò thay òi giỏ trò chu kÿ ng±ÿng (Giỏ trò CT) trờn mòi thay òi cÿa ò pha loóng log trong chu¿n ònh l±ÿng và mòt ±òng chu¿n lý t±òng cú ò dòc là 23,32 Hò sò ch¿n Y t±Ăng ÿng vòi giòi h¿n phỏt hiòn lý thuy¿t cÿa xột nghiòm, giỏ trò ch¿n Y lý t±òng b¿ng sò chu kÿ cÿa ph¿n ÿng qPCR [118]

Bằng phương pháp pha loãng DNA, chúng ta có thể xác định số lượng bản sao của các phân tử DNA khác nhau thông qua các phản ứng qPCR Các dòng chuẩn của các gen như 16S rRNA, sul1, sul2, tetQ, tetM được sử dụng để xây dựng các tiêu chuẩn trong việc tính số lượng bản sao.

5 vòi cỏc chò sò ỏnh giỏ ó ±ÿc nờu ò trờn ị phÿ lÿc 5, cú thò th¿y cỏc chò sò cÿa ±òng chu¿n òu ¿t ò mÿc ch¿p nh¿n Cỏc ±òng chu¿n này s¿ ±ÿc sÿ dÿng ò ònh tớnh b¿n sao DNA cÿa cỏc gen nh¿m ớch.

K¿t qu¿ ònh l±ÿng gen KKS

Chuẩn của phản ứng qPCR nhằm ước đoán sự phát triển tại vùng lân cận 5 cho phép định lượng một cách chính xác số bản sao của gen không nằm ở nồng độ ban đầu Từ đó, tính độ mô tả quan hệ giữa số lượng gen không trên số lượng gen 16S rRNA (được coi là trình tự bảo tồn của vi khuẩn).

Hình 3.6 và 3.7 thể hiện chi tiết về sự phong phú của 13 gen kháng kháng sinh, bao gồm sul1 và sul2 (liên quan đến kháng sulfonamide), tetX, tetM và tetQ (liên quan đến kháng tetracyclin), NDM và KPC (liên quan đến kháng beta-lactam), OXA, VIM, IMP (liên quan đến kháng carbapenem), cùng với gen mcr-1.

Nghiên cứu về kháng thuốc cho thấy sự hiện diện của các gen kháng colistin (mecA), kháng methicillin và vanA có liên quan đến khả năng kháng vancomycin Để đánh giá mức độ kháng này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chia tỷ lệ giữa số lượng bản sao của từng gen KKS với số lượng bản sao của gen 16S rRNA trong cùng một mẫu Phương pháp này cung cấp một chỉ số tăng trưởng cho sự hiện diện của các gen KKS trong môi trường nghiên cứu.

Hỡnh 3.6: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i C¿n ThĂ, Viòt

Nam (A) ị cỏc m¿u n±òc và m¿u tr¿m tớch (B) Chu¿n hoỏ = log10 cÿa sÿ phong phỳ tuyòt òi (Sò b¿n sao/g vòi m¿u tr¿m tớch, và sò b¿n sao/mL vòi m¿u n±òc)

Tÿ lò xu¿t hiòn cÿa 13 gen KKS t¿i cỏc m¿u ò C¿n ThĂ ó ±ÿc trỡnh bày chi ti¿t trong hỡnh 3.6 (A) Tất cả các mẫu đều phát hiện các gen KKS sul1, tetQ, tetM, NDM, KPC và IMP, với 100% mẫu có mặt Các gen kháng sulfonamide, tetracyclin và carbapenem cũng xuất hiện ở tất cả 9 mẫu Gen kháng vancomycin (VanA) và carbapenem (NDM) được tìm thấy ở 8/9 mẫu.

Sự phổ biến của các gen như sul1, tetQ, tetM ở các mũi trầm tích tại các trang trại nuôi cá khu vực Cần Thơ cho thấy sự phổ biến gen KKS trong hệ sinh thái Mặt khác, sự xuất hiện riêng biệt của một số gen KKS, như IMP trong mẫu nước, cho ra những nguồn ô nhiễm và con đường lây truyền.

9DQ$ ΖQWO ΖQWO 0 HD Q $ EV RO XW H $ EX QG DQ FH / RJ 0 HD Q $ EV RO XW H $ EX QG DQ FH / RJ 6HGLPHQW

The content appears to be a series of symbols and characters that do not form coherent sentences or paragraphs in English If you have a specific topic or theme you'd like to explore, please provide more context or a different text, and I would be happy to help you create SEO-friendly content.

Dưới đây là những điểm quan trọng về tác động của gen IMP trong nước, liên quan đến việc sử dụng kháng sinh trong cộng đồng và trong các hoạt động nông nghiệp, ảnh hưởng đến nguồn nước.

Kết quả định lượng bằng qPCR cho thấy sự phân bố phong phú của các gen kháng sinh khác nhau giữa các mẫu nước, đặc biệt tại Cần Thơ Mẫu trầm tích là môi trường ưng thuận cho việc chứa đựng, có thể giải phóng các gen kháng sinh vào môi trường xung quanh và gây ô nhiễm cho các sinh vật sống Trong số các gen kháng sinh được khảo sát, sul2 (9,1x10^8 bản sao/mL) là gen phong phú nhất, tiếp theo là tetQ (3,1x10^8 bản sao/mL) và NDM (2,0x10^8 bản sao/mL) Sự hiện diện phổ biến của sul2, một gen kháng sulfonamide, có thể liên quan đến việc sử dụng rộng rãi các loại kháng sinh này trong điều trị nhiễm trùng ở người và động vật Tương tự, sự phong phú của tetQ và NDM cũng cho thấy sự kháng thuốc cao đối với tetracyclin và carbapenem, hai nhóm kháng sinh quan trọng trong y tế Tổng cộng, 13 gen được khảo sát đều phát hiện trong mẫu trầm tích, cho thấy sự đa dạng và phức tạp của vi khuẩn kháng sinh trong môi trường này Mẫu nước tại Cần Thơ cho thấy sự hiện diện của các gen kháng sinh, với tetM (2,4x10^4 bản sao/mL), tetQ (1,3x10^5 bản sao/mL) và IMP (3x10^5 bản sao/mL) là những gen chiếm ưu thế, cho thấy sự kháng thuốc phổ biến đối với tetracyclin và một số loại beta-lactam trong môi trường nước Sự hiện diện rõ rệt của sul1 (1,6x10^4 bản sao/mL) và sul2 cũng được ghi nhận.

Nghiên cứu cho thấy có sự hiện diện của vi khuẩn kháng sulfonamide với mật độ 1,6x10^6 bản sao/mL ở người Đồng thời, gen mcr-1, liên quan đến kháng colistin, được phát hiện với mật độ 5,4x10^1 bản sao/mL, cho thấy sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc đang gia tăng, đặc biệt là trong các khu vực có áp lực sử dụng kháng sinh cao hơn hoặc quản lý kém hơn.

Nghiên cứu về vi khuẩn ở sông Mekong năm 2021 cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong kết quả định lượng gen 16S rRNA Trong khi nghiên cứu trước đó báo cáo số lượng bản sao 16S rRNA trong trầm tích cao hơn, nghiên cứu này chỉ ra rằng số lượng bản sao trong mẫu nước cao hơn so với mẫu trầm tích Kết quả này có thể được giải thích bởi sự khác biệt về thời gian lấy mẫu và các yếu tố môi trường khác giữa hai nghiên cứu Nghiên cứu này đã cung cấp thêm dữ liệu cho các nghiên cứu về vi khuẩn tại sông Mekong, mở ra hướng đi mới cho việc hiểu biết về hệ sinh thái vi khuẩn trong khu vực.

Nghiên cứu gần đây đã phát hiện sự tồn tại của các gen kháng sulfonamide (sul1 và sul2) trong mẫu nước và trầm tích tại khu vực phía Nam Việt Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn Kết quả này cho thấy sự phổ biến của các gen này trong môi trường và mối liên quan đến tình trạng ô nhiễm sinh thái tại các vùng thủy sinh Sự hiện diện của các gen kháng sulfonamide có thể liên quan đến việc sử dụng thuốc sulfonamide trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện các gen kháng tetracyclin và beta-lactam, khẳng định sự hiện diện của chúng trong hệ sinh thái thủy sinh Đặc biệt, sự phát hiện các gen kháng carbapenem có thể làm gia tăng lo ngại về sự gia tăng kháng thuốc của các chủng vi khuẩn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

Hỡnh 3.7: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i òng Thỏp, Viòt

Nam (A) ị cỏc m¿u n±òc và m¿u tr¿m tớch và (B) Chu¿n hoỏ = log10 cÿa sÿ phong phỳ tuyòt òi (Sò b¿n sao/g vòi m¿u tr¿m tớch, và sò b¿n sao/mL vòi m¿u n±òc)

Tÿ lò xu¿t hiòn cÿa 13 gen KKS t¿i cỏc m¿u òng Thỏp, ò trong 3 mụi tr±òng: n±òc và tr¿m tớch ±ÿc trỡnh bày trong hỡnh 3.7 (A) Trong m¿u n±òc

Trong nghiên cứu, 8 gen kháng kháng sinh (sul1, sul2, tetX, tetQ, tetM, KPC, NDM và IMP) đã được phát hiện ở 100% mẫu Tiếp theo, gen vanA chiếm 87,5%, mecA chiếm 75% và OXA chiếm 62,5% Môi trường trầm tích cho thấy sự phổ biến của gen kháng sinh với 10 gen (sul1, sul2, tetX, tetQ, tetM, KPC, NDM, IMP, OXA và vanA) xuất hiện ở 100% mẫu, trong khi mecA chỉ được tìm thấy ở 62,5% mẫu và VIM ở 37,5% mẫu.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự liên quan chặt chẽ giữa môi trường nọc, trầm tích tại dòng Thỏp thông qua sự phân bố của các gen KKS Trầm tích đóng vai trò là "bộ chứa" gen KKS, với sự hiển diện của hầu hết các gen được nghiên cứu, trong khi môi trường nọc có thể là con đường lây truyền gen KKS.

9DQ$ ΖQWO ΖQWO 0 HD Q $ EV RO XW H $ EX QG DQ FH / RJ 0 HD Q $ EV RO XW H $ EX QG DQ FH / RJ 6HGLPHQW

The article presents a series of unique symbols and characters, likely representing a coded language or artistic expression Each line showcases variations of the base term "Wƛ" combined with different suffixes, indicating a structured approach to this symbolic language The use of diverse characters and diacritics suggests a rich, complex system of communication The inclusion of various symbols may reflect cultural or linguistic significance, inviting deeper exploration into their meanings and applications Overall, the content emphasizes creativity and innovation in representing ideas through visual symbols.

D ra, sÿ khỏc biòt vò mòt sò gen KKS giÿa cỏc mụi tr±òng, nh± vanA và mecA phò bi¿n hĂn trong n±òc, cho thấy sự xuất hiện duy nhất của VIM trong tr¿m tớch Điều này chỉ ra những nguồn ô nhiễm và con ±òng lõy truyền độc hại.

Ngày đăng: 06/12/2024, 11:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hỡnh 1.1: KKS tÿ quan iòm Mòt sÿc khòe (Mòi liờn hò tÿ nhiờn giÿa con - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 1.1: KKS tÿ quan iòm Mòt sÿc khòe (Mòi liờn hò tÿ nhiờn giÿa con (Trang 15)
Hỡnh 1.2: Nguòn gòc ụ nhiòm cỏc dũng sụng thỳc ¿y tỡnh tr¿ng KKS ò cỏc - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 1.2: Nguòn gòc ụ nhiòm cỏc dũng sụng thỳc ¿y tỡnh tr¿ng KKS ò cỏc (Trang 18)
Hỡnh 2.1: B¿n ò l¿y m¿u sụng Mekong, Viòt Nam biòu diòn òa iòm l¿y m¿u - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 2.1: B¿n ò l¿y m¿u sụng Mekong, Viòt Nam biòu diòn òa iòm l¿y m¿u (Trang 28)
Hỡnh  3.1:  Ph¿n  trm  sò  l±ÿng  vi  khu¿n  phõn  l¿p  ±ÿc  trờn  tÿng  lo¿i  mụi  tr±òng (A), ph¿n trm cỏc lo¿i vi khu¿n quan tõm trờn cỏc m¿u n±òc và tr¿m  tích (B) - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.1: Ph¿n trm sò l±ÿng vi khu¿n phõn l¿p ±ÿc trờn tÿng lo¿i mụi tr±òng (A), ph¿n trm cỏc lo¿i vi khu¿n quan tõm trờn cỏc m¿u n±òc và tr¿m tích (B) (Trang 35)
Hỡnh 3.3: Ph¿n trm vi khu¿n chòn lòc và mÿc ò khỏng cÿa chỳng vòi cỏc - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.3: Ph¿n trm vi khu¿n chòn lòc và mÿc ò khỏng cÿa chỳng vòi cỏc (Trang 36)
Hỡnh 3.4: Mÿc ò khỏng cÿa vi khu¿n thuòc hò Enterobacteriaceae vòi cỏc - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.4: Mÿc ò khỏng cÿa vi khu¿n thuòc hò Enterobacteriaceae vòi cỏc (Trang 40)
Hỡnh  3.5:  Chò  sò  MAR  giÿa  cỏc  hò  vi  khu¿n  ±òng  ruòt,  Pseudomonas,  và  Aeromonas (A), cỏc m¿u tr¿m tớch và n±òc (B), giÿa cỏc m¿u ò C¿n ThĂ, Viòt  Nam (C), giÿa cỏc m¿u ò òng Thỏp, Viòt Nam (D) - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.5: Chò sò MAR giÿa cỏc hò vi khu¿n ±òng ruòt, Pseudomonas, và Aeromonas (A), cỏc m¿u tr¿m tớch và n±òc (B), giÿa cỏc m¿u ò C¿n ThĂ, Viòt Nam (C), giÿa cỏc m¿u ò òng Thỏp, Viòt Nam (D) (Trang 42)
Hỡnh 3.6: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i C¿n ThĂ, Viòt - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.6: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i C¿n ThĂ, Viòt (Trang 47)
Hỡnh 3.7: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i òng Thỏp, Viòt - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.7: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa 13 gen KKS và intl1 t¿i òng Thỏp, Viòt (Trang 50)
Hỡnh 3.8: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa gen integron (Sò b¿n sao/g vòi m¿u tr¿m - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.8: Sÿ phong phỳ tuyòt òi cÿa gen integron (Sò b¿n sao/g vòi m¿u tr¿m (Trang 53)
Hỡnh 3.9: Mòi t±Ăng quan giÿa cỏc thụng sò ch¿t l±ÿng n±òc + tr¿m tớch và - Nghiên cứu vi khuẩn kháng kháng sinh và sự phổ biến gene kháng kháng sinh ở một số khu nuôi cá tra tại Cần Thơ và Đồng Tháp
nh 3.9: Mòi t±Ăng quan giÿa cỏc thụng sò ch¿t l±ÿng n±òc + tr¿m tớch và (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w