cho đến những tác động do việc kinh doanh cà phê mang lại đối với đời sống nhân công trong các đồn điền.. Còn cà phê robusta thì chỉ thích hợp với loại đất ven biển và vùng đất nơi thấ
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Cây cà phê TRong đồn điền Phủ Quỳ (Nghệ An)
thời thuộc Pháp Bành Thị Thuý Hà (a)
Tóm tắt Trong bài viết này chúng tôi bàn về sự xuất hiện và hiệu quả kinh tế của cây cà phê trong đồn điền Phủ Quỳ thời thuộc Pháp: từ nguồn gốc, đặc trưng của cây cà phê, cách trồng trọt, chăm sóc và phương thức kinh doanh cho đến những tác
động do việc kinh doanh cà phê mang lại đối với đời sống nhân công trong các đồn
điền Qua đó thấy được tầm quan trọng của cây cà phê trong kinh tế nông nghiệp ở Phủ Quỳ
ghệ An là một tỉnh thuộc miền
Bắc Trung Kì có diện tích
khoảng 16.057 km2, trong đó diện tích
đất nông nghiệp chiếm khoảng 1/3, dân
cư khá đông, chủ yếu sống bằng nghề
nông nghiệp Ngay sau khi Nghệ An bị
thực dân Pháp đánh chiếm và bình
định, theo chân các nhà truyền giáo, các
nhà thực dân, các nhà khai mỏ người
Âu đã thăm dò mọi vùng đất trong tỉnh
và phát hiện ra vùng đất Phủ Quỳ: “Lúc
bấy giờ Phủ Quỳ còn là vùng đất hoang
sơ, có rừng cây bao phủ, có những đàn
voi lượn quanh, giữa những mô đất
thấp thương thường ngập nước và trên
tầng đất đỏ có phủ một lớp phù sa” [3,
tr.13]
Đất Phủ Quỳ là thứ đất tốt nhất ở
Đông Dương Đó là loại đất đỏ Ba gian
(còn có tên gọi khác là huyền vũ nham)
phát sinh từ sự phun trào của các ngọn
núi lửa hoạt động cách đây khoảng một
triệu năm Đó là các miệng núi lửa Hòn
Đồi ở Đông Hiếu và Núi én, Cát Mộng ở
Tây Hiếu thuộc huyện Nghĩa Đàn ngày
nay Loại đất này rất phù hợp cho việc
phát triển cây công nghiệp như cây cà
phê, cây cao su, cây trẩu, cây gai
Trong đó đặc biệt đáng chú ý tới là cây
cà phê, loại cây thích hợp nhất với chất
đất và điều kiện khí hậu ở Phủ Quỳ Nghiên cứu thấy được ưu thế đó, nên ngay từ năm 1910 người Pháp đã đến
đây và thành lập những đồn điền cà phê đầu tiên Trước khi phát hiện ra vùng Kon Tum, Đồng Nai Thượng, người Pháp cho rằng: "Phủ Quỳ có thể trở thành nơi có nhiều đồn điền lớn nhất về cà phê ở Đông Dương" [3, tr.1] Vì thế mà cho đến năm 1928, vùng đất Phủ Quỳ đã có hơn 10 đồn điền lớn của người Pháp, trong đó chủ yếu trồng cà phê Một trong những chủ đồn điền có
số lượng đồn điền nhiều nhất và lớn nhất ở khu vực Phủ Quỳ thời kì này là
ông Walther Với tổng diện tích đồn
điền của ông là 6300 ha thì "có hơn 400
ha dùng vào việc chuyên trồng cây cà phê Trong đó, có 2 triệu cây cà phê non trong vườn ươm, 17.000 gốc cây cà phê
đang ra quả, 6.000 gốc cây được trồng hai năm, 145.000 gốc một năm" [3, tr.24] Cùng với người Pháp, một số người Việt cũng tham gia chiếm đất lập
đồn điền Trong việc kinh doanh ở đồn
điền, họ cũng học theo người Pháp Tuy nhiên “trong số diện tích 13.000 ha đất
đỏ của Phủ Quì có thì người ta mới chỉ trồng trọt được 3.200 ha và diện tích trồng cà phê là 750 ha” [1, tr.15]
Nhận bài ngày 23/5/2006 Sửa chữa xong 08/01/2007
N
Trang 2Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
1 Nguồn gốc và đặc trưng của
cây cà phê
Cây cà phê không phải là loại cây
bản địa mà được mang từ bên ngoài
vào: “Đầu tiên cây cà phê được đem vào
Bắc Kì, theo chân bọn thực dân đánh
chiếm Bắc Kì, các cố đạo truyền giáo đã
mang vào đây một số cây cà phê nhưng
cho tới năm 1888 việc trồng cà phê
mới thực sự bắt đầu” [7, tr.1] Từ miền
Bắc, diện tích trồng cà phê ngày càng
được mở rộng, dần dần lan tới miền
Trung kì Những tỉnh ở Trung kì có
diện tích trồng cà phê rộng lớn như tỉnh
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị và các cao nguyên ở
Kon Tum, Đắc Lắc, Đồng Nai Thượng
Riêng ở Nghệ An “những đồn điền cà
phê trồng trong vùng Phủ Quỳ, huyện
Nghĩa Hưng, ở dọc con đường từ Vinh
đi Phủ Quỳ, rồi ở miền Thượng lưu Phủ
Quỳ, ở dọc bờ sông hữu ngạn của sông
Hiếu và trên hai bên đường đi từ Phủ
Quỳ đến Đô Lương Tất cả các đồn điền
đó là đất đỏ ba gian, được xếp vào loại
đất tốt nhất Đông Dương” [7, tr.25]
Qua nghiên cứu người Pháp thấy rằng,
đặc điểm nổi rõ của cây cà phê là nó
thích hợp với những vùng đất đỏ và khí
hậu nhiệt đới Chính đặc điểm này có
thể giúp cây cà phê nhất là loại arabica
tránh được bệnh sâu nấm hồng, phát
triển tốt và đem lại hiệu quả lớn trong
việc kinh doanh Tuy vậy, yếu tố khí
hậu đáng sợ ở đây có thể gây nguy hiểm
cho việc trồng cà phê là bão và gió Lào
thường hay xảy ra Đây cũng là vùng
mà ánh sáng mặt trời chiếu mạnh, vì
vậy các chủ đồn điền phải áp dụng kĩ
thuật thích ứng để giữ ẩm cho đất và bảo vệ cây cà phê khỏi bị nắng quá Chẳng hạn như việc trồng xen các loại cây bóng mát như: cây catxia, cây trẩu, rồi các loại cây họ đậu, cây xấu hổ để vừa làm phân bón vừa giữ ẩm, đó là việc làm hữu dụng và hết sức cần thiết Trong ba loại cà phê có ở Trung kì thì "ở Phủ Quỳ có hai loại cây cà phê được trồng nhiều hơn cả, đó là cà phê arabica
và cà phê exensa" [7, tr.14] Còn cà phê robusta thì chỉ thích hợp với loại đất ven biển và vùng đất nơi thấp, mặt khác loại cà phê này chất lượng không bằng hai loại trên nên trong các đồn
điền ở Phủ Quỳ, hầu như người ta không kinh doanh loại này
Cà phê arabica là loại cây được trồng phổ biến nhất ở Phủ Quỳ, song năng suất thu hoạch phụ thuộc nhiều vào khí hậu Giống này thường bị sâu nấm hồng (bore) đục thân, đục cành tàn phá Nhưng như trên đã nói, nhờ đất
đai ở đây rất tốt nên cà phê arabica có thể tránh được bệnh sâu nấm hồng và phát triển khoẻ khoắn Trong thực tế loại cà phê này đã đem lại hiệu quả cao khi trồng ở vùng đất Phủ Quỳ Cà phê arabica thường ra hoa vào các tháng 2,
3, 4 Trong thời gian nắng nóng và có nhiều trận mưa lớn cà phê thường chậm phát triển nhưng đã có hạt và có thể thu hoạch từ tháng 10 đến tháng ba năm sau Trong thời gian đầu mới trồng, việc chăm sóc và bón phân cho cây phải thực sự kĩ lưỡng, thường xuyên, bởi nó là loại kén chọn đất đai, hơn nữa ánh nắng gay gắt của mặt trời cũng dễ làm cho cây con bị chết Năng
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
suất trung bình của các vụ thu hoạch ở
những đồn điền trưởng thành (từ 9 đến
10 năm) khoảng 600 đến 700 kg/ha
Cà phê exensa là loại cây cà phê có
rễ khoẻ, thân cây chắc, không kén chọn
đất đai như cà phê arabica, thậm chí có
thể trồng trên loại đất không tốt mấy
và ít bị sâu nấm hồng phá hoại Chính
vì thế mà ở Phủ Quỳ, bên cạnh cây cà
phê arabica người ta thường để một
khoảnh nhỏ trồng cà phê exensa phòng
tránh những may rủi của một nền độc
canh ở mỗi đồn điền, “mật độ trồng cây
cà phê exensa là 400 gốc/ha, trong khi
đó cà phê arabica có mật độ từ 1.100
đến 1.300 gốc/ha Năng suất thực tế cà
phê thu hoạch được trên một héc ta là từ
320 đến 400 kg Chất lượng quả cà phê
loại này kém cà phê arabica 20%” [3,
tr.6] Cà phê exensa thường ra quả ở
năm thứ năm sau khi trồng và thu
hoạch từ tháng 6 đến tháng 9
2 Việc trồng trọt và kinh
doanh cà phê
Trước khi người Pháp đến ở Phủ
Quỳ, nó vốn dĩ là vùng đất còn hoang
sơ, rừng rậm Để có thể trồng trọt được
người ta phải làm những công việc khá
tỉ mỉ và rất vất vả
Đầu tiên là vấn đề khai hoang,
công việc này được tiến hành theo một
trình tự nhất định: chặt cây, phát
quang bụi rậm, xếp gỗ thành đống và
đốn củi, đào gốc, đốt rễ cây, cày bừa
chéo hai lần trên đám đất được khai
phá Tiếp đó là công việc làm hai đường
đi giao nhau giữa đồn điền để điền chủ
đi thăm cơ sở đồn điền bằng ô tô và việc
chuyên chở phân bón cũng như chở cà
phê sau khi thu hoạch xong được dễ
dàng Ngoài ra trong khu vực đồn điền, người ta còn chia đồn điền thành những khu đất nhỏ, mỗi khu đất có diện tích khoảng 2 héc ta trồng cà phê Việc làm
ấy nhằm "tổ chức lao động được dễ dàng và giúp cho các nữ nhân công hái quả cà phê không bao giờ phải đi quá
50 mét để trút sọt cà phê lên xe ô tô chở hàng hay xe bò” [3, tr.18]
Để thực hiện việc khai hoang đạt kết quả tốt các điền chủ thấy rằng việc thuê nhân công lao động là cần thiết, bởi theo tính toán khoa học của họ thì những phương pháp khai hoang khác như: sử dụng chất hoá học để tiêu huỷ cây hoặc dùng máy móc đều không đem lại hiệu quả tốt, chi phí lại tốn kém và bất tiện Việc sử dụng chất hoá học như clorat de potasse, sun phát đồng hoặc muối đôi khi không làm cho cây dại chết hẳn Còn máy đào gốc cây thì dùng “loại
có cần kiểu Monkey mà ông Walther - một chủ đồn điền lớn ở vùng Phủ Quỳ hồi đầu thế kỉ trước đã có - muốn sử dụng nó phải cần đến 4 người, trong khi
đó để đào một gốc cây chỉ cần sử dụng 2 nhân công lao động là đủ Mặt khác chi phí của loại máy này khá đắt đỏ: “để mua được một chiếc máy này phải mất
500 đồng” [4, tr.20] Người ta cũng thử dùng loại máy đào gốc sử dụng sức kéo của súc vật nhưng loại này thường mất thời gian, dây cáp nặng, khó điều khiển Vì thế, việc sử dụng nhân công lao động trong việc khai hoang vẫn là biện pháp tốt nhất mà các chủ đồn điền quan tâm Thấy được việc thuê nhân công lao động là cần thiết nên họ cũng tính toán đến việc thuê người An Nam (người Kinh) hay người Mường (dân tộc
Trang 4Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Thổ) trong từng công việc cụ thể để
giảm bớt chi phí không đáng có: “Đối với
việc thuê người Mường, khai phá mỗi
héc ta đất chỉ mất 15 đồng còn người
Việt làm phải mất từ 20 đến 25 đồng”
[4, tr.15] Riêng việc xới đất người ta
còn phải sử dụng thêm sức kéo của trâu
bò cùng với những công cụ cày bừa cải
tiến để san bằng đất, đào xới kĩ càng
Công việc khai hoang ở Phủ Quì được
tiến hành trong một thời gian nhất
định, bắt đầu từ tháng 11 và hoàn
thành vào tháng 7 năm sau, nghĩa là
phải làm xong đất trước khi mùa mưa
tới "Tính toàn bộ chi phí cho việc khai
hoang, từ công việc phát bụi rậm cho
đến công việc cuối cùng là xới đất phải
mất hết 300 đồng" [4, tr.26] Đó là một
cái giá cao trong thời điểm bấy giờ,
nhưng so với năng suất và giá trị của
cây cà phê đem lại thì không đáng kể
Về đất sau khi được khai hoang
nhưng chưa trồng cây- được dự tính sẽ
kinh doanh - lên đó, người ta có thể bảo
vệ đất bằng cách: sau khi mỗi héc ta đất
được khai hoang xong thì trồng lên đó
các loại cây họ đậu, đặc biệt là cây xấu
hổ (mimosa) Bởi vì loại cây này thường
mọc nhanh, phủ kín hoàn toàn mặt đất
và ngăn cản các loại cỏ hoang các chồi
rễ của cây cũ không thể mọc lên Do
điều kiện khí hậu ở vùng Phủ Quỳ thất
thường (hay có gió Lào, bão và mưa lớn)
nên không thể gieo hạt cà phê trực tiếp
xuống khu đất đồn điền như ở Brazin
hay ở một vài nơi khác Trước khi tiến
hành trồng cà phê, người ta tiến hành
gieo hạt ở một khoảng đất riêng có đủ
độ ẩm, ánh sáng và không khí tốt nhất
để hạt nảy mầm Hạt sau khi được gieo
xuống đất phải được phủ một lớp rơm, rạ khô, cho đến khi hạt nảy mầm, cây con được hai lá, người ta bứng nó vào vườn ươm (bấy giờ là những căn nhà lá) trồng cách nhau 15cm cho cây tiếp tục phát triển Cùng lúc đó, ở khu đất đồn
điền, cây xấu hổ hoặc các loại cây họ
đậu đã được trồng đã bảo vệ đất khỏi bị xói mòn, phải được loại bỏ và đốt ngay tại chỗ Chỉ đến khi cây cà phê con cứng cáp và được đem ra trồng chính thức trong các đồn điền thì cây xấu hổ và các loại cỏ hoang khác mới được trồng lại xung quanh gốc để tiếp tục làm công việc che chở cho rễ cây cà phê con ấy Cây cà phê được trồng cách đều nhau 3m, hàng cây cách nhau 2m, mỗi héc ta có 1285 gốc Trong những quãng
đường cách nhau như thế, người ta trồng những giống cây họ đậu, cây trẩu, cây tử đinh hương, cây catxia để “giữ
đạm của khí trời và làm đất thêm màu mỡ” [3, tr.21] Bên cạnh đó, công việc bón phân cho cây là một trong những công việc quan trọng để đem lại hiệu quả cao Trong các đồn điền hầu như người ta ít khi sử dụng loại phân hoá học mà chủ yếu là phân chuồng kết hợp với phân xanh, có thể thấy rõ điều đó qua việc mô tả của các nhà canh nông:
“Cứ hai năm một lần, mỗi héc ta bón từ
13 đến 16 tấn phân chuồng hoà với phân xanh, tổng cộng mỗi cây cà phê bón từ 20 đến 25 kg Hàng năm, mỗi gốc cây bón 100 gram phân hoá học gồm có 7% adôt cộng với 7% pôtát” [7, tr.27] Sau mỗi vụ thu hoạch quả cà phê, các đồn điền ở vùng này đều sử dụng máy nghiền riêng để bỏ vỏ, còn hạt thì
được các xe-ca-mi-nhông chở đến Trạm
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
Lụi Đồn điền Trạm Lụi là một trong
những đồn điền của điền chủ Walther,
là trung tâm chế biến cà phê duy nhất ở
Phủ Quỳ thời kì này Tại cơ sở đó, cà
phê được sơ chế qua nhiều công đoạn
bởi một hệ thống máy móc: máy nghiền,
máy xay, máy lựa chọn nhân (mỗi ngày
có thể chọn 1500 kilô cà phê), máy sấy
điện Trải qua các công đoạn đó, cà phê
được đóng bao cẩn thận và được chở về
cảng Bến Thuỷ Từ Bến Thuỷ, cà phê
được chở ra cảng Hải Phòng và được xuất khẩu ra thị trường chính là nước Pháp và một số nước khác trong khu vực Giá thành của cà phê được vận chuyển ra bến Hải Phòng hay sang thành phố Havrơ (Pháp), kể cả chi phí
đài tải, bảo hiểm và chi phí cho việc bán, tính bằng đồng bạc Đông Dương
được ghi trong bảng 1:
Bảng 1
Tuổi của đồn điền năm thứ
Hải Phòng 1đ,31 1,04 0,90 0,80 0,74 0,72
Số vốn có lãi 8%
Havrơ 1,46 1,19 1,05 0,95 0,89 0,87 Hải Phòng 0,85 0,68 0,59 0,53 0,50 0,48
Số vốn không có lãi
Havrơ 1,00 0,83 0,74 0,68 0,65 0,63 Nguồn [7, tr.33]
Giá cà phê lên xuống theo thị
trường và nằm ở mức trung bình là 1
đồng Đông Dương/1kg Như vậy, đối
chiếu với năng suất thu hoạch trung
bình của từng loại cà phê chúng ta có
thể tính được mức trung bình chung
sản lượng cà phê thu hoạch được trên
một héc ta là 500 kg, điều đó cũng đồng
nghĩa là trên mỗi héc ta như thế người
ta có thể thu hoạch được 500 đồng Một
đồn điền rộng lớn với hàng trăm héc ta
cà phê, trừ các khoản chi phí từ việc
mua đất cho đến công việc trả tiền
lương khoảng 400 đồng thì số tiền lãi
mà các điền chủ thu được rất lớn Trong
khi đó trên thị trường quốc tế, cà phê
Phủ Quỳ rất có uy tín bởi chất lượng
của nó và được khách hàng rất ưa thích
Chính các nhà canh nông người Pháp
cho biết rằng “Trong bất kì hoàn cảnh
nào, tại thị trường Pháp, cà phê Phủ Quỳ cũng có thể cạnh tranh với các loại
cà phê của Brazin” [7, tr.21] Điều đó chứng tỏ việc kinh doanh cà phê trong các đồn điền ở Phủ Quỳ rất có tương lai Vì thế mà ở Phủ Quỳ, nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất trở đi càng có nhiều nhà thực dân bao gồm các cá nhân cũng như các công ty bỏ vốn lập
đồn điền cà phê Đáng chú ý nhất là công ty lâm sản và diêm Đông Dương, trụ sở đóng ở tại Bến Thuỷ Công ty này
có những đồn điền lớn ở Phủ Quỳ như
đồn điền Rạch, đồn điền Cát Mộng Từ sau khủng hoảng kinh tế thế giới 1933, công ty này đã bỏ ra một số vốn khổng
lồ để mua lại hầu hết các đồn điền cà phê lớn ở vùng này và tiếp tục kinh doanh
Trang 6Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
3 Tác động của việc kinh
doanh cà phê đối với đời sống của
nhân công trong các đồn điền
Việc hàng loạt các đồn điền cà
phê lớn được thiết lập ở Phủ Quỳ trong
thời gian từ năm 1910 cho đến năm
1945 đã thu hút một lực lượng nhân
công đông đảo ở khắp mọi nơi đến đây
làm việc
Trước hết là bộ phận người Mường
và người Kinh sinh sống ở trong khu
vực, họ tranh thủ lúc thời vụ nông nhàn
vào các đồn điền làm việc để có thêm
thu nhập Đông đảo nhất là lực lượng
nông dân của các huyện đồng bằng
trong tỉnh như Diễn Châu, Yên Thành,
Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn :
“Những người đáng thương ở các đồng
bằng gần Phủ Diễn hình như nhân dịp
này để kiếm tiền lương từ 30 đến 40 xu
mà không phải xa hẳn quê hương bản
quán” [3, tr.22] Bên cạnh đó, một bộ
phận không nhỏ người thuộc các tỉnh
phía Bắc như: Thanh Hoá, Ninh Bình,
Nam Định, Thái Bình cũng có mặt ở
vùng đất này Họ đều là những người
nông dân nghèo khổ bị thực dân, phong
kiến tước đoạt hết ruộng đất, không còn
chút đất đai nào để làm ăn sinh sống,
buộc phải rời bỏ quê hương bản quán
tha phương khắp xứ Thông qua lực
lượng mộ phu, họ đến vùng Phủ Quỳ
làm ăn và trông chờ sự đổi đời từ các
công việc lao động trong các đồn điền
mang lại Bên cạnh các lao động công
nhật, làm theo mùa vụ, một số công
nhân đã ở lại trong các lán trại của các
đồn điền cà phê và dần dần trở thành
đội ngũ công nhân nông nghiệp Như
vậy, tác động tích cực trước mắt của các
đồn điền cà phê đem lại là đã giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn người nông dân nghèo khổ, thất nghiệp trong tỉnh cũng như ngoại tỉnh vào làm việc trong các đồn điền "Đến năm 1936
đội ngũ nhân công làm trong các đồn
điền ở Phủ Quỳ lên tới khoảng 3000 người" [1, tr.19] Tuy nhiên để kiếm
được miếng cơm manh áo, người lao
động làm thuê trong các đồn điền phải
đổi lại những gì?
Với hàng loạt công việc nặng nhọc
từ khai hoang cho đến việc trồng trọt chăm sóc và thu hoạch cà phê nhưng người công nhân chỉ nhận được đồng lương rất ít ỏi Trung bình "mỗi người
đàn ông được nhận từ 0,35 đồng cho
đến 0,40 đồng, còn đàn bà từ 0,20 đồng cho đến 0,25 đồng mỗi ngày" [7, tr.32]
Đối với người làm thuê theo chế độ nhận khoán, công việc làm theo chế độ nhận khoán là tu bổ đường sá, đào hố trồng cây được trả 0,02 đồng mỗi ngày/ người Công việc hái quả cà phê được trả tuỳ theo mức độ khó khăn: "từ 0,015
đến 0,02 đồng/ 1kilô, rồi đến 0,03 đồng cho đợt đầu hái, 0,01 đồng 1 kilô vào cuối đợt hái" [5, tr.33] Trong khi đó các
đốc công người Pháp, quản lí người Nhật chỉ với công việc nhàn hạ là quản
lí nhân công và đốc thúc các nhân công làm việc, sinh hoạt trong điều kiện đảm bảo, mức lương mỗi tháng đến 120
đồng, các ông kí người Việt thu nhập mỗi tháng cũng có tới 50 đồng, còn thu nhập bình quân của mỗi chủ đồn điền khoảng từ 300 đến 400 đồng một tháng Trong khi đó, điều kiện ăn ở, sinh hoạt của nhân công trong các đồn điền
cà phê cũng không được đảm bảo như
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
trong một số văn bản nghị định mà
chính quyền thực dân đưa ra: "chủ phải
phát thịt và rau tươi sao cho đủ 3200
ca-lo mỗi ngày, phải tổ chức phát thuốc
và y tế cho công nhân đồn điền " [6,
tr.151] Họ làm việc dưới sự điều khiển
của những tên cai cực kỳ gian ác,
thường xuyên bị những tên cai này
đánh đập như tên cai Hoài ở đồn điền
Rạch, tên cai Thơ, đốc công Ba-Xuy ở
đồn điền Tiên Sinh, tên Darmong ở đồn
điền Trạm Lụi Công nhân phải làm
việc ngày hơn 10 tiếng đồng hồ, việc ăn
ở, lao động trong điều kiện hết sức khổ
cực Họ phải ở trong những gian nhà lá
hết sức chật chội, xung quanh chiếc
giường nhỏ là bi-đông đựng nước, nồi
niêu, quần áo, chăn màn mọi sinh
hoạt của họ sau mỗi ngày làm việc đều
diễn ra ở đó Đối diện với khu nhà ở của
nhân công là những chuồng bò hôi hám
Với điều kiện ăn ở, sinh hoạt như thế
nên: "đồn điền Cát Mộng từ năm 1913
đến năm 1917 có 60 công nhân đã chết
20 người Từ năm 1929 đến năm 1938
đồn điền này không có một bóng dáng
trẻ em" [2, tr.33] Nhân công làm việc
trong các đồn điền hầu như không có
chút thời gian để nghĩ tới việc học hành,
để tiếp xúc hay tham gia sinh hoạt văn
hoá
Chính cuộc sống lao động tồi tàn
như vậy, nên trong lòng mỗi nhân công
luôn ấp ủ một tinh thần đấu tranh để
giải thoát thân phận Vì thế, từ năm
1930 trở đi, trong các đồn điền Phủ Quỳ
đã hình thành một phong trào đấu
tranh khá mạnh mẽ của nhân công góp
phần to lớn làm nên thắng lợi trong
công cuộc đấu tranh giành chính quyền
Tháng Tám năm 1945 ở vùng đất này Các cuộc đấu tranh đó còn có ý nghĩa hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh chung để giành chính quyền ở tỉnh Nghệ An
4 Kết luận
Có thể nói rằng người Pháp đã đặt chân đến vùng Phủ Quỳ từ rất sớm để khai thác đất đai, lập nên những đồn
điền cà phê rộng lớn ở đây Điều đó cho chúng ta thấy tiềm năng đất đỏ trong việc trồng các loại cây công nghiệp, nhất là cây cà phê đem lại nguồn lợi rất lớn trong kinh tế Qua đó có thể học hỏi những kinh nghiệm trồng trọt cà phê,
kĩ thuật chăm sóc cà phê, bảo vệ đất đai cũng như việc kinh doanh cà phê kết hợp với chăn nuôi gia súc lớn để thu
được kết quả như mong muốn
Cà phê Phủ Quỳ một thời được nhân dân trong nước và nước ngoài rất
ưa chuộng Điều đó đã khẳng định vị trí, chất lượng của nó trên thị trường, nhưng hiện nay điều đó dường như không còn nữa, ngay cả nhân dân trong tỉnh Nghệ An, người ta thậm chí cảm thấy lạ lẫm khi nhắc tới tên Phủ Quỳ Việc kinh doanh cà phê trong các
đồn điền ở Phủ Quỳ với lối kinh doanh tư bản dựa trên lao động của người bản
xứ đã có những tác động hai mặt đến tình hình kinh tế - xã hội nơi đây Tuy vậy, lực lượng lao động trong các đồn
điền cà phê vẫn phải chịu nhiều tác
động thiệt thòi nhất Vấn đề chế độ dành cho nhân công làm việc trong các
đồn điền là một trong những vấn đề quan trọng nhất khiến cho việc kinh doanh cà phê trong các đồn điền phải
Trang 8Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 2b-2007
dừng lại Từ đó chúng ta rút ra bài học
cho việc làm kinh tế hiện nay
Đồn điền cà phê Phủ Quỳ đã đi vào
lịch sử, đã đi vào kí ức của mỗi người
dân nơi đây Nhắc lại nó là chỉ để cho
con người sống ngày hôm nay không
được quên quá khứ, để có thể cùng nhau xây dựng một Phủ Quỳ trở nên trù phú
Tài liệu tham khảo
[1] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn, sơ thảo, tập 1(1930-1945), NXB Khí tượng thuỷ văn Hà Nội, 1990
[2] Liên hiệp công đoàn Nghệ Tĩnh, Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Nghệ Tĩnh 1885- 1945, NXB Lao động, Hà Nội, 1987
[3] H Cusơrutsê, Trong những vùng đất đỏ ở miền Bắc Trung kì, Tập san chấn hưng kinh tế Đông Dương, Số 534, 1928
[4] G.M Castagnol, Báo cáo về việc khai hoang ở miền Bắc Trung kì, Tập san Chấn hưng kinh tế Đông Dương (B.E.I), trang 212B-216B, số 424,1930
[5] Yvơ Henry, Kinh tế nông nghiệp Đông Dương, Bản dịch của Hoàng Đình Bình, tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Hà Nội,
1932
[6] Trần Văn Giàu, Giai cấp công nhân Việt Nam- sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình, NXB Sự thật, Hà Nội, 1957 [7] Phạm Mạnh Phan (dịch), Tài liệu về cây cà phê Phủ Quỳ, Lưu trữ tại thư viện tỉnh Nghệ An, Kí hiệu NA 401
Summary
The Shrub plantation in Phu Quy (Nghe An) under French
colony
In this article we present the appearance and economic benefits of the shrub plantation in Phu Quy (Nghe An) during the French domination time such as the sources, specific feattures, cultivation and business method as well as the effects made by coffee trade on living condition of man power at this plantation It can be concluded from the serearch that the shrub has an important role in agricutural economy of Phu Quy
(a) Cao học 12 Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Vinh