Hội đồng xác nhận rằng USDOC đã tuân thủ đúng quy định; xác định đúng các chương trình trợ cấp có tính riêng biệt, nhất quán với Điều 2.1c của Hiệp định SCM không vi phạm các nghĩa vụ củ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-
-BÀI TẬP NHÓM MÔN: PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI 5: Phân tích và bình luận một vụ tranh chấp của WTO liên quan đến Điều 2.1 của Hiệp định SCM
Trang 2Nhóm: 06 Lớp: 4725-N02.TL02
1 Kế hoạch làm việc của nhóm: Nhóm trưởng phân chia nội dung công việc cho các thành
viên theo các yêu cầu của đề bài tập nhóm và tập hợp bài làm của các thành viên thành một
bài hoàn chỉnh, từ đó triển khai làm slide và thuyết trình.
2 Phân chia công việc và họp nhóm:
Đánh giá của SV
SV ký tên Đánh giá của giáo viên
số
Điểm chữ
GV ký tên
1 472523 Nguyễn Đức Thái X
2 472511 Trần Thị Thu Thảo X
3 472543 Nguyễn Lâm Thành X
4 472541 Trịnh Hương Thảo X
5 472520 Nguyễn Khánh Thiện X
6 472566 Bùi Thu Thủy X
7 472525 Vũ Thị Tú Trang X
- Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2024
+ Giáo viên chấm thứ nhất: TRƯỞNG NHÓM
+ Giáo viên chấm thứ hai:
- Kết quả điếm thuyết trình
- Giáo viên cho điểm thuyết trình: Nguyễn Lâm Thành
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
I Tóm tắt tranh chấp 1
II Tóm tắt lập luận của các bên và cơ quan giải quyết tranh chấp 3
2.1 Lập luận của nguyên đơn 3
2.2 Lập luận của bị đơn 4
2.3 Lập luận của cơ quan giải quyết tranh chấp 6
III Đánh giá, bình luận của nhóm 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SCM Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng
DSB Dispute Settlement Body – Cơ quan giải quyết tranh chấp
USDOC Bộ Thương mại Hoa Kỳ
USITC Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ
GOI Chính phủ Indonesia
POI Giai đoạn điều tra
APP/SMG Asia Pulp and Paper/Sinar Mas Group - Công ty bột giấy và giấy
Châu Á, Sinar Mas Group IBRA Cơ quan quản lý việc tái cơ cấu khu vực tài chính Indonesia
PPAS Chương trình bán tài sản chiến lược
I Tóm tắt tranh chấp
● Tiêu đề: Tranh chấp DS491 - Hoa Kỳ áp đặt các biện pháp chống bán
phá giá và chống trợ cấp đối với một số loại giấy tráng phủ của Indonesia
● Nguyên đơn: Indonesia.
● Bị đơn: Hoa Kỳ.
● Cơ quan giải quyết tranh chấp: Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ
chức Thương mại quốc tế (DSB)
● Sự kiện pháp lý:
- Ngày 01 tháng 06 năm 2015, Indonesia khởi kiện Hoa Kỳ tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), với những khiếu nại chính được đưa ra, bao gồm:
+ Hoa Kỳ không sử dụng giá trong nước của Indonesia để tính toán lợi ích trợ cấp
Trang 5+ Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) sử dụng các suy luận bất lợi để đưa ra kết luận rằng các chương trình trợ cấp của Indonesia có tính riêng biệt
+ Bên cạnh đó, Indonesia phản đối việc Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) không phân tích đầy đủ các yếu tố khác gây thiệt hại cho ngành công nghiệp Hoa Kỳ dựa trên giả định không có cơ sở để xác định mối
đe dọa lợi ích
+ Indonesia chỉ trích Điều khoản "phiếu hòa" trong luật pháp Hoa Kỳ, cho rằng nó có thể gây ra sự miễn trừ không hợp lý đối với các biện pháp thương mại bị cáo buộc là vi phạm các quy định của WTO
- Ngày 28 tháng 09 năm 2015, Ban hội thẩm của WTO được thành lập
để xem xét tranh chấp này
- Ngày 12 tháng 03 năm 2018, Ban hội thẩm công bố báo cáo sơ bộ Hội đồng xác nhận rằng USDOC đã tuân thủ đúng quy định; xác định đúng các chương trình trợ cấp có tính riêng biệt, nhất quán với Điều 2.1(c) của Hiệp định SCM không vi phạm các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo các hiệp định WTO
- Ngày 07 tháng 06 năm 2018, Ban hội thẩm công bố báo cáo cuối cùng Tranh chấp kết thúc mà không có hậu quả pháp lý đáng kể đối với Hoa Kỳ
● Vấn đề pháp lý:
- Liệu các hành vi trên thực tế của Indonesia có cấu thành các khoản trợ cấp và mang tính riêng biệt nhất định theo Điều 2.1 Hiệp định SCM không?
● Luật áp dụng:
- Điều 2.1, Điều 2.1(c), Điều 12.7 và Điều 14 của Hiệp định về trợ cấp
và biện pháp đối kháng SCM
- Điều 3.5, Điều 3.7 và Điều 3.8 của Hiệp định chống bán phá giá
- Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994
Trang 6II Tóm tắt lập luận của các bên và cơ quan giải quyết tranh chấp
2.1 Lập luận của nguyên đơn
2.1.1 Tính riêng biệt của khoản trợ cấp theo Điều 2.1(c) Hiệp định SCM
Về vấn đề cung cấp gỗ làm nguyên liệu
Trước hết, tất cả các loại gỗ được điều tra đều được trồng bởi những nhà cung cấp có giấy phép tại đồn điền Tiếp theo, những nhà cung cấp này có nghĩa vụ ràng buộc, trong đó có việc trả phí thuê đất cho GOI và GOI có lợi ích trực tiếp từ khoản thu này Quan trọng nhất, APP mua gỗ nguyên liệu từ nhà cung cấp, tức không có sự tham gia của GOI trong khâu cung cấp gỗ nguyên liệu, GOI cũng không có hành vi cung cấp gỗ trên thực tế Từ đó, phía nguyên đơn cho rằng đây không nên được coi là một khoản trợ cấp của chính phủ do chưa có hành động tạo thành lợi ích cho doanh nghiệp
Về vấn đề cấm xuất khẩu gỗ
Indonesia khẳng định ban hành lệnh cấm xuất khẩu với mục đích chống phá rừng và khai thác gỗ trái phép, đồng thời lệnh cấm vào thời điểm được điều tra không áp dụng với dăm gỗ hay gỗ vụn Phía Hoa Kỳ đã nhầm lẫn rằng lệnh cấm áp dụng với gỗ vụn và gỗ dăm, trong khi phía Indonesia chưa từng cấm xuất khẩu dăm gỗ cũng như đã đưa gỗ vụn ra khỏi lệnh cấm vào năm 20031 Indonesia cũng viện dẫn phán quyết của cơ quan phúc thẩm trong
vụ US - Export restrains để chứng minh rằng lệnh cấm xuất khẩu không phải một hành vi trợ cấp theo hiệp định SCM2 Do đó, phía Indonesia cho rằng USDOC chưa chứng minh được hành vi đó mang lại lợi ích cho một nhóm doanh nghiệp riêng biệt
Đối với vấn đề mua lại nợ
Tất cả các tài liệu thu thập được của USDOC về hành động IBRA bán nợ của APP/SMG cho Orleans cho thấy không có lợi ích được cấu thành cho
1 Đoạn 32, Phụ lục B-3, WT/DS491/R/Add.1.
2 Đoạn 7.154, Mục 7.5.4.3, WT/DS491/R.
Trang 7doanh nghiệp Hành động mua lại nợ thực tế là một hành vi vi phạm pháp luật theo luật của Indonesia
USDOC sử dụng nguồn thông tin không chính xác dựa trên một bài báo của Ngân hàng thế giới để cho rằng chính phủ Indonesia có hành vi trợ cấp thông qua chương trình PPAS Phía Indonesia lập luận rằng báo cáo này chỉ nhắc đến những khoản bán nợ nhỏ, và không được bán trong PPAS bởi IBRA, do đó không đủ điều kiện tạo thành hành vi trợ cấp xóa nợ theo Điều 2.1(c) Tiếp đến, thương vụ mua lại nợ này có nhiều công ty tham gia, do đó không chứng minh được tính riêng biệt đối với công ty cụ thể3 Thực tế USDOC không chứng minh được cả 2 yếu tố này và chỉ dựa vào một hành vi được cho là bất hợp pháp để kết luận khoản trợ cấp riêng biệt đối với sản phẩm giấy tráng là không phù hợp với Điều 2.1 của hiệp định SCM
2.1.2 Đối với vấn đề xác định quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền
Về vấn đề xác định thẩm quyền của chủ thể có hành vi trợ cấp, Indonesia yêu cầu USDOC đưa ra đầy đủ chứng cứ chứng minh GOI cố tình vi phạm luật của mình để xóa nợ cho doanh nghiệp, tạo thành trợ cấp riêng biệt vi phạm Điều 2.1 Kết luận của USDOC về việc xóa nợ dựa chủ yếu vào suy đoán từ báo chí và không xác định rõ cơ quan có thẩm quyền thực hiện vi phạm USDOC đã không đáp ứng yêu cầu của Điều 2.1(c) Thỏa thuận SCM, khi không xác định rõ cơ quan vi phạm và không đủ cơ sở để hỗ trợ kết luận của USDOC
2.2 Lập luận của bị đơn
2.2.1 Tính riêng biệt của khoản trợ cấp cấp theo Điều 2.1(c) SCM
Về vấn đề cung cấp gỗ làm nguyên liệu
Hoa Kỳ cho rằng hành động này là một chương trình trợ cấp đối với một sản phẩm đặc biệt bởi vì USDOC cho rằng: “Việc cung cấp các loại gỗ vụn làm gỗ nguyên liệu mang tính riêng biệt do chỉ có giới hạn một nhóm ngành công nghiệp” Về phía Indonesia không hề phản đối phát hiện về tính riêng
3 Đoạn 7.183, Mục 7.5.4.3, WT/DS491/R.
Trang 8biệt của USDOC, họ giải thích rằng "Trong danh mục các công ty vừa và lớn,
có tổng cộng 23 nhóm ngành công nghiệp riêng biệt", trong đó năm nhóm ngành công nghiệp sử dụng gỗ chiếm khoảng 22 phần trăm số lượng các nhóm ngành công nghiệp Bằng chứng này hỗ trợ cho phát hiện về tính riêng biệt thực tế của USDOC
Về vấn đề cấm xuất khẩu gỗ
Indonesia đã thu được lợi ích từ việc cấm xuất khẩu gỗ là việc cung cấp
gỗ làm nguyên liệu với mức thù lao không thỏa đáng thông qua so sánh với giá mà APP/SMG trả cho gỗ mua từ các công ty khai thác gỗ không giống với mức giá mà họ phải trả trong điều kiện thị trường bình thường4 USDOC phát hiện có sự chênh lệch lớn giữa giá gỗ được trả từ Indonesia và giá mà những người khác mua từ Malaysia phải trả5 Do đó, dữ liệu World Trade Atlas mà USDOC dựa vào không phải là "bất thường" như Indonesia tuyên bố, mà phù hợp với dữ liệu xuất khẩu của Malaysia6 Thêm nữa, USDOC đã phát hiện ra rằng mục đích của lệnh cấm xuất khẩu gỗ nguyên liệu là để phát triển các ngành công nghiệp hạ nguồn, ngay cả khi tác động của lệnh cấm xuất khẩu gỗ
là tăng nguồn cung gỗ trong nước thì vẫn sẽ có khả năng mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp hạ nguồn ở Indonesia.7
Đối với vấn đề mua lại nợ
Các tài liệu và kết quả điều tra cho thấy Indonesia đã biết về mối liên kết giữa APP/SMG và Orleans, cũng như biết rõ về luật pháp của mình cấm việc bán nợ cho các bên liên kết Điều này chứng tỏ Indonesia đã thực hiện một kế hoạch hoặc chương trình để cung cấp một sự đóng góp tài chính, dẫn đến việc trợ cấp dành riêng cho công ty APP/SMG Kết luận của USDOC rằng trợ cấp này chỉ dành cho một công ty cụ thể (APP/SMG) là phù hợp với Điều 2.1(c) của Hiệp định SCM, vì chỉ có công ty này mới đủ điều kiện nhận được khoản trợ cấp tương tự
4 Đoạn 12, Phụ lục B-2, WT/DS491/R/Add.1.
5 Dữ liệu xuất khẩu của Malaysia có sẵn từ World Trade Atlas và do cố vấn của Hoa Kỳ cung cấp.
6 Đoạn 14, Phụ lục B-2, WT/DS491/R/Add.1.
7 Đoạn 18, Phụ lục B-1, WT/DS491/R/Add.1.
Trang 9Đặc biệt, việc mua lại nợ cho thấy rõ ràng rằng chỉ một công ty cụ thể (APP/SMG) mới đủ điều kiện nhận trợ cấp, vì nợ được mua lại bởi một công
ty liên kết Việc mua lại nợ này được xem như là một kế hoạch hoặc chương trình của Indonesia nhằm cung cấp trợ cấp, phù hợp với Điều 2.1 của Hiệp định SCM
2.2.2 Đối với vấn đề xác định quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền
Hoa Kỳ cho rằng một phần quan trọng của việc phân tích tính riêng biệt theo Điều 2.1 là xác định đúng quyền hạn của cơ quan cấp phát8 Tuy nhiên, nếu cơ quan điều tra xác định rõ quyền hạn của cơ quan cấp phát khi phân tích bản chất của đóng góp tài chính, thì kết luận này sẽ đáp ứng yêu cầu theo phần mở đầu của Điều 2.1 mà không cần xác định theo cách cụ thể nào.9
Trong vấn đề cung cấp gỗ nguyên liệu với mức thù lao không thỏa đáng
và lệnh cấm xuất khẩu gỗ, Indonesia cho rằng USDOC đã không xác định cơ quan cấp phát trợ cấp, nhưng chính Indonesia đã thừa nhận trong các văn bản của mình rằng lệnh cấm này được ban hành ở cấp quốc gia Kết luận của USDOC cũng ngầm định rằng cơ quan cấp phát là chính phủ quốc gia của Indonesia, điều này có thể nhận biết được từ các tài liệu cuối cùng
Trong vấn đề mua lại nợ, Indonesia cáo buộc rằng USDOC không xác định rõ cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm xóa nợ Tuy nhiên, USDOC đã phải sử dụng các suy luận bất lợi do Indonesia không cung cấp đủ thông tin cần thiết về các giao dịch bán nợ khác của PPAS USDOC kết luận rằng việc GOI bán nợ của APP/SMG cho Orleans đã tạo ra một đóng góp tài chính dưới hình thức xóa nợ Dù không bắt buộc, USDOC còn xác định rõ IBRA, cơ quan ngân hàng quốc gia của Indonesia, là cơ quan thực hiện việc cấp phát tài chính này
2.3 Lập luận của cơ quan giải quyết tranh chấp
Thứ nhất, các hành vi GOI tạo nên các khoản trợ cấp đe dọa đến ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ.
8 Lập luận cơ quan giải quyết tranh chấp trong vụ án US – Countervailing Measures (China).
9 Đoạn 41, Trang 23, Phụ lục B, WT/DS491/R/Add.1.
Trang 10Tuy các hoạt động cung cấp gỗ nguyên liệu, cấm xuất khẩu gỗ và mua lại nợ của GOI nhắm đến những yếu tố khác nhau nhưng USDOC đã chứng minh được mục đích của những hoạt động này mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp hạ nguồn ở Indonesia Đồng thời, khi tranh luận về cấu thành khoản trợ cấp theo Điều 1.1(a) Hiệp định SCM, GOI chưa đưa ra bất cứ khiếu nại nào về cấu thành khoản trợ cấp theo Điều 1.1(a) Hiệp định SCM10 Do đó, BHT có lý do để tin rằng các hành động này của GOI cấu thành khoản trợ cấp
và tạo điều kiện cho sản phẩm của các ngành công nghiệp sản xuất giấy tráng
có giá cạnh tranh hơn trong hoạt động xuất khẩu giấy tráng sang Hoa Kỳ, đe dọa ngành sản xuất nội địa
Thứ hai, cho dù bề ngoài không mang tính riêng biệt do kết quả của việc
áp dụng các nguyên tắc nêu tại điểm (a) và (b), nhưng nếu có lý do để tin rằng, trợ cấp đó trên thực tế mang tính riêng biệt, thì có thể xem xét đến các yếu tố khác.
Về vấn đề cung cấp gỗ nguyên liệu, BHT đồng tình với báo cáo của USDOC đã xác định rằng GOI đã cung cấp gỗ cho các nhà sản xuất giấy và bột giấy thông qua việc cấp giấy phép khai thác gỗ từ rừng thuộc quyền sở hữu của GOI để đổi lấy phí khai thác BHT nhận thấy rằng biện pháp này cấu thành sự đóng góp tài chính dưới hình thức cung cấp hàng hóa của chính phủ
và mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất giấy và trên thực tế dựa trên những gì GOI cung cấp.11
Liên quan đến lệnh cấm xuất khẩu gỗ, BHT nhận định thực tế là lệnh cấm xuất khẩu gỗ áp dụng cho tất cả gỗ ở Indonesia và có thể sẽ phải giảm để khớp với giá của chính phủ và sẽ không thể sử dụng làm chuẩn Trong bản báo cáo của USDOC cho thấy giá nhập khẩu gỗ từ Malaysia sang các nước bên cạnh cao hơn so với khi nhập khẩu vào thị trường Indonesia thông qua việc cung cấp gỗ nguyên liệu và gỗ vụn ở mức giá “thấp hơn” cho các ngành sản xuất giấy tráng và bột giấy BHT cũng kết luận phân tích do USDOC thực hiện là đủ để kết luận giá nhập khẩu gỗ bị bóp méo, điều này tạo nên nguồn
10 Đoạn 77, Trang 37, Báo cáo của Ban Hội thẩm WT/DS491/R.
11 Đoạn 7.168, Trang 60-61, Báo cáo của Ban Hội thẩm WT/DS491/R.
Trang 11cung cấp gỗ giá rẻ hơn so với thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất giấy tráng ở Indonesia
Trong vụ việc mua lại nợ, BHT xác định rằng Orleans có liên kết với APP/SMG là một trong những phát hiện làm cơ sở cho kết luận rằng việc bán
nợ của APP/SMG cấu thành một khoản đóng góp tài chính dưới hình thức xóa
nợ Hiệp định SCM BHT cũng đã xác định hành động cụ thể do GOI thực hiện trên thực tế mà được cung cấp bởi USDOC được phát hiện là cấu thành một khoản trợ cấp, dù việc mua bán nợ này là hành vi trợ cấp một lần và không cấu thành một loạt hành động có hệ thống theo đó các khoản đóng góp tài chính mang lại lợi ích được cung cấp, dù đây là một văn bản hay hành động một lần của chính phủ, theo định nghĩa là mang tính riêng biệt12
Thứ ba, việc thực hiện hành vi trợ cấp này phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện một cách tùy tiện hay không tùy tiện khi quyết định trợ cấp.
Để xác định tính “tùy tiện” khi ra quyết định trợ cấp của Indonesia hay không, BHT thấy rằng trong lập luận của mình, Indonesia đã làm rõ ràng yếu
tố thứ nhất của Điều 2.1(c) đòi hỏi phải xác định “chương trình trợ cấp”, nhưng Indonesia lại không chỉ ra rõ ràng rằng liệu để được hưởng về việc được cung cấp gỗ từ GOI, các nhà sản xuất ngành giấy tráng cần được đáp ứng các điều kiện nào Điều này mặc nhiên tạo ra các quyết định mang tính
“tùy tiện” cấp phát trợ cấp cho ngành công nghiệp gỗ nói chung và một số doanh nghiệp trong ngành giấy nói riêng
Indonesia đã lập luận rằng mục đích thiết kế của sắc lệnh này nhằm mang lại lợi ích vì của nó là giải quyết nạn khai thác và phá rừng bất hợp pháp13 Tuy nhiên, qua kết luận điều tra của USDOC và kết luận được BHT rút ra rằng hành vi cấm xuất khẩu gỗ ở Indonesia đã để lại hậu quả làm phá giá trị trường gỗ ở trong nước và gián tiếp tạo ra khoản lợi cho cách ngành gỗ nói riêng và doanh nghiệp sản xuất giấy tráng nói chung khi các doanh nghiệp
12 Đoạn 7.172, Trang 61-62, Báo cáo của Ban Hội thẩm WT/DS491/R.
13 Đoạn 7.154, Trang 57-58, Báo cáo của Ban Hội thẩm WT/DS491/R.