DANH MỤC HÌNH Số hiệu 2.1 Sơ đồ quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 47 2.6 Các nguyên liệu chế tạo biển báo giao thông của học s
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG phphpjpphphphPHOPPPPPHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả nêu trong luận văn là đúng sự thật, nguồn gốc rõ ràng và
được trích dẫn chính xác theo yêu cầu Đề tài “Vận dụng giáo dục STEM
trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3” do chính
chúng tôi nghiên cứu và thực hiện
Đề tài này phù hợp với vị trí việc làm, đơn vị công tác của chúng tôi và trong thực tiễn chưa được triển khai
Hải Phòng, ngày 5 tháng 6 năm 2023
Chúng tôi
Vũ Thị Lệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Quỳnh Phương đã luôn sâu sát chỉ bảo, giúp đỡ, hỗ trợ hết mình để tôi hoàn thành
luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô Trường Đại học Hải Phòng, đặc biệt là khoa Giáo dục Tiểu học và phòng quản lí sau Đại học đã tận tình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh các
trường: Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai và Tiểu học Nguyễn Đức
Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã ủng hộ, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp!
Hải Phòng, ngày 5 tháng 6 năm 2023
Chúng tôi
Vũ Thị Lệ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỦ CÔNG KĨ THUẬT MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 3 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Khái quát về giáo dục STEM 10
1.1.2 Nội dung, chương trình về chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 18
1.1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh lớp 3 có ảnh hưởng đến việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học môn Công Nghệ 20
1.1.4 Một số vấn đề về vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Khái quát về điều tra thực trạng 26
1.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 27
Tiểu kết chương 1……….37
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH VẬN DỤNG GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỦ CÔNG KĨ THUẬT MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 3 39
2.1 Nguyên tắc đề xuất quy trình vận dụng giáo dục STEM 39
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 39
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng của học sinh lớp 3 39
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện và hệ thống 40
Trang 62.1.4 Nguyên tắc phù hợp thực tiễn, điều kiện dạy học 40
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 40
2.2 Thiết kế quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 40
2.2.1 Các bước của quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kỹ thuật môn Công nghệ lớp 3 41
2.2.2 Điều kiện thực hiện quy trình 48
2.3 Thiết kế vận dụng giáo dục Stem trong chủ đề Thủ công – Kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 51
2.3.1 Thiết kế minh họa bài 7: Làm đồ dùng học tập 51
2.3.2 Thiết kế minh họa bài 8: Làm biển báo giao thông 56
2.3.3 Thiết kế minh họa Bài 09- Làm đồ chơi 61
Tiểu kết chương 2……….68
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 70
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 70
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 70
3.1.3 Đối tượng, thời gian và địa điểm thực nghiệm 71
3.1.4 Kế hoạch và phương pháp thực nghiệm 72
3.1.5 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 73
3.2 Kết quả thực nghiệm 74
3.2.1 Kết quả trước thực nghiệm 75
3.2.2 Kết quả sau thực nghiệm 76
3.2.3 Phân tích kết quả định tính……….80
3.3 Kết luận về kết quả thực nghiệm 82
Tiểu kết chương 3……….84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
1.1 Tổng hợp nội dung, chương trình về chủ đề Thủ công kĩ
1.2
Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của vận dụng
giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật
môn Công nghệ lớp 3
28
1.3 Hiểu biết của giáo viên về bản chất của giáo dục STEM 29
1.4
Thực trạng điều tra mức độ vận dụng giáo dục STEM
trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ
lớp 3
30
1.5
Thuận lợi của giáo viên khi vận dụng giáo dục STEM
trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ
lớp 3
32
1.6
Những khó khăn giáo viên gặp phải khi vận dụng giáo
dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn
Công nghệ lớp 3
33
1.7 Tổng hợp ý kiến phản hồi của HS về việc vận dụng
STEM chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 34 3.1 Thông tin đối tượng thực nghiệm và đối chứng 72
3.4 Mức độ hứng thú học tập của HS lớp TN và ĐC sau
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
2.1 Sơ đồ quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học
chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 47
2.6 Các nguyên liệu chế tạo biển báo giao thông của học sinh 59
2.7 Bảng thiết kế đồ chơi là con rối hình người của các em học
2.8 Bảng thiết kế đồ chơi là mô hình ếch săn mồi của các em
2.9 Các nguyên liệu chế tạo đồ chơi là tàu hỏa bằng lỏi giấy vệ
2.10 Học sinh thử nghiệm sản phẩm chơi là con rối hình người
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
3.1 Biểu đồ biểu diễn kết quả đánh giá trước thực nghiệm của
3.2 Biểu đồ biểu diễn số lượng điểm kiểm tra sau thực nghiệm
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 76
3.3 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm
3.4 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm
3.5 Biểu đồ so sánh hứng thú học tập của học sinh lớp thực
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 đã đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng qua đó hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất Một trong những phương pháp dạy học tiên tiến hiện nay đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực theo tinh thần đổi mởi giáo dục là hướng vào giáo dục tích hợp STEM Giáo dục STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho người học kiến thức, kĩ năng liên quan cả khoa học, công nghệ,
kĩ thuật và toán học theo cách tiếp cận liên môn Giáo dục STEM sẽ xây dựng một chương trình học tập dựa trên các ứng dụng thực tế giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày STEM khơi dậy sự sáng tạo, hứng thú của giáo viên và học sinh trong giảng dạy, là phương pháp giáo dục tích hợp liên môn, tích hợp ứng dụng thực tế Nhờ đó mà học sinh có thể học tập, trao dồi kiến thức các bộ môn học Giáo dục STEM giúp người học không bị nhàm chán, củng cố thêm kiến thức cần thiết và trang bị thêm cho người học khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức vào đời sống Đồng thời thông qua giáo dục STEM
đã đề cao giải quyết vấn đề cho người học, học sinh được đóng vai trò chủ động trong mỗi giờ học Các em tự thực hiện, nghiên cứu, áp dụng các phương pháp mới để giải quyết vấn đề
Thực hiên chương trình GDPT 2018, môn Công nghệ là môn học bắt buộc Đây là môn học mới, nội dung giáo dục công nghệ rộng, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực kĩ thuật, công nghệ khác nhau Môn Công nghệ đa dạng về lĩnh vực kĩ thuật, công nghệ cũng mang lại ưu thế của môn học trong việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp trong môn học thông qua các chủ đề Cũng như các môn học khác, việc giáo dục công nghệ đã góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Môn Công nghệ có
Trang 12mối quan hệ với nhiều môn học khác, đặc biệt là với Toán học và Khoa học Cùng với Toán học, Khoa học tự nhiên, môn Công nghệ góp phần thúc đẩy giáo dục STEM có cơ hội ứng dụng rộng rãi và hiệu quả hơn trong thực tiễn giáo dục phổ thông Môn Công nghệ lớp 3 ở cấp tiểu học bước đầu hình thành
và phát triển ở học sinh năng lực công nghệ trên cơ sở các mạch nội dung về công nghệ và đời sống, thủ công kĩ thuật; khơi dậy hứng thú học tập và tìm hiểu công nghệ Học sinh sử dụng được một số sản phẩm công nghệ thông dụng trong gia đình đúng cách, an toàn; thiết kế được sản phẩm thủ công kĩ thuật đơn giản; trao đổi được một số thông tin đơn giản về các sản phẩm công nghệ trong phạm vi gia đình, nhà trường; nhận xét được ở mức độ đơn giản về sản phẩm công nghệ thường gặp; nhận biết được vai trò của công nghệ đối với đời sống trong gia đình, ở nhà trường
Bối cảnh thực tiễn hiện nay, trong chương trình Công Nghệ lớp 3, chủ
đề Thủ công kĩ thuật là chủ đề phản ánh những đặc điểm thuận lợi cho việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học nhất Trong mỗi bài học thuộc chủ
đề, học sinh đều có cơ hội được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa học Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra Do vậy giáo viên khi dạy chương trình Công Nghệ lớp 3, chủ đề Thủ công kĩ thuật thì cần xây dựng bài giảng, dạy học sinh tư duy và tập trung vào các ứng dụng trong thực
tế của việc giải quyết vấn đề kết hợp khéo léo các kiến thức liên môn liên quan đến chủ đề Thủ công kĩ thuật khi giảng dạy Vận dụng giáo dục STEM trong dạy học vai trò vô cùng quan trọng trong hiệu quả dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Tuy nhiên, việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 ở các trường tiểu học hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế như: Nguồn tài liệu tham khảo ít, lúng túng cân đối thời gian
Trang 13trong một tiết học; một số GV chưa nắm vững được kĩ năng, nội dung, quy trình và cách Vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật; nhiều giáo viên ngại đổi mới, cho rằng STEM khó thực hiện, phải chuẩn bị tiết học công phu, cầu kì, các nội dung còn hàn lâm…
Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Vận dụng giáo
dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3”
làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
2 Tỏng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề vận dụng giáo dục STEM trong dạy học nói chung và vận dụng giáo dục STEM trong dạy học môn Công nghệ nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm thực hiện, hiện nay có một số công trình đáng chú
ý như sau:
2.1 Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, đã có một số tác giả nghiên cứu vận dụng phương pháp STEM trong dạy học như sau:
Theo Jonathan Cohen (2010, dịch) “Dạy học khám phá thế giới tự nhiên
qua phương pháp STEM” Tác giả đưa ra khẳng định về việc dạy học sinh
khám phá thế giới tự nhiên bằng phương pháp STEM: Đó là một quá trình các nhà giáo dục tác động sư phạm có chủ ý và có kế hoạch lên học sinh bằng cách gắn các bài giảng và thí nghiệm với khám phá khoa học Phát triển kiến thức, khả năng và thái độ cần thiết để hiểu và điều chỉnh cảm xúc, thiết lập và đạt được mục tiêu đòi hỏi phải dạy học sinh cách quan sát thành công cuộc sống và môi trường tự nhiên Đạt được các mục tiêu mang tính xây dựng, cảm nhận và thể hiện sự đồng cảm với người khác, tạo ra và duy trì các mối quan
hệ mang tính xây dựng và phán đoán đúng đắn [13]
- Smith Ruth (2003, dịch) trong chuyên khảo “Những lợi ích khi Vận
Trang 14dụng phương pháp STEM trong dạy cho học sinh tiểu học” đã bàn luận về vai
trò của phương pháp STEM trong dạy cho học sinh tiểu học Các bài học STEM luôn dựa trên các vấn đề hiện tại Kết quả là học sinh cảm thấy các bài học trở nên hấp dẫn và mang tính cá nhân hơn Có nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, bao gồm cả những lĩnh vực xã hội, văn hóa và nghệ thuật ngoài khoa học Ở đó, học sinh được khuyến khích sử dụng tài năng nghệ thuật và kiến thức nhân văn của mình để tạo ra những điều mới mẻ, đáng giá và có ý nghĩa cho xã hội Tác giả cũng đã gợi ý các hành động để triển khai khái niệm này vào thực tế và sử dụng các kỹ thuật dạy học STEM để giúp học sinh tiểu học xây dựng trường tiểu học chất lượng cao [24]
J Beer David (2008, dịch) Trong “Mô hình dạy học áp dụng phương
pháp STEM” đã nghiên cứu việc áp dụng STEM vào mô hình dạy học 5E:
Gắn kết, Khám phá, Diễn giải, Củng cố, Đánh giá , mô hình này đã học sinh từng bước khám phá kiến thức mới dựa trên các kiến thức đã biết trước đó thông qua hoạt động thực hành và trải nghiệm [11]
2.2 Ở Việt Nam
Trần Phượng Niên (2017), “Áp dụng giáo dục STEM tại hệ thống chương
trình tiểu học”, Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Học viện Giáo dục, Hà Nội [20]
Bằng việc phân tích thực trạng thông qua khảo sát tại hệ thống các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai, Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã xây dựng
cơ sở lý luận cho việc áp dụng giáo dục STEM trong hệ thống chương trình tiểu học Hà Nội và các thành phố khác đã chứng minh sự phù hợp của giáo dục STEM đối với chương trình tiểu học trong việc hỗ trợ học sinh sớm tiếp cận giáo dục trong thời đại mới, phát triển toàn diện về trí tuệ và thể chất Để thực hiện thành công việc tích hợp giáo dục STEM vào hệ thống chương trình tiểu học, tác giả đã đề xuất 6 nhóm biện pháp, trong đó tập trung vào: sáng tạo trải nghiệm giáo dục STEM và soạn giáo án cho từng bài học STEM
Nguyễn Lưu Doanh (2018), “Hướng dẫn cách thiết kế bài giảng STEM gắn
với thực tế”, Giáo trình chuyên Khảo, Khoa Giáo dục, Đại học Sư Phạm Huế.[7]
Trang 15Trong bộ giáo trình chuyên ngành của Khoa Sư phạm, Đại học Sư phạm Huế, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết các bài học STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) với các tình huống thực tế Sự liên kết này cho học sinh thấy được sự liên quan của bài học với cuộc sống của chính các
em, giúp các em hiểu được giá trị của những kiến thức và kỹ năng mà các em đang tiếp thu Ngoài ra, nó khuyến khích sinh học sinh áp dụng các kỹ năng tư duy phản biện của mình để giải quyết các vấn đề thực tế, ngay cả khi họ vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường
Tác giả đi sâu tìm hiểu các thành phần thiết yếu của việc thiết kế bài học STEM, bao gồm 3 hoạt động thực hành chính của học sinh: hoạt động tìm hiểu thực tế và phát hiện vấn đề, hoạt động liên quan đến nghiên cứu kiến thức nền và hoạt động giải quyết vấn đề Những hoạt động này cung cấp cho học sinh cơ hội tham gia tích cực vào quá trình học tập
Sách giáo khoa cũng nêu quy trình 4 bước để thiết kế bài học STEM Các bước bao gồm:
*Chọn chủ đề bài học: Chọn một lĩnh vực học tập hoặc chủ đề cụ thể cho bài học STEM
*Xác định vấn đề cần giải quyết: Xác định rõ vấn đề hoặc thách thức mà học sinh sẽ giải quyết trong bài học
*Phát triển tiêu chí thiết bị/giải pháp vấn đề: Xác định các tiêu chí hoặc giải pháp khả thi mà học sinh sẽ xem xét khi giải quyết vấn đề
*Thiết kế quá trình tổ chức hoạt động dạy học: Lập kế hoạch, cấu trúc các hoạt động dạy học và chiến lược để tạo điều kiện cho học sinh học tập và giải quyết vấn đề
Bằng cách làm theo các bước này, giáo viên có thể thiết kế và thực hiện hiệu quả các bài học STEM thu hút học sinh giải quyết vấn đề thực tế và thúc đẩy sự hiểu biết cũng như áp dụng kiến thức và kỹ năng của họ trong thực tế
Nguyễn Thành Vinh, Trần Trọng Đức (2019), “Môn Công nghệ: Góp phần
thúc đẩy giáo dục STEM ở phổ thông”, Chuyên đề Giáo dục, Khoa Quản lý
Trang 16Giáo dục, Học viện Giáo dục, Hà nội.[20] Các tác giả đã xác định rằng họ sẽ sử dụng phương pháp dạy theo định hướng STEM trong lĩnh vực công nghệ để trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng liên quan đến các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học thông qua một phương pháp liên môn
Phạm Hải Dương, Nguyễn Đăng (2020), “Vận dụng giáo dục stem vào dạy
học môn công nghệ trong trường tiểu học”, Tạp chí Khoa học Và Công Nghệ,
Tập 18, Số 3.[8] Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu dựa trên mục tiêu giáo dục STEM và các tiêu chí của một chủ đề STEM, quy trình tổ chức chủ đề và bài học STEM được thực hiện theo 5 bước trong giáo dục công nghệ ở trường tiểu học Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 25 giáo viên tiểu học của 15 trường tiểu học ở TP Hồ Chí Minh về tình hình dạy môn Công Nghệ
lớ p 3, 4, 5 và sự hiểu biết của giáo viên về STEM trong việc áp dụng vào dạy học cấp tiểu học vào thời gian tháng 7/2019 Theo kết quả khảo sát thực tế, STEM còn mớ i mẻ đối với giáo viên tiểu học cũng như học sinh tiểu học Chỉ khoảng 52% giáo viên biết về giáo dục STEM và 5/13 giáo viên đã có tổ chức hoạt động về STEM cho học sinh tiểu học nhưng chỉ tập trung vào khối 4, 5 Một số ít giáo viên vẫn cho rằng khi nhắc đến hoạt động STEM là phải tổ chức về robotics hay khoa học máy tính và chưa hiểu rõ vai trò của STEM đối vớ i học sinh tiểu học Chính vì vậy, để giáo viên có hiểu biết đúng về giáo dục STEM thì cần có một tài liệu cụ thể về chương trình giáo dục STEM, cách vận dụng giáo dục STEM trong việc dạy học Công nghệ cũng như gợi ý một số mô hình STEM phù hợp với nội dung, mục tiêu dạy học môn Công nghệ ở cấp tiểu học
Như vậy, vận dụng giáo dục STEM trong dạy học có ý nghĩa rất quan trọng nhất là trong dạy học môn Công nghệ Vì vậy, việc nghiên cứu vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 có giá trị cả về lí luận và thực tiễn Vấn đề lý luận về vận dụng giáo dục STEM trong dạy học cho học sinh tiểu học nói chung đã được các công trình nghiên cứu trên quan tâm Tuy nhiên, khía cạnh vận dụng giáo dục STEM
Trang 17trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
Trên cơ sở những kết quả đã nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu cơ sở lý luận, điều tra thực trạng và khảo nghiệm sư phạm về các biện pháp vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 Hi vọng sẽ bổ sung thêm cơ sở khoa học vào các khoảng trống nghiên cứu đã phát hiện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về vận dụng giáo dục STEM trong dạy học tiểu học, đề tài đề xuất các nguyên tắc và quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp
3 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhằm nâng cao kết quả dạy học
môn học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng về vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
- Đề xuất quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
- Thực nghiệm để kiểm định tính khả thi của quy trình đã đề xuất
4 Khách thể - Đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Vận dụng giáo dục STEM trong dạy học cho học sinh tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
5 Giả thuyết khoa học
Vận dụng giáo dục STEM trong dạy học những năm gần đây đã từng bước được quan tâm và đạt được kết quả nhất định Song, còn khá nhiều hạn
Trang 18chế cần khắc phục Nếu đề xuất và áp dụng qy trình giáo dục STEM trong
dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 phù hợp với thực tiễn
dạy học tiểu học hiện nay thì sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy và học chủ đề
Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3, đồng thời nâng cao hứng thú học tập cho học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề
Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 bộ sách Cánh Diều
+ Thời gian sử dụng dữ liệu thu thập: Năm học 2022-2023
+ Đối tượng điều tra: Tiến hành điều tra thực trạng trên đối tượng là
40 GV và 480 học sinh khối 3 tại 2 Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai
và Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
+ Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường Trường tiểu học Đông Hải
1, Quận Hải An, Thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Đề tài sử dụng phương pháp
phân tích - tổng hợp lý thuyết; phân loại - hệ thống hóa lý thuyết và mô hình hóa một số quan điểm lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đề tài điều tra thực trạng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 trên hai nhóm đối tượng là HS lớp 3 và GV tiểu học bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát: Để đánh giá thực trạng và thực nghiệm vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3, đề tài đã thực hiện quan sát một số tiết dạy theo mô hình STEM
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV và HS để thu thập thêm thông tin định tính về vấn đề nghiên cứu Điều này làm cho phân tích định lượng của đề tài trở nên thuyết phục hơn
Trang 19- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm có đối chứng được sử dụng trong dạy học thực nghiệm tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng Mục đích của thực nghiệm là đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc áp dụng giáo dục STEM vào chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
6.3 Phương pháp thống kê: Xử lí số liệu thu được trong đề tài, phục vụ phân
tích kết quả nghiên cứu thực tiễn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vận dụng giáo dục STEM
trong dạy học chủ đề Thủ công kỹ thuật môn Công nghệ lớp 3
Chương 2 Quy trình vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề
Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG
GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỦ CÔNG
KĨ THUẬT MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 3 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát về giáo dục STEM
1.1.1.1 Khái niệm của giáo dục STEM
Theo Hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia Hoa Kỳ (2017):
“Giáo dục STEM là một mô hình giảng dạy liên ngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, ở đó học sinh áp dụng các kiến thức khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán vào trong các bối cảnh cụ thể, giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEM và cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền kinh tế mới”.[35,tr.14]
Từ viết tắt STEM thường được sử dụng khi đề cập đến các chiến lược phát triển của Hoa Kỳ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học Tổ chức Khoa học Hoa Kỳ (NSF) lần đầu tiên đặt ra cụm từ này vào năm 2001 Trước đó, NSF đã sử dụng từ viết tắt SMET vào năm 1990, nhưng
vì thuật ngữ đó có cách phát âm giống như "SMUT" (một từ có ý nghĩa không tích cực) , SMET sau đó được đổi thành STEM
Giáo dục STEM dựa trên khái niệm trang bị cho học sinh kiến thức và
kỹ năng liên quan đến các chủ đề sau: Khoa học (Khoa học), Công nghệ (Công nghệ), Kỹ thuật (Kỹ thuật) và Toán học (Toán học) Nó được thực hiện theo cách tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và người học có thể áp dụng để
giải quyết vấn đề trong cuộc sống
Jonathan Cohen (2010): STEM được phát triển nhằm mục đích giúp
người học trang bị các kiến thức và kỹ năng ở các lĩnh vực: Toán học, kỹ
Trang 21thuật, khoa học và công nghệ Nhưng các môn này được tiếp cận liên môn hay còn gọi là interdisciplinary, ở đó người học là các học sinh có thể sử dụng phương pháp, cách thức đó để giải quyết vấn đề trong cuộc sống Trong
mô hình STEM người ta không chia 4 môn học trên theo cách rời rạc mà kết hợp lại dựa trên mô hình học tập với các ứng dụng thực tế [13,tr2]
Như vậy, từ các quan điểm trên có thể hiểu: Giáo dục STEM là mô hình
dạy học tích hợp của các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học Một trong những thách thức đối với dạy học theo định hướng giáo dục STEM
là GV cần hiểu được quy trình và tuân theo phương pháp dạy học theo hướng tích hợp STEM trong quá trình giảng dạy
1.1.1.2 Cơ sở khoa học của giáo dục STEM
Mỗi mô hình hay phương pháp giáo dục có nền tảng khoa học cụ thể Nền tảng càng vững chắc tăng sức sống và giá trị của mô hình, phương pháp giáo dục đó càng lớn Trong một nghiên cứu về lý thuyết học tập, Sanders (2005) và cộng sự đề cập đến bốn yếu tố được coi là nền tảng của giáo dục STEM [33] Điều này bao gồm: 1 Học tập không phải là tiếp thu thụ động mà
là một quá trình xây dựng; 2 Động cơ và niềm tin không thể tách khỏi nhận thức; 3 Tương tác xã hội là phương thức cơ bản để nhận thức; 4 Học tập gắn với bối cảnh thực tế Cụ thể:
Thứ nhất, Học tập không phải là một quá trình tiếp nhận thông tin thụ
Trang 22hành này Phân tích, tổng hợp và đánh giá là những kỹ năng trí tuệ phổ biến làm nền tảng cho việc áp dụng và thực hiện các phương thức hoạt động khác nhau của con người Quan điểm này nhấn mạnh rằng nhận thức chỉ là một phần nhỏ của quá trình và kết quả học tập Do đó, học tập được coi là một khả năng và thành tích phát triển tổng hợp của con người
Trong mô hình giáo dục STEM, trọng tâm không chỉ là tiếp thu kiến thức khoa học mà là khả năng tích hợp kiến thức từ các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để giải quyết vấn đề Quá trình học tập trong giáo dục STEM có ý nghĩa cao đối với sự phát triển của người học Nó đòi hỏi người học phải khám phá, tư duy phản biện, hợp tác, chia sẻ, vượt qua thử thách và đôi khi mắc sai lầm hoặc thất bại Tuy nhiên, những trải nghiệm này mang đến những cơ hội quý giá để người học phát triển nhận thức, kỹ năng tư duy phản biện, kiểm soát cảm xúc và kinh nghiệm sống Trọng tâm không chỉ
là tiếp thu kiến thức mà còn là phát triển những cá nhân toàn diện, những người có thể áp dụng các kỹ năng của họ trong các tình huống giải quyết vấn
Mô hình giáo dục STEM khơi dậy hiệu quả động cơ học tập của người học bằng cách đưa ra các nhiệm vụ học tập đầy thách thức, khơi dậy trí tò mò
và đam mê khám phá của các em Nó tạo cơ hội cho người học thực hành và trải nghiệm cách giải quyết vấn đề trong bối cảnh thực tế, cho phép họ cảm thấy mình giống như những lập trình viên chuyên nghiệp hoặc nhà phát minh khoa học Do đó, nhu cầu khẳng định và đạt được thành tích ở người học chủ
Trang 23yếu được đáp ứng thông qua các hoạt động học tập này Bản chất tích hợp và thực tế của các nhiệm vụ STEM thu hút sự quan tâm của học sinh, thúc đẩy
họ tham gia tích cực vào việc học và dẫn đến kết quả tích cực
Thứ ba, tương tác xã hội là điều kiện cơ bản để phát triển nhận thức
*Các cá nhân giải thích thế giới dựa trên kinh nghiệm cá nhân và tương tác xã hội của họ
*Học tập là một quá trình xã hội trong đó trẻ dần dần hòa mình vào các hoạt động trí tuệ trong bối cảnh văn hóa của chúng Các khái niệm và chân lý khoa học được cùng xây dựng bởi các thành viên của một nền văn hóa
Do đó, học tập là cả một quá trình cá nhân và xã hội Tính cá nhân của kiến thức chủ yếu được phát triển thông qua tái cấu trúc nhận thức tích cực ở người học, trong khi khía cạnh xã hội của việc học vượt xa sự định hình hành
vi đơn thuần bởi các tác động bên ngoài
Việc học chỉ trở nên có ý nghĩa khi người học tham gia vào các hoạt động xã hội Theo Jean-Marc Denomme và Madeleine Roy, học tập là một quá trình tương tác giữa người học, giáo viên và môi trường giáo dục Thông qua những tương tác này, người học tiếp thu kiến thức khoa học và phát triển những năng lực cần thiết cho cuộc sống hiện đại Quá trình giảng dạy liên quan đến việc tổ chức các tương tác sư phạm kích hoạt người học và cung cấp cho họ nhiều cơ hội để thử thách bản thân, tích lũy kinh nghiệm và phát triển
kỹ năng
Trang 24Mô hình giáo dục STEM nhấn mạnh vào các nhiệm vụ học tập hợp tác liên quan đến việc giải quyết các tình huống thực tế hoặc giả định phù hợp với cuộc sống hiện đại Các kỹ năng như giao tiếp, hợp tác, phối hợp công việc, lắng nghe tích cực, đề xuất ý tưởng ban đầu và chấp nhận sự khác biệt của cá nhân là điều cần thiết để hoàn thành thành công các nhiệm vụ STEM Đây cũng là những kỹ năng mà giáo dục STEM hướng tới để trau dồi ở trẻ
Thứ tư, tri thức khoa học được hình thành trong bối cảnh của hiện thực
đời sống:
Mục tiêu của giáo dục hiện đại là chuẩn bị cho học sinh sống đúng đắn ngay từ khi còn nhỏ Để làm được điều này, việc giảng dạy trong nhà trường phải sát với thực tế hơn, giáo dục các em cả từ thực tế và thực tiễn Môi trường tối ưu cho học tập và phát triển là trong các hoàn cảnh và tình huống thực tế Tư duy của trẻ em được kích thích tích cực nhất khi chúng giải quyết các vấn đề trong bối cảnh thực tế và chúng có cơ hội tốt nhất để nhận ra tầm quan trọng của kiến thức khoa học mà chúng đã tích lũy được trong bối cảnh này
Theo kinh nghiệm giáo dục STEM của Mỹ và một số nước phát triển trên thế giới, để xây dựng các chủ đề giáo dục STEM thực sự hiệu quả cho học sinh, cần phải kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức trong các lĩnh vực
1.1.1.3 Bản chất của giáo dục STEM
STEM Education là viết tắt của các từ "khoa học", "công nghệ", "kỹ thuật" và "toán học" Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là một phương pháp dạy học áp dụng trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành
và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày [31,tr.8]
Mục tiêu của giáo dục STEM là giáo dục người học có kiến thức rộng,
đa lĩnh vực, đồng thời đặc biệt quan tâm đến việc hình thành và phát triển
Trang 25năng lực người học Giáo dục STEM theo triết lý giáo dục tích hợp hướng vào việc hình thành cho người học kiến thức nền tảng rộng, liên lĩnh vực Trọng tâm của tích hợp trong giáo dục STEM là bốn lĩnh vực: khoa học, công nghệ,
kỹ thuật và toán học Nó không được phân phối rộng rãi Các bộ môn khoa học này nhằm mục đích kết hợp với nhau trong các hoạt động học tập dựa trên thực tiễn Các phương thức học tập chính của học sinh là làm việc, thực hành, trải nghiệm và hợp tác Học sinh được hình thành và phát triển năng lực khám phá, thử nghiệm, khai thác và ứng dụng công nghệ thông qua các hoạt động thực tiễn và quan trọng hơn là hình thành và phát triển các kỹ năng thiết
kế kỹ thuật, tư duy và tính toán
1.1.1.4 Đặc trưng của giáo dục STEM
Theo M.Talley, T (2016), [32] Giáo dục STEM có những đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, nội dung giáo dục STEM là sự tích hợp của 4 lĩnh vực khoa
học được xem là nền tảng của nhận thức:
Hiện tại, toán học - đặc biệt là toán học ứng dụng; khoa học - đặc biệt
là khoa học vật liệu; kĩ thuật - đặc biệt là kĩ thuật chế tác và thiết kế - và cộng nghệ - đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ là những yếu tố chính sẽ thay đổi thế giới trong tương lai Ngày nay, điều quan trọng hơn là khoa học đã phát triển đến mức ranh giới giữa các lĩnh vực đang dần biến mất và thay thế chúng bằng những nghiên cứu liên quan đến nhau
Nội dung học thuật trong giáo dục STEM không được thiết kế để tuân thủ chặt chẽ logic khoa học của bất kỳ ngành học cụ thể nào; đúng hơn, nguyên tắc hướng dẫn của nó là áp dụng thông tin khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau Lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt để giải quyết những khó khăn trong thế giới thực Chính vì vậy, giá trị mà giáo dục STEM mang lại cho học sinh không phải là phát triển kiến thức chuyên sâu về từng môn khoa học riêng lẻ mà là phát triển khả năng vận dụng kiến thức của các em về một số lĩnh vực khoa học Ngoài ra, học sinh khám phá các môn khoa học khác nhau
Trang 26có liên quan chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
Thứ hai, mục tiêu của giáo dục STEM là hình thành cho người học tư
duy tích hợp và năng lực giải quyết vấn đề của cuộc sống:
Cuộc sống đặt ra cho con người rất nhiều thách thức Những thách thức đòi hỏi phải giải quyết bằng phương thức mới và phương thức có tính phổ quát để giải quyết vấn đề ngày nay chính là sử dụng tri thức và kĩ năng tích hợp giữa khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học
Trong các chủ đề giáo dục STEM thường xuyên xuất hiện các nhiệm
vụ đòi hỏi người học phải thiết kế kĩ thuật, lập trình điều khiển dựa trên các thuật toán từ đơn giản tới phức tạp và cuối cùng phải tạo ra được sản phẩm công nghệ thông minh, có trí tuệ nhân tạo ở một trình độ nhất định Thông qua các hoạt động học tập đó, người học sẽ hình thành và phát triển được tư duy giải quyết vấn đề thực tiễn của con người hiện đại
Thứ ba, phương pháp giáo dục STEM hướng tới tích cực hóa
người học:
Khác với phương pháp giáo dục thông thường các bài học có sự gắn kết chặt chẽ và logic nhưng nội dung giáo dục không được cấu trúc thành các môn học, trong đó giáo dục STEM tổ chức thông tin học tập thành các chủ đề
và dự án tích hợp 4 lĩnh vực khoa học và ứng dụng thực tiễn Khám phá và điều tra độc lập là những chiến lược chính được học sinh sử dụng để hoàn thành các mục tiêu trong các chủ đề và dự án được liên kết này Học sinh cũng thường xuyên được thiết lập để học theo nhóm trong khi sử dụng các công cụ và phương pháp công nghệ hiện đại để thực hành phát minh và tạo ra các mặt hàng công nghệ Hợp tác và cạnh tranh tích cực là những hình thức tương tác cơ bản giữa các học sinh
Giáo dục STEM chú trọng vào quá trình học tập hơn là kết quả Năng lực cần thiết để thích ứng và phát triển trong thế giới hiện đại được HS hình thành trong quá trình tìm kiếm các phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập thông tin và thảo luận để thống nhất các phương pháp giải quyết vấn đề
Trang 27Thứ tư, giáo dục STEM chủ yếu được thực hiện dưới hình thức câu lạc
bộ và dự án học tập:
Học sinh tham gia vào cùng một dự án hoặc câu lạc bộ STEM có thể ở nhiều độ tuổi, trình độ và sở trường khác nhau Các em phải làm việc cùng nhau để hoàn thành một nhiệm vụ phức tạp, giải quyết vấn đề trong cuộc sống hiện đại hoặc tạo ra sản phẩm công nghệ Hầu hết các dự án hay chủ đề STEM kết thúc bằng hoạt động trưng bày, giới thiệu sản phẩm hoặc bình chọn sản phẩm ưu việt nhất
1.1.1.5 Vai trò của giáo dục STEM
Việc triển khai giáo dục STEM trong dạy học mang lại nhiều lợi ích rõ rệt và phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục:
*Đảm bảo giáo dục toàn diện: Giáo dục STEM đòi hỏi sự đầu tư kỹ lưỡng về cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy để tích hợp các môn Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ và Toán học Cách tiếp cận toàn diện này đảm bảo một nền giáo dục toàn diện cho học sinh
*Nâng cao thú học tập: Các dự án STEM liên quan đến kiến thức liên ngành và giải quyết vấn đề thực tế, thu hút học sinh và giúp họ thấy được sự liên quan của việc học trong bối cảnh thực tế Điều này thúc đẩy sự quan tâm lớn hơn đối với các môn học đang được giảng dạy
* Hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS: Giáo dục STEM khuyến khích sự hợp tác, tự chủ và học tập chủ động Học sinh làm việc cùng nhau, thực hiện các nhiệm vụ một cách độc lập và tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học Những trải nghiệm này góp phần hình thành các năng lực và phẩm chất cần thiết ở học sinh
* Kết nối trường học với cộng đồng: Việc triển khai hiệu quả giáo dục STEM liên quan đến sự hợp tác giữa nhà trường và các tổ chức địa phương, trung tâm giáo dục hoặc tổ chức cộng đồng Sự hợp tác này thúc đẩy các nguồn lực, kiến thức chuyên môn và cơ sở vật chất để tiến hành các hoạt động STEM Hơn nữa, giáo dục STEM nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của địa
Trang 28phương, thúc đẩy mối quan hệ bền chặt hơn giữa nhà trường và cộng đồng
* Hướng nghiệp: Giáo dục STEM được tổ chức tốt ở các trường trung học cung cấp cho học sinh những trải nghiệm thực tế trong các lĩnh vực STEM, cho phép các em đánh giá mức độ phù hợp, năng khiếu và sở thích của mình Bằng cách tham gia vào giáo dục STEM, học sinh có thể đưa ra quyết định sáng suốt về nghề nghiệp tương lai của mình, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với kỹ năng và sở thích của mình, đặc biệt là trong các lĩnh vực có nhu cầu cao đối với các chuyên gia STEM trong thị trường việc làm hiện tại
* Thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0: Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì nhu câu việc làm liên quan đến STEM ngày càng lớn, nhu cầu về các công việc liên quan đến STEM ngày càng tăng Triển khai giáo dục STEM giúp ngành giáo dục thích ứng với những thay đổi này và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Nhìn chung, việc triển khai giáo dục STEM trong giảng dạy mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giáo dục toàn diện, tăng hứng thú học tập, phát triển năng lực và phẩm chất, kết nối nhà trường với cộng đồng, khám phá nghề nghiệp và thích ứng với yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0
1.1.2 Chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
1.1.2.1 Muc tiêu
Bước đầu hình thành và phát triển ở học sinh năng lực công nghệ trên
cơ sở mạch nội dung về thủ công kĩ thuật; khơi dậy hứng thú học tập và tìm hiểu công nghệ
Học sinh sử dụng được một số sản phẩm công nghệ thông dụng trong gia đình đúng cách, an toàn; thiết kế được sản phẩm thủ công kĩ thuật đơn giản; trao đổi được một số thông tin đơn giản về các sản phẩm công nghệ trong phạm vi gia đình, nhà trường; nhận xét được ở mức độ đơn giản về sản phẩm công nghệ thường gặp; nhận biết được vai trò của công nghệ đối với đời sống trong gia đình, ở nhà trường
Trang 291.1.2.2 Nội dung và yêu cầu cần đạt
Nội dung, chương trình môn Công nghệ lớp 3 có 2 chủ đề chính là
“Công nghệ và đời sống” và “Thủ công kĩ thuật” Trong đó, nội dung chủ đề Thủ công kĩ thuật gồm 3 nội dung chính:
Bảng 1.1 Tổng hợp nội dung, chương trình và yêu cầu cần đạt của chủ
đề Thủ công kĩ thuật trong môn Công nghệ lớp 3[3]
Làm đồ dùng
học tập
- Lựa chọn được vật liệu làm đồ dùng học tập đúng yêu cầu
- Sử dụng được các dụng cụ để làm đồ dùng học tập đúng cách, an toàn
- Làm được một đồ dùng học tập đơn giản theo các bước cho trước, đảm bảo yêu cầu về kĩ thuật, thẩm mĩ
Làm biển báo
- Nêu được ý nghĩa của một số biển báo giao thông
- Lựa chọn được vật liệu phù hợp
- Lựa chọn và sử dụng được dụng cụ đúng cách, an toàn để
Trang 30giao thông làm được một số biển báo giao thông quen thuộc dưới dạng
mô hình theo các bước cho trước
- Có ý thức tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông
Làm đồ chơi
- Nhận biết và sử dụng an toàn một số đồ chơi đơn giản phù hợp với lứa tuổi
- Làm được một đồ chơi đơn giản theo hướng dẫn
- Tính toán được chi phí cho một đồ chơi đơn giản
Nội dung, chương trình về chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 hướng tới học sinh được trải nghiệm thiết kế kĩ thuật thông qua các hoạt động thủ công kĩ thuật, lắp ráp các mô hình kĩ thuật đơn giản Đồng thời đặt
ra các mục tiêu: Học sinh phải nhận thức được: muốn tạo ra sản phẩm công nghệ cần phải thiết kế; thiết kế là quá trình sáng tạo; Kể tên được các công việc chính khi thiết kế; Nêu được ý tưởng và làm được một số đồ vật đơn giản
từ những vật liệu thông dụng theo gợi ý, hướng dẫn
1.1.2.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá kết quả chủ đề Thủ công kĩ thuật trong môn Công nghệ lớp 3 phải dựa trên các phương pháp sau:
Thứ nhất, mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời,
có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình môn Công nghệ lớp 3 và sự tiến bộ của học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên và quản lí của nhà trường, đồng thời hướng dẫn, khuyến khích, tạo động
cơ và hứng thú học tập cho học sinh
Thứ hai, Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong Chương trình tổng thể và chương trình môn học Bên cạnh đánh giá kiến thức, kĩ năng, tăng cường đánh giá thái độ của học sinh trong học tập; chú trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng trong học tập môn học
Thứ ba, kết hợp giữa đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết; giữa đánh
Trang 31giá định tính và định lượng; giữa đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và đánh giá của cộng đồng
+ Đánh giá quá trình diễn ra trong suốt quá trình học tập của học sinh Trong đánh giá quá trình, giáo viên sử dụng các công cụ khác nhau như câu hỏi, bài tập, biểu mẫu quan sát, bài thực hành, dự án học tập, sản phẩm, Tham gia đánh giá quá trình có giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và cộng đồng
+ Đánh giá tổng kết được thực hiện nhằm xác định mức độ học sinh đạt được các yêu cầu của chương trình môn học sau khi học xong chủ đề Thủ công kĩ thuật trong môn Công nghệ lớp 3 kết quả đánh giá tổng kết được ghi bằng điểm số kết hợp với nhận xét của giáo viên
1.1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh lớp 3 có ảnh hưởng đến việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học môn Công Nghệ
Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 3 có vai trò hết sức quan trọng trong dạy học và giáo dục Dưới đây là một số điểm chính cần xem xét khi làm việc với học sinh ở độ tuổi này:
*Trí nhớ hình ảnh và tư duy cụ thể: Học sinh lớp 3 có trí nhớ hình ảnh hơn so với trí nhớ bằng lời nói Do đó, việc kết hợp các phương tiện trực quan, hình ảnh, trò chơi và phương pháp giảng dạy tương tác có thể giúp nâng cao hiểu biết và sự tham gia của học sinh
*Thiếu tập trung và hiếu động: Học sinh lớp 3 có thể gặp khó khăn trong việc duy trì mức độ tập trung cao và kiểm soát sự hiếu động của mình Giáo viên nên nhận thức được điều này và cung cấp một môi trường học tập
có cấu trúc và kích thích để hỗ trợ sự tập trung và chú ý của họ Kết hợp các hoạt động thực hành, chuyển động và sự đa dạng có thể giúp duy trì sự tham gia của họ
*Nhanh nhớ, chóng quên: Học sinh lớp 3 có khả năng nắm bắt thông tin mới nhanh nhưng cũng có thể quên nhanh Giáo viên nên củng cố việc học thông qua việc lặp lại, xem xét và thực hành để giúp củng cố sự hiểu biết của
Trang 32họ và ghi nhớ kiến thức theo thời gian
*Trực quan hóa và học tập hợp tác: Sử dụng các phương tiện trực quan
và kết hợp các hoạt động học tập hợp tác có thể hiệu quả trong việc phát triển khả năng tư duy của học sinh Bằng cách tham gia vào các hoạt động với bạn học và giáo viên, học sinh có thể nâng cao các kỹ năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phán đoán và lý luận
*Cảm xúc và các mối quan hệ xã hội: Cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của học sinh lớp 3 Cảm xúc tích cực thúc đẩy nhận thức và động lực tốt hơn Giáo viên nên tạo ra một môi trường lớp học hỗ trợ
và tích cực, khuyến khích tình bạn và thúc đẩy các tương tác xã hội để nâng cao sức khỏe tình cảm và sự phát triển toàn diện của học sinh
Hiểu và giải quyết những đặc điểm tâm lý này sẽ cho phép giáo viên tạo ra trải nghiệm học tập hiệu quả và hấp dẫn cho học sinh lớp 3, thúc đẩy sự phát triển nhận thức, phát triển xã hội và hạnh phúc tình cảm của các em
Thật vậy, việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3 có ý nghĩa quyết định để dạy học hiệu quả, trong đó có việc triển khai giáo dục STEM trong môn Công nghệ Dưới đây là một số cân nhắc chính:
*Giàu tình cảm: Học sinh lớp 3 có đời sống tình cảm đa dạng, phong phú, phần lớn ở trạng thái tích cực Các em tự hào là thành viên của một đội, được sự công nhận của cha mẹ và giáo viên, và được giao những nhiệm vụ cụ thể Tạo ra một môi trường lớp học tích cực và hỗ trợ nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức và phẩm chất trí tuệ là điều cần thiết
*Rụt rè và hạn chế trong vận dụng: Một số học sinh có biểu hiện rụt rè,
do dự khi phát biểu ý kiến và vận dụng kiến thức vào các tình huống mới Giáo viên nên tập trung vào việc phát triển tư duy và kỹ năng học tập trong môi trường nhóm và lớp học Tạo cơ hội học tập trải nghiệm, nơi học sinh tương tác trực tiếp với thiên nhiên và môi trường xung quanh, có thể giúp nhận thức và hiểu biết của các em
*Phát triển ngôn ngữ: Hầu hết học sinh lớp 3 có trình độ nói và viết tốt Các em có thể đọc, tự học và nhận thức thế giới thông qua các kênh thông tin
Trang 33khác nhau Tận dụng các kỹ năng ngôn ngữ của họ trong giảng dạy Công nghệ có thể nâng cao khả năng hiểu và sự tham gia của họ
*Sự non nớt về cảm xúc: Học sinh lớp 3 có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc Họ có thể dễ dàng trải qua nhiều loại cảm xúc, bao gồm
cả sự thay đổi nhanh chóng từ khóc sang cười Giáo viên nên nhạy cảm với trạng thái cảm xúc của họ và cung cấp một môi trường hỗ trợ và hiểu biết
Khi dạy Công nghệ, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục STEM, điều quan trọng là giáo viên phải xem xét các đặc điểm này Các phương pháp giảng dạy phù hợp, kích thích các giác quan của trẻ, sử dụng hình ảnh trực quan sinh động, lồng ghép các hoạt động cụ thể như đóng vai, tình huống mô phỏng, hoạt động tập thể Bằng cách tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tế, giáo dục STEM có thể thu hút và kích thích học sinh lớp 3 học tập Công nghệ một cách hiệu quả
1.1.4 Một số vấn đề về giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
1.1.4.1 Mục tiêu vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 gồm có 3 mục tiêu chính như sau:
Thứ nhất, Với việc sử dụng giáo dục STEM để giảng dạy chủ đề Thủ
công kĩ thuật, giáo viên giúp học sinh sử dụng kiến thức và kỹ năng được học trong các bài học và tiết dạy thuộc chủ đề một cách khoa học và kết hợp chúng để giải quyết các vấn đề thực tế
Thứ hai, Trong chủ đề Thủ công kĩ thuật trong môn Công nghệ lớp 3,
giáo viên vận dụng giáo dục STEM để dạy học sinh cách suy nghĩ và sáng tạo khi thiết kế sản phẩm Quá trình thiết kế sản phẩm của chủ đề Thủ công kĩ thuật công nghệ luôn liên quan đến toán học (bằng cách xem xét chiều dài, độ rộng, kích thước) và khoa học (bằng cách xem xét cấu tạo, chức năng và nguyên lý hoạt động của sản phẩm)
Trang 34Thứ ba, vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật
môn Công nghệ lớp 3 còn nhằm trang bị cho học sinh những năng lực chung và năng lực đặt thù gắn với môn học trong quá trình khám phá tri thức và vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, tạo ra các sản phẩm có giá trị thực tế gồm: Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lưc hợp tác và giao tiếp, năng lực khoa học, năng lực toán học, năng lực công nghệ, năng lực kỹ thuật
1.1.4.2 Chủ thể, đối tượng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Về Chủ thể: Chủ thể vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề
Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 là giáo viên tiểu học, đây là người trực tiếp thực hiện giảng dạy chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 Việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề này là do giáo viên quyết định thực hiện, giáo viên lựa chọn nội dung bài học nào để vận dụng giáo dục STEM cho phù hợp, đồng thời thiết kế quy trình vận dụng STEM trong giáo
án giảng dạy và áp dụng vào dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 trong thực tiễn
Về đối tượng: Đối tượng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học
chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 trước lết là học sinh khối 3 Các em vừa là đối tượng chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, phát triển các phẩm chất và năng lực Đồng thời, HS cũng là chủ thể của các hoạt động học tập Trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật, giáo viên sẽ vẫn dụng STEM để giúp học sinh nắm vững hơn những kiến thức, vận dụng kiến thức,
kỹ năng trong các bài học, các tiết dạy thuộc chủ để này một cách hiệu quả vào trong thực tế
Đối tượng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công
kỹ thuật Công nghệ lớp 3 là các chủ đề Thủ công kỹ thuật lớp 3 Giáo viên cần nghiên cứu nội dung của chủ đề, xác định rõ mục tiêu, các điều kiện thực hiện cũng như cách thức, quy trình vận dụng giáo dục STEM để thiết kế các chủ đề này theo định hướng giáo dục STEM
Trang 35Như vậy, giáo viên tiểu học là chủ thể vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3, là người thiết kế, tổ chức thực hiện các chủ đề Thủ công kỹ thuật môn Công nghệ lớp 3 theo định hướng giáo dục STEM nhằm đảm bảo thực hiện tối ưu các mục tiêu dạy học môn học, đồng thời phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh lớp 3
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Thứ nhất, nhận thức và năng lực của giáo viên về vận dụng giáo dục
STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Nhận thức của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 Khi nhận thức đúng sẽ tác động tích cực đến hoạt động và quyết định chất lượng của mỗi hoạt động và ngược lại nhận thức của giáo viên sai sẽ ảnh hưởng đến vận dụng giáo dục STEM trong dạy học ở nhà trường
Thứ hai, cơ sở vật chất bảo đảm cho vận dụng giáo dục STEM
Cơ sở vật chất, trang thiết bị ở các trường tiểu học là hệ thống các phương tiện cần thiết được sử dụng vào các hoạt động giáo dục STEM, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng ở mỗi lớp học
có tác động trực tiếp đến hoạt động giáo dục STEM và là điều kiện quan trọng
để nâng cao chất lượng hiệu quả vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ
đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vận dụng giáo dục STEM Muốn nâng cao chất lượng vận dụng giáo dục STEM thì phải đầu tư đầy đủ các đồ dùng cần thiết
Thứ ba, sự hợp tác và tố chất của học sinh
Việc triển khai giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 là sự kết hợp không nhỏ từ nhận thức, tính hợp tác, cá tính của học sinh bởi vì giáo dục STEM sử dụng các kỹ thuật giảng dạy, các phương pháp giảng dạy sáng tạo và linh hoạt nhất, chẳng hạn như học thông
Trang 36qua các dự án và chủ đề, học thông qua trò chơi và đặc biệt là học thông qua thực hành, được áp dụng rộng rãi cho các môn học tích hợp STEM Những cách tiếp cận này chủ yếu dựa trên thực hành và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Vì vậy, để vận dụng STEM vào bài học và mang lại kết quả tốt nhất,
HS phải nhận thức được và cùng phối hợp với thầy cô, bạn bè
Thứ tư, sự phối hợp trong hệ thống giáo dục:
Sự phối hợp liên tục và thường xuyên giữa hệ thống giáo dục tiểu học
và các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức, doanh nghiệp sẽ tạo nên các mối liên hệ, sự liên kết rộng khắp và bền vững giúp nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động STEM
1.2.1.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát
Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 trên đối tượng là 40
GV, đồng thời điều tra đơn giản kết hợp với phỏng vấn trực tiếp trước và sau tiết học và quan sát các hoạt động học tập của học sinh trong và ngoài lớp học trên 480 HS lớp thuộc khối 3 tại 2 Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai
và Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
1.2.1.3 Nội dung khảo sát
Các nội dung điều tra thực trạng như sau:
- Đối với giáo viên:
+ Điều tra nhận thức của GV về giáo dục STEM và thực tiễn vận dụng
Trang 37phương pháp này trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 + Điều tra những thuận lợi và khó khăn GV gặp phải khi vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
- Đối với học sinh:
+ Tìm hiểu mong muốn và hứng thú của HS đối với các hoạt động giáo dục STEM mà giáo viên tổ chức khi học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
1.2.1.4 Phương pháp khảo sát
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng cho việc điều tra tại các trường Tiểu học đối với các đối tượng được chọn lựa theo các nội dung đã xác định
* Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát giáo viên và học sinh trong quá trình Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai và Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
* Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành trao đổi, phỏng vấn một số giáo viên và học sinh nhằm tìm hiểu nhận thức, nhận xét, đánh giá của họ về thực trạng Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai và Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
* Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi dùng phương pháp thống kê để tổng hợp kết quả, sử dụng công thức toán học để xử lí dữ liệu thu thập được thông qua phần mềm tin học
Đồng thời dùng phương pháp phân tích, mô tả để đánh giá kết quả điều tra, áp dụng phân tích đánh giá thực trạng Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai và Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng
1.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng
1.2.2.1 Đối với giáo viên
Trang 38a Đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Để đánh giá về sự cần thiết của việc vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3, chúng tôi đã tiến hành điều tra 40 giáo viên thông qua phiếu điều tra Kết quả điều tra được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.2: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Mức độ cần thiết
Kết quả
Số lượng (phiếu)
Tỉ lệ (%)
Trang 39môn Công nghệ lớp 3 là cần thiết? và đã nhận được câu trả lời là: “Ở lớp, trong
các giờ học khi các (thầy) cô tổ chức các nội dung thực hành nghiên cứu chế tạo sản phẩm trong quá trình dạy học mang lại hiệu quả rất cao, các em tiếp thu bài tốt hơn, không khí lớp học vui vẻ, sôi nổi Mặt khác, chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 rất gần gũi, thiết thực với cuộc sống của các em nên việc tích hợp liên môn thông qua thực hành thiết kế, chế tạo sản phẩm trong giờ học
sẽ giúp các em hiểu bài nhanh và gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập và áp dụng vào trong cuộc sống.”
b Nhận thức của giáo viên về bản chất của giáo dục STEM và vận dụng giáo dục STEM trong dạy học
Để đánh giá sự hiểu biết của giáo viên về giáo dục STEM, chúng tôi tiến hành điều tra 40 GV thông qua phiếu điều tra Kết quả điều tra được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.3: Nhận thức của giáo viên về bản chất của giáo dục STEM STT Các quan niệm về bản chất của giáo dục
STEM
Số ý kiến
Tỷ lệ (%)
1
Là một phương pháp dạy học áp dụng trang bị cho
người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết
liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ
thuật và toán học
11 27,5
2 Là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên tổ
chức cho học sinh tham gia nhiều hoạt động trong
tiết học
6 15,0
3
Là hình thức giáo dục tích hợp liên môn mà quá
trình học tập của người học chủ yếu theo phương
thức làm việc, thực hành, trải nghiệm và hợp tác 23 57,5
Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy hầu hết các giáo viên đã bước đầu tiếp
Trang 40cận được vấn đề bản chất của giáo dục STEM nhưng chưa toàn diện và đầy đủ Chủ yếu giáo viên tiếp cận ở khía cạnh là một phương pháp dạy học cụ thể được tích hợp liên môn thông qua theo phương thức làm việc, thực hành, trải nghiệm
và hợp tác chứ chưa hiểu khái quát đó là cả một quá trình dạy học bao gồm từ việc xác định mục tiêu đến lựa chọn nội dung, sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh giá trong quá trình dạy và học Trong đó, 23/40 giáo viên đã hiểu đúng nhưng chưa đầy đủ về bản chất của giáo dục
STEM, cho rằng: “Là hình thức giáo dục tích hợp liên môn mà quá trình học tập
của người học chủ yếu theo phương thức làm việc, thực hành, trải nghiệm và hợp tác…” chiếm 57,5% Số ý kiến 6/40 phiếu giáo viên hiểu sai hoàn toàn về
bản chất của giáo dục STEM, họ cho rằng: “Là phương pháp dạy học mà trong
đó giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia nhiều hoạt động trong tiết học”
chiếm 15% Chiếm số lượng phiếu 11/40 phiếu giáo viên hiểu được đúng quan
điểm về bản chất của giáo dục STEM “Là một phương pháp dạy học áp dụng
trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học ” chiếm 27,5% Do đó, có
thể nhận thấy rằng rất nhiều giáo viên biết đến giáo dục STEM này nhưng chưa thực sự hiểu rõ về bản chất của nó
c Mức độ vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3
Để thấy được mức độ vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề Thủ công kĩ thuật môn Công nghệ lớp 3 chúng tôi đã tiến hành điều tra ý kiến giáo viên và kết quả thu được thể hiện qua bảng 1.4