Thế trong đó có Nhật Bản vẫn cố thủ trong toà lâu đài phong kiến cổ kính, biệt lập để rồi hoảng sợ, khuất phục trước chính sách ngoại giao pháo hạm của các nước phương Tây.. Công cuộc cả
Trang 1
Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Vai trò của chính sách đối ngoại thời kỳ Minh Trị (1868- 1912) đối với
lịch sử Nhật Bản"
Trang 2hoàng thị hải yến Vai trò của đối với lịch sử Nhật Bản, TR 74-80
Vai trò của chính sách đối ngoại thời kỳ Minh Trị (1868- 1912) đối với lịch sử Nhật Bản
Tóm tắt Nửa sau thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX chính là điểm "giao thời" của các dân tộc châu á Lịch sử đặt ra cho các dân tộc này rất nhiều cơ hội và thách thức - những cơ hội và thách thức có ý nghĩa quyết định đến sự sinh tồn, phát triển của mỗi quốc gia- dân tộc Trong bối cảnh đó, Nhật Bản đã nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức để tạo ra thế đứng vững vàng cho mình Kì tích ấy có sự đóng góp rất lớn của chính sách
đối ngoại Trên cơ sở xem xét, đối chiếu với việc kết hợp thực hiện ba mục tiêu cố định của hoạt động đối ngoại (mục tiêu an ninh, mục tiêu phát triển, mục tiêu ảnh hưởng), bài viết làm rõ vai trò của chính sách đối ngoại thời Minh Trị (1868- 1912) đối với lịch
sử Nhật Bản
hức năng đối ngoại là một trong
hai chức năng cơ bản nhất của
bất kì một nhà nước nào Nó thể hiện
vai trò của nhà nước đó trong mối quan
hệ với các nhà nước khác, dân tộc khác,
tổ chức quốc tế khác Kể từ khi xuất
hiện các quốc gia với tư cách là một
thực thể chính trị - xã hội, hoạt động
đối ngoại của mọi quốc gia đều nhằm ba
mục tiêu cơ bản:
- Giữ vững chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ và an ninh quốc gia - “mục tiêu
an ninh”
- Xây dựng, phát triển đất nước -
“mục tiêu phát triển”
- Nâng cao uy thế trên trường quốc
tế - “mục tiêu ảnh hưởng”
Ba mục tiêu này có mối quan hệ
biện chứng với nhau và tác động qua lại
với nhau: "Không thể nói đến sự phát
triển và phát huy ảnh hưởng nếu không
giữ được chủ quyền, anh ninh quốc gia
và toàn vẹn lãnh thổ; ngược lại, khó mà
giữ được chủ quyền và an ninh quốc gia
cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ nếu
không có sức mạnh dựa trên sự phát
triển của đất nước" [2, tr.16]
Vì thế, khi đánh giá sự thành - bại của chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào cũng phải xem xét, đối chiếu với ba mục tiêu cố định ấy Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868 - 1912) cũng không nằm ngoài điều đó
1 Vai trò của chính sách đối ngoại đối với “mục tiêu an ninh”
Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng nhất, đáng quý nhất của mỗi con người, mỗi quốc gia Vì thế, đảm bảo độc lập chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia - dân tộc, trong đó chính sách đối ngoại có vai trò đặc biệt quan trọng Chúng ta biết rằng, “thời kì trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tức là thời kì chủ nghĩa tư bản tự do dần dần biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền cũng là “thời đại hoàng kim" của xu thế quốc tế hoá” [1, tr.363-364] Sự chiếm lĩnh của xu thế quốc tế hoá đòi hỏi có sự
mở cửa giao lưu thông thoáng giữa các quốc gia, xoá nhoà ranh giới thị trường giữa các dân tộc “Các cơ chế quyết định
Nhận bài ngày 05/8/2008 Sửa chữa xong 02/10/2008.
C
Trang 3trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3b-2008
theo kiểu song phương, đa phương, khu
vực hay toàn cầu đòi hỏi và bắt buộc
mỗi quốc gia phải có sự thoả hiệp, nhân
nhượng trong việc bảo vệ quyền lợi của
mình, chứ không thể toàn quyền đơn
phương quyết định Điều này cũng có
nghĩa rằng “chủ quyền tuyệt đối” chỉ có
ý nghĩa tương đối trong bối cảnh quốc tế
hoá nền kinh tế thế giới” [4, tr.13] Thế
trong đó có Nhật Bản vẫn cố thủ trong
toà lâu đài phong kiến cổ kính, biệt lập
để rồi hoảng sợ, khuất phục trước chính
sách ngoại giao pháo hạm của các nước
phương Tây Kết quả là Nhật Bản đã
phải lần lượt kí với các cường quốc tư
bản Âu - Mỹ những điều khoản bất bình
đẳng về các vấn đề:
- Mở cửa ưu đãi cho người nước
ngoài buôn bán, truyền đạo
- Quyền lãnh sự tài phán
- Chủ quyền thuế quan
- Quyền tối huệ quốc
Những hiệp ước bất bình đẳng đó
“làm cho Nhật Bản rơi vào địa vị phụ
thuộc và Mỹ nắm quyền lũng đoạn” [5,
tr.11] Đó chính là nỗi khổ nhục khiến
quốc gia - dân tộc Nhật Bản luôn phải
trăn trở, và họ bắt đầu đi tìm cách hoá
giải số phận mình
Nhật Bản nhận thức được rằng: kẻ
thù của nước Nhật không phải là kẻ thù
vũ lực mà là kẻ thù trí lực Sự yếu kém,
lạc hậu về kinh tế - chính trị là nguyên
nhân khiến cho Nhật Bản đánh mất
mình, mất đi tư thế tự chủ trong quan
hệ đối ngoại Nhật quyết tâm hiện đại
hoá đất nước với mục tiêu: “học hỏi
phương Tây, đuổi kịp phương Tây và
vượt phương Tây” Vượt qua niềm kiêu
hãnh của những con người sống trên
“đất nước của thần linh”, người Nhật tiếp cận với các nền văn minh trên thế giới và chắt lọc, hấp thụ những gì tinh túy nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Sự năng động sáng tạo, mềm dẻo linh hoạt trong tư duy cùng với bản lĩnh tuyệt vời của mình, người Nhật đã làm nên những kì tích khiến các quốc gia phương Tây ngạc nhiên, thán phục Công cuộc cải cách đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước, đưa Nhật trở thành thành viên trong hệ thống các nước tư bản lớn mạnh Sức mạnh đó đã trở thành nhân tố quan trọng, cơ sở vững chắc cho Nhật chuyển hướng tư thế và hành động trong quan hệ đối ngoại Đúng như nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã viết: “Trước đây, khi nói về phương tiện bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ, thậm chí cả vị trí và ảnh hưởng quốc tế, nhiều khi người ta nhấn mạnh tới sức mạnh quân sự Ngày nay, sức mạnh quân sự vẫn có ý nghĩa rất quan trọng, song không còn giữ được
vị trí độc tôn mà cần có một sức mạnh tổng hợp hay là sức mạnh tổng lực bao gồm cả sức mạnh về chính trị, sự phát triển về kinh tế, sự ổn định về xã hội, thậm chí cả bản sắc văn hoá” [1, tr.210] Sức mạnh tổng hợp đó Nhật Bản đã sớm có được trong mấy thập kỷ duy tân, khiến các cường quốc tư bản phương Tây không thể không công nhận Nhật
là thành viên mới trong hệ thống của mình Nhật Bản đã sử dụng sức mạnh
ấy làm phương tiện “đòi công lý” cho quốc gia dân tộc Vừa nỗ lực xây dựng
đất nước giàu mạnh, vừa mở chiến dịch ngoại giao nhằm xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng, đồng thời biểu dương uy thế
Trang 4hoàng thị hải yến Vai trò của đối với lịch sử Nhật Bản, TR 74-80
bằng các cuộc chiến tranh giành giật thị
trường, Nhật Bản đã buộc các quốc gia
tư bản Âu - Mỹ phải thừa nhận mình
Kết quả là từ năm 1894 đến năm 1897,
Nhật đã thủ tiêu được quyền lãnh sự tài
phán Nếu xét theo quan niệm chủ
quyền quốc gia “bao hàm quyền tài
phán duy nhất của quyền lực nhà nước
đối với tất cả các vấn đề đối nội và đối
ngoại liên quan đến đời sống của toàn
bộ dân cư sống trong biên giới của một
quốc gia” [3, tr.11], thì Nhật Bản xem
như đã thực hiện được bước quan trọng
trong việc bảo vệ an ninh của mình
Tuy nhiên trên bình diện lý luận và
thực tiễn, chủ quyền của một quốc gia
còn thể hiện trong việc quyết định các
vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng Năm
1911, khi các nước phương Tây buộc
phải phục hồi quyền quan thuế cho
Nhật thì coi như “mục tiêu an ninh” cơ
bản hoàn thành Thoát khỏi thân phận
“phụ thuộc”, Nhật Bản trở thành một
đế quốc trẻ hùng mạnh Vị thế đó củng
cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc
gia này
2 Vai trò của chính sách đối
ngoại đối với “mục tiêu phát triển”
“Mục tiêu phát triển” của chính
sách đối ngoại “thể hiện ở chỗ xây dựng
mối quan hệ quốc tế ổn định, thuận lợi
cả về mặt chính trị lẫn kinh tế và an
ninh, mà còn ở chỗ tìm kiếm được nhiều
đối tác và mở rộng thị trường” [1,
tr.211] Nếu xét điều đó trong giai đoạn
1868-1912, ta thấy nền ngoại giao Nhật
Bản đạt được rất nhiều thành tựu
Tiếp nối chính sách mở cửa cuối
thời kỳ Mạc Phủ, chính phủ Minh Trị
đã rất chủ động và linh hoạt trong việc
mở rộng hơn nữa quan hệ với các nước phương Tây nhằm học hỏi kinh nghiệm phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, gây dựng thị trường, thiết lập mối quan hệ bình đẳng với các nước Ngày
12 tháng 11 năm 1871, Chính phủ cử một phái bộ cao cấp do đại thần Iwakura dẫn đầu đi thăm các nước Âu -
Mỹ nhằm khảo sát, học tập và sửa đổi những điều ước bất bình đẳng Sau chuyến công du dài ngày trên "trời Âu,
đất Mỹ", phái đoàn lên đường về nước Trên đường về, họ còn ghé qua một số
về Nhật Bản
Chuyến đi thị sát các nước Âu - Mỹ
đã trang bị cho phái đoàn một tầm nhìn quốc tế Họ đã hiểu được vị trí của nước Nhật, hiểu được con đường sống còn của nước Nhật, đồng thời cũng nhận ra được mặt tốt và mặt trái của các nước mà họ
đang muốn học hỏi Sau chuyến đi, phái
đoàn đã đem về một gia tài tri thức và rất nhiều thông tin mới liên quan đến nhà nước hiện đại Học tập phương Tây văn minh, Nhật Bản đã xây dựng được quân đội hùng cường, hệ thống pháp luật hiện đại theo kiểu châu Âu, một nền giáo dục toàn dân không phân biệt giai tầng xã hội, nam nữ, giàu nghèo
Để thu hút chất xám và chuyển giao công nghệ phương Tây vào Nhật Bản, chính phủ Minh Trị đã trả lương rất cao cho các giáo sư ngoại quốc và không ngần ngại tận dụng khả năng của họ,
đồng thời gửi học sinh ra nước ngoài học tập, nghiên cứu Chính vì thế mà giáo dục Nhật Bản đã vượt ra khỏi sự kiềm toả nặng nề của giới quí tộc và tôn giáo,
đào tạo công dân Nhật có trình độ
Trang 5trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3b-2008
chuyên môn, kỹ thuật tiên tiến nhất để
phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước
Tranh thủ học tập phương Tây,
Chính phủ Minh Trị đồng thời tìm kiếm
đối tác, xây dựng mối quan hệ quốc tế
ổn định để phát triển kinh tế Nhật Bản
đã có những hoạt động thương mại sôi
nổi với các quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ,
Đông á và bước đầu thành công trong
việc tạo lập thị trường trên thế giới Với
“chính sách mở” trong quan hệ với
phương Tây nhằm tiếp thu tư tưởng và
tri thức, kỹ thuật mới cần cho việc hiện
đại hoá đất nước, kim ngạch buôn bán
với nước ngoài của Nhật đã tăng mạnh
trong vòng một thập kỷ sau khi công
cuộc Duy tân Minh Trị bắt đầu Những
thành tựu đạt được trên lĩnh vực kinh
tế đã đưa Nhật Bản bước dần vào quỹ
đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Trên cơ sở của nền kinh tế hàng hoá đã
phát triển vào cuối thế kỷ XVIII - đầu
thế kỷ XIX, những người đứng đầu
Chính phủ Minh Trị đã hoạch định một
chiến lược khôn ngoan và được tính
toán cẩn thận nhằm tăng cường tiềm
lực đất nước, đưa quần đảo vốn tách
biệt về mặt địa lý này hoà nhập vào đời
sống kinh tế thế giới Nhật Bản đã gây
dựng được mối quan hệ quốc tế ổn định
để phát triển đất nước
Chính sách ngoại giao đa phương
giúp cho tầm nhìn của người dân Nhật
Bản được mở rộng Họ có điều kiện giao
lưu, tiếp xúc với những thành tựu văn
minh của nhân loại, nhanh chóng
chuyển từ giai đoạn "học hỏi phương
Tây" sang giai đoạn " vượt trội phương
Tây " Chỉ trong thời gian ngắn, Nhật
đã “chuyển đổi từ một xã hội tiền hiện
đại tổ chức theo kiểu phong kiến thành
một quốc gia hiện đại có thể sánh ngang hàng với các cường quốc phương Tây Với sự trợ giúp của một quân đội và hải quân hiện đại, một chính quyền có hiệu lực, những công dân cần cù và am hiểu
kỹ thuật, một nền công nghiệp và thương mại mạnh mẽ, nước Nhật chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một cường quốc quân sự của thế giới và
được người phương Tây nhìn nhận là ngang hàng với họ” [7, tr.158] Rõ ràng, thành công này có sự đóng góp rất lớn
từ chính sách đối ngoại khôn ngoan của Chính phủ Minh Trị
3 Vai trò của chính sách đối ngoại đối với "mục tiêu ảnh hưởng" Mục tiêu cơ bản thứ ba mà chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào cũng phải hướng tới, đó là nâng cao vai trò, uy tín và ảnh hưởng trên trường quốc tế - “mục tiêu ảnh hưởng” Rõ ràng
đây là một yêu cầu rất cao của chính sách đối ngoại, bởi vì “ảnh hưởng quốc
tế tuỳ thuộc vào sức mạnh mọi mặt của mỗi quốc gia, cả sức mạnh kinh tế lẫn quân sự, đồng thời tuỳ thuộc vào “sức nặng” chính trị, thậm chí cả ảnh hưởng văn hoá” [1, tr.211]
Có thể nói rằng, mục đính chính của phái bộ Iwakura khi sang thăm các nước Âu - Mỹ vào năm 1871 không đạt
được, nhưng chuyến đi này đóng vai trò không nhỏ đối với tương lai của đất nước Nhật Bản, đó là gia tài trí thức và những bài học bổ ích từ thực tế mà phái
bộ mang về sau chuyến đi Trong các bài học ấy, chúng tôi cho rằng bài diễn văn của Thủ tướng Bixmac nhân buổi tiếp phái bộ Iwakura có ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ của các thành viên
Trang 6hoàng thị hải yến Vai trò của đối với lịch sử Nhật Bản, TR 74-80
trong phái đoàn Bài diễn văn có đoạn:
“ Hiện nay các nước trên thế giới
thường nói đến lễ nghĩa và thân thiện
trong bang giao, nhưng thực ra bên
trong họ chủ trương sức mạnh là tất cả
Các nước mạnh luôn uy hiếp nước yếu,
các nước lớn tìm cách chiếm nước nhỏ
Nước Đức chúng tôi trong những năm
qua là nước nhỏ, đã từng chịu nhục nhã
bao lần, chúng tôi không bao giờ quên
được cái nhục này Cái gọi là công lí
quốc tế chẳng qua là công cụ bảo vệ
quyền lợi của các nước mạnh Khi thấy
có lợi thì các nước mạnh đem công lí
quốc tế ra, khi thấy bất lợi thì trở mặt
dùng sức mạnh Và “ khác với các
nước lớn, các nước nhỏ không thể vượt
qua được khỏi khuôn khổ của công lí
quốc tế Các nước này mặc dù luôn cố
gắng giữ cho bằng được tự chủ, nhưng
thực tế họ bất lực khi bị các nước lớn lấy
đen làm trắng, lấy sự xâm lược làm lẽ
phải ” [8, tr.63] Bài học “sức mạnh là
công lí quốc tế” của Bixmac có một ý
nghĩa sâu sắc hơn cả những bài diễn
thuyết về tự do dân chủ mà họ đã được
nghe ở Mỹ, Anh, Pháp
Khát vọng xây dựng đất nước giàu
mạnh thể hiện qua hàng loạt chính
sách cải cách trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội Công cuộc cải
cách đó như một cái chổi khổng lồ quét
bỏ các cản trở của chế độ phong kiến,
mở rộng con đường đến với chủ nghĩa tư
bản của Nhật Giai đoạn trong và sau
cải cách đã chứng kiến sự thăng hoa rực
rỡ của nền kinh tế Nhật Bản Nhật đã
nhanh chóng trở thành một cường quốc
có nền công nghiệp hiện đại không chỉ ở
trong khu vực mà bắt đầu được coi
trọng trên trường quốc tế Những thành
tựu đạt được là nền móng quan trọng
đưa Nhật Bản tiến dần lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa trong những thập niên
đầu thế kỷ XX
Trên lĩnh vực quân sự, quân đội Nhật được đầu tư rất hiện đại, tinh nhuệ, có thể nói là bậc nhất so với các nước trong khu vực Các nhà lãnh đạo Nhật Bản thời Minh Trị đã trang bị cho quốc gia nền quốc phòng có lục quân và hải quân mạnh tương đương với các nước Âu châu Lực lượng quân đội mới này do Thiên Hoàng thống lĩnh và đây
là một quân đội mạnh để tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược nhằm nâng cao vị thế của Nhật trên trường quốc tế vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Sự lớn mạnh của quân đội cũng
ảnh hưởng khá nhiều trong việc lập
định chính sách đối ngoại của Nhật
Đầu những năm bảy mươi của thế
kỉ XIX, Nhật bắt đầu chú ý đến các nước xung quanh và can thiệp vào công việc nội bộ các nước này Quan điểm về
sự bảo hộ của các cường quốc đối với các dân tộc của châu Âu dường như đang có
ảnh hưởng đến người Nhật Đồng thời
họ cũng nhận thấy rằng các cuộc viễn chinh là sự bảo đảm tốt nhất cho an ninh và uy tín quốc gia Năm 1879, Nhật chính thức chiếm quần đảo Lưu Cầu và sáp nhập thành một huyện của Nhật Sau đó, với việc giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894 -1895) đã đưa lại kết quả mong
đợi cho chủ nghĩa tư bản nước này, đó là:
- Gạt bỏ được ảnh hưởng của nhà Thanh ra khỏi Triều Tiên, mở ra một quá trình mới cho Nhật Bản để đi đến
độc chiếm hoàn toàn Triều Tiên
Trang 7trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3b-2008
- Buộc nhà Thanh phải kí hiệp ước
Mã Quan- một hiệp ước bất bình đẳng
đã đưa Nhật Bản vươn lên ngang hàng
với các nước tư bản Âu – Mỹ trong cuộc
chiến tranh giành quyền lợi ở Trung
Quốc
- Sau chiến tranh, Nhật Bản bắt
đầu phát huy lợi thế để xâm nhập vùng
Đông Bắc Trung Quốc - một vùng đất
giàu khoáng sản mà chủ nghĩa tư bản
Nhật đã thèm khát từ lâu
- Cuộc chiến tranh Trung - Nhật trở
thành một trong những yếu tố quan
trọng làm cho chủ nghĩa tư bản ở Nhật
Bản được xác lập vững chắc sau chiến
tranh
Sau cuộc chiến, Nhật Bản đã có một
cơ sở thuộc địa vững chắc, một số vốn
giàu có (từ tiền đền bù chiến phí của
Trung Quốc), và quan trọng hơn là đã
nâng cao địa vị của mình lên ngang
hàng với các cường quốc phương Tây
Gây chiến với Trung Quốc vì vấn đề
tranh chấp quyền lợi ở Triều Tiên,
nhưng đồng thời Nhật Bản còn hướng
tới mục đích cao hơn: tạo ra một vận hội
mới cho uy tín của Nhật trên thế giới
Lúc đó, các nước phương Tây phải có cái
nhìn mới đối với Nhật Bản, rằng nước
Nhật khác hẳn Trung Quốc, không còn
là nước châu á chậm tiến nữa Từ đó,
quyền lợi của Nhật Bản trên trường
quốc tế không còn thua thiệt mà được
tôn trọng hơn rất nhiều Mục đích này
của Nhật Bản đã được thực hiện một cách trọn vẹn Sau chiến tranh, Nhật khẳng định được địa vị về chính trị, kinh tế ở châu á và cả trên thế giới Vị trí nước Nhật được nâng cao trên trường quốc tế Vị trí này lại được nâng cao hơn khi tiếng súng của cuộc chiến tranh Nhật – Nga (1904-1905) kết thúc
ít ai có thể tin rằng một cường quốc đầy tham vọng đã từng ép Nhật phải kí hiệp
ước bất bình đẳng vào thời Mạc Phủ Tokugawa như Nga, lại phải khuất phục trước sức mạnh của người Nhật Những kỳ tích của Nhật Bản đã khiến cho phương Tây đi từ ngạc nhiên này
đến ngạc nhiên khác Với chiến thắng trước Thanh triều và Nga, Nhật Bản chính thức gia nhập vào câu lạc bộ các cường quốc trên thế giới Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật đã trở thành một thách thức lớn đối với các cường quốc
Âu – Mỹ trong cuộc tranh giành thị trường thế giới đầu thế kỷ XX
Rõ ràng, Chính quyền Minh Trị với công cuộc cải cách và chính sách đối ngoại hết sức khôn khéo, linh hoạt đã
đưa Nhật Bản trở thành một đất nước giàu mạnh, một cường quốc quân sự có tiềm lực tương đương với các quốc gia hùng cường ở châu Âu, “đã thực hiện
được tham vọng chỉ trong hơn một thế
hệ Lịch sử hiện đại ít có trường hợp
điển hình nào về một thế đi lên chính trị chói lọi như vậy” [7, tr.121]
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ ngoại giao, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, NXB Chính trị quốc gia,
HN, 1995
[2] Vũ Khoan, Ngoại giao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, TC NCQT, số 7, 1995
Trang 8hoàng thị hải yến Vai trò của đối với lịch sử Nhật Bản, TR 74-80
[3] Nguyễn Đình Luân, Quốc tế hoá nền kinh tế thế giới và một thách thức với chủ quyền quốc gia, TC NCQT, Số 4, 1994
[4] Nguyễn Thu Mỹ, Đặng Bích Hà, Thái Lan - cuộc hành trình tới câu lạc bộ các nước công nghiệp mới, NXB Sự thật, 1992
[5] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Đại cương Lịch sử thế giới cận đại, T2, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998
[6] Edwin O Reichauer, Nhật Bản quá khứ và hiện tại, NXB KHXH, 1994
[7] Edwin O Reichauer, Lịch sử Nhật Bản và người Nhật từ khởi thuỷ đến năm
1945, Tư liệu thư viện Quân đội
[8] Hoàng Đại Tuệ, Khảo sát lịch sử quốc tế hoá của Nhật Bản, TC NCNB, số4, 1996
Summary
The role of foreign policy under the reign of Meiji (1868- 1912)
in Japan history
the transitional period of Asian nations History set up these nations a lot of oppotunities and challenges - which had decisive significance in existence and development of each country - nation In that historical setting, Japan grasped the oppotunities, overcame the challenges to create its own stable position The foreign policy made a great contributed to that miraculous achievement Basing on the examination, comparison with the combined carrying out three fixed targets in foreign activities (security target, developing and influential target), the article has shown the role of foreign policy under the reign of Meiji in Japan history