1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Dạy và học từ vựng môn Anh văn ở trường thcs như thế nào để đạt hiệu quả cao

17 803 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2- Thực trạng của vấn đề: * Tình hình học sinh học ngoại ngữ Anh văn ở Lệ thuỷ nói chung: Qua quá trình giảng dạy , qua các đợt sinh hoạt chuyên môn liên trường và qua trao đổi với đồn

Trang 1

Đề tài :

Dạy và học từ vựng môn Anh văn ở trường thcs

như thế nào để đạt hiệu quả cao.

I Đặt vấn đề:

Năm học 2007– 2008 là năm thứ 6 thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo Chỉ thị số 14/2001/CT-TTG ngày 16/6/2001 của Thủ tướng chính phủ

và Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội về việc đổi mới giáo dục phổ thông(ĐMGDPT ) trên các mặt : Nội dung – SGK; phương pháp dạy học; phương tiện dạy học tổ chức đánh giá chất lượng học sinh

Trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một yếu tố quan trọng quyết định thành công đổi mới giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Điều 24 – Luật giáo dục)

Muốn vậy, giáo viên phải đổi mới cách dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Là người tổ chức, hướng dẫn chỉ đạo để học sinh tự tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức

Học sinh phải đổi mới cách học, biết cách tự học, tự phát hiện, tự giải quyết vấn

đề, tự chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện khả năng tư duy độc lập sáng tạo

Ngoài việc vận dụng phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống

và phương pháp dạy học hiện đại, người giáo viên cần phải biết lựa chọn các hình

Trang 2

thức dạy học thích hợp cá nhân, nhóm, cả lớp hay học ở hiện trường hoặc tổ chức trò chơi học tập…

Hơn nữa, ngoại ngữ là môn học yêu cầu học sinh nắm được các kiến thức cơ bản, tối thiểu và tương đối hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp lứa tuổi Có kĩ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp

Học và thực hành ngoại ngữ được đánh giá có hiệu quả cao, khi người học thể hiện giao tiếp tốt Việc giao tiếp đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình học ngoại ngữ đó là thực hành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết một cách hoàn thiện Để hoàn thiện các kỹ năng, người học nhất thiết phải nắm chắc ngữ pháp của ngoại ngữ đó Hơn thế nữa, vốn từ vựng tiềm tàng cần thiết đủ để giao tiếp với những người biết nói ngoại ngữ đó, nhất là giao tiếp với người bản xứ Như vậy giáo viên

và học sinh phải xác định được rằng việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ trong ngoại ngữ được đặt ra hết sức quan trọng, nhưng vốn từ vựng còn quan trọng hơn nhiều Giao tiếp có hiệu quả nếu ngôn từ, chất giọng, âm tiết của từ vựng chính xác, thu hút được người nghe, hiểu được nội dung câu chuyện, hoặc chủ đề được nói tới Liên quan chặt chẽ đến việc phát âm từ chính xác đó là dấu nhấn của từ, âm tận cùng của từ, nhiều phụ âm đi liền nhau trong một âm tiết Còn nữa, từ được dùng trong câu phải hợp với ngữ cảnh, do đó nó đòi hỏi học sinh có những hiểu biết về văn hoá, tập tục, truyền thống của đất nước đó Người giao tiếp sẽ có nhiều bất lợi khi dùng từ sai ngữ nghĩa, ngữ cảnh có thể dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc, hoặc

đổ vỡ trong kinh doanh, chính trị v v Ngược lại, người giao tiếp sẽ thành công nếu họ dùng từ chính xác, thậm chí từ được dùng mang tính chất hoa mỹ, được trau chuốt đúng ngữ cảnh và làm hài lòng người nghe sẽ có tác đông mạnh mẻ đến tư

Trang 3

tưởng tình cảm với đối tượng mà mình giao tiếp Do vậy câu hỏi lớn đặt ra là bằng cách nào để người học học tốt từ vựng, phát âm chuẩn, sử dụng từ vựng chính xác

về ngữ cảnh và ngữ nghĩa Đây là câu hỏi tưởng chừng như dễ trả lời nhưng nó hoàn toàn là một câu hỏi khó được đặt ra cho tất cả những ai đang dạy và học ngoại ngữ nói chung, môn Tiếng Anh nói riêng

Để thực hiện được những vấn đề nêu trên, trong phạm vi của đề tài tôi xin được trình bày việc dạy - học từ vựng môn Anh văn ở trường THCS như thế nào để đạt kết quả cao ?

II cơ sở lí luận và thực trạng của vấn đề:

1 Cơ sở lý luận:

Nghị quyết TW IV khoá VII (1993) đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học” và đã xác định “Khuyến khích tự học” , phải

“áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Nghị quyết TW II khoá VIII (12-1996) tiếp tục khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến

và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”

Điều 28 luật GD (2005) viết : Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học Bồi dữơng phương pháp tự học , , rèn luyện kỉ năng vận dụng vào thực tiển"

Trang 4

Mục tiêu học môn học tiếng Anh cấp THCS nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những kiến thức ; kĩ năng cơ bản về tiếng Anh và những phẩm chất trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên và đi vào cuộc sống lao động

2- Thực trạng của vấn đề:

* Tình hình học sinh học ngoại ngữ ( Anh văn) ở Lệ thuỷ nói chung:

Qua quá trình giảng dạy , qua các đợt sinh hoạt chuyên môn liên trường và qua trao đổi với đồng nghiệp bản thân thấy tình hình học tập Anh văn còn bộc lộ một

số nhược điểm sau:

- Về phía học sinh:

Nhìn chung học sinh rất " sợ " và " ngại " học từ mới , việc sử dụng từ còn nhiều hạn chế như: viết sai chính tả , phát âm từ sai, sử dụng từ không chính xác, không phù hợp với ngữ cảnh Đa số các em chỉ có thói quen học thuộc từ đơn giản hoặc nghĩa của từ Một số em chỉ học vẹt, đối phó để xung phong lên bảng viết từ mới

và sau đó khi cần dùng đến thì quên mất hoặc không biết sử dụng từ như thế nào

Có nhiều em thì cố học thuộc hết từ mới mà các em gặp nên thấy bài nào từ mới cũng nhiều dẫn đến tâm lí sợ và ngại học từ Vì thế học sinh thường có ý thức không học nữa, hoặc học không có hiệu quả Tất cả những điều trên là do các em chưa biết cách học tư vựng , chưa tìm ra cho mình một phương pháp học từ vựng thích hợp

- Về phía giáo viên:

Thực tế của việc dạy và học từ vựng ở Lệ Thuỷ đang là vấn đề đáng quan tâm của giáo viên dạy môn Tiếng Anh Những năm trước, các giáo viên thực sự lúng túng khi muốn dạy từ vựng cho 1 tiết học Họ có thể dạy cả hàng chục từ nếu có trên một đơn vị bài học mà không cần quan tâm đến sự liên quan của từ với chủ đề

Trang 5

bài học, không quan tâm đến tâm trạng của học sinh hoặc thậm chí học sinh có thể dùng được từ vựng trong giao tiếp hay không Những năm trở lại đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học môn ngoại ngữ đã được thực hiện các kỹ thuật dạy

từ vựng đã được tập huấn cho các giáo viên, việc sử dụng các kỹ thuật đó song vẫn còn lúng túng khi muốn gợi ý một từ thông qua đồ dùng, cho ví dụ, giải thích từ mình cần dạy như thế nào để thật ngắn gọn, dễ hiểu, nhất là những từ trừu tượng Trong việc chọn từ để dạy cho một tiết học, ôn tập hoặc củng cố lại từ đã học trở thành một gánh nặng cho giáo viên, do vậy họ có thể tảng lờ việc ôn từ đã học ở những tiết học có cơ hội ôn từ vv Một thực trạng hết sức buồn là việc phát âm từ không chính xác làm cho học sinh gặp không ít khó khăn trong giao tiếp, kể cả khi phải thay đổi giáo viên bộ môn ở các năm học ở đây có thể nói đến tính mất chính xác trong phát âm ban đầu của một số ít giáo viên và phần đông học sinh

tham gia học ngoại ngữ Từ những vấn đề trên tôi thực sự phải đầu tư thời gian cho việc soạn và dạy từ vựng như thế nào để học sinh thích học từ vựng nói riêng

và thích học bộ môn tiếng Anh nói chung

* Tình hình học ngoại ngữ ( Anh văn) ở trường THCS Văn Thuỷ nói riêng:

Những vấn đề nêu về việc soạn và dạy từ vựng như thế nào để học sinh thích học từ vựng nói riêng và thích học bộ nói chung ở trên cũng được thể hiện rõ nét trong quá trình dạy và học môn ngoại ngữ ( tiếng Anh ) của giáo viên và học sinh ở trường Văn Thuỷ

Những khảo sát ban đầu để kiểm tra việc học từ vựng và vận dụng từ vựng trong giao tiếp của học sinh ở trường THCS Văn Thuỷ:

Ngay từ tuần thứ năm của kì I tôi đã đối thoại với học sinh để làm những khảo sát nhỏ cho khối lớp tôi đang dạy để xác định xem học sinh học từ, phát âm từ và

Trang 6

vận dụng từ vào giao tiếp ở mức độ nào, lỗi mà các em thường mắc phải là gì để có hướng giải quyết

Sau đây là những hội thoại dùng để khảo sát và những vấn đề được rút ra từ các khảo sát đó:

Hội thoại khảo sát 1:

- T: What’s this? (Teacher shows students a waste basket)

- S1: /weis beiskit/

- S2: /weis beikits/

- S3: /weis beiskits/

Với 3 học sinh này việc trả lời câu hỏi của cô đã được các em xác định đúng vật

và tên của vật bằng Tiếng Anh nhưng cả 3 đều phát âm từ bị sai và hầu hết các em chưa chú ý đến âm /s/, từ được phát âm đúng là /weist bổskit/

Hội thoại khảo sát 2:

Pointing at a bench, teacher asks students:

- T: What’s that, class?

- S1: /ben/

- S2: /bens/

- S3: /bent/

Với những học sinh này lỗi mà các em mắc phải chính là việc phát âm tận cùng của từ: /t∫/ Tôi vẫn tiếp tục làm cuộc khảo sát để khẳng định lỗi phát âm mà các

em mắc phải bằng hội thoại sau đây:

T: What am I doing? (mine)

- S1: You are /brΛtiŋ/

Trang 7

- S2:/brusiŋ/

- S3: /bruziŋ/

Lỗi phát âm được lặp lại, do đó tôi có thể khẳng định được học sinh chưa có ý thức luyện âm hoặc không dùng từ nhiều trong giao tiếp, do vậy quên từ hoặc quên cách phát âm từ dẫn đến tự do phát âm không cần biết sai hay đúng Lỗi này hoàn toàn trầm trọng khi giao tiếp, người nghe sẽ hiểu sai nội dung thông báo của câu

Ví dụ1: thay vì việc nói tôi 30 tuổi người giao tiếp này đã nói:

- I am thirsty (I’m thirty)

Như vậy người nghe sẽ hiểu là người nói đang khát nước, người nghe sẽ tiếp tục hội thoại bằng câu:

- Would you like some drink ?

Ví dụ 2: Thay vì việc nói em gái tôi 6 tuổi, người giao tiếp này đã nói :

- My sister is sick (my sister is six)

Người nghe hiểu là người nói đang thông báo việc em gái của người này đang bị

ốm nặng, người nghe sẽ tiếp tục hội thoại:

- Oh, poor her I’ll come to see her if I have time

Thậm chí có em quên từ, không nói được từ khi có gợi ý, kể cả khi đã có từ để nói, điều đó có nghĩa là học sinh không học từ hoặc không thể nhớ từ đã học ở các bài học trước hoặc các năm học trước

Tiếp như vậy với nhiều ví dụ khác giáo viên có thể thấy rằng việc học sinh phát

âm chính xác từ rất quan trọng

Hội thọai khảo sát 3:

Trang 8

- T: Hello How are you?

- S: Hello er… er…

- T: Fine?

- S: er er… fine fine

- T: yeah, yeah I see, you’re fine

Thật buồn vì hội thoại bị gián đoạn bởi học sinh không thể tiếp tục giao tiếp, cũng có thể học sinh đã quên mất nội dung câu hỏi, cũng có thể học sinh còn quá yếu về kĩ năng giao tiếp nhưng tôi có thể rút ra được một điều rằng vốn từ vựng không có dẫn đến mất tự tin trong giao tiếp:

Hội thoại khảo sát 4:

- T: What’s there in your bedroom?

- S1: No, er er yes (he smiles and looks very nervous)

- T: Is there a bed?

- S1: Yes, there is

- T: Are there any flowers?

- S1: Hmm (another student wanted to answer the question)

- S2: Yes, teacher There are some flowers in my bedroom

- T: Good Any thing else?

- S2: Yes, there’s a table and a a (The student’s hands draw something in the air)

Thế là cuộc trò chuyện lại ngắt quảng Với cuộc hội thoại này, tôi mừng vì dấu hiệu giao tiếp khá rõ ràng (student 2 ) nhưng vốn từ của em này còn quá ít làm hạn chế đến giao tiếp Từ các cuộc khảo sát trên tôi tập trung cho việc soạn và dạy từ

Trang 9

vựng bằng các kĩ thuật đã học được, ôn tập từ vựng giúp học sinh ghi nhớ từ, nói, đọc và dùng từ một cách chuẩn xác

III- Giải quyết vấn đề:

1- Các bước tiến hành và giải pháp thực hiện trong từng tiết học:

a, Dạy từ vựng bằng các kỹ năng đã học được :

Từ vựng là một trong những phần quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ Nếu muốn giỏi tiếng Anh thì dù bất cứ kĩ năng nào : nghe , nói , đọc hay viết ta cũng cần một vốn từ nhất định.Vốn từ này không phải tự dưng hay ngày một ngày hai

mà có , nó phải là cả một quá trình tích luỹ lâu dài

Dạy từ vựng theo các thủ thuật đã được tập huấn ở các lớp học phương pháp giảng dạy không phải là dễ Giáo viên phải tuân thủ các nguyên tắc gợi ý từ: ngắn gọn, dễ hiểu, hấp dẫn Tính tò mò của học sinh càng tăng lên khi giáo viên tạo tình huống hay, kèm theo nó là việc khắc sâu từ Để đảm bảo các nguyên tắc gợi ý từ trên, giáo viên phải đầu từ thời gian để soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, các câu hỏi gợi ý tình huống một cách kỹ lưỡng Về phía học sinh, các em cũng phải chuẩn bị bài ở nhà như: tìm hiểu từ vựng, dùng từ điển học sinh, tìm hiểu nội dung bài đọc theo cách hiểu của mình

Giáo viên phải dạy từ khi bài học cần từ, những từ vựng được dạy trong tiết phải

là những từ được dùng đến nhiều lần trong tiết học, gần gũi với học sinh trong chủ

đề mà học sinh đang học và đang vận dụng để giao tiếp Từ được dạy phải là những từ được chọn lọc kỹ lưỡng và thuộc về: active vocabulary, không dạy từ tràn lan và áp đặt Số lượng từ được dạy vừa phải (5-8 từ ) nếu số lượng từ quá nhiều thì giáo viên cần có một hoạt động nhỏ được thực hiện trong khoảng 2- 3

Trang 10

phút để đoán từ theo ngữ cảnh với các dạng bài tập phù hợp Như vậy học sinh có thể hiểu thêm về

nội dung bài học mà không phải bị số lượng từ vựng làm cho nhàm chán hoặc căng thẳng

Unit 8 - Out and about – lesson 6 C3-4 ( Anh văn lớp :6 )

Chủ đề của từ có liên quan là Biển báo giao thông và luật đi đường Các từ mà giáo viên chọn vừa mang tính chất phổ biến, vừa mang tính chất gần gũi với các

em Chuẩn bị cho việc dạy từ là:

- Cách gợi ý từ (các kỹ thuật dùng để giới thiệu từ)

- Đồ dùng dạy học (cards, bảng phụ)

- Các card luyện âm (/z/, /t/, /s/)

- Kỹ thuật dùng để củng cố từ (check vocabulary)

- Số lượng từ được chọn: 7 từ

Trang 11

+ dangerous (a): (translation)

+ an accident: (picture)

+ an intersection: (B picture)

+ (to) slow down (mime) (T

plays in a motorcyclier’s role)

+ (to) go fast (antonym) opposite with “slow down” + (to) warn us (realia) + (to) help us (translation)

Theo phần chuẩn bị giáo án trên giáo viên cần chuẩn bị những đồ dùng cần thiết như tranh vẽ về 1 vụ tai nạn, giáo viên phải tập vẽ một cách nhanh nhất về một giao lộ ở trên phố để không mất thời gian khi lên lớp: Số từ vựng giáo viên có thể viết một số card để tiết kiệm thời gian viết từ lên bảng và xóa từ trong quá trình dạy từ vựng

Củng cố từ vựng: wordsquares

- Bảng phụ: chuẩn bị bảng phụ mang tính kinh tế, giáo viên chuẩn bị thêm một bảng phụ viết đáp án của phần củng cố từ

- Để chắc chắn các em đọc tốt từ giáo viên cho các em đọc từ không mẫu và sửa âm khi sai dùng cards /s/ /z/ /t/

Answer key

Road sign warn

(or) (his) stop

accident turn

travel car

right (to) drive

go fast (he)

N R A E I P T A E

S T R A V E L I R

P N G O F A S T S

Trang 12

help truck (not) (to)

straight dangerous

Unit 9: The body lesson 1 A1-2 ( Anh văn lớp :6 )

Phần chuẩn bị:

* Số từ cần dạy theo chủ đề: Cơ thể

- Head shoulder hands feet toes

- Chest arms legs finger

* Tất cả những danh từ này giáo viên dạy dùng thủ thuật “mime” Giáo viên có thể dùng hình vẽ cơ thể người nhưng tôi lại muốn để tranh vẽ dùng vào hoạt động

“check vocabulary”

- Các đồ dùng được chuẩn bị: 9 card từ, một tranh vẽ cơ thể con người

- Card luyện âm /s/ /z/ /st/

Giáo viên dùng 9 card từ để “check vocab” dùng thủ thuật nối từ và các bộ phận

cơ thể trên tranh vẽ

Ngày đăng: 29/06/2014, 18:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w